Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

3 BÀI THƠ VỀ CHUYỆN GIÀY BAY BỊ PHẠT 750 NGÀN ĐỒNG


3 BÀI THƠ
VỀ CHUYỆN GIÀY BAY
BỊ PHẠT 750 NGÀN ĐỒNG

Tại buổi tiếp xúc ngày 20-10 giữa cử tri quận 2 – TPHCM với nhóm đại biểu Quốc hội trong đó có ông Nguyễn Thiện Nhân- Bí thư Thành ủy TPHCM và bà Nguyễn Thị Quyết Tâm- Chủ tịch HĐND TPHCM, nữ công dân Nguyễn Thị Thùy Dương đã bất ngờ ném một chiếc dép về phía những nhà lãnh đạo lẽ ra rất khả kính. Hành động ấy khiến Nguyễn Thị Thùy Dương bị xử phạt hành chính 750 ngàn đồng. Tuy nhiên, hình ảnh dép bay lại tạo nguồn thi hứng lai láng. Ba nhà thơ nổi tiếng đã có ba bài thơ khác nhau. Nhà thơ Nguyễn Duy nắc nỏm “chỉ là một chiếc dép, mà cuồng nộ dâng cao”, nhà thơ Dương Trọng Dật khẳng định “chiếc giày bay trong cơn phẫn nộ thiêng liêng”, còn nhà thơ Bùi Chí Vinh kết luận “liệng dép là tức nước vỡ bờ sau gần nửa thế kỷ làm thinh”!


CHỈ LÀ MỘT CHIẾC GIÀY

Ngày phụ nữ, nhận quà , một chiếc dép,
Dồn nén hai mươi năm nỗi phẫn uất bị cướp mất nhà
Những người nông dân Thủ thiêm chân chất,
Bỗng chốc trở thành những dũng sĩ, xông pha .
Không phải là gươm dáo
Không phải súng ngắn, súng dài
Chỉ là một chiếc dép,
Mà cuồng nộ dâng cao!
Thủ Thiêm, Thủ Thiêm
Một đoạn lịch sử,
bi thảm xiết bao!

NGUYỄN DUY


CƠN PHẪN NỘ THIÊNG LIÊNG

Chiếc giày bay trong cơn phẫn nộ thiêng liêng
Như nhát dao cứa vào tim
Đau thắt câu ca cướp đêm là giặc...
Nỗi đau dằng dặc 20 năm
Đẫm nước mắt người dân
Vỡ ra thành ung nhọt
Thủ Thiêm
Lợi ích nhóm, thói cường hào
Sự vô cảm của trái tim
Chiếc giày bay
Lời cảnh báo không chỉ cho riêng ai
Phản bội lời thề “nước là nước dân, Dân là gốc nước”
Và những đày tớ nhân dân
Quên chân lý vắt từ máu xương nghìn năm
Nuôi sự trường tồn dân tộc
“Đẩy thuyền, lật thuyền cũng là Dân”...

DƯƠNG TRỌNG DẬT


BÀI THƠ VỀ LIỆNG DÉP 

Liệng dép vào một kẻ đại diện chính quyền
Là phản ứng con người sòng phẳng nhất
Chiếc dép có thể bay trúng mặt
Tạo thành “mặt mâm” như thành ngữ giang hồ
Chiếc dép có thể rơi xuống đất
Làm kẻ đại diện hết hồn ngưng “chém gió, bưng bô”
Liệng dép là hành động tự nhiên so với việc liệng thơ
Liệng thơ chống bất công xã hội có thể đụng an ninh tư tưởng
Liệng thơ chống Trung cộng xâm lăng có thể bị lái đi lệch hướng
Bị đổ thừa qua trồi sụt thị trường vàng
Bị lái qua những công trình phá sản
Bị lạc đường sang bọn ngáo đá chơi hoang 
Liệng dép, nói chung là trách nhiệm công dân
Ở Mỹ có khi người ta còn đổi mạng
Ở Nhật Bản, Đại Hàn Thủ Tướng đều cúi đầu lắng nghe nhân dân phán
Các ông chủ tập đoàn bất lương đều quỳ lạy rạp mình
Vì thế đừng ngạc nhiên khi liệng dép
Đó là khởi đầu cho tập quán văn minh 
Liệng dép là tức nước vỡ bờ sau gần nửa thế kỷ làm thinh!

 BÙI CHÍ VINH


THƠ LÊ LỢI, KHÔNG PHẢI THƠ NGUYỄN TRÃI

THƠ LÊ LỢI,
KHÔNG PHẢI THƠ NGUYỄN TRÃI
(Trao đổi với ông Trần Đắc Thọ)

Bia cổ Hào Tráng -Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng
Chúng ta đều biết bài thơ khắc trên bia đá Hào-Tráng (sông Đà) là của vua Lê Lợi, nhưng mới đây, theo phát hiện của Trần Đắc Thọ, lại là của thi hào Nguyễn Trãi. Ông Thọ căn cứ vào câu “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” đã có trong bài thơ Quá Hải của Nguyễn Trãi, lại còn thấy trong bài thơ Hào Tráng của Lê Lợi. 

Ông Trần Đắc Thọ viết: “Đành rằng trong cuộc sống có “những tâm hồn lớn” gặp nhau, nhưng người ta gặp nhau trong ý nghĩa, tư tưởng mà không trong từng câu, từng chữ như thế này. Việc Nguyễn Trãi sử dụng (lại) một câu thơ cũ của mình là một câu chuyện bình thường. Nhưng Lê Lợi đường đường một đấng chí tôn lại làm một việc thiếu đường hoàng như vậy thì không ổn. Thư tịch cổ thường hay tôn vinh cá nhân các vị đế vương. Trong trường hợp này, thiết nghĩ cứ viết trung thực là Lê Lợi sai Nguyễn Trãi làm thơ khắc vào vách đá núi để kỷ niệm chiến thắng”. (Tạp chí Hán Nôm số (38) 1999.Tr.44)

Theo tôi, lập luận của ông Trần Đắc Thọ trong bài “Thơ Lê Lợi hay là thơ Nguyễn Trãi”  không thuyết phục.

Cứ giả thiết Lê Lợi sai Nguyễn  Trãi làm hộ thơ cho mình. Nhưng liệu Nguyễn Trãi có dám dùng lại thơ cũ của mình để ký tên bậc chí tôn vào đó ? Mà lại là thơ khắc trên vách đá, khi bị phát hiện thì Nguyễn Trãi khó thoát khỏi tội tày đình này chăng?
Chỗ dựa duy nhất của ông Trần Đắc Thọ là bài thơ Quá hải của Nguyễn Trãi. Ông Thọ viết rằng: bài thơ này “các nhà nghiên cứu cho ông (Nguyễn Trãi) đã làm hồi ông theo cha là Nguyễn Phi Khanh sang Trung Quốc khi cha ông bị giặc Minh bắt đi (1407)”.

Các nhà nghiên cứu nào tài đoán mò như thế ? Quân Minh bắt giải về kinh đô Kim Lăng (Trung Quốc) hai vua Hồ và một cận thần quan trọng như Nguyễn Phi Khanh, họ đi đường thuỷ hay đường bộ ? Tài liệu nào ghi chép họ vượt qua biển Đông hay chỉ có chuyện Nguyễn Trãi tiễn cha đến ải Nam quan rồi phải trở về? Chúng ta đọc lại hai câu kết bài thơ “Quá hải” được ghi là của Nguyễn Trãi:

Biển chu tiễn ngã triều thiên khách
Trực giá kình nghê quá hải đông.
(Con thuyền nhỏ đưa ta làm khách chầu thiên tử
Cưỡi cá kình cá nghê mà vượt biển đông).

Thế là thơ nói về người đi sứ rồi (triều thiên khách). Nguyễn Trãi chưa hề đi sứ, cũng không thể dễ dàng vượt biển Đông đến Trung Quốc. Ông phải cải trang làm đầy tớ theo tiễn người cha mang tội chống lại giặc Minh, dù đi đường biển cũng chẳng có được phong thái ung dung của tác giả bài thơ Quá hải.

Lại xem thơ Đường luật, câu “phá” không thể giống câu “luận”. Câu “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” ở vị trí câu “phá” của bài thơ Hào tráng thích hợp hơn ở vị trí câu “luận” của bài thơ Quá hải. Giả sử Nguyễn Trãi có làm hộ thơ cho Lê Lợi, thì sao một tài thơ như ông lại đem câu “luận” trong bài thơ của mình gán ghép vào làm câu “phá” cho bài thơ Hào tráng ?  Nguyễn Trãi mà kém cỏi đến thế kia ư ?

Đến đây, ông Trần Đắc Thọ và bạn đọc hẳn phải chất vấn tôi rằng: cho dù bài Quá hải khó tin của Nguyễn Trãi, thì vấn đề khó hiểu của câu thơ “Hào khí tảo không thiên chướng vụ” vẫn còn đó! Tôi xin trả lời: Bài Hào tráng đã khắc ghi rõ ràng trên vách đá kèm ngày, tháng, năm cụ thể, còn bài Quá hải là thơ sưu tầm, không những tam sao thất bản mà lầm lẫn đầu Ngô mình Sở cũng là chuyện thường thấy. Khi bị hoạ tru di, thơ văn Nguyễn Trãi đều phải đem đốt hết, ai tàng trữ tất mắc tội với triều đình. Ba mươi năm sau, Lê Thánh Tông khai phục chức tước cho Nguyễn Trãi, sai người sưu tầm di cảo của ông thì không còn được mấy. Sau đó, chính tập di cảo này cũng bị mất!

Gần 400 năm trôi qua, biết bao vật đổi sao dời, ông Dương Bá Cung mới tiến hành sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi ! Trong bài tựa ở đầu bộ Ức Trai di tập, Dương Bá Cung viết: “Tôi thường đã có đi từ Nam ra Bắc, gặp người nào hạng sĩ phu tôi liền dò hỏi xem di cảo của Ức Trai  tiên sinh có còn sót lại ở đâu không? Tôi mong hoạ hoằn cũng có tìm được nhưng tiếc rằng sau khi binh lửa loạn ly, nhưng tác phẩm ấy không còn tụ tập được mấy!” (nhóm Trần Văn Giáp dịch).

Chúng ta khâm phục sự kiên tâm bền chí của Dương Bá Cung. Chúng ta cũng cảm ơn ông đã đem trả lại cho đời một tập di cảo vô giá. Nhưng chúng ta không vì thế mà không cẩn thận khi sử dụng tài liệu. Chính vì tinh thần khoa học, nhóm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Trãi gồm các vị túc nho: Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình(Viện văn học), trong số 105 bài đã lọc ra 17 bài xếp vào phần “tồn nghi”, nghĩa là những bài mà các ông nghi ngờ không phải thơ Nguyễn Trãi. Theo ý tôi, trong số những bài các cụ thận trọng xếp vào “tồn nghi”, có những bài đã đủ sở cứ để khẳng định không phải là thơ Nguyễn Trãi. Tôi xin lấy bài Lãnh  noãn tịch làm ví dụ. Bài này có hai câu kết:

Cao đường bất thất ôn lương hậu
Khước hận thần hôn định tĩnh thì!
(Cha mẹ không thiếu sự quạt nồng ấp lạnh
Chỉ ân hận những khi sớm thăm tối viếng mà thôi!
(Nhóm Phan Võ dịch)

Theo tiểu sử Nguyễn Trãi, ông sinh năm 1380, bị mồ côi mẹ (bà Trần Thị Thái) khi chưa lên mười tuổi, nhưng tác giả bài thơ lại còn đủ cả cha mẹ và hai cụ sống phong lưu, đầy đủ!

Bài Quá hải tuy không bị nhóm dịch giả trên xếp vào loại “tồn nghi”, nhưng thực ra chúng ta đã đủ căn cứ để tin rằng nó không phải là thơ Nguyễn Trãi. Bên cạnh đó, cũng còn ít bài nữa, nếu chúng ta chưa có thể loại bỏ khỏi thơ chữ Hán Nguyễn Trãi một cách thẳng thừng thì cũng nên đưa chúng sang phần “tồn nghi”. Ví dụ:  Ký hữu (bài số 16), Ký cữu Dị Trai Trần Công (bài số 23), Loạn hậu cảm tác (bài số 26), v.v… Tôi nghĩ 17 bài “tồn nghi” các cụ dịch giả đã đưa ra là xác đáng, nhưng chưa đủ.
Tóm lại vấn đề văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Trãi không bình thường, đòi hỏi người nghiên cứu phải thận trọng với tinh thần phê phán khoa học.

Trở lại bài thơ Quá hải mà Trần Đắc Thọ đã dựa vào đó để đặt vấn đề “Thơ Lê Lợi hay thơ Nguyễn Trãi”  và sau đó khẳng định là thơ Nguyễn Trãi. Bây giờ chúng ta không tin được bài Quá hải là thơ Nguyễn Trãi thì không có lý gì ông lại là tác giả bài thơ Hào trángkhắc trên vách đá bên cạnh Thác Bờ. Quá hải chẳng những không thể là thơ Nguyễn Trãi mà bản thân nó về phương diện văn bản cũng có chỗ không thể chấp nhận được như đã trình bày ở trên.

Nhưng tại sao câu thơ Lê Lợi lại thấy trong bài Qúa hải ? Vấn đề không có gì khó hiểu. Những câu thơ hay như: “Hào khí tảo không thiên chướng vụ, Tráng tâm di tận vạn trùng san” lại khắc ghi trên bia đá, bao giờ cũng được nhiều người biết đến và nhớ thuộc. Lâu dần (trải qua gần 400 năm chứ ít đâu!) người ta quên tác giả, quên cả xuất xứ, nên dễ đem gán ghép vào bài thơ khác rồi cung cấp cho người sưu tầm (Dương Bá Cung). Đến như thơ cụ Nguyễn Khuyến với cụ Tú Xương cùng sống ở thời kỳ cận đại vẫn bị lẫn lộn với nhau ở một số bài! Âu đó cũng là chuyện thường tình khi thơ đi vào cuộc sống!

Cuối bài báo của mình, ông Trần Đắc Thọ còn nhắc thêm 4 bài thơ Hạ tiệp của Nguyễn Trãi để chứng minh cho lập luận của mình. Tôi cho rằng nhắc đến thơ Hạ tiệp của Nguyễn Trãi tức là ông Trần Đắc Thọ đã tự bác bỏ mình rồi!

Chúng ta hãy đọc lại bài Hạ tiệp thứ nhất để thấy câu 5 và câu 6:

Sơn thú dĩ văn thu Ngụy Bác
Thần khuê hựu kiến khắc Yên Nhiên
(Nghe tin lính đồn thú trên núi thu hồi trấn Ngụy Bác- Lại trông thấy nhà vua cho khắc (công trạng) vào đá núi Yên Nhiên- nhóm Phan Võ dịch).

Thế là Nguyễn Trãi tự nói rõ mình không phải người trong cuộc mà chỉ được nghe, thấy những sự kiện lịch sử: chiến công và thơ của Lê Lợi đã khắc lên núi đá ngay sau chiến thắng. Trong lời “Tựa” khắc ở trên bài thơ, Lê Lợi nói rõ: “Ta đi đánh Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để bảo cho đời sau biết mưu kế giá ngự nhung địch; nhung địch ở xa mặt người dạ thú, nếu có bội bạn, phải tiêu diệt ngay, mà phương lược tiến đánh thì bắt đầu tiến quân từ hai trấn Thao Giang và Đà Giang là hơn cả” (Phạm Trọng Điềm dịch). Trong bài thơ của mình, ông Trần Đắc Thọ, tại sao không hề nhắc đến lời tựa này, hay là riêng lời tựa này ông công nhận của Lê Lợi chứ không phải của Nguyễn Trãi?

Chắc các bạn cũng như tôi, chúng ta không hề có ý “tôn vinh” vua Lê Lợi, anh hùng dân tộc là nhà thơ. Và bản thân Lê Lợi cũng không có ý khoe văn chương chữ nghĩa. Nhưng đó là sự thật, Lê Lợi có để lại hai bài thơ, không chép vào thư tịch, mà khắc trên vách núi đá với mục đích chính trị và quân sự cụ thể. Dẫu thế nào thì sự thật ấy vẫn là sự thật như núi sông ấy, muôn thuở không thể xoá đi trong lòng người dân nước Việt.

HOÀNG TUẤN PHỔ
(Bài đã công bố trên Báo Văn hoá Thông tin Thanh Hóa 26-8-1999)
http://tuancongthuphong.blogspot.com/2014/06/tho-le-loi-khong-phai-tho-nguyentrai.html

“TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT” CỦA NXB THANH NIÊN: “GIAO PHỐI” nghĩa là “KẾT HÔN”!


“TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT” CỦA NXB THANH NIÊN:
“GIAO PHỐI” nghĩa là “KẾT HÔN”!


Ảnh: HTC
Đó là định nghĩa của “Từ điển tiếng Việtthông dụng dành cho học sinh - sinh viên” (tác giả Ngọc Hằng - Kỳ Duyên - NXB Thanh Niên, 2016). 

          Bìa sách, ngoài dòng chữ nhái “Trung tâm từ điển học”, còn có những thông tin rất hấp dẫn, như: “Cập nhật nhiều mục từ mới”, “Nhiều hình ảnh minh hoạ”, sách “Bán nhiều nhất”...

          Vậy, sách này “cập nhiều mục từ mới” như thế nào?

          Xin thưa rằng hoàn toàn ngược lại. Nghĩa là rất nhiều từ cũ, từ dùng sai cách đây ngót một thế kỉ, đã được nhóm tác giả này “khai quật”, sao chép lại để “dành cho học sinh- sinh viên”. Sau đây là ví dụ về một số cái sai của Nhóm Kim Danh - Ngọc Hằng (KDNH). Chúng tôi sẽ lấy chính cách giảng nghĩa của “Từ điển tiếng Việt” (Vietlex) do Trung tâm Từ điển học (The Lexicography Center – Vietlex) biên soạn (cuốn từ điển này bị Nhóm KDNH làm nhái, chúng tôi sẽ nói rõ ở phần sau), để chỉ ra những sai sót của KDNH (phần ví dụ của Vietlex, chúng tôi xin lược bớt):

- KDNH: “ba ba (dt) Rùa nhỏ ở nước ngọt, có mai dẹp phủ da, không vảy”.

          Không đúng, ba ba có thể còn to hơn cả rùa. Vietlex: “ba ba d. động vật thuộc họ rùa, sống ở nước ngọt, mai không có vảy mà được phủ bằng lớp da mềm, bơi nhanh, lặn được lâu”.

- KDNH: “bánh lái dt Bộ phận hình tròn để cầm lái tàu, xe”.

          Đây là nghĩa cũ, hiện nay không còn được dùng. Vietlex: “bánh lái d. bộ phận xoay được dùng để đổi hướng đi của phương tiện vận tải”.

- KDNH: “bệnh hoạn dt Bệnh tật và hoạn nạn”.

          Giảng thiếu nghĩa, dễ dẫn đến lầm lẫn. Vietlex: “bệnh hoạn • 病患 I d. [id] trạng thái bị đau ốm, bệnh tật [nói khái quát]. Đn: bệnh tật, tật bệnh. • 病患 II t. 1 ở trạng thái có bệnh thường kéo dài. 2 [tư tưởng, tình cảm] không được bình thường, không lành mạnh”.

- KDNH: “bò sát 1 tt Bò sát bụng xuống đất; 2.Loài bò sát (rắn, thằn lằn)”.

          “Bò sát” ở nghĩa 1 là cụm từ (ngữ động từ - động ngữ), không phải đơn vị từ vựng. Vietlex: “bò sát d. lớp động vật có xương sống, thở bằng phổi, chuyển dịch bằng cách bò sát đất, gồm rùa, thằn lằn, rắn, cá sấu, v.v.”.

- KDNH: “bút ký dt. Lời ghi viết bằng tay”.

          Vậy viết bằng bàn phím (máy tính), không được gọi là “bút kí” sao? Vietlex: “bút kí 筆記 d. thể kí ghi lại những điều tai nghe mắt thấy, những nhận xét, cảm xúc của người viết trước các hiện tượng trong cuộc sống”.

- KDNH: “cánh kiến dt Cánh con kiến”.

          “Cánh kiến” với nghĩa như vậy coi như chưa định nghĩa. Vietlex: “cánh kiến d. 1côn trùng cánh nửa cỡ nhỏ, sống thành bầy trên cây, tiết ra một chất nhựa màu đỏ thẫm, dùng để gắn. 2 chất do con cánh kiến tiết ra. Đn: cánh kiến đỏ”.

- KDNH: “công nhân dt. Nói chung những người lao động chân tay”.

          Nếu vậy thì “công nhân” khác gì nông dân? Vietlex: “công nhân 工人 d. người lao động chân tay làm việc ăn lương, trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, v.v.”.

- KDNH: “công quyền Quyền của người dân trong một nước, quyền công dân”.

          Giảng nghĩa phiến diện. Vietlex: “công quyền • 公權 I d. [cũ] các quyền của mọi công dân [nói khái quát] • 公權 II t. thuộc về bộ máy, cơ quan quyền lực nhà nước”.

- KDNH: “định tỉnh dt Thăm hỏi sức khoẻ của cha (thần hôn định tỉnh).

          Vậy, thăm hỏi sức khoẻ của mẹ không được gọi là “định tỉnh” hay sao?

- KDNH: “đô thị dt Thành phố nơi có tụ họp người buôn bán lớn”.

          Đây là cách giảng nghĩa quá cũ (copy từ “Việt-Nam tân từ-điển” của Thanh Nghị). Cũng không thể dùng từ đồng nghĩa “thành phố” để định nghĩa cho “đô thị”. Vietlex: “đô thị 都市 d. nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp. Đn: thành phố, thành thị”.

- KDNH: “đội ngũ dt Nói chung về hàng ngũ trong quân đội”.

          Giảng nghĩa què cụt. Vietlex: “đội ngũ 隊伍 d. 1 khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ. Đn: hàng ngũ. 2 tập hợp một số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp”.

- KDNH: “eo éc tt Tiếng gà kêu”.

          Không có con gì kêu “eo éc”; nếu “eo óc” phải là tiếng gà gáy, chứ không phải “gà kêu”.
- KDNH: “ga xép (dt) Ga xe lửa nhỏ, các tàu không đỗ”.

          Nếu đúng như vậy, thì người ta làm ra ga xép để làm gì? Vietlex: “ga xép d. ga xe lửa nhỏ, dành cho tàu chậm hay tàu chợ, các tàu tốc hành không đỗ”.

- KDNH: “gái dt Người thuộc về giống cái”.

          Cách diễn đạt cũ, rất thô. Vietlex: “gái d. 1 người thuộc nữ giới [thường là còn ít tuổi; nói khái quát]; phân biệt với trai. 2 [kng] người phụ nữ [hàm ý coi khinh] : mang tiền cho gái ~ mê gái ~ theo gái”.

- KDNH: “gấm vóc dt. ngb. Hai thứ này dệt bằng lụa tơ tằm”.

          Từ này thường được dùng theo nghĩa bóng, chứ không phải nghĩa đen. Vietlex: “gấm vóc d. [vch] gấm và vóc, hai thứ hàng dệt đẹp và quý; thường dùng để ví vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước”.

- KDNH: “gian dâm đt. Đi lấy vợ người ta”.

Giảng như vậy, có nghĩa là “cướp vợ” người ta, chứ đâu phải “gian dâm”? Vietlex: “gian dâm 奸淫 đg. có quan hệ tình dục bất chính, lén lút với nhau”.

- KDNH: “gian phu dt. Người đàn ông có vợ còn đi lấy vợ người khác”.

Đây cũng không phải là nghĩa của “gian phu”. Vietlex: “gian phu 奸夫 d. [cũ] người đàn ông thông dâm với người đàn bà đã có chồng”.

- KDNH: “giao phối đt. Kết hôn”.

          Đây là nghĩa mà một số từ điển biên soạn trước 1975 có giảng (*). Tuy nhiên, hiện nay, “giao phối” được hiểu là hoạt động tính giao của động vật đực, cái, chứ không dùng cho người, càng không có nghĩa là “kết hôn”. Vietlex: “giao phối 交配 đg. như giao cấu[không nói về người]”. Hán điển (zidic.net): “giao phối: chỉ hoạt động tính giao giữa động vật đực và cái; sự kết hợp tế bào sinh thực ở thực vật với nhau.” (nguyên văn: 交配 jiāopèi [mating] 雌雄物性交植物的雌雄生殖胞相).

          Rất nhiều yếu tố Hán Việt, chỉ là yếu tố cấu tạo từ nhưng lại được nhóm biên soạn thu thập và giải nghĩa như một từ, trong khi nó không bao giờ được dùng độc lập. Ví dụ “am đt Hiểu biết”; “bộc dt Đầy tớ”; “điệp Dò la”; “điệt dt Cháu đối với chú hay bác”, v.v. Chẳng ai có thể hiểu được nội dung thông báo trong các phát ngôn: “Ông ấy là ngườiam. Nó là bộc. Quân địch đang điệp.” nếu chiểu theo cách xử lí của hai tác giả Ngọc Hằng và Kỳ Duyên. Nhiều cách viết cũ, như: “cọng đồng, cọng sự, cọng tác”, v.v. vẫn được thu thập. Nhìn chung, các tác giả không có kiến thức về từ điển học.

          Sách giới thiệu có “Nhiều hình ảnh minh hoạ”, nhưng minh hoạ sai nhiều. Ví dụ:

- Mục “anh vũ dt. Giống chim vẹt”, nhưng hình minh hoạ lại là con chim gì đó gần giống chim sáo (mỏ không khoằm).

- Mục “diếp dt. Loại rau dùng ăn sống, còn gọi là rau sà lách”, có hai cái sai: thứ nhất, rau diếp không phải là tên gọi khác của xà lách; thứ hai, nói về rau diếp, “sà lách”, nhưng hình minh hoạ lại là rau dấp (hoặc diếp cá), lá giống lá trầu không, nở bông như bông kê.

- Mục “chim ưng”, minh hoạ và chú thích là “chim ưng”, nhưng hình vẽ lại là loài đại bàng đầu trắng.

- Mục “vạc”, minh hoạ con vạc, nhưng thực chất là cò, hoặc diệc vì cổ dài ngẳng, có túm lông dài trên đầu (trong khi vạc cổ to và ngắn).

- Mục “nụ” vẽ và chú thích “nụ hoa”, nhưng hình lại là một bông hoa đã nở bung hết cánh, thấy rõ cả nhị và nhuỵ.

- Mục “thằn lằn” minh hoạ “con thằn lằn”, nhưng lại là con tắc kè hoa, bụng to, mình ngắn, v.v.

          Vậy Ngọc Hằng - Kỳ Duyên là ai mà biên soạn từ điển cẩu thả đến vậy?

          Trên báo Nông Nghiệp Việt Nam (1/12/2015), bài “Nhiều sai sót trong Từ điển tiếng Việt” (NXB Từ điển Bách khoa), chúng tôi đã từng chỉ ra những cái sai nghiêm trọng của hai tác giả Kim Danh - Ngọc Hằng. Ví dụ: “bói toán (đgt) Xem bói bằng phương pháp toán học”; “làm dâu (đgt) Lấy chồng ở chung nhà với cha mẹ chồng”; “tội danh (dt) Tội rất nghiêm trọng, cả về mặt pháp luật và đạo đức”, v.v. Để kết thúc bài báo, chúng tôi có viết: “Đáng chú ý, “Từ điển tiếng Việt” (phổ thông và dành cho học sinh) của Nhóm tác giả thường thay tên đổi họ dưới các bút danh Kim Danh - Ngọc Hằng; Kim Anh - Ngọc Hằng; Kỳ Duyên - Ngọc Hằng - Đức Bốn... được Nhà xuất bản Thanh Niên, Nhà xuất bản Đồng Nai phát hành rất nhiều và cũng rất nhiều sai sót. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác”.
Từ điển khổ nhỏ của NXB Thanh Niên
do Nhóm tác giả thường thay tên đổi họ,
làm nhài từ điển của Viện ngôn ngữ, hoặc Trung tâm từ điển học Vietlex
Sách bày bán nhiều ở các nhà sách Thành phố Thanh Hoá.
Ảnh: HTC

          Khi chúng tôi chưa kịp “trở lại vấn đề”, thì nhóm tác giả này và NXB Thanh Niên đã “trở lại” dưới bút danh Ngọc Hằng - Kỳ Duyên, với những cái sai mới, nghiêm trọng hơn.

          Trước đây, Nhóm tác giả này thường trương mấy chữ “Ngôn ngữ Việt Nam” lên đầu trang bìa, khiến người mua nhầm lẫn từ điển do “Viện ngôn ngữ học” biên soạn. Đây là kiểu cố tình lập lờ đánh lận con đen, bởi đã là “Từ điển tiếng Việt”, thì không phải “Ngôn ngữ Việt Nam” thì là gì? Sau nhiều vụ bê bối trong biên soạn và xuất bản từ điển tiếng Việt, kiểu làm nhái thương hiệu này bị phản đối, thì Nhóm biên soạn Ngọc Hằng - Kỳ Duyên và NXB Thanh Niên lại “lập lờ”, làm nhái một cái tên có uy tín khác, đó là “Hội ngôn ngữ học”, hoặc “Trung tâm từ điển học” (vốn có tên chính thức là “Trung tâm Từ điển học – Vietlex” do GS Hoàng Phê sáng lập). Cụ thể, “Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh - sinh viên” phía trên cùng bìa 1, ghi “Ngọc Hằng - Kỳ Duyên, Trung tâm từ điển học”. Một cuốn khác (cũng do NXB Thanh Niên ấn hành), ghi “Kỳ Duyên - Đăng Khoa, Hội ngôn ngữ học”. Không rõ “Trung tâm từ điển học” của các vị Ngọc Hằng - Kỳ Duyên - Đăng Khoa là “Trung tâm từ điển học” nào? “Hội ngôn ngữ học” nào, ở đâu? Tên tuổi của các nhà “từ điển học”, mà sao giống như mượn tên con cái làm bút danh vậy?

          Đáng chú ý, 2 cuốn từ điển của NXB Thanh Niên có nội dung khác nhau (một cuốn 1090 trang, một cuốn 505 trang), nhưng đều có chung: “Giấy ĐKKHXB số: 293- 2015/CXB/888- 09/TN; Quyết định xuất bản số: 397/QĐ- TN/CN, in xong và nộp lưu chiểu tháng 1 năm 2016”. Nhóm tác giả và NXB Thanh Niên thường thay tên, đổi họ, xào xáo nội dung để xuất bản sách với nhiều phiên bản khác nhau, nên có cuốn ngoài bìa 1 ghi tác giả là “Kỳ Duyên - Đăng Khoa, Hội ngôn ngữ học”, nhưng bìa trong lại thành “Ngọc Hằng - Kỳ Duyên”(!)

          Dù biên soạn rất cẩu thả, nhiều sai sót nghiêm trọng như vậy, nhưng bìa từ điển vẫn ghi là “bán nhiều nhất”. Đây có lẽ không phải là lời hư trương của NXB Thanh Niên. Bởi từ điển này khổ nhỏ, nhằm vào nhóm độc giả đông đảo là “học sinh, sinh viên”, giá cả rất vừa túi tiền (từ 30 ngàn đồng, đến 50 ngàn đồng/cuốn).

          Trên đây chỉ là những sai sót mà chúng tôi lược trích thuộc phần chữ cái từ A đến G. Phần còn lại từ H đến Y cũng nhiều sai sót nghiêm trọng không kém, nhưng trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi không thể nêu hết. Điều đáng nói là Nhóm biên soạn “Kỳ Duyên - Ngọc Hằng - Đăng Khoa” và NXB Thanh Niên còn xuất bản cả từ điển chính tả tiếng Việt rất nhiều sai sót. Chúng tôi sẽ có bài viết riêng về cuốn từ điển chính tả này.

Hoàng Tuấn Công
5/1/2017
(*). Ví dụ: "Hán Việt từ điển" (Đào Duy Anh); "Việt Nam tự điển" (Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ hiệu đính); "Từ điển Việt Nam phổ thông" (Đào Văn Tập); "Việt Nam tân từ điển" (Thanh Nghị).


HOA ANH ĐÀO


183
HOA ANH ĐÀO
[Ngũ độ]

Nhật Bản anh đào giữa nắng sang
Chừng nghe ước vọng khởi mơ tràn
Kìa hoa xứ lạ tưng bừng trổ
Ấy nẻo hiên ngoài rộn rã vang
Rạng rỡ đôi tình vui lắm buổi
Triền miên những sắc đỏ bao hàng
Từ xa ghé lại cùng hương tỏa
Kỷ niệm thân bằng nhã ý mang

Kỷ niệm thân bằng nhã ý mang
Bừng lên diễm mộng phả thơm hàng
Chiều vui vẻ phố ngời thương dậy
Sáng lịm mê đường thỏa mãn vang
Nũng nịu tình nhân hòa sắc bổng
Trầm ngâm mặc khách trẩy thơ tràn
Nồng khơi phảng phất quanh Hà Nội
Nhật Bản anh đào giữa nắng sang

HANSY

ANH ĐÀO XỨ BẠN

Anh Đào Nhật Bản mới cầm sang
Triển lãm vài hôm nắng ngập tràn
Dạo phố người đông, nhìn chả kỹ
Thăm vườn cảnh đẹp hát hò vang
Đằng kia mấy chị, dường say ảnh
Phía cận nhiều em cũng mở hàng
Giữa thủ đô lòng thương nhớ bạn
Đôi vần gửi đến ngậm ngùi mang

Gửi đến đôi dòng trộm nghĩ sang
Người xa nỗi nhớ ngập dâng tràn
Bao giờ cánh nhạn tươi hồng thả
Thuở ấy câu tình lãng mạn vang
Rạng rỡ khung trời mơ ước buổi
Bình yên cảnh vật nối theo hàng
Nhiều năm cách trở làm sao gặp
Viễn xứ Anh Đào dạ cảm mang

Minh Hien

HẸN ĐẾN KIẾP NÀO


HẸN ĐẾN KIẾP NÀO

Ngày xưa đó, hẹn thề biết mấy
Có ngờ đâu trời dậy đổi thay
Để cho đêm phải nhớ ngày
Khiến bao tấc dạ vọng ai canh trường.

Cứ ngỡ rằng yêu thương chân thật
Sẽ mãi hoài chung cật cùng nhau
Sẽ bền duyên phận trầu cau
Mùa trăng tình ái đượm màu ái ân.

Bởi do đâu đang gần bỗng ngái
Tình êm đềm ngang trái đùn lên
Để rồi ta chỉ mình ên
Buồn trông ngọn cỏ man miên cuối trời.

Người đã nói một lời chia biệt
Cũng đành nghe chứ biết nào hơn
Thôi thì hẹn một khúc đờn
Vần thơ lại nối, tình thơm thảo về…

HANSY

ẢO VỌNG


ẢO VỌNG
[Thuận nghịch độc-Láy]

Đêm vắng lặng sầu giữa bóng côi
Liệm chôn thề ước dở dang rồi
Thềm hiu hắt rã đời hoen cội
Gió ngẩn ngơ vùi kiếp bạc vôi
Chêm loạn vỡ tình đau đớn trỗi
Diễm xiêu tàn ái ngọt ngon rời
Mềm tha thiết vọng còn đâu hỡi
Thêm xót dạ buồn mải miết khơi

Khơi miết mải buồn dạ xót thêm
Hỡi đâu còn vọng thiết tha mềm
Rời ngon ngọt ái tàn xiêu diễm
Trỗi đớn đau tình vỡ loạn chêm
Vôi bạc kiếp vùi ngơ ngẩn nệm
Cội hoen đời rã hắt hiu thềm
Rồi dang dở ước thề chôn liệm
Côi bóng giữa sầu lặng vắng đêm

HANSY

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

CUỘI


CUỘI

Trong những người khuyến khích tôi làm thơ “thời sự” để lưu lại cho đời sau ngoài các bậc tiền bối như Trang Thế Hy, Sơn Nam, Kiên Giang, Phạm Thiên Thư, Cung Tích Biền… còn có những chính khách “VIP” như Trần Bạch Đằng, Huỳnh Bá Thành…

Năm 1981 khi rời khỏi bộ đội, tôi bắt đầu phát hiện những thằng “Cuội” trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa… Chúng tồn tại và phát triển bằng hệ thống vây cánh mới, vừa liên minh vừa sẵn sàng tiêu diệt lẫn nhau nhằm bảo vệ quyền lợi riêng. Chỉ tội nghiệp chú Cuội của Hằng Nga quá trong sáng trước bài thơ này:

CUỘI

Sáu năm ta mới rành chú Cuội
Chê gốc đa, Cuội ở văn phòng
Chê cuốc bộ, Cuội trèo xế hộp
Ở rừng về Cuội sợ đau chân

Cuội quên hết muối mè, cơm nắm
Thực đơn bảy món Cuội cười khà
Căng bụng Cuội hô hào nghị quyết
Kế hoạch nào cũng xạo bỏ cha

Ai cũng biết mặt trăng có Cuội
Nhưng Cuội mặt trăng khác địa cầu
Đứa nào Cuội “dạ dày dân tộc”
Đẻ con không lỗ đít về sau!

Một bài thơ khác cũng mang tựa đề một chữ, được tôi đọc trong bàn nhậu của một Mạnh Thường Quân bất đắc chí thách thức tôi làm bài thơ về đề tài CỨT. Với vị đại gia bất đắc dĩ đó, bàn tiệc ê hề sơn hào hải vị chỉ tương đương một đống phân. Tôi đã khạc như sau:

CỨT

Con gì ăn không ỉa
Cứt voi toàn bã mía
Cứt chim lắm cào cào
Cứt loài người ra sao?

Lấy giùm ta kính lúp
Phân tích văn minh cứt
Cứt nhiều nhờ ăn no
Cứt ít nhờ bo bo

Đói thì đầu gối bò
Bò mỗi thời mỗi khác
Bò làm sao ra cứt
Có cứt là có cơm

Thường ta rặn thấy rơm
Trong rơm thấy thóc sạn
Giận dạ dày khốn nạn
Không ị ra bánh mì

Cục cứt nhiều trọng lượng
Để dành cho vua quan
Riêng cứt ta lõng bõng
Phải thuộc về nhân dân!

BÙI CHÍ VINH