Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2018

ANH VÀ QUẢ BÓNG


ANH VÀ QUẢ BÓNG

Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính cũng là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn rằng cấp trên “cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo bằng… miệng” nếu kẹt quá vì phải phục vụ yêu cầu của quần chúng thì “chỉ đăng Thơ Tình và duy nhất Thơ Tình”. Tôi phải tồn tại mưu sinh bằng một nghề mới là… làm thơ bóng đá. Thuở ấy Hồ Nguyễn phụ trách tờ Long An Bóng Đá và tờ Long An Cuối Tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh bi đát của tôi bèn đề nghị cứ mỗi số báo ra tôi phải có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Nhờ vậy tôi đã chế tạo thêm một trường phái mới về thơ là THƠ BÓNG ĐÁ với hơn 300 bài thơ đã đăng báo kể từ 1978 đến nay. Hơn 300 bài thơ trên đã được nhà báo Huy Vĩnh công nhận như một thứ kỷ lục Việt Nam trong cuốn GUINESS THỂ THAO do anh là tác giả. Những bài thơ thành một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam mà sau này nếu có dịp tôi sẽ in ra. Bây giờ tạm giới thiệu cùng các bạn hai bài thơ về bóng đá tiêu biểu:

ANH VÀ QUẢ BÓNG

Đời sống có gì hơn quả bóng
Tay trơn không níu được bao giờ
Hạnh phúc có hơn gì quả bóng
Lủng mấy lần xì hết ước mơ

Vậy mà anh vẫn rất trẻ thơ
Thấy bóng lăn là chân động đậy
Bóng lăn đến một nơi nào vậy
Sao bàn chân mãi ở bậc thềm?

Bàn chân có lúc cạnh chân em
Khi hai đứa dìu nhau trên sỏi
Bàn chân có lúc lạ chân em
Khi trên cỏ: banh và đồng đội

Biết nói thế nào về cái lưới
Về xà ngang, cột dọc, khung thành
Hay chỗ đó lọt vào nông nỗi
Quả bóng tình em buốt ngực anh

Quả bóng tròn như thể công danh
Anh chụp suốt một đời không dính
Chỉ thương thầm những cọng cỏ xanh
Không lớn nổi trên sân mùa lạnh

Sau trận đấu khán đài hiu quạnh
Như Charlot, anh hát một mình
Có ngọn cỏ biết yêu buồn quá
Níu giày anh để đến thăm em

*
HOAN HÔ BRAZIL

Không riêng mình anh, tất cả đã sẵn sàng
Mọi nhà thơ bắt đầu cầm lấy viết
Các nhạc sĩ đều chuẩn bị dây đàn
Những phòng tranh sửa soạn trưng bày không kiểm duyệt

Bảy ngành nghệ thuật đã họp nhau ra nghị quyết
Phiên họp cuối cùng là hai chữ: Brazil
“Nghệ thuật thứ tám” khiến hành tinh khủng khiếp
Brazil Brazil như máu thịt của mình

Brazil Brazil trống ngực đập bình bình
Khi quả bóng lăn, cầu thủ đều chơi nhạc
Quả bóng rơi đều lên mỗi trái tim
Rap Rock, Disco phải chuồn đi chỗ khác

Quả bóng Brazil làm loài người biết hát
Anh biết làm thơ và em biết nhảy đầm
Quả bóng Brazil cho địa cầu bóng mát
Mọi thứ đầu hàng kể cả chiến tranh

Quả bóng Brazil lặn trong ngực anh
Lúc nổi lên thành bài thơ em đang đọc
Em đã biết gì về sông Amazon
Nơi mặt trời Brazil sừng sững mọc

Ở đó có đứa bé da đen ôm mặt khóc
Đập bể máy thu thanh vì quả bóng bị “xì”
Để mười năm sau thành ông vua thứ nhất
Mở đầu thời kỳ vương quốc Pêlê

Ở đó sân gôn trên đường phố vĩa hè
Những “Pêlê nhỏ” mê banh hơn vào lớp
Học kiểu nhà trường, tiền đạo dễ bị “me”
Không thể sút những đường banh khó nhất

Sút Parabol, sút Hypebol, sút nổ tung hình học
Pythagore sống lại cũng hoảng hồn
Đội đầu căng, đội đầu thẳng, đội đầu chìm, đội đầu khép góc
Socrate có đội mồ cũng chẳng thể đội đầu hơn

Ở đó em ơi không có hoàng hôn
Tên họ Vava, Didi, Garincha… có nghĩa là buổi sáng
Cúp “Nữ Thần Vàng” trở thành của hồi môn
Cho kẻ cầu hôn ba lần chiến thắng

Ở đó người ta quyên sinh sau mỗi lần bại trận
Các cô gái gọi Pêlê và nguyền rủa căm thù
Quốc Hội ngưng họp chuyển sang phần “quốc táng”
Cờ rũ treo ba ngày, toàn Nam Mỹ âm u

Anh sẽ kể với em về trận thua Uruguay
Bảy người chết vì đứt tung mạch máu
Hàng ngàn người phát điên, hàng triệu người mếu máo
Bệnh viện thiếu lương y vì bác sĩ cũng… từ trần

Quả bóng chính là tôn giáo của Brazil
Đó cũng là đạo mà anh đang theo đuổi
Em đừng ngạc nhiên trên chiếc giường đám cưới
Sẽ có quả banh da làm biên giới giữa hai người

Chỉ trừ khi em biết đặt bóng vào môi
Bằng không chắc anh sẽ suốt đời ở góa
Cám ơn Pêlê và “một ngàn một trăm trái phá”
Dạy anh biết yêu em và phát triển tín đồ

BÙI CHÍ VINH

Kỳ 114 -TRẬN BỒ ĐẰNG SẤM VANG CHỚP GIẬT MIỀN TRÀ LÂN TRÚC CHẺ TRO BAY


Kỳ 114
TRẬN BỒ ĐẰNG SẤM VANG CHỚP GIẬT
MIỀN TRÀ LÂN TRÚC CHẺ TRO BAY

Theo sách lược mà Nguyễn Chích đề ra, cuối năm 1424 nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu tiến hành kế hoạch tiến vào Nghệ An. Việc đánh hạ thành Đa Căng đã giúp nghĩa quân mở toang con đường tiến về nam. Lê Lợi ngay sau đó đã nhanh chóng tuyển thêm tráng đinh từ trong dân, chỉnh tề đội ngũ, sẵn sàng khí giới, chuẩn bị sẵn lương khô cho đoàn quân nam tiến.

Mục tiêu đầu tiên thuộc Nghệ An mà quân Lam Sơn nhắm đến là châu Trà Lân (hai huyện Con Cuông, Tương Dương, tỉnh Nghệ An ngày nay). Sở dĩ Bình Định vương Lê Lợi và các tướng lĩnh Lam Sơn lựa chọn nơi này là do nó vừa có vị trí từ trên cao đánh xuống đồng bằng, vừa có thể giúp nghĩa quân kiểm soát toàn bộ vùng rừng núi tây Nghệ An khi chiếm đóng được. Lực lượng địch đóng giữ tại châu Trà Lân khá mỏng, chỉ có khoảng hơn 3.000 ngụy quân dưới quyền chỉ huy của thổ tù Cầm Bành.

Hay tin quân Lam Sơn tiến đánh châu Trà Lân, Cầm Bành lập tức đem quân chặn đánh. Đồng thời quân Minh trong khắp vùng Thanh Nghệ cũng kéo nhau vây đánh để giải cứu Cầm Bành và tiêu diệt nghĩa quân. Từ thành Tây Đô, Tổng binh Trần Trí cùng các tướng Minh là Lý An, Phương Chính, Thái Phúcmở cửa thành đem hàng vạn quân đuổi theo sau đoàn quân Lam Sơn. Đô chỉ huy đồng tri nước Minh là Sư Hựu lúc này ở Nghệ An cũng đem trên dưới 2.000 quân đến hội với Cầm Bành chặn đánh quân ta. Bình Định vương dẫn quân đến núi Bồ Đằng (thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, Nghệ An ngày nay) thì thám binh báo về trước mặt, sau lưng đều có giặc.

 Quân Lam Sơn lại một lần nữa rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch, nhưng bấy giờ lực lượng của quân ta đã khác trước, binh lính từng trải nhiều trận, kinh nghiệm trận mạc cũng đã dày dặn. Phía quân Minh thì cũng không hoàn toàn nắm lợi thế. Giặc tuy trước sau hai mặt tiến đánh nhưng hành quân gấp gáp bị động, quân lính dưới trướng Trần Trí nhiều lần bại trận dưới tay quân Lam Sơn nên cũng đã sinh lòng nhác sợ.

Dù giặc hai mặt tiến đánh nhưng hành tung đã bị quân ta sớm biết được. Lúc này trời đã xế chiều, Bình Định vương Lê Lợi bình tĩnh dàn quân cùng voi ngựa chia đường mai phục đợi sẵn. Bọn Phương Chính tiến trước, trúng vào ổ mai phục. Quân Lam Sơn nhất tề từ các ngã xông ra đánh phá, voi trận giẫm bừa vào hàng ngũ quân Minh. Giặc nối nhau tan vỡ lớn. Quân Lam Sơn chém được các tướng giặc là Đô ty Trần Trung, Chỉ huy vệ Xương Giang Ngũ Vân và hơn 2.000 tên, thu chiến lợi phẩm hơn 100 cỗ ngựa. Trần Trí cùng quân tướng Minh tháo chạy ra thật xa mới định thần lại, thu thập quân binh. Quân Minh từ tướng tới lính càng khiến sợ lối đánh mai phục lợi hại của quân Lam Sơn hơn nữa.

Thắng được trận Bồ Đằng, quân Lam Sơn tạm thời cắt đuôi được Trần Trí và gây cho địch thiệt hại nặng. Kế đến Lê Lợi tiếp tục dẫn quân tiến vào đất của châu Trà Lân, đụng trận với quân của Sư Hựu tại Trịnh Sơn Trang (xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông, Nghệ An). Vừa thắng trận trước đội quân đông đảo của Trần Trí, quân Lam Sơn không ngán ngại gì đội quân của Sư Hựu, cứ vỗ mặt đánh trực diện. Quân của Sư Hựu không cầm cự nổi được bao lâu đã thiệt hại hơn 1.000 quân, Thiên hộ Trương Bản bị chém tại trận, chỉ còn số ít bỏ trốn. Sư Hựu một mình đào thoát khỏi chiến địa. Vì hành quân gấp không thể thu mang theo nhiều quân nhu, Lê Lợi cho quân đốt hết lương thảo, khí giới bắt được từ cánh quân của Sư Hựu. Quân Lam Sơn vượt Trịnh Sơn Trang tiến đóng ở sách Mộc. Trần Trí sau trận thua ở Bồ Đằng lại thu thập quân lính bám đuôi quân Lam Sơn. Trí tiến quân đến núi Trạm Hoàng, được tin quân ta vừa diệt gọn cánh quân của Sư Hựu, khiếp vía không dám giao chiến nữa, lui binh về giữ thành Nghệ An.

Điều đó có nghĩa là quân Minh hầu như đã chấp nhận thí mất châu Trà Lân cùng đám ngụy quân của Cầm Bành, để đổi lấy một sự an toàn cho quân Minh và tăng cường phòng thủ thành Nghệ An. Các trận thắng liên tiếp dài từ xứ Thanh sang xứ Nghệ của quân Lam Sơn đã tạo nên một bước ngoặc mới về chiến lược của hai bên. Quân Minh dù vẫn còn đông đảo hơn quân Lam Sơn nhiều, nhưng đã phải chuyển từ chiến lược chủ động tấn công sang chiến lược phòng thủ. Tướng lĩnh giặc giờ đây muốn nhử quân ta chủ động đánh đồn, công thành để chúng có thể dựa vào thành trì, nguồn lương thực dồi dào đã tích lũy thời gian dài để thủ thắng trước quân Lam Sơn. Bởi vì nghĩa quân tuy giỏi đánh nơi rừng núi, giỏi mai phục nhưng chưa quen đánh thành, lương thực khí giới cũng không so bằng quân Minh.

Bình Định vương bấy giờ rất tranh thủ thời gian, tiến lên vây đánh quân của Cầm Bành ở châu Trà Long. Cầm Bành ít quân nhưng nắm giữ địa lợi, rút lên sơn trại cố thủ. Bấy giờ vào tháng Giêng năm 1425, Phương Chính dẫn quân Minh từ thành Nghệ An đến châu Trà Lân, phô trương thanh thế với quân Lam Sơn nhưng không dám tiến đánh vì sợ địa hình đồi núi dễ trúng mai phục, chỉ viết hịch kể tội. Lê Lợi thấy địa hình sơn trại của Cầm Bành khó tấn công, Phương Chính lại đóng quân rình phía sau, bèn chia quân vừa vây chặt Cầm Bành, vừa ghìm nhau với Phương Chính. Lê Lợi lại cùng tướng sĩ ra sức tuyên truyền chính nghĩa, phủ dụ nhân dân trong vùng. Kể cả những người trước theo Cầm Bành, đều được khuyên bảo vỗ về trở lại nghiệp cũ. Nhân dân nô nức theo về, cùng góp quân lương tiếp sức cho nghĩa quân Lam Sơn vây đánh giặc.

Trong thời gian quân ta vây Cầm Bành, đã có nhiều thư từ qua lại giữa ta và quân Minh. Bình Định vương muốn thăm dò ý định của Phương Chính, sai Hàn lâm viện Thừa chỉ Nguyễn Trãi viết thư trả lời Phương Chính và khiêu chiến. Thư viết rằng:

“Bảo cho mày nghịch tặc Phương Chính: Kể đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của. Nay bọn mày chỉ chuộng lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương, việc ấy trời đất không dung, người mà đều giận, cho nên liền năm chinh phạt, hằng đánh hằng thua. Thế mà không biết trước tự cải quá, lại còn bới bẩn cho thêm thối, hối sao cho kịp được! Huống chi bây giờ nước mùa xuân mới sinh, lam chướng bốc độc, thế không thể chịu lâu được. Nay mày chỉ nắm đại binh mà nấn ná không tiến, khiến quân lính nhiễm lam chướng dịch lệ mà chết, đó là tội ai? Binh pháp có nói: “Kẻ nhân giả lấy yếu chế mạnh, kẻ nghĩa giả lấy ít địch nhiều”. Nay mày muốn đánh, thì nên tiến quân giao chiến, để quyết sống mái, đừng làm khổ cho quân sĩ hai nước làm gì.”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Phương Chính là tên tướng thất phu, đọc thư của Nguyễn Trãi rất tức tối nhưng vẫn không dám tiến quân. Chỉ trả lời rằng: “Mày nếu muốn đánh nhau thì hãy ra chỗ đồng bằng đất phẳng”.

Nguyễn Trãi lại viết thư đáp: “Bảo cho mày nghịch tặc Phương Chính: Kể người dùng binh giỏi thì không có đâu là hiểm, đâu là không hiểm, không có đâu là dễ, đâu là không dễ. Thắng hay phụ ở tướng, chứ không ở đất hiểm hay dễ. Vào chỗ hiểm mà dánh nhau không khác gì hai con hổ đánh nhau ở trong thung lũng, giỏi thì được, vụng thì thua. Bởi vậy, đất không có bình thưởng nhất định, trận không có thế thưởng nhất định. Mày nếu không lui, thì phải đem binh ra mà quyết chiến thôi.”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Liên tiếp hai thư khiêu chiến mà quân Minh vẫn chưa dám giao chiến, chỉ chực ở phía sau quân ta. Sơn Thọ lại đem chiếu thư của vua Minh Nhân Tông đến gặp Lê Lợi để chiêu hàng, chiếu viết rằng:

“Ngươi vốn là kẻ lương thiện, từ lâu có lòng thành quy phụ. Nhưng quan ty cai trị không đúng cách, sinh ra nghi sợ rồi ẩn trốn nơi núi rừng, không toại chí nguyện. Nay sau khi đại xá, bỏ hết sai lầm quá khứ, hàm chứa sự canh tân. Đặc cách sai người mang sắc dụ ban cho ngươi chức Tri phủ Thanh Hoá, cai trị dân một quận. Hãy đến nhận chức ngay, để đáp lại sự cứu xét đến lòng thành và bao dung đãi người của Trẫm”(theo Minh Thực Lục)

Lê Lợi nhận chiếu, họp các tướng lại bàn rằng: “Hiện Cầm Bành bị vây khốn đốn, lẽ ra bọn tên Chính phải cấp cứu ngay mới phải, thế mà đến nay vẫn còn dùng dằng quanh co. Đó tất là có ý nhát sợ. Chi bằng ta hãy cứ vờ bằng lòng hòa, để xem tình thế. Trong khi thư từ qua lại độ một tháng, thì ta đã bắt được Cầm Bành rồi”.(theo Đại Việt Thông Sử)

Bàn định xong, Lê Lợi tương kế tựu kế viết thư để vào trong bè, thả xuôi dòng cho Phương Chính và Sơn Thọ: “Chúng tôi muốn trở về Thanh Hóa, nhưng bị Cầm Bành ngăn chặn. Vậy ông cho người tới giải hòa để thông lối về, rất mong”(theo Đại Việt Thông Sử).

Phương Chính xem thư tưởng thật, bèn sai người đưa thư đến cho Cầm Bành, khuyên hòa giải với Lê Lợi. Vậy là giặc đã trúng kế của quân ta. Cầm Bành thủ hiểm hơn 2 tháng trời, lương hết binh mỏi, chỉ còn cầu mong quân Minh đến cứu viện. Đến khi nhận thư của Phương Chính hắn mới biết chắc rằng viện binh sẽ không đến.Quân lính của Cầm Bành lúc này rất bất mãn, tự ý kéo nhau ra hàng. Cầm Bành cùng kế cũng phải mở cổng trại ra hàng. Lê Lợi chấp nhận cho Cầm Bành đầu hàng, lệnh cho quân sĩ: “Tướng giặc đã hàng, mảy may cũng không được xâm phạm. Bất cứ tội to, tội nhỏ, đều xá cho hết.”(theo Lam Sơn Thực Lục)

Quân Lam Sơn bình định được châu Trà Lân, quân dân càng thêm phấn chấn, thế quân càng mạnh. Về sau, Cầm Bành lại sinh lòng khác, cùng thuộc hạ đang đêm trốn đi. Quân ta bắt lại được, Lê Lợi sai đem chém Cầm Bành. Chiến công tại châu Trà Lân đánh dấu một bước phát triển mới của nghĩa quân Lam Sơn. Quân ta đã đủ sức mạnh để đánh lớn với giặc, và có thể hoàn toàn chiếm thế thượng phong. Khí thế của chiến dịch thật như đôi dòng trong Bình Ngô Đại Cáo mà Nguyễn Trãi đã viết :

Bồ Đằng chi đình khu điện xế
Trà Lân chi trúc phá hôi phi
Tạm dịch :
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay

Quốc Huy


KHÚC XUÂN


27.
KHÚC XUÂN
[Lộc lư Ngũ bộ-Ô thước]

NỒNG XUÂN RẠNG RỠ PHẢ MUÔN ĐƯỜNG
Hoa lá ran chào cõi ngát thương
Lộng lẫy mai vàng khoe khắp hướng
Thảo thơm đào thắm lựng bao phường
Gió lành ấm áp ngời vô lượng
Nắng mới chan hòa thẫm diệu hương
Phố thị làng quê tình mộng trưởng
Trần gian náo nức giữa vô thường

Náo nức song ngoài bạt giá sương
NỒNG XUÂN RẠNG RỠ PHẢ MUÔN ĐƯỜNG
Kìa anh hạnh phúc kề bên phượng
Nọ chị tươi cười xáp cạnh hương
Vẫn tỏa ngào duyên vàng nẻo thượng
Và lâng lịm sắc đượm môi hường
Cho đời xõa cánh huyền mơ ngưỡng
Để vạn ân tình quấn quýt thương

Vạn ân nghĩa lộng mãi thăng trường
Đón Têt thâm nguyền dạ thoảng vương
Ngát cảnh mơ màng thêu sắc tượng
NỒNG XUÂN RẠNG RỠ PHẢ MUÔN ĐƯỜNG
Trà thơm nẻo dịu dàng khôn tưởng
Rộn rã không ngờ rượu ngát phương
Cứ ngỡ thiên đàng trao suất thưởng
Nào hay hạ giới tuyệt hơn thường

Hạ giới tuyệt ngần sực nức hương
Làn môi thanh nữ đẫm tươi hường
Trao lòng nhớ rộn ràng vui hưởng
Xao xuyến ran mừng dặm nỗi thương
Đượm sắc la đà thêu vạn tướng
NỒNG XUÂN RẠNG RỠ PHẢ MUÔN ĐƯỜNG
Bờ đê thoảng gió lời nguyên lượng
Nhịp khúc mơ huyền thỏa chén tương

Khúc mơ huyền thỏa ngát ngan tường
Khỏa ước dâng trào rải tứ phương
Để mọi canh đời thôi vất vưởng
Cho trăm cảnh mộng được miên trường
Nguồn thơ gọi cúc đào đâu cưỡng
Thọ quất không từ cảnh phú vương
Ngõ Tết hoan lừng gia tưởng tượng
NỒNG XUÂN RẠNG RỠ PHẢ MUÔN ĐƯỜNG

HANSY

NỒNG XUÂN

CÕI MỘNG HỒN XUÂN KHOẢ KÍN ĐƯỜNG
Mai đào hé nụ trỗi nồng thương
Khơi ngàn tiếng đợi vờn quanh ngõ
Rũ mấy lời mong ở cạnh phường
Những cụ tươi cười bên bếp lửa
Bao nàng hớn hở chuyện mùi hương
Khung trời lộng lẫy như chào đón
Bỗng một niềm riêng đổi khác thường

Riêng niềm phủ nguyện lấp bờ sương
CÕI MỘNG HỒN XUÂN KHỎA KÍN ĐƯỜNG
Phảng phất khung trời mơ giữa phượng
Êm đềm lối nhỏ vọng ngàn phương
Buông từ vẹn nẻo trào duyên thắm
Nguyệt trỗi tình sâu đến cảnh hường
Huyễn hoặc tim nồng xua khắc khoải
Bên thềm gió thổi ngộp trời thương

Gió thổi niềm loang những dặm trường
Mây trời phả ánh lộng trào vương
Cung tình vạn tiếng vờn chao ngõ
CÕI MỘNG HỒN XUÂN KHỎA KÍN ĐƯỜNG
Rạng rỡ lòng ân ngời mấy buổi
Bao ngày nghĩa thắm ngọt ngào phương
Mù xa cánh nhạn không mòn mỏi
Cứ thỏa nồng say đẫm dạ thường

Say nồng khúc nhạc thỏa ngàn hương
Trĩu giọt nồng mê thả nét hường
Luyến nỗi chờ bên vườn nguyệt khỏa
Mây vờn cuối ngõ quyện bờ thương
Thềm trăng cội ái lồng bao nẻo
CÕI MỘNG HỒN XUÂN KHOẢ KÍN ĐƯỜNG
Tiếng nhạc vang rền quên ảo não
Tim thầm bỗng chợt lắng dòng tương

Bỗng chợt đời ta nở sắc hường
Sông nguyền xiết chảy rạng ngời phương
Quyên hoài nét liễu neo tình vẹn
Vọng mãi huyền tâm trải giấc hường
Có lẽ nồng đêm còn bạt phủ
Nên là ái mặn vẫn luồn vương
Tô bờ hạnh phúc êm đềm vẫn
CÕI MỘNG HỒN XUÂN KHOẢ KÍN ĐƯỜNG

Trần Thùy Linh

MÙA XƯA


MÙA XƯA

Mùa xưa đến mà sao xa vắng
Nhớ thuở hồng vạt nắng lao xao
Mà nay tình dạt chốn nào
Để hồn cô lữ chênh chao phận người.

Mùa xưa cũ vọng lời ước hẹn
Sóng sánh duyên cùng đến ngàn nơi
Mà nay kỷ niệm trùng khơi
Trăng huyền úa xám nhạo lời ước xưa.

Mùa xưa đến có mưa trong mắt
Thao thức hoài lạnh ngắt vành tim
Dõi song dáng cũ im lìm
Sương đêm buồn tẻ nhấn chìm tình ai.

Vọng nghe một chút u hoài
Thương ta bèo bọt thức dài hằng đêm…

HANSY

*
BẾN CŨ

Đã bao độ bến bờ lạnh vắng
Đã mấy mùa dõi nắng xôn xao
Về đâu bến đợi nơi nào
Ngõ đời thuyền rẽ đảo chao hỡi người

Vừa cập bến đò ơi lỡ hẹn
Sáo xổ lồng bay đến vội nơi
Từ nay viễn xứ biệt khơi
Bão lòng úa nhạt đau lời thệ xưa

Dốc đời rẽ chiều mưa phủ lối
Ngã ba đường bắt tội buồng tim
Tình xưa chết úa vội lìm
Diêu bông thuở ấy anh tìm vì ai

Cả đời dầm nắng sương mai
Cả đời huyễn hoặc trang đài ...đợi chi.

Kiều Trang

PHAI TÀN

PHAI TÀN
[Thuận Nghịch độc]

Đau mài miệt ảo mộng tàn phai
Nuộc thẫn thờ duyên lãng phí nài
Nhàu ái sắc loang sầu khổ dạ
Rã tình hương sạm oán thù ai
Chau dằng dặc nhão thân lòng xót
Nuối rã rời trơ bóng nguyệt cài
Màu úa bợt yêu đời thảm rụi
Cau trầu héo rũ đợi chờ chai

Chai chờ đợi rũ úa trầu cau
Rụi thảm đời yêu bợt úa màu
Cài nguyệt bóng trơ rời rã nuối
Xót lòng thân nhão dặc dằng chau
Ai thù oán sạm hương tình rã
Dạ khổ sầu loang sắc ái nhàu
Nài phí lãng duyên thờ thẫn nuộc
Phai tàn mộng ảo miệt mài đau

HANSY

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

XUẤT CUNG


"XUẤT CUNG" LÀ GÌ?

Thẻ "Xuất cung - Ảnh: 中華網

Bài thơ "Hạn chế" 限制 (Ngục trung nhật ký"-Hồ Chí Minh) có hai câu đầu như sau:

"Một hữu tự do chân thống khổ,
Xuất cung dã bị nhân chế tài"

(
      
      )
            Nam Trân dịch:
"Đau khổ chi bằng mất tự do,
Đến buồn đi ỉa cũng không cho"
 ("Nhật ký trong tù"-NXB Văn hóa, Viện văn học-1960)

Sách "Nhật ký trong tù-chú thích và thư pháp" (NXB Chính trị Quốc gia-2005), tác giả, GS Hoàng Tranh (Viện khoa học xã hội Quảng Tây-Trung Quốc) chú thích: “Hai chữ xuất cung (出恭), tiếng Quảng Đông có nghĩa là đi ngoài”.

"Chuyên gia số 1 về thơ Bác"-Ông Lê Xuân Đức trong sách "Nhật ký trong tù và lời bình" (NXB Văn học-2013) căn cứ chú thích của GS Hoàng Tranh đã “bình” như sau:
 “Những từ Hán-Việt nôm na mách qué, theo quan niệm truyền thống, đặc biệt thơ cổ là tối kỵ, uế tạp, nhưng với Bác, giản dị đã trở thành bản lĩnh...”

Vậy, có đúng  "xuất cung 出恭" là "tiếng Quảng Đông" theo kiểu "nôm na mách qué", là "tối kỵ, uế tạp" không? Tại sao “xuất cung” 出恭 (chữ cung  trong cung kính) lại được đem dùng để nói một việc chẳng ăn nhập gì là "đi ị"? 

Theo "Hán điển"(漢典), từ “xuất cung” 出恭  vốn sinh ra từ chốn trường thi (đời nhà Nguyên bên Tàu). Vào trường thi, sĩ tử làm bài kéo dài tới cả ngày trời, nên phải đem theo thức ăn, nước uống, tự phục vụ tại chỗ. Riêng việc đại tiện, tiểu tiện, để tránh thí sinh tự ý đi lại, rời vị trí ngồi, gian lận tài liệu, trường thi quy định phải “xuất cung, nhập kính” (出恭入敬). Tức ra, vào đều phải có phép tắc. Muốn đi nhà xí, trước tiên sĩ tử phải xin phép và lĩnh tấm thẻ có chữ “xuất cung” (“出恭) mới được đi. Do vậy, người ta gọi đi nhà xí là “xuất cung” (出恭). Lại gọi đại tiện là “xuất đại cung” (出大恭), tiểu tiện là “xuất tiểu cung” (出小恭). Về sau, "xuất cung" không chỉ được dùng trong trường thi, mà trở  thành một từ phổ thông trong tiếng Hán, cách nói tránh tế nhị, chỉ việc đi đại tiện, nhà xí (nói chung).

Trong “Tây du ký” (Ngô Thừa Ân) đoạn Trư Bát Giới khoe khoang, mắng nhiếc Huỳnh Bào rồi cùng Sa Tăng nhảy vào giao chiến. Đánh tới 90 hiệp, Bát Giới đã mệt lử, Sa Tăng cũng hết hơi mà không thắng nổi. Có nguy cơ bại trận, Bát Giới mới nói lừa Sa Tăng: “Sa Tăng! Hiền đệ cố sức cầm cự, để Lão Trư "đi ngoài"cái đã”. (Sa Tăng! Nhĩ thả thượng tiền lai, dữ tha đấu trước, nhượng Lão Trư xuất cung lai - 沙僧,你且上前来与他斗着老猪 出恭来). Sa Tăng tin lời Bát Giới, đem hết sức ra đánh. Chẳng ngờ Bát Giới chạy xa, tìm chỗ mát nằm ngáy khò khò. Còn Sa Tăng đợi Bát Giới hết hơi, một mình đánh không lại, bị Huỳnh Bào bắt sống trói gô lại.

Tiếng Việt cũng có từ “đi ngoài” để chỉ “đại tiện”. Chưa biết "đi ngoài" có mối quan hệ gì với "xuất cung" hay không, nhưng  "Từ điển Hán-Việt" (Vương Trúc Nhân-Lữ Thế Hoàng-NXB Văn hóa thông tin-2007) và "Từ điển Việt -Hán" (GS Đinh Gia Khánh hiệu đính-NXB Giáo dục-2003); "Từ điển Hán-Việt" (Phan Văn Các chủ biên-NXB Từ điển bách khoa-2014) đều ghi nhận "xuất cung" (出恭) trong tiếng Hán (phổ thông) đồng nghĩa với "đi ngoài" hoặc "đại tiện" trong tiếng Việt (Hoàng Phê trong "Từ điển tiếng Việt" gọi là "lối nói kiêng tránh").   

Như vậy, “xuất cung” 出恭 không phải là “tiếng Quảng Đông” như GS Hoàng Tranh chú thích. Và dĩ nhiên, tác giả "Ngục trung nhật ký" cũng không hề “nôm na, mách qué”, không hề "tối kỵ, uế tạp" khi đưa "xuất cung" vào thơ, như ông Lê Xuân Đức bình. Ngược lại, Hồ Chí Minh nói chữ đó!

Hoàng Tuấn Công
30/10/2015

CHIỀU THU


356
CHIỀU THU
[Ngũ độ]

Cảnh sắc chiều nay đã vọt vàng
Thu về lá rụng phủ dần sang
Mà nghe tiết lạnh chờm tang tảng
Để thấy mùi thơm lịm mỡ màng
Phảng phất tình mơ thời diệu lãng
Êm đềm ái mộng nẻo ngời mang
Cầu mong phước hạnh hoài quang đãng
Vũ khúc bồng lai phả bộn bàng

HANSY

BIỆT BIỀN KHÚC ÁI


BIỆT BIỀN KHÚC ÁI

Một lần đi, ngờ đâu không trở lại
Để mắt buồn vương vải khóe mắt yêu
Có những hôm thơ thẩn mãi trong chiều
Lòng ao ước đêm kiều hoa mộng cũ.

Một lần đi để muôn lần ủ rũ
Trôi về miền vần vũ dáng hắng mơ
Này tình ơi, sao giá lạnh hoang mờ
Thêm ngóng mãi dòng thơ tình thuở đó...

Xa cách nhau lòng nhạt nhòa trước gió
Khép mi sầu biết bày tỏ củng ai
Những oan nghiệt cứ mải miết tuôn dài
Khúc tình yêu chợt mù câm bất lực.

Kỷ niệm nào cứ thở dài ấm ức
Trỗi khúc buồn giăng mắc giữa trời khuya
Này em ơi, dẫu biết dã chia lìa
Sao quá vãng cứ làm thao thức mãi…

HANSY

ĐẦU ĐỘC NHAU

ĐẦU ĐỘC NHAU 

Đầu độc cùng nhau ngủm sạch nào
Thân mình vàng ệch rụng dàn mao
Mùi hương dậy át bưng mồm lại
Hóa chất lồng lên thót bụng trào
Với đám trái cây vùi quá thảm
Thêm rừng gia vị độc là bao
Cầm tiền ra quán toàn chưng hửng
Chợ búa bây giờ ngán ngẩm sao

Chợ búa bây giờ ngán ngẩm sao
Đồ dùng hóa chất tẩm từng bao
Vừa nhai chả hết nghe nhờn nhợn
Nuốt xuống qua xong đã ói trào
Thịt đỏ tươi ròng xơi thủng ruột
Rau xanh mập ú xực vàng mao
Ung thư khắp nước trời ơi oải
Đầu độc cùng nhau ngủm sạch nào

HANSY

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2018

"ĐỨNG" trong "LÚA ĐỨNG CÁI"


"ĐỨNG" trong "LÚA ĐỨNG CÁI"


Lá lúa thắt eo, đây chính là thời kỳ đứng cái
Để có biện pháp chăm sóc phù hợp, căn cứ quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, người ta chia ra nhiều thời kỳ khác nhau. Ví dụ: thời kỳ mạ, bén rễ hồi xanh; đẻ nhánh; đứng cái; làm đòng; trổ bông... Trong đó, "đứng cái" là thời kỳ đặc biệt, đánh dấu bước phát triển quan trọng của cây lúa. Vậy "đứng", trong "lúa đứng cái" là gì? "Đứng" ở đây có phải là "đứng thẳng", trái với nằm ngang, ngả nghiêng không?

1-"Từ điển tiếng Việt" (Văn Tân chủ biên) giải nghĩa: "đứng cái • t. Nói cây lúa bắt đầu đứng thẳng trước khi có đòng đòng".

          2-"Từ điển tiếng Việt (Vietlex): "đứng cái • t.[cây lúa] ở vào giai đoạn đã ngừng đẻ nhánh, thân đứng thẳng và chuẩn bị phát triển thành đòng".

  3-"Từ điển từ và ngữ Việt Nam" (GS Nguyễn Lân): "đứng cái: Nói cây lúa ngừng đẻ nhánh, bắt đầu đứng thẳng trước khi làm đòng: Lúa mới đứng cái mà lụt thì mất mùa".

          4- "Việt Nam tự điển" (Lê Văn Đức): "đứng cái • dt. Nở bụi to, đứng sởn-sơ, gần có đòng-đòng: Lúa đứng cái".

          Như vậy, theo như các cuốn từ điển 1-2-3, thì "đứng" trong "đứng cái", nghĩa là"đứng thẳng". Riêng cuốn thứ 4, Lê Văn Đức giải nghĩa là "đứng sởn-sơ". Vậy, "sởn-sơ"là gì? Chính "Việt Nam tự điển" của Lê Văn Đức giải thích như sau: "sởn sơ • tt. Mạnh khoẻ, tươi đẹp, mau lớn : Trẻ con sởn-sơ, cây-cối sởn-sơ". Cách giải thích này không rõ nghĩa khi hình dung về cây lúa. Mặt khác, nếu "sởn-sơ" được hiểu là "mạnh khoẻ, tưởi đẹp, mau lớn", thì thời kỳ lúa con gái (trước thời kỳ "đứng cái"), cây lúa sinh trưởng nhanh, đẻ nhánh khoẻ, quá trình sinh lý, sinh hoá diễn ra mạnh mẽ, mới đáng được gọi là "sởn-sơ".
    
          Theo chúng tôi, cách giải thích của các nhà biên soạn từ điển chỉ mới đúng được một nửa (tức "đứng cái" là lúc cây lúa sắp có đòng). Phần giả thích "cây lúa đứng thẳng" chưa chính xác. Bởi lúa vừa cấy xong, cây lúa bị ngả nghiêng, nhưng chỉ sau khoảng một tuần và suốt quá trình sinh trưởng, lúc nào cây lúa chẳng "đứng thẳng"?

          Thời kỳ sắp làm đòng, lá  lúa có cứng và đứng lá hơn, tuy nhiên, "đứng" ở đây không phải  (lá lúa) "đứng thẳng", mà nghĩa là dừng, không đẻ nhánh nữa; "cái" là cây mẹ, nhánh mẹ, có khả năng đẻ ra nhánh con. Lúa "đứng cái", tức cây lúa chấm dứt thời kỳ đẻ nhánh để chuyển sang một giai đoạn sinh trưởng khác: làm đòng. "Đứng" , trong "đứng cái", được hiểu tương tự trong "đứng bóng" (còn gọi "tròn bóng", tức bóng nắng có khoảng thời gian như "dừng", "đứng" lại, trước khi đổ bóng về chiều; hay "đứng tuổi"-một kiểu "chuyển tiếp"-giữa hai thời kỳ: "người đã quá tuổi trẻ mà chưa đến tuổi già" (Việt Nam tự điển-Hội khai trí tiến đức).

"Từ điển Bách khoa nông nghiệp" (NXB Từ điển Bách khoa-1991) giải nghĩa "lúa đứng cái" như sau: "lúa ở thời kỳ đã đẻ nhánh xong, và chuẩn bị làm đòng. Thời kỳ đứng cái biểu hiện rõ với các giống lúa cao cây, dài ngày, các nhánh lúa đều ngừng đẻ, bụi lúa như đứng lại. Còn đối với các giống lúa thấp cây ngắn ngày, thời kỳ đứng cái không biểu hiện rõ. Ở thời kỳ chuyển tiếp này, trong mỗi bụi lúa đã có nhánh phân hoá đòng, trong khi một vài nhánh còn tiếp tục đẻ thêm trong mấy ngày rồi cả bụi lúa mới chuyển sang làm đòng".  

          "Từ điển sinh học phổ thông" (NXB Từ điển Bách khoa-2005): "Lúa đứng cái-Giai đoạn cây lúa chuyển từ dinh dưỡng sang sinh thực, hình thành cơ quan sinh sản và phát triển, thay đổi cấu tạo, hình thể, sinh lý, sinh hoá".

1. Lá đòng còn chìm trong bẹ lá kề nó thì chưa đến giai đoạn bón thúc đòng (hình 1). 2. Khi mắt lá đòng trùng với mắt lá kề nó, chính là giai đoạn đứng cái, có thể bón thúc đòng (hình 2). 3. Khi mắt lá đòng cao hơn mắt lá kề nó thì đã quá giai đoạn đứng cái, cây lúa chuyển sang làm đòng rồi (hình 3). Ảnh:ST
Nghĩa của "đứng" trong "đứng cái" nghĩa là vậy. Thế nên muốn xác định thời điểm lúa "đứng cái" để bón đón đòng có nhiều cách: người ta thường quan sát xem đầu lá đã "thắt eo" (tức hơi co lại ở vị trí cách đầu lá chừng 4-5cm) hay chưa; cây lúa đã "tròn khóm" (đẻ đồng đều), "tròn mình" (hình thành lóng)  hay chưa; hoặc quan sát mắt lá đòng; thậm chí bóc hẳn nhánh cái ra để xem có tim đèn (hình đòng đòng bắt đầu nhú lên) hay chưa, chứ không phải xem cây lúa có "đứng thẳng" hay không.

Lúa dừng đẻ nhánh, chuyển sang làm đòng.
Đòng non hình tim đèn, đây là thời kỳ có thể bón thúc đòng. -Ảnh: ST
Cũng cần nói thêm: lúa bị lụt thời kỳ đứng cái không phải là đặc biệt nguy hiểm, vì lúc này đòng lúa chưa có,  khả năng chịu ngập úng tốt hơn, lâu hơn so với khi lúa có đòng già, lúa trổ hoặc bắt đầu đơm bông. Viết "Lúa mới đứng cái mà lụt thì mất mùa" như GS Nguyễn Lân chỉ là võ đoán.

Hoàng Tuấn Công\
7/2016

26. VÀNG SON KỶ NIỆM


26.
VÀNG SON KỶ NIỆM
[Ngũ độ]

Trăng vàng lộng ánh khỏa hồn ta
Quá vãng người ơi chẳng chịu nhòa
Của những hôm trời biêng biếc ngọc
Trong chiều nắng biển mịt mờ xa
Tình chao đảo mộng loang ngời tiếng
Sắc lả lơi hồn xõa lịm ca
Tưởng sẽ miên trường du ái lạc
Dè đâu huyễn hoặc cứ như là

Dè đâu huyễn hoặc cứ như là
Để những khuya buồn bặt tiếng ca
Hỡi ngọt ngào xưa còn có tỏa
Hay chiều chuộng cũ sớm lìa xa
Làm cho kỷ niệm thành hoang phế
Cũng khiến nguyền ân trở nhạt nhòa
Mãi ước muôn đời câu tỏ thệ
Trăng vàng lộng ánh khỏa hồn ta

HANSY

KHÔNG ĐỀ

Buồn chi nẻo tạm có đâu là
Nguyện để cho đời vẫn hát ca
Rũ nét mơ sầu trong buổi lạ
Trao bờ mộng tủi phía trời xa
Đêm nồng dạ thắm quên tình rã
Cõi ấm ngời tim mặc cảnh nhoà
Trỗi sắc duyên đầu không lụy phả
Trăng vàng lộng ánh thỏa hồn ta

Trăng vàng lộng ánh thỏa hồn ta
Bỗng thấy nguồn ân chẳng nhạt nhoà
Nguyệt tỏa bên thềm ru giấc ngã
Ân tràn cạnh ngõ gác niềm xa
Hoài đan kỉ niệm loang cành lá
Mãi chuốc tơ lòng trải khúc ca
Gảy những cung tình ươm nắng hạ
Buồn chi nẻo tạm có đâu là

Trần Thùy Linh

KHÚC TÌNH SI DẠI


KHÚC TÌNH SI DẠI

Dáng xưa mỏi mắt ngóng chờ
Liễu ru tóc gió
mộng thơ thẩn nào
Thương
người e ấp thuở nao
Canh khuya một bóng hồn
chao đảo hoài.

Mắt nàng tròn trịa mắt nai
Nụ hoa hàm tiếu khiến dai dẳng lòng
Để đêm ngày lậm nhớ mong
Để tơ tưởng mãi vườn nồng nàn yêu.
...........
Lòng nhủ lòng, say dáng kiều
Đời ta nghiêng ngã giữa liêu xiêu tình
Ước cầu sáng rỡ bình minh
Dáng xuân thắm rạng những linh cảm bồng.

Làm sao quên được nụ hồng
Tình dù một chốc dậy đồng cảm êm
Thương làn nắng trải cuối thềm
Như mây với gió kết êm ái nguyền.

Như bến cột chặt với thuyền
Như chim liền cánh, mộng uyên ương cành
Như bồng lả lướt trời xanh
Như duyên với phận mãi thanh thản về.
..............
Tình si là khối tình mê
Vẫn ao ước được vẹn kề cận Em
Bồng lai thơm thảo chăn rèm
Ngàn thu vọng mãi những thèm khát nhau…

HANSY