Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016


10 TỪ NGỮ HAY HO NHƯNG KHÔNG TÀI NÀO DỊCH RA TIẾNG VIỆT

10 TỪ NGỮ HAY HO 
NHƯNG KHÔNG TÀI NÀO 
DỊCH RA TIẾNG VIỆT

Đó chính là wordporn - trào lưu định nghĩa lại những từ rất đặc biệt nhưng cực kỳ khó để diễn tả trong các ngôn ngữ khác.


Để ý nhé - Tiếng Việt của chúng ta có những từ ngữ nghe thì hiểu, nhưng cực kỳ khó giải thích và gần như không thể phiên dịch sang bất kỳ một thứ tiếng nào khác. Hoặc giả như có dịch được cũng khó có thể truyền tải hết sắc thái ngữ nghĩa vốn có.

Và bạn có hay, tiếng nước ngoài cũng vậy. Không chỉ tiếng Anh mà bất kỳ thứ tiếng nào trên thế giới cũng có những từ ngữ của riêng mình mà không một từ nào trong ngôn ngữ khác có thể diễn tả được. 

Đó chính là lúc bạn cần đến Wordporn - trào lưu đang làm mưa làm gió trong giới trẻ hiện nay. Wordporn là một thuật ngữ, ám chỉ việc định nghĩa lại các từ ngữ cổ không thường được sử dụng, hoặc các từ ngữ đặc trưng khó giải thích của các ngôn ngữ trên thế giới. 

Và sau đây chính là 10 từ đã được "wordporn hóa". Hãy thử xem bạn có nghiện món này không nhé! 


Từ này có gốc là tiếng Hy Lạp, ám chỉ cảm giác thấy lãnh cảm với những gì từng đem lại vui thú cho bản thân: thể thao, âm nhạc, thậm chí cả tình dục.

Cái tên đã nói lên tất cả đúng không? Những người mắc amfisbitophobia không thích, đúng hơn là sợ cảm giác phải tranh cãi. Họ là những người luôn thích hòa bình và rất dễ chịu khi ở bên.

hật khó khi tìm từ để lột tả được hết tâm trạng khi yêu. Chắc chế nào vừa mới cưa đổ nhau sẽ rất hiểu cảm giác này.

Có vẻ như quanh chúng ta đều có ít nhất một người như vậy. Đó là những người luôn gầy gò và mỏng manh một cách đáng ghen tị, lại có thể mặc sức ăn mà không hề có lỗi với bàn cân.

 Nỗi sợ này cũng hay gặp ở những người lính đã chứng kiến quá nhiều cái chết, không sao thoát khỏi nỗi ám ảnh súng đạn. Một số bạn cũng gặp phải điều này, khi cảm thấy gia đình không ai hiểu mình, và thế là bỏ nhà đi bụi vì không muốn về.



Khi trí tuệ cũng là một dạng sắc đẹp có sức hút chết người.

Tóm lại là nhát gái - từ này dịch đúng luôn các chế ạ....

Nó giống như một căn bệnh của những người thích du lịch và trải nghiệm. Trước mỗi chuyến đi, cảm xúc nôn nao, háo hức lại ập đến.

Zoilist là những người rất thích bắt lỗi một cách cực kỳ thô lỗ và khó chịu. Nếu bạn là một Zoilist thì sửa ngay cái tính đó đi nhé!

VĂN HÓA NGÔN NGỮ

HỜN TRI KỲ

30.
HỜN TRI KỲ
(Ô thước)

Tri kỷ hồng nhan biệt cõi trần
Chẳng còn nhung gấm mộng tình nhân
Vì đâu đến nỗi chau nguyền lại
Có phải là do nhạt ái dần
Cứ ngỡ trăng thề loang cõi đượm 
Ai dè lửa hẹn bặt lời ngân
Thì thôi duyên nợ đà sang chuyến
Nuối mãi làm chi nặng kiếp phần

Dỗi chi nặng kiếp tủi mơ phần
Khiến cuộc đời này lặng tiếng ngân
Hãy chuốc tim mình thăng ngút tỏa
Lãng quên khổ ái để nguôi dần
Trầm hương sẽ lại ngời thơm mộng
Ái cảm rồi thì lộng ngát nhân
Cuộc sống ta bà sao ngắn ngủi 
Đừng thêm đày đọa xuống dương trần

HANSY


LÒNG TRI KỶ

Chén tửu mời nhau rũ bụi trần
Chan hoà lệ nhỏ khóc tình nhân
Hồng nhan thuở ấy sao buồn ngập
Kỷ niệm ngày nao bỗng nhớ dần
Đến cõi bồng lai trời phật ở
Mơ vườn ngự uyển sáo đàn ngân
Đường mây rộng mở song hành bước
Ngõ thuý nồng say trải vạn phần

Ngõ thuý nồng say trải vạn phần
Ai làm lỡ đoạn tiếng buồn ngân
Hoàng hôn xoã bóng lu mờ cả
Sẩm tối nhoà mây lạnh lẽo dần
Giã biệt tơ tình xa xót cảnh
Tan tành ảo vọng não nề nhân
Gieo mình tận đáy bờ mê đảo
Thậm khổ lầm than xuống cõi trần

Minh Hien

TRẢ NGUYỂN

TRẢ NGUYỂN

Dập dềnh nỗi úa chờ mong
Biệt biền thăm thẳm ngóng trông chi người
Từ đây hết vẹn môi cười
Chờ chi trăng nhạt, sao phơi xám màu.

Biết lòng còn có nhớ nhau
Hay là sang bến vẩy chào ngày vui
Người đi cuốn cả xuân thời
Sót buồn ở lại cắn môi, mím lòng.

Thôi thì trả lại tầng không
Tiếng yêu thương đó mặn nồng sớm phai…

HANSY

CÁM ƠN BẠN THÍCH TỰ DO

CÁM ƠN BẠN THÍCH TỰ DO

Hansy dám nào nhận chữ sư
Xét thân học hỏi vẫn còn đừ
Thầm mơ truyền thụ mưu cùng mẹo
Chỉ ước thanh nhàn công chí tư
Bằng hữu luôn mong đem nghĩa đến
Tha nhân nào dám tỏ tâm xù
Giữa đời mặn nhạt hồn muôn trượng
Cám nghĩa Tự Do thoảng giữa lư

Cám nghĩa Tự Do thoảng giữa lư
Tình thơ nối kết khó khi xù
Tâm can sắc nét bừng trăm nẻo
Trí mộng hương ngời dậy vạn tư
Vẫn mãi tìm vần cho dẫu bí 
Quyết luôn kiếm tứ cả khi đừ
Chỉ là giúp bạn cùng lên trước
Hansy dám nào nhận chữ sư

HANSY

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016


73. BANG GIAO TRUNG - NGA NHÌN QUA LỘC ĐỈNH KÝ

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI

73.
BANG GIAO TRUNG - NGA
NHÌN QUA LỘC ĐỈNH KÝ

Ở một chừng mực nào đó, ta có thể gọi Lộc Đỉnh ký của Kim Dung là một bộ tiểu thuyết lịch sử. Thật vậy, thông qua bộ tiểu thuyết cuốn này, Kim Dung đã cung cấp cho độc giả những sự kiện lịch sử có thật và khá quan trọng từng xảy ra dưới thời vua Khang Hy, triều Thanh. Một trong những sự kiện quan trọng ấy là mối bang giao Trung - Nga, dẫn đến việc ký kết hoà ước Hắc Long Giang năm 1684.


Ba tỉnh vùng Đông Bắc Trung Quốc ngày nay chính là vùng đất phát tích của bộ tộc Mãn Châu (Manchourie) mà người Trung Quốc ngày xưa từng gọi là dân Kim hay Thát Đát (Tartare). Mồ mả tổ tiên của vua Khang Hy thuộc bộ tộc Ái Tân Giác La (Aisin Gioro) được chôn ở vùng Bắc ngạn sông Amour (tiếng Mãn Châu: A Mộc Nhĩ Hà; tiếng Trung Quốc: Hắc Long Giang) dưới chân núi Lộc Đỉnh. Sông Amour phát xuất từ ngọn núi Tchita thuộc đài nguyên Oulan Oude (tiếng Trung Quốc: Ô Tư Ô Đức) cận hồ Baikal (tiếng Trung Quốc: Bối Gia Nhĩ) vòng lên hướng Bắc, đổ về phương Đông qua thành phố Khabarovsk rồi đổ xuống hướng Nam gặp cảng Vladivostok.


Từ ngàn xưa, các bộ tộc Mãn Châu thường sống du mục theo đôi bờ Hắc Long Giang, có khi vượt qua phía Tây đến biên giới Mông Cổ. Đây là vùng đất gần như băng giá quanh năm. Từ địa đầu biên giới Mông Cổ - Mãn Châu Lý kéo dài lên hướng Bắc hợp lưu với Hắc Long Giang, có thêm một dòng sông nữa, ấy là sông Ngạch Nhĩ Cổ Lạp. Vậy, hai dòng Ngạch Nhĩ Cổ Lạp với Hắc Long Giang tạo nên biên giới thiên nhiên giữa hai nước Trung - Nga bây giờ, một biên giới bền vững, rất dễ phân định. Vâng, đó là chuyện bây giờ, còn chuyện ngày xưa thì sao?


Ngày xa, người Trung Quốc gọi nước Nga là nước La Sát. Trong kinh Phật, La Sát là tên một loài quỷ dữ, nhưng khi gọi nước Nga là La Sát, thực sự người Trung Quốc không có hàm ý khinh thị nước Nga. Trong cuốn thứ 9 bộ Thanh sử cảo, Lang Viên giải thích: "Nga La Tư hay La Sát chỉ là cách đọc phiên âm chậm hay mau mà thôi. Đọc La Sát tương đối giống hơn" (với từ Russe, Русcие).


Bát kỳ Mãn Châu tiến đánh nhà Minh năm 1643 và năm 1644 thì chiếm được Bắc Kinh. Vua Thuận Trị lập ra nhà Thanh trên đất Trung Quốc. Trăm họ người Trung Quốc vẫn tự coi mình là người Hán tộc, gọi nhà Thanh là bọn Di Địch. Thế nhưng bọn "Di Địch" đó đã làm nên một kỳ tích: sửa chữa những sai lầm của tổ tiên, duy trì đế chế phong kiến 268 năm, trong đó có ít nhất 2 đời vua được gọi là minh quân đem lại hoà bình, hạnh phúc cho Trung Quốc, vượt xa các ông vua triều Minh Hán tộc. Một biểu tượng của thái bình thạnh trị là triều Khang Hy (1662 - 1722), đấng minh quân mà cả Hán tộc và Mãn tộc đều tôn kính.


Lộc Đỉnh ký của Kim Dung lấy tên núi Lộc Đỉnh trên biên giới Trung - Nga làm tựa truyện nên đã dựng lại khá rành mạch những quan hệ Trung - Nga dưới triều Thanh, theo sát những diễn tiến lịch sử. Vào năm Thuận Trị thứ 6 (1650), nhà vua đã cho quân đồn trú ở mạn Đông Bắc để ngăn chặn quân của Sa hoàng Nga La Tư, không cho xâm phạm vùng Lộc Đỉnh Sơn và Hắc Long Giang. Năm Thuận Trị thứ 9 (1653), tướng Thanh là Hải Sắc đánh với quân Nga La Tư tại Hắc Long Giang; một tướng Thanh khác là Minh An Đại Lý đánh với quân Nga ở Tùng Hoa Giang (nằm sâu trong tỉnh Cát Lâm ngày nay). Năm Thuận Trị thứ 16 (1660), nhà vua sai hai tướng Nhĩ Hổ Đạt và Ba Hải đồn trú ở Ninh Cổ Tháp để ngăn chặn bước tiến của đoàn kỵ binh Nga La Tư danh tiếng Kha Tát Khắc (Cosaque).


Công chúa Sophia (Софья, tiếng Trung Quốc là Tô Phi Á) lên nắm quyền Nhiếp chính năm 1680. Lộc Đỉnh ký của Kim Dung hư cấu chuyện Vi Tiểu Bảo, bá tước của triều Khang Hy, đi đánh Thần Long giáo, lưu lạc qua Nga giúp công chúa Tô Phi Á kêu gọi binh lính Hoả thương thủ làm binh biến, đưa công chúa lên ngôi Nhiếp chính. Tính ra, đây là năm thứ 18 triều Khang Hy.


Thực ra, việc Vi Tiểu Bảo lưu lạc sang Nga là chuyện cá nhân của gã. Trước đó, vào năm Khang Hy thứ 15 (1677), đại sứ Nga là Tư Ba Tháp Lôi (Spatinary) đã sang Bắc Kinh, dẫn theo nhiều chuyên gia về bảo thạch và dược tài (làm thuốc súng) đến trình uỷ nhiệm thư lên Khang Hy, xin nhà vua trao đổi chuyên gia làm thạch kiều (cầu đá) về giúp Sa hoàng xây dựng Mạc Tư Khoa (Moscow, Москва) và Cơ Phụ (Kiev, Киев). Viên đại sứ này không chịu quỳ trước Khang Hy nên bị nhà vua đuổi về. Sau đó, Sa hoàng ra lệnh cho quân Cosaque đồn trú ở thành Irkoutsk (tiếng Trung Quốc: Ái Nhĩ Tư Khắc) và Novogorod (tiếng Trung Quốc: Ni Bố Sở Thành) để tuần tiễu mạn Bắc bờ sông Amour. Vua Khang Hy cho đây là sự xâm lấn lãnh thổ Đại Thanh nên đã đưa kỵ binh và pháo binh lên Hắc Long Giang đối phó.


Trong Lộc Đỉnh ký, Kim Dung thuật chuyện Vi Tiểu Bảo được Khang Hy phong làm nguyên soái, đệ nhất Lộc Đỉnh công, thừa lệnh nhà vua đem hai vạn quân gồm bộ binh, kỵ binh, pháo binh đi đánh quân Nga. Vi Tiểu Bảo hạ luôn hai thành Ni Bố Sở và Nhã Tác Khắc khiến công tước Phí Diêu Đa La (Pheodor), một trọng thần của Nhiếp chính vương Tô Phi Á phải xin cầu hoà và đề nghị đàm phán ký hiệp ước phân chia cương giới. Bởi vì tước của Vi Tiểu Bảo là Lộc Đỉnh công, mà núi Lộc Đỉnh lại ở phía Bắc bờ Hắc Long Giang nên Vi Tiểu Bảo buộc Phí Diêu Đa La bằng mọi cách phải cắt phần đất đó vào lãnh thổ của Thanh triều. Phí Diêu Đa La không thuận; Vi Tiểu Bảo doạ sẽ liên kết với quân của nước Thuỵ gì đó (Thuỵ Điển nhưng gã nhớ không nổi) để dưới đánh lên, trên đánh xuống, chiếm Mạc Tư Khoa! Gã lại học sách Tam quốc, thực hiện kế "Chu Du hí Tưởng Cán", giả vờ phát lệnh tiễn cho tướng Thanh đi về phía Tây, đi dọc biên giới Mông Cổ tiến về Mạc Tư Khoa khiến Phí Diêu Đa La sợ vỡ mật, phải xin kiềm đính hoà ước!


Những thủ đoạn kỳ kèo trong quá trình đàm phán không phải là không có cơ sở lịch sử. Ta nhớ rằng Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt (cháu nội của Thành Cát Tư Hãn) lên ngôi ở Trung Hoa, mở ra nhà Nguyên, sau đó thân chinh đi đánh nước Nga. Chỉ với 2 vạn binh mã, Hốt Tất Liệt đã đánh cho 18 vạn quân Nga La Tư thua to. Mà trong thời Khang Hy, nước Mông Cổ lại thuộc Trung Hoa nên khi bọn Vi Tiểu Bảo, Sách Ngạch Đồ, Đổng Quốc Cường nói với Phí Diêu Đa La rằng Mạc Tư Khoa từng bị người Trung Hoa đến đánh thì cũng không phải là điều khiên cưỡng. Vả chăng, năm 1238, danh tướng triều Nguyên là Bạt Đô đã đánh chếm được Cơ Phụ và Mạc Tư Khoa, lại còn muốn đánh sang Ba Lan và Hung Gia Lợi (Hunggary), vượt dòng Đa Não Hà (Danube) để tấn công châu Âu! Năm 1240, nhà Nguyên dựng lên toà Kim trướng Hãn Quốc bên thành Tát Lai (Toula) ở cửa sông Phục Nhĩ Gia (Volga). Nhân vật đứng ra cai trị toàn Nga lúc đó được gọi là Khả Hãn. Sách Đại anh bách liệu toàn thư, mục Nga La Tư thuật lại rằng những vương công người Nga phải đến Kim trướng của Khả Hãn tại thành Tát Lai để được phong. Họ đã chịu nhiều điều khổ nhục. Người Mông Cổ đã thống trị đất Nga 240 năm (từ 1240 đến 1480), sau đó mới bị người Nga đánh đuổi.


Hoà ước Hắc Long Giang ký năm 1684 giữa Trung Hoa và Nga La Tư do Sách Ngạch Đồ của Thanh triều và Phí Diêu Đa La của Nga kiềm thự. Hoà ước được viết bằng 3 thứ tiếng Hán văn, Nga văn và Lạp Đinnh văn (Latin). Đây là bản hoà ước đầu tiên Trung Hoa ký với nước ngoài, mang lại cho nhà Thanh một thắng lợi ngoại giao rực rỡ. Trong 6 điều hoà ước, điều nào cũng có lợi cho Trung Hoa: cương giới được quy định tới núi Đại Hưng An phía Bắc; hai tỉnh A Mộc Nhĩ và Tân Hải của Nga thuộc vào lãnh thổ Trung Hoa; phía Đông và Đông Nam kéo dài tới biển; nước Trung Hoa có thêm 80 vạn dặm vuông Anh. Hoà ước giúp Trung Hoa yên ổn đên 150 năm sau. Bia biên giới được viết bằng 5 thứ tiếng: Mãn Châu văn, Hán văn, Nga văn, Latinh văn và Mông Cổ văn. Những đời vua sau của nhà Thanh nhu nhược; địa đồ biên giới có nhiều thay đổi...


Tất nhiên, trong Lộc Đỉnh ký, Kim Dung để cho “nguyên soái” Vi Tiểu Bảo làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền ký hoà ước với Phí Diêu Đa La. Sách Ngạch Đồ chỉ là phó sứ! Vi Tiểu Bảo không biết chữ, nên chỉ ký được chữ Tiểu trong tên của mình. Chữ Tiểu của gã rất cổ quái: ở giữa có một cái gạch, hai bên có hai hột tròn tròn, giống như bộ phận sinh dục nam giới. Các quan coi tới, cười ồ, cho rằng cổ lai hy chưa có ai ký tên như vậy cả!


Trong cuộc chiến tranh ở biên giới Trung - Nga, các tướng lãnh của triều Thanh có đưa một số hàng binh Nga về Bắc Kinh cho vua Khang Hy hỏi chuyện để tìm hiểu lịch sử, địa lý, văn hoá của Nga La Tư. Tiêu Nhất Sơn trong Thanh đại thông sử ghi nhận: "Hàng binh đưa về kinh sư đều được tha hết, cho vào Tá lãnh. Đó là kỳ binh của Nga La Tư. Con cháu họ đến nay hãy còn". Trong sách Quý Ty loại cảo có chương Nga La Tư Tá lãnh khảo xác nhận đội lính Nga La Tư Tá lãnh có khoảng gần 200 người, mặc đồ Thanh binh rất kiêu dũng. Đây là một đòn phép ngoại giao hoà hoãn, khôn khéo của Khang Hy. Những người lính Nga được lấy vợ là người Trung Quốc; những kiến thức về hoả dược, vũ khí của họ giúp ích rất nhiều cho việc kiện toàn vũ khí cho người Trung Hoa.


Công chúa Tô Phi Á (Sophia) là một nhân vật có thật trong lịch sử nước Nga. Bà đã giết hoàng hậu chuyên quyền Na Đạt Lệ Á (Natalia), đưa em mình là Bỉ Đắc (Pierre) hãy còn nhỏ tuổi lên làm Sa hoàng; bà giữ quyền Nhiếp chính. Bà đã từng gửi thư bày tỏ tình hữu nghị với vua Khang Hy. Tô Phi Á và cả triều đình Sa hoàng không ai biết Hán văn. Vua Khang Hy có gửi cho bà một giác thư ngoại giao viết trên vàng lá. Bà trả lời: “Vừa qua, Hoàng đế bệ hạ có tặng cho chúng tôi một lá vàng nhưng chẳng ai biết dùng để làm gì”. Trong Lộc Đỉnh ký, tác giả xây dựng nhân vật Tô Phi Á thành người tình của Trung Quốc tiểu hài đại nhân Vi Tiểu Bảo. Chữ Phi được ông viết với bộ thảo đầu, có nghĩa là phất phơ (phương thảo phi phi - cỏ thơm phất phơ). Cái nghĩa ấy không được chính đáng, nhất là đối với một nữ Nhiếp chính vương. Sau này, khi Vi Tiểu Bảo sai gia sư viết hộ bức thư gửi cho Tô Phi Á, thông qua hai thân binh Hoa Bá Tư Cơ (Vabovski) và Tề Nặc Lạp Phu (Denilov), tay gia sư tự động sửa tên nàng lại là Tô Phi Hà điện hạ. Y viết chữ Phi có nghĩa là bay, chữ Hà có nghĩa là ráng chiều (trong Lạc hà dữ cô vụ tề phi). Vậy tên nàng có nghĩa là ráng chiều bay, vừa thơ mộng, vừa đẹp lại cực kỳ thanh nhã. Tiếc thay đối với Tô Phi Á và Vi Tiểu Bảo, Phi Á hay Phi Hà cũng vậy vì cả hai đều không biết chữ Hán văn! Về sau, Pierre đại đế phế truất Sofia và trở thành một Sa hoàng vĩ đại trong lịch sử nước Nga.

HỒI TƯỞNG

29.
HỒI TƯỞNG

Vơi lặng diễm nguyền rã nhạt hơi
Tới cung huyền mộng thảo thơm ngời
Mời chan chứa điệu trầm hương gởi
Đợi ngát ngan hồn cảnh sắc vơi
Khơi ước hiệp lòng xao xuyến hỡi
Khởi thề chung ý dặt dìu ơi
Rơi tình lụn ái tàn đâu bởi
Trời giận buốt duyên phối nửa vời

Vời nửa phối duyên buốt giận trời
Bởi đâu tàn ái lụn tình rơi
Ơi dìu dặt ý chung thề khởi
Hỡi ngát ngan lòng hiệp ước khơi
Vơi sắc cảnh hồn ngan ngát đợi
Gởi hương trầm điệu chứa chan mời
Ngời thơm thảo mộng huyền cung tới
Nơi nhạt rã nguyền diễm lặng vơi


HANSY

NIỆM KHÚC

Vơi lệ mắt buồn cảnh cũ nơi
Bởi yêu thương khắc dạ trong ngời
Mời hương mộng huyễn mơ ngày khởi
Gởi sắc xuân thì nhớ bạn chơi
Khơi lại tiếng lòng chan điệu hỡi
Nới dần cung nhạc luyến người ơi
Rơi rơi cánh mỏng hoa chờ đợi
Trời tối thẫm sương xám vợi vời

Vời vợi xám sương thẫm tối trời
Đợi chờ hoa mỏng cánh rơi rơi
Ơi người luyến nhạc cung dần nới
Hỡi điệu chan lòng tiếng lại khơi
Chơi bạn nhớ thì xuân sắc gởi
Khởi ngày mơ huyễn mộng hương mời
Ngời trong dạ khắc thương yêu bởi
Nơi cũ cảnh buồn mắt lệ vơi

Minh Hien



HỒI TƯỞNG 

Vơi đầy giọt nhớ trải từng nơi 
Gợi nhắc tình xưa thuở sáng ngời
Mời ủ dạ mong người sát tới
Đợi chờ tim ngóng bạn cùng chơi
Khơi làn nước ngọt hương quỳnh hỡi 
Gởi tiếng yêu nồng sắc huyễn ơi
Rơi rụng lá trầu cau tủi nỗi
Trời xanh thấu cảnh mộng xa vời 

Vời xa mộng cảnh thấu xanh trời
Nỗi tủi cau trầu lá rụng rơi
Ơi huyễn sắc nồng yêu tiếng gởi 
Hỡi quỳnh hương ngọt nước làn khơi 
Chơi cùng bạn ngóng tim chờ đợi
Tới sát người mong dạ ủ mời 
Ngời sánh thuở xưa tình nhắc gợi 
Nơi từng trải nhớ giọt đầy vơi

Minh Hien

TÂM SỰ

TÂM SỰ

Lòng này luôn nhớ một người
Bâng khuâng hoài mãi gió trời gởi đi
Gói vào trong mấy vần thi
Thương thương nhớ nhớ cũng vì dáng ai.

Ngần ngừ ở chút lòng trai
Vì đời đã gặp người hai ngăn tình
Một ngăn dành cho tim mình
Ngăn còn lại cũng dập dềnh nổi trôi.

Nào ai đoán trước sự đời
Yêu thương là thế mà dời đổi mau
Đêm về ôm đoạn tình đau
Khóc khô nước mắt giọt sầu mãi rơi

Chuyện xưa kể chút với người
Như chim sợ ná…, sợ lời gió bay
Sợ như tình nước với mây
Ngó thì khắn khít mà hay đổi lòng…

HANSY

DƯ ÂM

DƯ ÂM
(Giao cổ)

Khắc khoải niềm đau giữa khạo khờ
Tâm hồn thiết thảm buốt đường tơ
Bên triền bóng rã ân tình lặng
Giữa gió lời chan kỷ niệm mờ
Những tưởng thơm lừng tim mãi ước
Đâu ngờ úa rụi tuổi hằng mơ
Nguyền ơi nỡ dứt lòng chi tội
Để phiến trầm mê quạnh quẽ chờ 

Để phiến trầm mê quạnh quẽ chờ 
Chi còn mộng ước buổi hoài mơ
Hờn chăn gối bẽ bàng hương lửa
Ngán ngẫm khang tào tủi nuộc thơ
Đã vợi mùa hoa thời đượm ái
Và tàn khúc hạnh thuở vàng tơ
Mình ta lặng lẽ người thương hỡi
Khắc khoải niềm đau giữa khạo khờ

HANSY

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016


NHỮNG TỪ THÔNG DỤNG CỦA SÀI GÒN XƯA ÍT NGƯỜI BIẾT

NHỮNG TỪ THÔNG DỤNG 
CỦA SÀI GÒN XƯA 
ÍT NGƯỜI BIẾT

Xảnh xẹ, mình ên, bặc co tay đôi... là những từ mà người Sài Gòn xưa vẫn hay sử dụng.


Cách sử dụng từ ngữ giữa hai miền Bắc - Nam có vô số điều khác biệt thú vị. Chính những điểm khác biệt này đã góp phần khiến tiếng Việt của chúng ta càng thêm phong phú.

Và hơn thế, sự khác biệt này đã tạo ra niềm thích thú, đam mê tìm tòi khám phá cho những người Bắc vào Nam, hay người Nam trở ra Bắc sinh sống, làm việc, du lịch...

Cùng điểm lại một vài từ ngữ thông dụng mà người Sài Gòn xưa thường hay sử dụng mà đôi khi nhiều bạn trẻ chưa từng nghe nói bao giờ.








































VĂN HÓA NGÔN NGỮ

HOANG HOẢI

28.
HOANG HOẢI
(Ngũ độ-Giao cổ)

Sầu phai ước vọng phả đau niềm 
Đã hết xuân lòng tẻ
lặng tim
Cứ ngỡ muôn đời êm mộng tưởng
Nào hay vạn kiếp mỏi mơ tìm
Mù tăm cá ngỡ ngàng cung nguyệt
Khắc khoải canh trường biệt cõi chim 
Để mãi thầm ao mùa ái nọ 
Ngùi thương kỷ niệm úa hoang chìm  

Ngùi thương kỷ niệm úa hoang chìm 
Huyễn ảo hoa
ng mquạnh tiếng chim 
Dẫu liệu
tâm người hay tráo trở 
Mà sao mộng
ái vẫn gieo tìm 

Tèm lem thệ rã thơ tàn phú
Tẻ sắc ươn lời dã dượi tim 
Hỡi nguyệt xiêu lòng nơi chốn nảo
Sầu phai ước vọng phả đau niềm


HANSY

CHIẾC BÓNG

Cảm phận lòng đau những nổi chìm
Phương trời giã biệt phải lìa chim
Nhìn đau đáu mãi dòng sông chảy
Ngóng mỏi mòn sao cõi tạm tìm
Hạnh phúc nào đi tàn rũ cửa
Ân tình vẫn đọng nát nhàu tim
Thời gian cứ bảo phai dần niệm
Chẳng nhớ mà mơ lại rõ niềm

Chẳng nhớ mà mơ lại rõ niềm
Bao màu sắc huyễn dội về tim
Tình duyên thắm rạng đưa đường đến
Kỷ niệm nồng say dẫn lối tìm
Ở mãi nơi huyền trong giọng ái
Thêu hoài cảnh mộng với hồn chim
Vừa hay tỉnh dậy đèn khuya khoắt
Cảm phận lòng đau những nổi chìm

Minh Hien

ẢO MỘNG

ẢO MỘNG 

Từ dạo em đi sầu nhiều 
Tái tê lòng kẻ si yêu 
Bao năm hững hờ thiêu thiếu
Lòng ta vẫn nhớ dáng kiều. 

Xuân lại Xuân về buồn trôi 
Hồn ta nhung nhớ vạn lời 
Em đi, chốn xưa còn nhớ? 
Phút ban đầu, môi tìm môi. 

Tình thắm lỡ nhịp duyên trao 
Chia xa hai cõi đong sầu 
Em ơi, ngút ngàn thẳm vắng 
Ta ngồi mơ mãi trầu cau.

Tình bạc hay bởi trời ghen 
Vẫn hoài ướt sũng tình em 
Tìm nhau... Tìm nhau... em nhé 
Đến khi nỗi nhớ say mèm. 

HANSY

KHÚC TÌNH

KHÚC TÌNH
(Thuận Nghịch độc)

Đàn khúc lộc non vượng nhú chồi
Nắng hồng tô điệu thoáng cười môi
Tràn hương Hạ thắm nồng thơm dậy
Tỏa sắc Xuân ngào ngọt biếc lơi
Ngàn cánh lộng xinh người rộn nẻo
Hạnh lời ca ngát giọng ran đời
Vang tình trỗi đượm thương ngời gió
Loang tiết mộng phùng hẹn lứa đôi

Đôi lứa hẹn phùng mộng tiết sang
Gió ngời thương đượm trỗi tình loang
Đời ran giọng ngát ca lời hạnh
Nẻo rộn người xinh lộng cánh ngàn
Lơi biếc ngọt ngào Xuân sắc tỏa
Dậy thơm nồng thắm Hạ hương tràn
Môi cười thoáng điệu tô hồng nắng
Chồi nhú vượng non lộc khúc đàn

HANSY


Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016


13. CHÀO BẠN MỚI

13.
CHÀO BẠN MỚI
(Ngũ độ thanh)

Giữa chốn trần gian thỏa mộng Đường
Cho ngời sắc diện mãi nồng hương
Trau vần đượm thắm ngào liên tưởng
Khỏa chữ mơ ngời diệu vấn vương
Trí hữu giao tình thơ tỏa phượng
Kim bằng dậy nghĩa phú lừng phương
Mây ngàn gió lộng cùng nhau hưởng
Nối sợi tơ huyền phả cõi thương


BQT DLXH
***********************************************
Họa:
1.
ĐẾN MIỀN THƯƠNG
Tình vay kẻ chợ kiếp qua đường
Chẳng chút yêu nồng dậy cõi hương
Gỗ mục lìm đau tuyền tửu vướng
Canh tàn quẫn nhớ điệp hồ vương
Câu hò cũ mộng dần phai tưởng
Bến hẹn xưa lòng đã ảo phương
Góp những buồn vui đời cộng hưởng
Vin cành ái hữu trổ miền thương !
+Lý Đức Quỳnh 
2.
TÌNH THƠ
Cùng nhau thỏa mãn mộng thi đường
Bạn hữu giao lời tỏa sắc hương
Nét chữ mơ huyền êm dạ tưởng
Con vần huyễn ảo đẹp lòng vương
Thầm trao nghĩa mặn từ muôn hướng
Khẽ tặng ân ngời ở bốn phương
Duỗi cánh hồng hoan gờ cộng hưởng
Thơ ngào ngạt trải giữa mùa thương
+Hoccachquen Motnguoi 
3.
VƯỜN THƠ XƯỚNG HỌA
Đã đến vườn thơ xướng họa đường
Ly quỳnh chén tửu đượm đà hương
Bao lần gặp gỡ thầm mơ tưởng
Những lúc tâm tình để mộng vương
Thả chữ hồng nhan thùa vạn hướng
Ươm vần mặc khách trải ngàn phương
Đừng đi nữa nhé vui cùng hưởng
Mãi đẹp trong lòng cảm mến thương
+Minh Hien 
4. 
VUI XƯỚNG-HỌA
Gặp gỡ rồi thân biếc nẻo đường 
Thơ nồng diệu phả lắm ngời hương 
Êm đềm ngõ tứ triền miên tưởng 
Rạng rỡ câu vần mải miết vương 
Kỷ niệm trau bồi lan xõa hướng 
Ân tình Xướng-Họa trỗi lừng phương 
Tìm vui giữa thế nguồn an hưởng 
Để cuộc đời này mãi luyến thương
+Poet Hansy 


HỒNG NHAN TRI KỶ

27.
HỒNG NHAN TRI KỶ
(Tung Hoành-Bằng trắc)

HỮU phước trời ban hưởng lộc dài
DUYÊN nồng chạm ngõ mượt đời trai
THIÊN ân kết thệ bừng hoa trái
LÝ luận chuyền mơ trỗi sắc tài
NĂNG động quản trang tròn tứ hải
TƯƠNG hòa thơ phú rợp
hồng mai
NGỘ thơm thuần khiết hồng nhan toại
TRI KỶ TRẦM HƯƠNG VẪN ĐƯỢM HOÀI

TRI âm trời định về chung tổ
KỶ niệm ban đầu ôi thật ngố
TRẦM lặng ảo huyền điệu tảng lơ
HƯƠNG ngời quyến rũ lòng ngoan cố
VẪN thầm nhẫn nhịn giả làm ngơ
ĐƯỢM mãi yêu kiều dù thậm khổ
HOÀI ước cùng nhau nối một bờ
HỮU DUYÊN THIÊN LÝ NĂNG TƯƠNG NGỘ

HANSY

HỒNG LÂU MỘNG

HỮU mong ắt sẽ mộng đêm dài
DUYÊN đượm cho hồn nghĩ đến ai
THIÊN địa trêu ngươi làm nghiệt ngã
LÝ tình ghẹo ái thoả trang đài
NĂNG hòa thắm thiết đời loan phụng
TƯƠNG hợp vui vầy cảnh trúc mai
NGỘ nhỡ sau này ta cách trở
HỒNG NHAN TRI KỶ NHỚ THƯƠNG HOÀI

HỒNG lâu mộng ước êm đềm tổ
NHAN sắc trời ban làm mến mộ
TRI thức trau dồi đẹp đẽ vương
KỶ cương gìn giữ âm thầm cố
NHỚ người sắc sảo để thêm buồn
THƯƠNG phận tài hoa mà lại khổ
HOÀI ngóng trông về một cõi xa
HỮU DUYÊN THIÊN LÝ NĂNG TƯƠNG NGỘ

Minh Hien


THẾ LÀ HẾT

THẾ LÀ HẾT 

Thế là hết một đoạn tình ngang trái 
Người mờ xa chìm mãi cuối dòng sông 
Còn chi đâu mà vương nhớ bận lòng 
Thôi - giấu kín vào tim dòng huyết lệ. 

Từ nay về sau vẫy chào dâu bể
Hãy ngẫng đầu ngạo nghễ giữa trời sao 
Quên dáng xưa nhung lụa thuở mai đào 
Tung mùa nhớ bay vào trời khuất dạng. 

Đừng ngây khờ kiểu tình yêu lãng đãng 
Đã hết rồi cái thuở mỏi mòn trông 
Một mình ta say ca khúc tang bồng
Lang thang giữa muôn ngàn nơi nắng gió. 

Chiều cuối hạ hững hờ nhành phượng đỏ 
Giấu vào lòng khúc nhạc buổi tình mê 
Trắng tay rồi trả hết giữa trùng khê
Giã biệt nhé, muôn bề thôi đồng vọng... 

HANSY

BIỆT CA

BIỆT CA
(Giao cổ)

Nguyệt lặng mơ tàn níu nữa chi
Triền thương sạt vỡ ước mong gì
Vàng vọt mắt rã rời nguyện ước
Đau đớn ân tình khắc khoải mi
Biết thế chiều nao đừng hạnh ngộ
Thì đâu khuya ấy biệt xuân thì
Vàng xưa ơi hỡi vàng xưa lụn
Cánh phượng thay lòng cánh phượng đi 

Cánh phượng thay lòng cánh phượng đi 
Bỏ thương gạt nhớ rẽ đương thì
Hồn đau dạ thảm lời ly ái
Bến rạn duyên sầu lệ đẫm mi
Ngúng nguẩy để rồi thơm thảo rụi
Phũ phàng thêm vậy sướng sung gì
Thôi đành rượu tiễn chôn tình vợi
Nguyệt lặng mơ tàn níu mãi chi

HANSY 

♥♫ -BÀI KHÔNG TÊN SỐ 9


Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016


Kỳ 8 - LÝ THƯỜNG KIỆT HẠ THÀNH UNG CHÂU XÁC QUÂN TỐNG CHẤT CAO NHƯ NÚI

Kỳ 8
------
LÝ THƯỜNG KIỆT HẠ THÀNH UNG CHÂU
XÁC QUÂN TỐNG CHẤT CAO NHƯ NÚI


Ngày 1.3.1076, thành Ung Châu bị hạ sau 42 ngày cố thủ. Số người thành Ung Châu bị giết đến 58.000 người

Dù bị bất ngờ và tổn thất nặng nề ở vùng biên thùy phía nam bởi cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt, nước Tống vẫn còn tiềm lực rất lớn. Vua Tống và Vương An Thạch bàn nhau dựa vào sự kiên cố của thành Ung Châu để cầm chân quân Đại Việt, rồi cho một đạo quân lớn đi đường khác đánh thẳng vào lãnh thổ Đại Việt. Vương An Thạch thay vua Tống soạn tờ thư chiêu hàng gọi là Thảo Giao Chỉ Chiếu để dùng cho việc khuất phục tinh thần quân dân Đại Việt, cũng là đối đáp lại những lời lẽ của các văn bản Phạt Tống Lộ Bố Văn mà Lý Thường Kiệt đã cho yết bảng dọc đường tiến quân. “Thảo Giao Chỉ Chiếu” có những lời lẽ thể hiện rõ tư tưởng hống hách của nước lớn, ra vẻ bề trên vừa xoa dịu dụ dỗ, vừa đe dọa vũ lực đối với quân dân Việt. Lời chiếu như sau:

“Xét lại nước An Nam đời đời hưởng vương tước, các triều trước đối đãi khoan hậu, khi nào cũng bao dung tha thứ, mãi đến ngày nay. Nay lại xâm phạm thành ấp, sát hại quân dân, đã phạm pháp kỷ thì không thể tha thứ được. Vâng mệnh trời mà chinh phạt, tức là có danh nghĩa. Vậy sai Triệu Tiết sung làm chức An Nam đạo hành dinh, Mã Bộ Quân Đô Tổng Quản Kinh Lược Chiêu Thảo Sứ, Lý Hiến sung làm chức Phó Sứ, Yên Đạt sung làm chức Mã Bộ Phó Sứ Đô Tổng Quản , thuận theo thời lệnh mà dấy binh đường thuỷ và đường bộ tiến quân. Ý trời tỏ ra giúp thuận, hiện ra những điểm chỉ vẽ rõ ràng.  Người nào biết hối hận, đều giữ khí khái đối địch quân thù, những nơi nào quân vua tới sẽ không tổn hại đến thường dân và tàn sát kẻ bại trận.

Hỡi nhân dân đã lâu ngày sống trong cảnh lầm than, nếu biết khuyên dụ chủ mình nội phụ, xuất chúng qui phục, bắt giặc hiến cống, đem mình hiếu thuận, thì sẽ được thưởng tứ tước lộc, vinh hiển bội phần, những tội lỗi trước đây đều được ân xá. Càn Đức đương còn ấu trĩ, chính lệnh không do y mà ra, khi nào lai triều cũng sẽ được tiếp đãi trọng hậu như trước. Lời ta không sai, chớ có nghe lầm. Gần đây, ta nghe nhân dân bị bóc lột cực khổ, ta đã căn dặn sứ thần truyền đạt ân chiếu của ta, sự tàn bạo và thuế nặng đều được tẩy trừ. Mong rằng một nước chư hầu của ta luôn được yên vui.”

Thành Ung Châu kiên cố và có nhiều quân lương, khí giới do đây là nơi tập kết của cải của nước Tống để đánh Đại Việt. Tô Giám lại là một tướng lão luyện của Tống. Y dùng tài sản phân phát cho dân chúng trong thành, dùng lời khích lệ tinh thần khiến cho cả thành đồng lòng cố thủ. Lý Thường Kiệt vây thành ngót hơn một tháng không thể hạ nổi. Quân Đại Việt nghĩ cách đào hầm xuyên qua hào sâu và tường thành để đột nhập vào trong thành. Quân Ung Châu phát hiện được hầm, Tô Giám cho phóng hỏa đốt ngay miệng hầm khiến quân Đại Việt lại bị thương vong. Quân Đại Việt dùng hỏa công, bắn các loại đạn gây cháy từ máy bắn đá và hỏa tiễn vào trong thành gây nhiều thương vong cho dân chúng và binh lính Tống. Thành Ung Châu bị cháy nhiều nơi, không đủ nước dập lửa.

Trong thành lại bị thiếu nước uống, dân chúng phải uống nước dơ bẩn, dịch bệnh do đó mà bùng phát khiến rất nhiều dân chúng bị chết. Dù vậy tường thành vẫn không hạ được. Đạn từ máy bắn đá thời kỳ này tỏ ra không đủ sức đánh thủng tường thành Ung Châu . Cuối cùng, Lý Thường Kiệt dùng kế thổ công. Ông sai quân lấy đất xúc vào bao, làm đến hàng vạn bao đất rồi bắt tù binh người Tống liều mạng vượt qua mưa tên khiên bao đất xếp dưới chân thành để tạo thành bực thềm. Chẳng mấy chốc đã làm được một đường dốc cao tới mặt thành. Quân Đại Việt theo đó tràn vào thành như nước vỡ bờ, thế không ai địch nổi. Tô Giám vẫn liều chết lãnh đạo quân và dân chúng thành Ung Châu chống cự, khi thấy không còn hy vọng bèn quay về nhà giết hết người nhà tổng cộng 36 người, chôn xác xuống hố rồi tự thiêu chết. Tô Giám liều mình như vậy khiến dân chúng thành Ung Châu cảm kích mà không chịu đầu hàng, họ đã chiến đấu đến cùng trong tuyệt vọng. Tai ương đã ập lên tất cả họ, một cuộc thảm sát đã diễn ra.

Lý Thường Kiệt để hoàn thành cuộc chiến tiêu hao đã hạ lệnh giết tất cả người trong thành. Ngày 1.3.1076, thành Ung Châu bị hạ sau 42 ngày cố thủ. Số người thành Ung Châu bị giết đến 58.000 người. Về phía quân Đại Việt cũng có tổng thiệt hại đến hơn vạn người và một số voi chiến trong chiến cuộc Ung Châu. Trước đây, Tô Giám là người đã từng khuyên Lưu Di, Thẩm Khởi không nên khiêu khích Đại Việt vì sợ quân Đại Việt sẽ tràn sang đánh Tống trước nhưng bị gạt bỏ ngoài tai, lại còn bị khiển trách. Nay quả thật quân ta chủ động tấn công trước, căn cứ chiến lược dùng cho việc xâm lăng là thành Ung Châu phút chốc bị đập tan, hàng vạn quân dân Tống bị giết. Với việc thành Ung Châu bị hạ, ta sẽ thấy mọi toan tính chiến lược của nước Tống về sau đều bị đảo lộn. Dù cuộc tấn công này đối với quân Đại Việt mang mục đích tự vệ chính đáng, cũng phải nói rằng trong số những người nước Tống bị giết có nhiều người oan uổng. Họ cũng như quân dân Đại Việt, là nạn nhân trong tham vọng bá quyền của Tống triều.

Lý Thường Kiệt hay tin quân Tống sắp đưa quân sang đánh Đại Việt, liền chuẩn bị một kế hoạch rút quân hoàn mỹ. Ông sai lấy đá lấp sông Ung Giang, một tuyến đường thủy huyết mạch ở phía nam nước Tống. Để đánh lạc hướng quân Tống trước khi rút về nước, Lý Thường Kiệt phao tin là sắp đem quân đánh Tân Châu. Quan giữ thành Tân Châu là Cổ Cắn Lặc nghe tin bỏ cả ấn tín mà chạy trốn. Quân Đại Việt chủ động rút lui về nước lo chuẩn bị về phòng thủ một cách nhanh gọn. Một số thám tử Đại Việt được phái cải trang thành nhà sư, nạn dân, lái buôn người Tống, đi khắp nơi do thám. Quân Đại Việt đốt trại, thiêu hủy lương thực, phá thành, phá các đồn lũy, mang theo nhiều của cải và tù binh rút về nước. Không một đội quân Tống nào dám đuổi đánh do trúng kế của Lý Thường Kiệt, lo quân ta tiếp tục đánh Tân Châu nên các đội quân chính quy vẫn ở thế thủ. Những của cải không đem theo hết được đều bị quân Đại Việt thiêu hủy. Những tù binh không đem theo được cũng bị giết. Đó cốt là để tàn phá bàn đạp mà nước Tống định dùng cho cuộc xâm lược Đại Việt. Cả một vùng rộng lớn thuộc lộ Quảng Tây tiêu điều. Tổng cộng trong toàn bộ chiến dịch đánh Tống, quân Đại Việt đã giết hơn 10 vạn quân dân Tống.

Khoảng cuối tháng  3.1076 Lý Thường Kiệt đã an toàn rút hết quân về nước. Đội quân thiện chiến đã theo ông bắc phạt không có nhiều thời gian để nghỉ ngơi hay mừng chiến thắng. Bởi mọi người hiểu rằng cuộc chiến sắp tới sẽ còn rất cam go.  Triều đình nhà Lý bắt tay ngay vào việc điều động quân dân Đại Việt chuẩn bị bước vào giai đoạn chiến đấu mới mang ý nghĩa quyết định vận mệnh dân tộc – đón đánh đội quân viễn chinh Tống trên lãnh thổ Đại Việt.

Quốc Huy