Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI - Vũ Đức Sao Biển - PHẦN 6

KIM DUNG
GIỮA ĐỜI TÔI

***
Vũ Đức Sao Biển
***
PHẦN 6

51. Con trâu thông thái
52. Thiên hạ đệ nhất đại mỹ nhân
53.Thử bình bầu Thập đại mỹ nhân
54. Chân dung Nhạc Bất Quần
55. Lam Phượng Hoàng
56. Đại phu Bình Nhứt Chỉ
57. Từ AQ tới Vi Tiểu Bảo
58. Vi Tiểu Bảo và phép thắng lợi tinh thần
59. Vi Tiểu Bảo và nghệ thuật làm quan
60. Vi Tiểu Bảo và kỹ thuật xuyên tạc thông tin



LÃNG ĐÃNG

LÃNG ĐÃNG

Tầm xuân ơi
Thương nhớ vô cùng
Nửa đời phiêu bạt chỉ mong gặp người…

Thềm xưa
Có buổi
Giong vể
Mà đâu nghe thấy giọng thề buổi nao…

Nồng thơm
Ủ ấp
Hồn trinh
Còn chăng mắt biếc môi tình gởi trao…

Chiều nay
Một kẻ
Ngây khờ
Tìm trong gió lạc vần thơ thuở nào…

HANSY



THÌ THẦM VỚI TÌNH YÊU

226.
THÌ THẦM VỚI TÌNH YÊU

Anh chỉ còn một tình yêu duy nhất
Trao cho em trọn vẹn đó nha em
Hãy nâng niu, trân trọng, hãy giữ gìn
Mỏng mảnh lắm nhưng đẫm vàn sâu thẳm.

Anh chỉ có giọt tim hồng nồng mặn
Rót vào em đặc sếnh cõi hồn em
Hãy thương yêu, gói gọn, ủ ấp thêm
Để mãi mãi dịu mềm như cổ tích.

Anh chỉ có một hương lòng ngọt mật
Chan trong em, hòa lẩn giữa lòng em
Để miên man tâm sự suốt ngàn đêm
Tình mình đó, liêu trai từ tiền kiếp.

Anh chỉ có một kiếp đời đơn chiếc
Giao cho em, người con gái anh thương
Dậy thơm nồng, tỏa dịu lịm ngàn phương.
Chùm hoa mộng lung linh niềm ngóng đợi.

Anh chỉ còn một tình yêu sau cuối
Dành cho em cả đó, nhé em yêu
Hãy thương anh, quyện một sáng như chiều
Sau tình em, anh không còn gì cho ai nữa…

HANSY


TÌNH MÃI LÊN NGÔI

Nhận tình yêu như nhận cả trời thương
Chỉ duy nhất con đường chung thủy
Trao anh cả chắt chiu và tận tụy
Gom góp lòng trân quý cho trái tim

Giữ cho em êm đềm góc tình thơ
Cho thương nhớ đợi chờ còn lưu mãi
Đời vạn khó nhưng lòng tin vững chãi
Và nguyện cầu giấc mơ mãi ngọt ngào

Thế nhé anh tình yêu mãi dạt dào
Dẫu khúc khuỷu cũng trao lòng bền chặt
Dù giông bão tơ hồng luôn bện thắt
Cả đời này son sắt chỉ mình anh

Giữ cho em vườn trầu mãi ngát xanh
Vôi nồng thắm duyên lành cùng thắt mối
Đời sương gió duyên mình không có tội
Nguyện muôn đời trao cả khối tình chung.

Hoa Tím

HOANG LIÊU

HOANG LIÊU

Kỷ niệm tan tành kỷ niệm trôi
Ái bay mù biệt ái bay rồi
Trầm hương nhòa nhạt trầm hương dỗi
Nguyệt quế chao chòng nguyệt quế ôi
Tình huyễn ngày nao tình huyễn dối
Tiếng gian buổi ấy tiếng gian bồi
Dìm thân khổ não dìm thân tội
Có hiểu tâm lòng có hiểu tôi

Có hiểu tâm lòng có hiểu tôi
Nỗi đau khôn xiết nỗi đau bồi
Sao mà bạc ước sao mà vội
Để sớm chia lòng để sớm ôi
Yêu lặng ngắt ngùi yêu lặng cỗi
Luyến chao chùng tiếc luyến chao rồi
Mình ta cô lẻ mình ta tội
Kỷ niệm tan tành kỷ niệm trôi


HANSY

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2016

VĂN HỌC,TRƯỚC HẾT, LÀ VĂN BẢN – Nguyễn Hưng Quốc

VĂN HỌC
TRƯỚC HẾT, LÀ VĂN BẢN 

Trong một cuộc tán gẫu về văn học quanh một bàn nhậu ở Việt Nam, dịp tôi về thăm nhà vào cuối năm 2000, một người nghe đâu cũng làm thơ hỏi tôi:
"Nghe nói hình như anh có viết một cuốn sách về Võ Phiến?"

Tôi gật đầu xác nhận. Người ấy nói tiếp:
"Tôi không hiểu tại sao anh lại mất thì giờ như vậy. Tôi thấy Võ Phiến viết xoàng lắm."

Tôi kiên nhẫn:
"Anh có đọc Võ Phiến nhiều không?"
"Không. Trước năm 1975, tôi chỉ đọc vài bài viết của ông ấy trên báo thôi."
"Còn sau năm 1975 thì sao?"
"Không. Tôi không đọc gì của ông ấy cả."

Tôi nói cho qua chuyện:
"Sau năm 75, qua Mỹ, Võ Phiến viết nhiều lắm. Mới đây ông ấy cho in bộ sách về văn học miền Nam dày đến 7 tập."

Nhà thơ nọ bỗng lên giọng, gay gắt:
"Tôi thấy ổng chỉ viết linh tinh."
Tôi ngạc nhiên:
"Ủa, anh đọc rồi hả?"

Nhà thơ nọ đáp, đầy tự tin:
"Chưa. Tôi không có bộ sách đó. Nhưng tôi có đọc mấy câu Võ Phiến phê bình Vũ Khắc Khoan được trích trong một bài báo đăng trên tờ gì đó ở Mỹ."

Thành thực mà nói, tôi không quan tâm đến việc nhà thơ vô danh nọ không đồng ý với tôi hay coi thường Võ Phiến. Một phần, qua buổi trò chuyện, tôi không đánh giá cao sự hiểu biết cũng như khả năng phán đoán của nhà thơ ấy cho lắm; phần khác, quan trọng hơn, cho dù sự bất đồng ấy đến từ một người thông minh và nhạy cảm hơn, tôi cũng cho là chuyện bình thường. Trong phạm vi văn học, có lẽ chỉ có những điều vớ vẩn nhất, tức những điều ngay cả những người không biết đọc và không biết viết cũng biết, mới hy vọng có thể được mọi người đồng ý. Tuy nhiên, tôi vẫn không ngớt ngạc nhiên về thái độ của nhà thơ ấy, một thái độ thô bạo và ngây thơ lạ thường. Thô bạo ở chỗ sẵn sàng công kích bất cứ ai nói khác điều mình nghĩ, và ngây thơ ở chỗ cả tin vào một vài câu trích dẫn bâng quơ đâu đó đến độ suồng sã nhảy xổ ra tranh luận về những cuốn sách anh chưa hề đọc.

Thái độ thô bạo và ngây thơ như vậy, tôi ngờ là xuất phát từ một sự ngộ nhận về phê bình và dẫn đến hậu quả là làm cho công việc phê bình các hoạt động phê bình cứ loanh quanh mãi trong vòng đàm tiếu vu vơ và vô bổ.

Không những nhảm nhí, nó còn phản văn học.

Chúng ta đã có chữ phản khoa học để chỉ thái độ thiếu tôn trọng các giá trị khoa học và đi ngược lại các phương pháp khoa học. Chữ phản văn học tôi dùng ở đây nhằm chỉ thái độ coi rẻ các đặc trưng cơ bản của văn học, đối xử với văn học như một cái gì không phải là văn học.

Đặc trưng cơ bản của văn học là gì? Có nhiều cách trả lời tuỳ theo những quan điểm khác nhau, tuy nhiên, có một điểm hầu như mọi trường phái phê bình hiện đại đều chấp nhận, đó là: tính không thể giản lược và không thể thay thế được của các tác phẩm văn học.

Với các nhà hình thức luận ở Nga, những kẻ xem nghệ thuật là kỹ thuật như tựa đề một bài viết nổi tiếng của Viktor Shklovsky "Art as Technique", mục tiêu chính của nghiên cứu văn học là tính văn chương; yếu tính của tính văn chương nằm ở những sự vi phạm vào các thói quen để ngôn ngữ được lạ hoá; nơi thể hiện chính của tính văn chương là các thủ pháp nghệ thuật; và nơi tồn tại của các thủ pháp ấy chỉ có thể là văn bản. Với các nhà Phê Bình Mới, tác phẩm văn học là một cái gì có tính tự trị: để hiểu nó, người ta phải tiếp xúc trực tiếp với nó, căn cứ vào những yếu tố hình thức trong văn bản, chứ tuyệt đối không được đi qua bất cứ một thứ trung gian nào khác, kể cả tác giả (điều họ gọi là nguỵ luận về ý định, intentional fallacy) và độc giả (điều họ gọi là nguỵ luận về hiệu ứng, affective fallacy).

Với các nhà cấu trúc luận, văn học không có gì khác hơn là ngôn ngữ; ngôn ngữ không có gì khác hơn là các quan hệ; và các quan hệ ấy không có gì khác hơn là cách cấu trúc của văn bản. Sau này, các lý thuyết văn học hậu hiện đại đều phủ nhận tính khép kín và tính tự trị của văn bản, đều nhấn mạnh vào tính liên văn bản, và đều tin là bên trong hoặc đằng sau văn bản bao giờ cũng có sự hiện diện của vô số những yếu tố khác, từ ngôn ngữ đến lịch sử, văn hoá, chính trị, xã hội, phái tính, chủng tộc, v.v... Tuy nhiên, để tiếp cận với những yếu tố ấy, con đường duy nhất mà nhà phê bình phải đi qua là chính cái văn bản mà họ phê bình.

Văn bản văn học dù được xem là một chỉnh thể thống nhất và tự tại như chủ trương của các nhà Phê Bình Mới, hình thức luận và cấu trúc luận hoặc như một bức khảm của những trích dẫn (mosaic of quotations) như chủ trương của các nhà giải cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận, hậu thực dân luận, nữ quyền luận, đều là một cái gì không thể thay thế được.

Như thơ, chẳng hạn. Đến với thơ là phải đến với văn bản thơ. Khi bị tóm tắt, tức là khi không còn là cái văn bản nguyên thuỷ của nó, thơ không còn là thơ nữa. Nó chỉ còn lại một ít sự kiện và ý tưởng trong khi ai cũng biết thơ không phải chỉ là sự kiện và ý tưởng. Bên cạnh sự kiện và ý tưởng, thơ còn có ngôn ngữ với những cách thức tổ chức đặc biệt của nó, từ việc khai thác các âm, vần, thanh điệu, cú pháp đến cách xây dựng hình tượng, đến cả cách trình bày trên trang giấy, v.v... Đó là hình hài của thơ, là da thịt của thơ, là nhan sắc của thơ, là... gần như tất cả thơ.

Chính vì vậy, trước đây các nhà Phê Bình Mới đã cực lực phản đối việc diễn xuôi (paraphrase) thơ. Họ cho đó là điều bất khả.

Mà bất khả thật. Làm sao người ta có thể chuyển ra văn xuôi mà vẫn giữ được cái nét độc đáo trong hai câu thơ quen thuộc này của Xuân Diệu: "Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ / Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya"? Thế cụm từ "chưa xong nhớ" bằng bất cứ một hình thức diễn đạt nào khác, chẳng hạn,"chưa nguôi nhớ" nghe chừng hợp lý hơn, hương vị của câu thơ chắc chắn sẽ bị phai nhạt rất nhiều. Bởi vì chính chữ "xong" ấy đã làm cho chữ "nhớ" mới hẳn: từ một động từ diễn tả tâm tình nó trở thành một động từ diễn tả động tác, có tính vật lý và đầy sức nặng. Diễn ra văn xuôi, người ta có thể giữ được sự liên tưởng đến hai câu thơ nổi tiếng của Lý Bạch ngày xưa "Cử đầu vọng minh nguyệt / Đê đầu tư cố hương", từ đó giữ được tính liên văn bản và tính xuyên thời gian của văn học; có thể giữ được cái ấn tượng lửng lơ khi đằng sau động từ "ngắm" không hề có một đối tượng gì cả; có thể giữ được cái ám ảnh về không gian và thời gian bằng cách lặp lại ở đầu câu trên hai động từ liên quan đến không gian (ngẩng / ngắm) và lặp lại ở cuối câu dưới hai danh từ liên quan đến thời gian (đêm / khuya); có thể giữ được cái cách dùng một mùi hương để diễn tả ý niệm thời gian; và có thể giữ được sự nhấn mạnh vào yếu tố thời gian ấy bằng cách dùng thật nhiều các phụ từ như: mãi, chưa, xong, rồi, đã, v.v...

Nhưng làm sao người ta có thể giữ được cái cảm giác mang mang và man mác ở câu trên, khi để diễn tả động tác ngắm và nỗi niềm nhớ, tác giả đã dùng thật nhiều vần trắc và nguyên âm mở (ngẨng đẦu ngẮm mÃi chưa xOng nhỚ) và cái cảm giác sâu lắng, thoáng chút bùi ngùi và hắt hiu ở câu dưới, khi để diễn tả nỗi cô đơn trong khuya khoắt, tác giả đã dùng thật nhiều vần bằng và nguyên âm khép (hoa bƯỞi thƠm rồi: đÊm đã khuYa)?

Thơ như thế mà văn xuôi thì cũng như thế. Một cuốn tiểu thuyết, chẳng hạn, không phải chỉ là một cốt truyện để có thể tóm tắt được một cách dễ dàng. Dùng một cốt truyện, được viết bởi hai nhà văn khác nhau, chúng ta có thể có hai tác phẩm khác nhau một trời một vực. Thử tước bỏ tất cả cách diễn tả độc đáo và sắc sảo của Nguyễn Tuân hay của Phạm Thị Hoài, chỉ giữ lại cốt truyện trong các truyện ngắn của họ, chúng sẽ còn là cái gì? Chắc chắn chúng không khác các truyện ngắn trong các tờ báo học trò bao nhiêu cả.

Thử tước bỏ các chi tiết nho nhỏ trong bộ truyện Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, chỉ giữ lại cốt truyện về những bước thăng trầm trong gia đình giáo Hiến hay về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn hay về bối cảnh chính trị và xã hội vào nửa sau thế kỷ 18, bộ truyện ấy sẽ còn lại cái gì? Chẳng còn cái gì cả. Bởi nét đặc sắc của Sông Côn mùa lũ không nằm trên cái cấu trúc vĩ mô gắn liền với các biến động lớn lao của lịch sử, tức những mùa nước lũ, mà nằm ở những chi tiết nho nhỏ, có vẻ như thứ yếu, liên quan đến những đám bèo trôi giạt theo các dòng nước lũ ấy. Mất chúng, bộ truyện dường như mất tất cả. Trong vô số các chi tiết nho nhỏ ấy, thử nêu lên một ví dụ: dòng nước. Sông Côn mùa lũ mở đầu bằng hình ảnh một dòng sông, lúc gia đình giáo Hiến lếch thếch bồng bế nhau đi tị nạn, và kết thúc cũng bằng một dòng sông, sông Bến Ván, nơi dừng chân của mẹ con An. Nó mở đầu bằng dòng kinh nguyệt đầu tiên của An và kết thúc cũng bằng dòng kinh nguyệt của Thái, con gái của An. Giữa những dòng chảy ấy là dòng chảy điên cuồng của đất nước và của số mệnh từng người: những cuộc “hành kinh” của lịch sử.

Nên lưu ý là hình ảnh về những dòng chảy ấy, dưới nhiều hình thức và với nhiều mức độ khác nhau, bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác chứ không riêng gì trong Sông Côn mùa lũ. Tên các tác phẩm của ông: Nỗi băn khoăn của Kim Dung, Bão rớt, Tiếng chim vườn cũ,Qua cầu gió bay, Đường một chiều, Ngựa nản chân bon, Xuôi dòng, Mùa biển động (5 tập), và Sông Côn mùa lũ (4 tập), trong đó, trừ tập tiểu luận đầu và tập truyện thứ hai, các tựa sách khác đều sử dụng một trong ba hình tượng: gió, nước và con đường. Nhiều nhất là hình tượng nước. Trong tám tựa sách, ba tựa sau cùng, tất cả đều xuất hiện sau năm 1975, đều liên quan đến nước. Tựa cũ của Đường một chiều là Bóng thuyền saycũng liên quan đến nước. Qua cầu gió bay cũng thấp thoáng hình ảnh của nước. Ám ảnh về nước thật ra là ám ảnh về sự chuyển động. Hai hình tượng còn lại, gió và con đường, cũng gắn liền với ý niệm về chuyển động ấy.

Toàn là những sự chuyển động bất thường và ngoài ý muốn: đường thì một chiều, biển thì động, sông thì đang mùa lũ, gió thì bay, bay dữ đến độ thành bão rớt. Sự say mê đối với các chuyển động, thật ra, không có gì mới: nó đã có ít nhất từ thời phôi thai của tiểu thuyết. Sự say mê đối với các chuyển động bất thường và ngoài ý muốn cũng không mới: đó là sự say mê chung của hầu hết các nhà văn hiện thực. Tuy nhiên, ở phần lớn các nhà văn hiện thực, sự say mê đối với các chuyển động, nếu là chuyển động xã hội, thường dẫn đến cảm hứng phê phán, nếu là chuyển động lịch sử, thường dẫn đến cảm hứng sử thi với những bức tranh hoành tráng, ở đó, người đọc có thể nhìn thấy những nhân vật cao hơn hẳn đời thường; ở Nguyễn Mộng Giác thì niềm say mê đối với các chuyển động xã hội chỉ dẫn đến những cảm hứng nhân đạo và niềm say mê đối với các chuyển động lịch sử chỉ dẫn đến một cái nhìn mang đầy tính bi kịch.

Người bị ám ảnh nhiều về con đường cũng là người viết cuốn Ngựa nản chân bon; người bị cuốn hút bởi những hình tượng như biển động, mùa nước lũ cũng lại là tác giả của cuốn Xuôi dòng; người say mê Kim Dung, nhà văn chuyên viết truyện chưởng đầy tính bạo động lại chú ý nhất, ở Kim Dung, một khía cạnh ít bạo động nhất: nỗi băn khoăn... Tính chất chuyển động, do đó, cứ như gắn liền với tính chất mỏi mệt; tính chất dữ dội lúc nào cũng song song với một cái gì như thể ngao ngán.

Nghịch lý ấy thể hiện rất rõ trong phong cách của Nguyễn Mộng Giác: thích những đề tài lớn nhưng trong các đề tài lớn ấy lại chỉ chú ý đến các chi tiết nhỏ; thích lịch sử, nhưng trong lịch sử, chỉ xoáy vào các khía cạnh đời thường; thích các anh hùng, nhưng ở các anh hùng, chỉ tập trung ngòi bút vào những khoảnh khắc yếu đuối; thích tả phụ nữ ở cái mốc tuổi dậy thì, nhưng ở tuổi dậy thì, lại dừng lại ở một dấu ấn ít thơ mộng nhất: kinh nguyệt.
Có thể nói, tất cả các nhân vật của Nguyễn Mộng Giác đều là những nạn nhân. Những thanh niên trí thức ở Huế một thời ồn ào và hung hãn với giấc mộng anh hùng trong Mùa biển động, cuối cùng, cũng chỉ trở thành một đám nạn nhân nhếch nhác của lịch sử.

Ngay nhân vật Quang Trung trongSông Côn mùa lũ cũng không hẳn là một anh hùng. Đậm nét nhất trong hình ảnh nhân vật Quang Trung của Nguyễn Mộng Giác không phải là một võ tướng xông pha giữa trận địa hoặc một vị vua đầy quyền lực mà chỉ là một kẻ hay thao thức trong đêm khuya, hay băn khoăn trong lòng, hay ngập ngừng trong giọng nói, hay thoáng vẻ bối rối trên khuôn mặt, và hay tần ngần trong mỗi bước đi. Có cảm tưởng Quang Trung cũng chỉ là một nạn nhân của lịch sử: lịch sử xô ông tới, đẩy ông lên những đỉnh cao, và cuối cùng, thật bất ngờ, làm cho ông biến mất. Quang Trung như thế, các bà vợ của Quang Trung cũng như thế.

Cứ thử đọc lại đoạn Nguyễn Mộng Giác tả cảnh Ngọc Hân đi gặp hoàng hậu, vợ chính của Quang Trung. Hai người đàn bà quyền uy nhất nước thời bấy giờ không khác hai người đàn bà bình thường bao nhiêu cả: họ cũng bối rối, cũng cảm thấy nhỏ nhoi và bơ vơ khi đối diện với nhau, và cũng yếu ớt vô cùng: người thì đầy hoang mang, phải dựa vào bạn; kẻ thì phải ôm con chặt vào lòng cho thêm tự tin. Có thể nói, ngòi bút của Nguyễn Mộng Giác chỉ phát huy hết sự tinh tế khi dừng lại ở những bức tranh nho nhỏ và tội nghiệp như thế. Khi phải tả những sự lớn lao và dữ dội, ông thường dùng biện pháp lướt, tức chỉ vẽ thoáng qua, thật nhanh, hoặc có khi phải dựa dẫm vào người khác, hoặc các sử liệu hoặc một tác phẩm của ai đó cùng đề tài. Bởi vậy, nếu bỏ qua các chi tiết có vẻ như nằm ngoài mạch truyện chính, bộ truyện Sông Côn mùa lũ cũng như cả Mùa biển động sẽ không còn là gì cả.

Tôi dùng Nguyễn Mộng Giác để làm ví dụ là nhằm để chứng minh một luận điểm: ngay ở những nhà văn mà tài năng chủ yếu là ở cách kể chuyện thì các tác phẩm của họ cũng không thể bị giản lược được.

Đó cũng là sự khác biệt giữa các tác phẩm sáng tác và các tác phẩm phê bình hay lý luận. Các tác phẩm thuộc loại sau có thể bị giản lược. Dù vậy, việc giản lược ấy phải được tiến hành với một số điều kiện nhất định, trong đó, điều kiện quan trọng nhất là phải tôn trọng tính hệ thống của lập luận, nghĩa là, thứ nhất, không quá tập trung vào những chi tiết nhỏ nhặt trong những câu văn khai triển hoặc đẩy đưa; thứ hai, không tách một từ hoặc một nhóm từ ra khỏi câu văn và không tách câu văn ra khỏi mạch văn của nó để suy diễn hoặc xuyên tạc.

Hơn nữa, ngay cả khi việc giản lược ấy được thực hiện một cách cẩn thận và bởi một người có uy tín lớn thì nó cũng không thể thay thế hoàn toàn cho cái văn bản mà nó giản lược. Lý do đơn giản là bất cứ sự giản lược nào cũng đều là một sự diễn dịch (interpretation); mà bất cứ sự diễn dịch nào cũng đều mang dấu ấn chủ quan, xuất phát từ tầm hiểu và tầm nhìn của người diễn dịch. Bởi vậy, để nhận định một cách nghiêm túc về một công trình phê bình hay lý luận nào đó, điều kiện tiên quyết là phải tiếp cận với văn bản: đó là cái tuyệt đối không thể bị thay thế.

Cũng có thể nói một cách khái quát hơn: chỉ có một con đường duy nhất để tiếp cận với văn học, từ sáng tác đến phê bình và lý luận văn học, đó là qua văn bản. Một cuộc thảo luận về văn học, dưới hình thức viết hay hình thức nói, chỉ có thể nghiêm túc khi nó bắt đầu với việc đọc văn bản. Thái độ bất chấp văn bản bao giờ cũng là một thái độ phản văn học.





HẠ BUỒN ƠI

 
HẠ BUỒN ƠI

Cuối trời thương nhớ, xót xa ơi!
Một thoáng buồn tênh khó thốt lời 
Thương ai tóc xõa trong chiều vắng 
Tím cả mây trời, Hạ trắng ơi! 

Ta chập chờn nghỉm giữa cơn say 
Thoáng bóng oanh vàng lả lướt bay 
Xuân chưa qua hết sao tàn úa 
Tóc Hạ vương buồn nhuốm mắt ai. 

Chiều nay lá rụng kín vàng sân 
Chiếc bóng đơn côi giấu nấc thầm 
Còn đâu nắng lụa cài trên tóc 
Hạ trắng ơi, nuối tiếc vô ngần. 

Thôi rồi tan giấc mộng liêu trai
Tỉnh thức đâu nào chốn bồng lai 
Ta - Em từ tạ mùa thương nhé 
Cho ký ức về cõi Thiên thai. 

HANSY

KHOẢNH KHẮC GIẬN HỜN

225.
KHOẢNH KHẮC GIẬN HỜN

Giận anh rồi em khoác áo đi chơi
Hòn Đá bạc tuyệt vời với biển cả
Xe chầm chậm nhưng trong lòng hối hả
Băng trên đường buồn bã cũng tan nhanh

Bao nhiêu xuân góp nhặt giữa biển xanh
Ghét anh lắm loanh quanh đồi cây đá
Lần đầu đến nhưng không gì khác lạ
Chỉ muôn trùng sóng cả với đại dương

Em điệu đà bấm ảnh chụp dễ thương
Có cô bé như giọt sương dễ vỡ
Diệu hiền lắm dẫu lần đầu gặp gỡ
Nét trinh nguyên rất bỡ ngỡ chiều xuân

Cạnh anh trai dễ thương gấp muôn lần
Khoảnh khắc ấy tưởng chừng như rất tuyệt
Người bạn mới 
Chị em càng thân thiết
Đi bên nhau để giết bớt thời gian

Em giận anh cái giận cũng xua tan
Chiều Đá bạc như chan niềm thương mến
Có lẽ đó cũng khiến xuôi định mệnh
Phút tương phùng như ngọn nến lung linh

Lâu lắm rồi thiếu đón nắng bình minh
Ngày hôm ấy biết mình đang giận dỗi
Tim se sắt em cứ nhìn điện thoại
Đợi anh hoài dỗi lại càng dỗi thêm

Ghét thật nhiều nhưng đâu dễ kiếm tìm
Chân tình đó giận hờn thêm đau nhói
Anh vô lý em nào đâu có lỗi
Bênh vực người muốn đổi bến tình yêu

Chiều Đá bạc nàng gió buồn hắt hiu
Con sóng lặng chắc biết điều em nghĩ
Trời man mát biển dường như hiểu ý
Ngắm em cười thủ thỉ lời yêu thương

Biển dỗ em còn anh vẫn lạc đường
Ghét lắm đó mà thương thì vẫn nén
Những bậc đá rước chân còn e thẹn
Em nhớ anh nghe nghèn nghẹn buồng tim

Giận làm chi 
Lòng dịu vợi buồn thêm
Tại anh hết cứ tìm về bến lạ
Đem ong bướm thỏa sức mà buông thả
Chẳng nghĩ gì vất vã trái tim em.

Hoa Tím

THÌ THẦM VỚI TÌNH YÊU

Anh chỉ còn một tình yêu duy nhất
Trao cho em trọn vẹn đó nha em
Hãy nâng niu, trân trọng, hãy giữ gìn
Mỏng mảnh lắm nhưng đẫm vàn sâu thẳm.

Anh chỉ có giọt tim hồng nồng mặn
Rót vào em đặc sếnh cõi hồn em
Hãy thương yêu, gói gọn, ủ ấp thêm
Để mãi mãi dịu mềm như cổ tích.

Anh chỉ có một hương lòng ngọt mật
Chan trong em, hòa lẩn giữa lòng em
Để miên man tâm sự suốt ngàn đêm
Tình mình đó, liêu trai từ tiền kiếp.

Anh chỉ có một kiếp đời đơn chiếc
Giao cho em, người con gái anh thương
Dậy thơm nồng, tỏa dịu lịm ngàn phương.
Chùm hoa mộng lung linh niềm ngóng đợi.

Anh chỉ còn một tình yêu sau cuối
Dành cho em cả đó, nhé em yêu
Hãy thương anh, quyện một sáng như chiều
Sau tình em, anh không còn gì cho ai nữa…

HANSY

TÌNH MONG

TÌNH MONG
(Thuận Nghịch độc)

Trông chờ mỏi lả úa trần duyên
Ngóng rã tim đời lạc nẻo quyên
Lòng hỡi thế sao đành đổi nguyện
Mộng ơi nào nỡ đoạn thay nguyền
Mong cầu phước ái thơm lành chuyện
Vọng ước ân tình đượm tốt nguyên
Nồng mặn thắm vương đừng ảo huyễn
Dòng thơ nối dệt bến lâng thuyền

Thuyền lâng bến dệt nối thơ dòng
Huyễn ảo đừng vương thắm mặn nồng
Nguyên tốt đượm tình ân ước vọng
Chuyện lành thơm ái phước cầu mong
Nguyền thay đoạn nỡ nào ơi mộng
Nguyện đổi đành sao thế hỡi lòng
Quyên nẻo lạc đời tim rã ngóng
Duyên trần úa lả mỏi chờ trông

HANSY

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

50. VI TIỂU BẢO Ở ĐÂU?

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI

50.
VI TIỂU BẢO Ở ĐÂU?


“Cắn nhầm lưỡi” là chuyên mục tương đối mới trên tờ Tuổi trẻ Cười. Mấy anh nghịch ngợm trong toà soạn thấy tôi ham giỡn, giao chuyên mục này cho tôi, rồi buộc tôi “cắn” lung tung mặc dù tôi chưa hề được cắn lưỡi ai. Cái đó kêu rằng vì nhân dân mà cắn (?). Nay tôi xin “cắn” anh chàng Vi Tiểu Bảo, một nhân vật hài hước, ngộ nghĩnh, dễ thương trong Lộc Đỉnh ký của Kim Dung. Cái này kêu rằng “cắn” đỡ buồn, mua vui cho bạn đọc, như mình cắn hạt dưa vậỵ

Vi Tiểu Bảo sinh ra trong viện Lệ Xuân, một động điếm ở thành Dương Châu, Trung Hoa, vào cuối đời Thuận Trị, đầu đời Khang Hy nhà Thanh. Mẹ của Vi Tiểu Bảo – Bà Vi Xuân Phương – bang giao rộng rãi trên mức tình cảm với anh em Hán, Mông, Mãn, Tạng, Hồi; chẳng thèm nhớ rõ bố thằng bé là ai, đành lấy họ mẹ làm họ cho con. Vi Tiểu Bảo không học nên không biết chữ. Khả năng văn hoá của ngài là nhận ra chữ nhất (一, 1 nét), chữ nhị (二, 2 nét), chữ tam (三, 3 nét), chữ tứ (四) và chữ thập (十, 1 nét ngang, 1 nét sổ). Ngài có các sở trường: Chửi tục lưu loát, hát thuộc lòng bài Thập bát mô “Một ta sờ… Hai ta sờ … Ba ta sờ … Sờ đúng cái đùi của nàng” và nhớ được một mớ tuồng tích, cố sự trong Anh liệt truyện.

Cuộc sống chộn rộn, ngài theo tráng sĩ Mao Thập Bát trốn lên Bắc Kinh, lọt được vào cung nhà Thanh. Nơi đây, ngài giết thái giám Tiểu Quế Tử, hoá thành tên thái giám giả hiệu. Ngài trốn vào trù phòng ăn vụng, tình cờ làm quen và kết bạn với Khang Hy (hơn ngài 2 tuổi). Lúc lên 15 tuổi, ngài tằng tịu với em gái nhà vua là công chúa Kiến Ninh, dám chửi nàng là "con đượi non”, chửi thái hậu (giả) là “mụ điếm già”. Trên cơ sở những kiến thức lưu manh đắc thủ tại thành Dương Châu cộng với những kiến thức tu nghiệp được về ngành trá học trong hoàng cung, ngài xứng đáng là nhân vật đệ nhất trá nguỵ. Nhờ ném tàn hương, giết được quyền thần Ngao Bái, Ngài được nhà vua phong phó đô thống hoàng kỳ, tước hiệu Ba Đồ Lỗ (Baturu, Dũng sĩ!). Cơ duyên đưa đẩy, ngài may mắn gặp tổng đà chủ Thiên Địa hội Trần Cận Nam, được ông thu nhận làm đệ tử và phong chức hương chủ Thanh Mộc Đường. Đây là một tổ chức chống nhà Thanh, khôi phục nhà Minh. Vi Tiểu Bảo trở thành gián điệp hai mang hết sức suất sắc, phục vụ cho cả Thanh triều và Thiên Địa hội.

Vua Khang Hy đã nhìn thấy chiều sâu văn hoá của Vi Tiểu Bảo: không bao giờ nói đúng bốn chữ Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang; không bao giờ nhớ được câu thành ngữ “thủ khẩu như bình”. Tuy nhiên, vừa ghét bọn quan lại cầu an xôi thịt, vừa mến thằng bé ngộ nghĩnh, miệng trơn như bôi mỡ; nhà vua lần lượt phong cho ngài các chức chánh đô thống hoàng kỳ, tổng quản thái giám, Khâm sai đại thần công cán Vân Nam, Tứ hôn sứ, Phó trụ trì chùa Thiếu Lâm (tỉnh Hồ Nam), Chánh trụ trì chùa Thanh Lương (Ngũ Đài Sơn), Khâm sai xây dựng Trung liệt từ Dương Châu, Tư lệnh mặt trận thủy chiến đánh Thần Long giáo, Lộc Đỉnh công, Tư lệnh mặt trận đánh quân La Sát (người Nga) ở biên giới Trung – Nga, Đại sứ đặc nhiệm toàn quyền đàm phán Trung – Nga. Đảm nhiệm những chức vụ cao cả đó, ngài hoàn thành một số công việc, có khi nghiêm chỉnh, có khi tào lao: ép buộc Ngô Tam Quế tạo phản, cứu mạng được nhiều anh hùng Thiên Địa hội, bắt phò mã Ngô Ứng Hùng, gia nhập Thần Long giáo, ngủ được với bảy phụ nữ Trung Hoa và một phụ nữ Nga, bảo vệ sinh mạng cựu hoàng Thuận Trị, khám phá âm mưu nằm vùng của thái hậu giả thuộc Thần Long giáo, bình trị những âm mưu tạo phản của Mông Cổ và Tây Tạng, bắt được cẩu quan Ngô Chi Vinh, hoà giải mối xung đột Trung – Nga, đánh Trịnh Khắc Sảng – lãnh đạo của thầy mình… Công lao của Vi Tiểu Bảo lớn hơn công lao của bất cứ vị cố mệnh đại thần Mãn Châu.
Nghệ thuật làm quan của Vi Tiểu Bảo rất đơn giản: chửi tục luôn mồm, dùng tiền mua chuộc lòng trung thành của kẻ dưới, tặng quà hậu hỹ cho đồng liêu và sẵn sàng đòi kẻ khác đưa tiền. Qua thăm Ngô Tam Quế, ngài nói một câu kiếm được ba trăm lạng vàng. Trịnh Khắc Sảng dám yêu A Kha của ngài; ngài bắt đánh cho một trận, bắt lấy máu viết lên vải văn tự thiếu một trăm vạn lạng vàng. Ngài là nhân vật đầu tiên dùng nữ vệ sĩ; là nhà sư (giả) làm phó trụ trì một chùa danh tiếng mà dám đánh bạc, chọc gái; là viên tướng duy nhất đi tiểu và bảo quân thụt nước đó vào thành trì của người Nga.

Tuy ngài không biết chữ nhưng vẫn nói khoác đọc được văn tự cổ nòng nọc, ấm ớ một vài từ tiếng Nga như “Tử man cơ” là giết chết đi, “Phục đặc gia tửu” là rượu Vodka, “Hà thư nhi khắc” là món thịt nướng, nhưng vẫn tự hào là mình tinh thông tiếng Nga (?). Khi đại sứ Nga sang Bắc Kinh trình quốc thư, ngài nhận nhiệm vụ phiên dịch. Đại sứ đọc, ngài dịch lưu loát: “Văn thành võ đức, nhân nghĩa anh minh, thương sinh trạch bị, thọ dữ thiên tề…”. Hoá ra đó là những câu nịnh bợ của Thần Long giáo mà ngài lỡ thuộc, không dính dáng gì tới quốc thư của Sa Hoàng. Thế nhưng vua Khang Hy vẫn mặt rồng hớn hở, cười nói mê ly! Bọn quan lại triều Thanh bái phục Vi đại soái không biết đâu mà kể!

Cuối cùng, dù có đùa giỡn đến mấy, Kim Dung cũng phải cho nhân vật Vi Tiểu Bảo của mình trốn ra đi cùng bảy mụ vợ hương trời sắc nước Tô Thuyên, A Kha, Mộc Kiếm Bình, Phương Di, Tăng Nhu, Song Nhi và Kiến Ninh công chúa. Trước đây, họ đã về Dương Châu, bà Vi Xuân Phương nhìn đàn dâu tươi tốt, thầm khen con tinh đời; nếu gã lập nên một viện thì toàn thể các viện ở Dương Châu sẽ sụp tiệm. Nay, chắc Vi Tiểu Bảo không dám về Dương Châu vì sợ vua Khang Hy truy nã. Ngay đến trùm cười Kim Dung cũng chẳng biết nhân vật của mình trốn đi đâu. Viết truyện cười như vậy quả thế gian đệ nhất, bọn hậu sinh ở Tuổi trẻ Cười xin ngả nón kính chào cụ. Ba trăm năm đã trôi qua, tất nhiên cũng chẳng nắm rõ hậu duệ của Vi Tiểu Bảo. Thế nhưng, ở đâu có bia ôm, động điếm; ở đâu có tham nhũng, có dùng tiền để mua chuộc kẻ dưới; ở đâu có chửi tục “con mẹ nó, tổ bà mười tám đời quân rùa đen, phường chó đẻ”; ở đâu có nịnh bợ; ở đâu có kẻ thú nhận “chữ nghĩa biết ta nhưng ta chẳng biết nó” thì ở đó có tinh thần Vi Tiểu Bảo được lưu truyền.

VỀ ĐÂU…

 
VỀ ĐÂU… 
1.
Thôi mà em 
Dỗi hờn làm chi 
Khi chúng mình 
Chia bước 
Về hai lối không nhau. 

Thôi mà em 
Đường tình chia biệt 
Có quay tìm kỷ niệm 
Cũng chỉ thêm đớn đau lòng. 
......... 
Rồi giông gió đường đời 
Sẽ đẩy chúng ta rời xa nhau mãi 
Bến bờ nào em đã chọn 
Mong là hạnh phúc nha em 
2.
Về đâu hở em 
Khi chiều đà tắt nắng 
Lấm tấm sầu u ướt đẫm cõi hồn 
Về đâu?
Về đâu? 

Về đâu hở em 
Hoang lạnh tim côi giữa mùa tình vỡ 
Xa xót thật nhiều 
Mà nào 
Có níu kéo được chút gì quá vãng đâu em... 

HANSY

NHẮN

224.
NHẮN

Có phải mùa này trái chín cây?
Trầu xanh đẹp mối má hây hây
Trăng cười thẹn lắm nàng mây hỡi
Chớp mắt làm duyên lữ khách ngây

Thích lắm yêu anh cả vạn ngày
Chân tình dễ vỡ lại càng say
Lời trao thắm thiết vành môi ấy
Ngọt đắng chen nhau mặc kệ ai

Nhắc mãi đừng quên bóng nguyệt gầy
Vì ai héo tựa dáng thân cây
Hờn anh đứng khóc thêm nhiều bệnh
Giận dỗi làm chi nước mắt chây

Lạ lẫm chi đâu một cánh mai
Mùa xuân đỏm dáng chớp mi hoài
Trao anh ước hẹn đầu xuân đó
Nhớ giữ dùm em mặc đắng cay

Hoa Tím

MUÔN THUỞ KHÔNG PHAI

Mầm xanh ngày đó đã nên cây 
Trái chín thơm ngon mận đỏ hây 
Nhớ chăng mùa cũ người yêu hỡi
Lặng ngắm em cười ta ngất ngây.

Rồi mộng theo trăng ướp tháng ngày 
Men nồng dậy khúc lửng lờ say 
Vầng trăng hạnh ngộ tiền duyên ấy
Dẫu gió giông về dễ trao ai.

Lắm độ vàng thương đóa cúc gầy 
Mỏi mòn bão tuyết, đọa lòng cây 
Ngàn mơ đổ xuống hoài tâm bệnh 
Lệ bén theo tình, chênh vênh thay.

Xuân về cho thắm rỡ ràng mai 
Giọt nắng thương yêu vẫn đượm hoài 
Một chút hương lòng ngày cũ đó 
Giữ tình muôn thuở chẳng hề phai.

HANSY

QUẠNH QUẼ MIỀN TRĂNG

QUẠNH QUẼ MIỀN TRĂNG
(Giao cổ)

Quạnh quẽ miền trăng lặng lẽ về
U lòng sương phụ quánh hồn mê
Còn đâu giữa cõi đôi vầng mộng
Vắng ngắt bên đời một bóng Khuê(1)
Ái vợi tim lòng đau ái lỡ
Tình sầu gan ruột xót tình tê
Ngàn đêm nín lặng mù hoang hoải
Chao chác ta ơi nuối đoạn thề  

Chao chác ta ơi nuối đoạn thề  
Van lòng thôi hẵng bớt khờ tê
Hờn mây gió nghẹn ngào hương lửa
Đau đớn tim lòng dỗi phụng Khuê(2)
Cứ ngỡ thuỷ chung thì ngọt ái
Hay nào bội phản khiến nhàu mê
Mà nghe vẳng lại mùa hoa bướm
Quạnh quẽ miền trăng lặng lẽ về

HANSY
(1)Khuê phụ
(2)Khuê các

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

VĂN HÓA LÀ GÌ? - Nguyễn Hưng Quốc

VĂN HÓA LÀ GÌ? 

Trong nhiều bài viết, trên blog cũng như trên facebook, tôi hay dùng các khái niệm như văn hoá dân chủ và văn hoá độc tài, văn hoá chiến tranh và văn hoá tham nhũng, văn hoá vô cảm, và văn hoá chụp giựt, v.v…Một số bạn đọc ngạc nhiên, hơn nữa, phản đối: Với họ, văn hoá là những gì tốt đẹp, do đó, không thể đi chung với những khái niệm như độc tài, tham nhũng, vô cảm hay chụp giựt được.

Thật ra, nếu những bạn ấy biết tiếng Anh và hay đọc sách báo tiếng Anh sẽ không thấy cách dùng của tôi có gì bất thường. Trong tiếng Anh, ngay trên báo chí phổ thông, người ta cũng dễ dàng bắt gặp vô số kết hợp kiểu văn hoá chính trị (political culture), văn hoá thể thao (sport culture), văn hoá McDonald’s (McDonald’s culture) văn hoá bạo động (violence culture), văn hoá nhà tù (prison culture), thậm chí, văn hoá hiếp dâm (rape culture), v.v…
Những cách nói và hiểu khác nhau ấy gắn liền với một vấn đề căn bản hơn: cách hiểu về khái niệm văn hoá.

Ở đây, xin nói ngay, cách hiểu khái niệm văn hóa của người Việt thường khá hẹp, và thành thực mà nói, khá lỗi thời. Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần Quốc Vượng chủ biên (1), văn hóa được định nghĩa là “sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người” (tr. 17). Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2), Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (tr. 27). Trong khi cách hiểu thứ nhất chỉ tập trung vào sản phẩm, cách hiểu thứ hai chỉ tập trung vào khía cạnh giá trị của văn hóa. Cả hai, tuy là những yếu tố quan trọng, nhưng chắc chắn không phải là nội dung duy nhất, hoặc, thậm chí, quan trọng nhất của văn hóa.

Khái niệm văn hóa, thật ra, rộng và phức tạp hơn thế rất nhiều. Theo Raymond Williams, “văn hóa là một trong hai hoặc ba chữ phức tạp nhất trong tiếng Anh” (3).

Nó phức tạp, trước hết, vì nó thường xuyên thay đổi theo thời gian. Thoạt kỳ thủy, ít nhất cho đến thế kỷ 17, quan niệm văn hóa mang tính cá nhân (individual concept of culture), ở đó, nó mang ý nghĩa như một sự đào luyện tâm trí để giúp vượt lên trên thế giới tự nhiên, bao gồm cả bản năng của con người. Từ thế kỷ 17 trở đi, một quan niệm mang tính tập thể về văn hóa (collective concept of culture) được hình thành, ở đó, yếu tố nổi bật nhất là tính đẳng cấp: một số người hoặc một số dân tộc được xem là có văn hóa và một số khác thì không hoặc nếu có, có rất ít (thường bị gọi là man rợ) và cần được khai hóa (Cách nhìn này còn ảnh hưởng ở Việt Nam với sự đồng nhất giữa giáo dục và văn hóa – với cách gọi “trình độ văn hóa” để chỉ trình độ giáo dục – và với những khái niệm như “vô văn hóa” hay “thiếu văn hóa” thông dụng). Từ thế kỷ 19 trở đi, một quan niệm mang tính thẩm mỹ về văn hóa (aesthetic concept of culture) được ra đời, với một nội hàm mới: bao gồm những thành tựu về văn học, nghệ thuật, âm nhạc, v.v... của một cộng đồng, từ đó, dẫn đến việc hình thành khái niệm văn hóa cao cấp (high culture) và văn hóa bình dân (popular culture) (4).

Khái niệm văn hóa phức tạp còn là vì nó vô cùng đa dạng. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân chủng học người Mỹ, A.L. Kroeber và Clyde Kluckholn đã sưu tập được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Điều đặc biệt là các định nghĩa ấy có xu hướng tăng dần theo thời gian. Chẳng hạn, theo Kroeber và Kluckholn, số lượng định nghĩa về khái niệm văn hóa xuất hiện, từ năm 1871 đến 1920, là sáu; trong thập niên 1920, là 22; trong thập niên 1930, là 35; còn trong thập niên 1940, là một trăm (5). Theo chiều hướng phát triển ấy, người ta có thể đoán số lượng các định nghĩa mới về văn hóa kể từ lúc Kroeber và Kluckhohn xuất bản công trình nghiên cứu của họ hẳn còn nhiều hơn nữa. Giới nghiên cứu thường sắp xếp các định nghĩa ấy theo một số khuynh hướng chính như sau:

Theo đề tài (topical approaches): nhìn văn hóa theo từng phạm trù như tôn giáo, ẩm thực, văn học, điêu khắc, kiến trúc, v.v...

Theo lịch sử (historical approaches): nhìn văn hóa như một truyền thống hay di sản vốn được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Theo cách ứng xử (behavioural approaches): nhìn văn hóa như những phong thái ứng xử được học tập và chia sẻ trong một cộng đồng.

Theo quy phạm (normative approaches): nhìn văn hóa như những lý tưởng hoặc quy luật cần thiết cho cuộc sống.

Theo chức năng (functional approaches): nhìn văn hóa như những cách thức ứng xử nhằm thích nghi hoặc đối phó lại môi trường và những điều kiện sống nhất định.

Theo tâm thức (mental approaches): nhìn văn hóa như những thói quen được di truyền từ đời này sang đời khác.

Theo cấu trúc (structural approaches): nhìn văn hóa như hệ thống các biểu tượng, ý tưởng và thực hành.

Theo biểu tượng (symbolic approaches): nhìn văn hóa như một hệ thống ý nghĩa tuy mơ hồ nhưng được cả xã hội chia sẻ.

Trong tất cả các khuynh hướng ấy, quan niệm được nhiều nhà nhân học và văn hóa học đồng ý và sử dụng nhiều nhất là quan niệm cho văn hóa, trước hết, là một hệ thống biểu trưng và ý nghĩa (system of symbols and meanings) mà một cộng đồng đã tạo ra, và đến lượt nó, góp phần tạo ra cộng đồng, trong đó, mọi người tồn tại không phải như những cá nhân riêng lẻ mà là những thành viên của cộng đồng: Tất cả đều sử dụng một khung nhận thức và một bảng tiêu chí chung để diễn dịch và đánh giá thực tại, để phán đoán quan hệ giữa người và người, từ đó, phân biệt thiện và ác, đạo đức và vô luân, đẹp và xấu, hay và dở, những điều thích và những điều không thích, v.v...

Chính trên cơ sở hệ thống biểu tượng và ý nghĩa như vậy, người ta mới dần dần tạo dựng và củng cố các hệ thống niềm tin và giá trị; và trên cơ sở các hệ thống niềm tin và giá trị ấy, xây dựng các hệ thống thiết chế xã hội và chính trị cũng như các phong cách ứng xử, bao gồm từ ngôn ngữ thân thể đến cách ăn mặc, ăn uống và các phong tục tập quán khác; cuối cùng, dần dần hình thành các sản phẩm văn hóa như văn học, âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa dân gian, v.v...

Với cách hiểu văn hóa như một hệ thống biểu trưng và ý nghĩa như vậy, chúng ta sẽ thấy những cách nói như văn hoá tham nhũng, văn hoá độc tài hay văn hoá bạo động không có gì mâu thuẫn hay ngược ngạo cả. Đó là những cách nhìn, cách nghĩ, cách diễn dịch và cách đánh giá của cả một tập thể, lớn hay nhỏ, về một số hiện tượng nào đó. Ví dụ, chuyện tham nhũng không phải chỉ là một động tác rút tiền từ túi mình để nhét vào tay người khác mà còn bao hàm, đằng sau động tác ấy, những quan niệm đã thành nếp, chẳng hạn, người ta tin hành động hối lộ ấy, một mặt, không có quan hệ gì đến đạo đức hay danh dự; mặt khác, nó sẽ giải quyết vấn đề một cách rẻ và nhanh chóng hơn, v.v… Cái gọi là văn hoá độc tài cũng vậy, nó bao hàm những cách hiểu khác nhau về quyền (rights), về thẩm quyền (authority) và về quyền lực (power) để người cai trị tự tin là mình làm đúng và những người bị trị hoặc chấp nhận hoặc đứng lên phản kháng.

Chú thích:
Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004.
Nxb Thành phố HCM, 1997.
Keywords, A Vocabulary of Culture and Society, London: Fontana Press, 1983, tr. 87.
Xem Karen Risager (2006), Language and Culture: Global Flows and Local Complexity, Clevedon: Multilingual Matters, tr. 35-37.
Xem Bernardo Bernardi (biên tập) (1977), The Concept and Dynamics of Culture, The Hague: Mouton Publishers, tr. 10.
Xem Karen Risager (2006), sđd., tr. 12-16.




NGÀN NHỚ

 
NGÀN NHỚ

Trong tim này vẫn chỉ một Em thôi 
Vẫn hình dáng mắt môi hằng thương nhớ 
Vẫn hoài mộng ngoái lui chiều hạnh ngộ 
Xao xuyến êm đềm bừng vỡ hồn Ta.

Em bước sang đầy huyễn hoặc ngọc ngà 
Thơm chín lựng mùi hương hoa thượng giới
Trong tiền kiếp hứa lòng luôn ngóng đợi
Nên kiếp này vời vợi những nguồn thương 

Mãi nhé người, diệu ngọt gánh yêu đương 
Hoài sâu thẳm mật đường lâng ngát mãi 
Có chi nào phải e dè nghi ngại 
Khi hai mình hoa trái lộng từng giây. 

Vẫn của Em từ trước đến ngày nay 
Tim chung thủy đập muôn chiều vang vọng 
Vẫn ước ao cùng nhau hòa thơm mộng 
Quấn quyện ân tình, lả lướt nồng say... 

HANSY

BÀI THƠ TẶNG ANH

223.
BÀI THƠ TẶNG ANH

Bài thơ nắn nót tặng anh
Gió xuân phấp phới bung vành tình xuân
Trăm hoa
Chào đón tưng bừng
Khẽ khàng chân bước nhạc rừng reo vang

Chúc cho đời mãi bình an
Trong tay mình với muôn ngàn lời yêu
Chiều chiều bẻ nhánh cô liêu
Đón anh về bến thương nhiều đò ơi

Đậm đà
Nam bắc hai nơi
Cũng thương khắc cốt, không rời trái tim
Cà Mau chờ đợi cánh chim
Đồng Nai thương nhớ về tìm đoàn viên

Thương yêu son sắt định tiền
Xuân về mở cửa mình truyền hơi yêu
Dáng xuân khoe sắc diễm kiều
Lắc đầu anh bảo thương nhiều Tím thôi.

Hoa Tím

LỜI NHĂN ĐẦU XUÂN

Đầu xuân anh viết cho em 
Gói tròn mơ ước, nỗi niềm vào xuân 
Đất trời thay sắc rộn bừng 
Nhưng đây vẫn chỉ một lòng nhớ thương.

Cầu cho em mãi bình an 
Giữ gìn tim nhỏ rộn ràng tình yêu 
Xóa đi năm tháng cô liêu 
Mĩm cười đón nắng mỹ miều, người ơi.

Dẫu rằng có lúc cách nơi 
Đôi ta vẫn mãi rạng ngời con tim 
Ước ao liền được cánh chim 
Thỏa lòng mong đợi hai miền đoàn viên.

Kiếp xưa mình bén chút duyên 
Nên nay thành tựu ngọt mềm niềm yêu 
Thương em dáng liễu yêu kiều 
Qua bao sông biển vẫn neo thuyền tình.

Xuân về trầu mướt lá xinh
Ôm cau bền chặt, bồng bềnh nợ duyên…

HANSY

PHÔ NÚI CAO

PHÔ NÚI CAO
(Thuận Nghịch độc)

Sương trắng phủ nhòe huyễn ảo thông
Ngưỡng thầm thơ diệu cõi mờ trông
Thương đồi diễm ái thơm tràn mộng
Tưởng cõi hoan nguyền thỏa ước mong
Đường dạo uốn quanh triền rợp bóng
Hướng quành chao lượn bướm ngời không
Vương trầm ngát đẫm loang hồ sóng
Trường với bạn xưa ngoái chạnh lòng

Lòng chạnh ngoái xưa bạn với trường
Sóng hồ loang đẫm ngát trầm vương
Không ngời bướm lượn chao quành hướng
Bóng rợp triền quanh uốn dạo đường
Mong ước thỏa nguyền hoan cõi tưởng
Mộng tràn thơm ái diễm đồi thương
Trông mờ cõi diệu thơ thầm ngưỡng
Thông ảo huyễn nhòe phủ trắng sương

HANSY