Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2018

NHIỀU LỖI LIÊN QUAN ĐẾN TỪ HÁN-VIỆT

NHIỀU LỖI LIÊN QUAN
ĐẾN TỪ HÁN-VIỆT

Tôi còn nhớ hồi học đại học, một hôm thầy giáo vào lớp bảo mỗi sinh viên lấy một tờ giấy giải thích những từ sau: báo, chí, báo chí, phóng, viên, phóng viên, phóng, sự, phóng sự... Sinh viên ngành báo chí không phải là dân "ngoại đạo" với chữ nghĩa nhưng hôm ấy đều ngắc ngứ!

Lần khác học môn biên tập báo chí, thầy nhiều lần phê bình lớp chúng tôi bởi rất nhiều trường hợp "lợn lành chữa thành lợn què" mà trong đó có không ít lỗi liên quan đến từ Hán - Việt.

Sự nhầm lẫn chữ nghĩa có liên quan đến từ Hán - Việt xảy ra rất thường xuyên. Có lẽ đây là những ví dụ không xa lạ với tất cả chúng ta:

- "Với nhà thơ Phạm Tiến Duật, cuộc đời anh như một bài thơ dài, những câu thơ của nhà thơ chiến sĩ từng tiếp lửa, sưởi ấm bao tâm hồn trong chiến tranh cũng như hòa bình thì nay lúc nhà thơ nằm xuống, những người yêu anh, trong đó có cả những người chỉ yêu thơ mà chưa được gặp đã đến sưởi ấm nhà thơ phút lâm chung này. (Tang lễ nhà thơ Phạm Tiến Duật: Vĩnh biệt một nhà thơ xuất sắc, báo C, ngày 12-12-2007).

"Lâm chung" là sắp tắt thở, sắp chết. "Phút lâm chung" là thời khắc mà con người sắp từ giã cõi đời, trong khi ở đây phóng viên đang viết về lễ tang nhà thơ Phạm Tiến Duật (mất ngày 4-12-2007, lễ tang tổ chức ngày 11-12-2007) nên không thể nói "phút lâm chung" trong hoàn cảnh này!

- Báo V có bài Cựu thủ tướng Ukraine "thoát y" trang sức trước Quốc hội, đăng ngày 10-10-2006. Bài báo nói về hành động tháo bỏ đồ trang sức đang đeo trên người của cựu thủ tướng Tymoshenko.

Trong bài báo này, tác giả dùng cụm từ thoát y trang sức dù chữ thoát y có được đặt trong ngoặc kép là không chính xác. Thoát y có nghĩa là (tự) cởi quần áo, không thể dùng cho trang sức.

Tiếng Việt hiện nay có rất nhiều từ Hán - Việt. Nhưng không phải ai cũng hiểu và hiểu đúng các từ này. Nhiều trường hợp dùng sai trên báo chí có thể làm một bộ phận người đọc hiểu sai theo và bắt chước.

Trên đây chỉ là vài ví dụ nhỏ.

Rất mong Bộ Giáo dục - đào tạo lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, các nhà giáo về việc nên hay không nên dạy chữ Hán hay từ Hán - Việt trong nhà trường; nếu có thì dạy như thế nào...

Xét cho cùng học chữ Hán hay từ Hán - Việt là để sử dụng tiếng Việt cho đúng (cho hay), góp phần gìn giữ và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt.


TRỊNH MINH GIANG

THÈM

292.
THÈM 
[TNT]

Thèm tình vui quá nhảy cà tưng 
Thèm dạo loanh quanh lượn núi rừng 
Thèm mộng xê xàng cùng gió hứng 
Thèm hò líu cống với nàng cưng 
Thèm mơ ái nguyệt nồng tim đựng 
Thèm ghé tình xuân trỗi dạ mừng 
Thèm lộng hồn thơ ngàn kiếp vững 
Thèm lời óng ả miệt mài bưng 

HANSY


 

Có ghế tức thì lắm kẻ bưng 
Có vui ấy chắc chuyện vui mừng 
Có tiền giữa cuộc nhiều cô bám 
Có sắc trên đời khối cậu cưng 
Có nắng khoảng trời tươi gió biển 
Có mây đồi núi sạm góc rừng 
Có thương lòng dạ hoài xao xuyến 
Có nhớ hai đầu tửng tựng tưng 

HANSY



HẸN KIẾP LAI SINH

HẸN KIẾP LAI SINH

Ngày xưa đó, hẹn thề biết mấy
Có ngờ đâu trời dậy đổi thay
Để cho đêm phải nhớ ngày
Khiến bao tấc dạ vọng ai canh trường.

Cứ ngỡ rằng yêu thương chân thật
Sẽ mãi hoài sớm tối bên nhau
Sẽ bền duyên phận trầu cau
Mùa trăng tình ái đượm màu ái ân.

Bởi do đâu đang gần bỗng ngái
Tình êm đềm ngang trái đùn lên
Để rồi ta chỉ mình ên
Buồn trông ngọn cỏ man miên cuối trời.

Người đã nói một lời chia biệt
Cũng đành nghe chứ biết nào hơn
Thôi thì hẹn kiếp lai sinh
Vần thơ lại nối, tình mình lại thơm…

HANSY

HOẢI HOANG

HOẢI HOANG
[Thuận Nghịch độc]

Vay trả khúc nguyền tủi ước mơ
Trỗi đau mùa ái nghẹn đêm chờ
Bầy kêu mệt mỏi lời tan gió
Nghĩa réo hư huyền ý dỗi thơ
Mây tản bạt lòng phai buổi nguyện
Mắt nhòe loang mộng nhạt đời trơ
Đây lờ lặng biệt trời hoang hoải
Vầy dạ xót thương nuối ngoảnh bờ

Bờ ngoảnh nuối thương xót dạ vầy
Hoải hoang trời biệt lặng lờ đây
Trơ đời nhạt mộng loang nhòe mắt
Nguyện buổi phai lòng bạt tản mây
Thơ dỗi ý huyền hư réo nghĩa
Gió tan lời mỏi mệt kêu bầy
Chờ đêm nghẹn ái mùa đau trỗi
Mơ ước tủi nguyền khúc trả vay

HANSY

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2018

Những giai thoại KHUYẾT DANH

 Những giai thoại
KHUYẾT DANH
1/
Thơ nhạo tri phủ: 

 Gặp tiết trời đại hạn, một viên tri phủ lập đàn cầu đảo, nhưng cầu mấy bận mà chẳng thấy mưa, chỉ khổ cho nhân dân phải đóng góp tốn công, tốn của. Có anh
học trò thấy vậy làm bài thơ nhạo như sau:

Thái thú xuất kỳ vũ,
Nhân dân giai hỷ duyệt.
Bán dạ thôi song khai,
Kiến nguyệt!

Tạm dịch:
Tri phủ cầu mưa rơi,
Nhân dân sướng mê tơi!
Nửa đêm mở cửa ngỏ,
Trăng soi!

  Bài thơ lọt đến tai viên tri phủ, y giận lắm, sai lính bắt anh học trò. Lúc anh ta đến, y bảo phải làm bài thơ khác đền tội, nếu không sẽ đánh đòn. Anh học trò dạ dạ, vâng vâng, xin quan ra đầu đề. Nguyên tri phủ có hiệu là Tây Pha, hắn liền lấy hai chữ ấy cho anh học trò vịnh. Anh ta vịnh rằng:

Cổ nhân hiệu Đông Pha,
Kim nhân hiệu Tây Pha.
Nhược tương lưỡng nhân giáo,
Sai đa!

Tạm dịch:
Người xưa hiệu Đông Pha (1),
Người nay hiệu Tây Pha.
Đem hai người sánh lại,
Khác xa!

(1) Đông Pha: tên hiệu của Tô Thức, nhà thơ nổi tiếng đời Tống

 Viên tri phủ càng giận hơn, sai lính đánh 18 roi. Anh học trò chịu đòn xong, ức quá, vừa xoa đít vừa đọc:

Tác thi thập thất tự,
Bị đả nhất thập bát.
Nhược thướng vạn ngôn thi,
Đả sát!

Tạm dịch:
Làm thơ mười bảy chữ,
Bị đánh mười tám roi.
Nếu làm thơ muôn chữ,
Chết toi!

 Nghe đến đây, viên tri phủ chịu không nổi, bèn kết án anh học trò 3 năm tù.
2/
Quan án giỏi thơ :

 Viên án sát tỉnh Kiến An xuất thân là một ông tiến sĩ, thơ nôm nổi tiếng khắp vùng, nhưng tính tình thì hay nóng nảy thô bạo. Trên bàn giấy lúc nào cũng để một con sấu đá. Con sấu này người ta tặng để làm cái chặn giấy, nhưng ông ta lại dùng vào việc khác. 

 Mỗi lúc hỏi kiện, quan án thường cầm con sấu đá đập chan chát xuống bàn để thị oai. Không những thế, quan án còn quát tháo om sòm, rồi trợn mắt và rên ư ử, mắng nhiếc người ta đủ điều. Đôi khi còn tát tai người ta như thầy đồ đánh học trò.  
 Tuy nhiên, ông ta rất thanh liêm, xử kiện công minh chính trực. Song dầu sao mặc lòng, dân chúng vẫn không ưa lối xét xử thô bạo như vậy. 

 Một buổi sáng nọ, lính canh thấy một tờ giấy dán ở cổng dinh, liền bóc vào trình quan. Thì ra, đó là một bài thơ bát cú như sau:

Án sát gì …
Miệng thì ư ử, mắt thì giương
Tát tai tổng lý sao không nghĩ?
Xích tử triều đình dạ chẳng thương (1)
Hỏi kiện lơ mơ giương mắt ếch
Án từ phê chữ dáng đuôi lươn
Nào là tổng lý ta đâu tá?
Xỏ khố khênh ra trả sứ đường.

(1) Xích tử: con đỏ, đây chỉ dân chúng

 Biết là sĩ phu địa phương làm thơ chửi xỏ, quan án căm lắm. Nhưng khác hẳn lúc xử kiện, ông ta cứ bình tĩnh như thường, không tỏ vẻ nóng nảy gì cả. Ông sai lấy một tờ giấy giống hệt tờ kia, rồi hoạ lại một bài bát cú theo nguyên vận:

Án sát Kiến An …
Gặp tuần hoa nở, cánh hồng giương
Đù cha tổng lý sao không nghĩ ?
Xích tử triều đình dạ vẫn thương
Trộm cướp bỏ tù giương mắt ếch
Gian ngoan đòn đánh tuốt da lươn
Nếu còn "cò trắng quay đầu lại"
Có bửa căng thây giữa sảnh đường.

 Xong, quan án sai lính dán cả hai bài thơ hai bên cổng dinh.
 Dân chúng xúm lại xem đông như hội. Ai cũng cho quan án là người có tài và cư xử phải lẽ. Rồi từ đó họ hiểu, không oán ghét quan án nữa.
3/
Ngàn năm văn vật đất Thăng Long :

   Khoảng đầu thế kỷ thứ XX, chính quyền thực dân Pháp ra sức củng cố thế lực ở Việt Nam trong đó có việc đàn áp tư tưởng cách mạng và tăng cường truyền bá văn hóa nô dịch. Chúng giao cho báo Trung Bắc tân văntổ chức một cuộc thi ca tụng Văn miếu. Nhà báo khôn khéo không ra mặt mở cuộc thi, chỉ cử cô B. (một cây bút trong tòa soạn) viết lên báo mấy lời, đại ý nói: "Cô mới đi chiêm ngưỡng Văn miếu về. Cảm động quá, muốn làm một bài thơ mà chỉ mới nghĩ được một câu phá: 

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long 

 Xin nhờ quân tử nối tiếp hộ cho. Bài nào hay, xin hậu tạ"
  Thơ dự thi gửi đến hàng ngàn bài, cố nhiên phần đông là ca tụng công khai hóa của thực dân Pháp, nhưng cũng có bài không nịnh hót mà lại đả kích kịch liệt như bài sau đây:

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long,
Văn vật ngày nay mới lạ lùng:
Tham biện, tham tằm, tham cán sự,
Đốc bò, đốc chó, đốc canh nông (1).
Du côn, mật thám đầy sông Nhị,
Giang há (2), ma cô (3) chật núi Nùng.
Trừ miếu Khổng kia chưa tiện nói,
Còn thì văn vật đất Thăng Long.

(1) Tham biện: Tham biện tòa sứ. Tham tằm: coi nhà nuôi tằm. Tham cán sự: tham tá chuyên môn. Đốc bò, đốc chó: đốc thú y
(2) Giang há: gái giang hồ, do chữ giang hồ đọc chệt ra.
(3) Ma cô (phiên âm tiếng Pháp maquereau): bọn dắt gái, đưa gái

 Còn một bài khác, tuy nhẹ nhàng kín đáo hơn, mà cũng sâu sắc:

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long,
Văn miếu xây từ Lý Thánh tông.
Sau đó Trần, Lê tu bổ lại,
Gần đây Pháp, Việt bảo tồn chung.
Tiệc trà Khai Trí năm xưa mở (1),
Tuồng diễn Kim Kiều (2) buổi họp đông.
Lân chẳng thấy đâu, dê vẫn thấy (3),
Nghe quyên kêu, biết đạo ta cùng.

(
1) Năm 1919, hội Khai Trí Tiến Đức do thực dân Pháp đỡ đầu, làm lễ khánh thành và mở tiệc trà tại Văn miếu
(2) Năm 1920, người ta diễn tuồng Kim Vân Kiều ở Văn miếu để kỷ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Du
(3) Lân: con kỳ lân, theo truyền thuyết khi có thánh nhân thì lân mới xuất hiện, nghĩa rộng: lân tượng trưng cho đạo thánh hiền, đạo nho. Câu thơ có ý nói đạo nho đã suy tàn quá rồi, trông vào Văn miếu chẳng thấy lân (đạo nho) đâu, mà chỉ thấy dê vào gặm cỏ hằng ngày
4/
Long Biên ái hoa hội 

 Khoảng năm 1916, Bắc kỳ bị lụt to, lại thêm cái họa chiến tranh ở Âu châu ảnh hưởng đến. Vì thế, dân chúng bị bắt phu, bắt lính liên miên, đời sống rất khó khăn. Thế mà một nhóm quan lại Bắc kỳ và một số nhà giàu ở Hà Nội lại bày ra cái trò chơi hoa đặt tên là "Long Biên ái hoa hội" (Hội yêu hoa ở thành Long Biên). Hội quán đặt ở ngôi đình Thái Hà của Hoàng Cao Khải. Họ định hằng năm cứ đến ngày rằm tháng giêng là mở hội thi hoa. Năm ấy là năm đầu tiên nên họ thi hoa và thi cả thơ vịnh hoa nữa cho thêm rôm rả. Đề thi là "Long Biên ái hoa hội". 

  Hoa đưa đến dự thi cũng lắm mà thơ gởi đến cũng nhiều. Lúc bình thơ, không biết vô tình hay hữu ý, người ta lại đem đọc một bài không trúng cách, bài thơ ấy như sau:

Các cụ Long Biên khéo khéo là
Đương cơn lụt lội lúc can qua
Có yêu sao chẳng yêu nòi giống
Yêu cóc làm chi mấy cái hoa ?


  Mọi người nghe xong vỗ tay rào rào. Nhưng mấy ông giám khảo ngồi chiếu cạp điều thì lại quở mắng người bình thơ là láo xược, đọc bậy. Rồi cuộc bình thơ bỗng biến thành cuộc đấu khẩu, chẳng còn ra thể thống gì nữa.
5/
Thợ vẽ đề thơ

  Có một người thợ vẽ, vẽ đã giỏi mà làm thơ cũng khá. Vị đại thần nọ gọi người ấy đến vẽ cho quan một bức chân dung. 

   Bức họa vẽ xong, quan lớn ngắm nghía lấy làm thích thú nhưng vẫn giả vờ chê ỏng chê eo, rồi lại bắt người thợ vẽ đề luôn một bài thơ vào đấy cho được tôn thêm giá trị. 

  Người thợ vẽ vốn đã không ưa lão quan này, nay thấy hắn bày đặt như thế nên càng ghét hơn, liền nảy ý định xỏ hắn một vố chơi. Người ấy nghĩ một lát rồi cầm bút viết bốn chữ cách nhau rõ xa: 

Chân....    Lão....   Cầm....   Thú.... 
 Có nghĩa: "Thực là cầm thú già". 

  Đề chân dung một bậc trọng thần mà viết như vậy thì xỏ xiên quá đáng. Quan lớn mới liếc qua đã nổi giận đùng đùng, thét lính vật người thợ vẽ xuống để đánh
đòn về cái tội láo xược đó.

   Nhưng người thợ vẽ không hề hoảng sợ, bình tĩnh nói: "Dạ, bẩm ngài nóng tính quá, tôi còn đang viết dở, mới viết bốn chữ đầu cho khỏi quên, chứ đã xong đâu !"
Vị đại thần vẫn còn hậm hực, nửa tin nửa ngờ: "Nếu vậy nhà ngươi viết nốt ta xem"
  Người thợ vẽ liền viết liền viết tiếp vào các chữ trước thành bài thơ như sau:

Chân tể tướng
Lão trung thần
Cầm chi phượng
Thú chi lân
  Dịch:
Thật tể tướng
Lão trung thần
Cầm thì phượng
Thú thì lân.

   Bốn chữ đã biến thành bài thơ ca ngợi rất mực cung kính: nào bảo vị đại thần là  tể tướng trung thần chân chính, nào ví địa vị ông ta cũng cao tột bậc như con phượng, con lân là vua trong loài chim loài thú. Bấy giờ vị đại thần mới hài lòng, nhưng người thợ vẽ vẫn cười thầm, vì bài thơ xét kỷ vẫn còn có ý xỏ xiên bên trong. Nếu chỉ đọc bốn chữ đầu câu, vẫn thấy rành rành câu "Chân lão cầm thú".
6/
Chả kém Lý Bạch 

   Một ông quan võ sính thơ nôm ở bên một người hàng xóm khéo tán để kiếm ăn. Hễ làm được bài thơ nào, quan cũng gọi người kia đọc cho nghe. Hắn nghe xong tán tụng khen thơ hay và khen quan "chả kém gì Lý Bạch", thế là quan cho hắn ăn uống lu bù. 

   Có lần quan gọi hắn sang đánh chén, khi ngồi ăn, quan nói: "Tôi mới cho làm cái chuồng chim ở sân vườn, nhân nghĩ được bài thơ tứ tuyệt, tôi thử đọc bác nghe xem sao nhé!". Rồi quan khề khà đọc:

Bốn cột chênh vênh đứng giữa trời,
Đứa thì bay bổng đứa bay khơi.
Ngày sau nó đẻ ra con cháu,
Nướng chả băm viên đánh chén chơi.

  Người kia nức nở khen: "Chà! Hay quá, xin quan đọc từng câu để con được thưởng thức hết cái hay của bài thơ ạ!" 

  Quan thích chí, hai cánh mủi phập phồng, dõng dạc đọc lại ngay: 

Bốn cột chênh vênh đứng giữa trời
   Người kia tán:
"Tuyệt! Cứ như câu nầy thì quan sẽ làm đến chức tứ trụ triều đình"
  Quan tiếp: 

Đứa thì bay bổng đứa bay khơi

  Người kia nịnh:
"Ôi, quan còn thăng chức chưa biết đến đâu!"
  Quan đọc đến câu: 

Ngày sau nó đẻ ra con cháu

  Thì hắn ta lại tán:
" Hay quá! Con cháu của quan còn là vô kể!"
  Quan đọc nốt: 

Nướng chả băm viên đánh chén chơi.

  Hắn lại tâng bốc:
"Tuyệt quá! Cảnh quan lớn về sau thì tha hồ mà phong lưu!" 

  Quan mủi nở bằng cái đấu, đắc chí rung đùi, rót rượu mời người kia và nói: "Thơ tôi kể cũng tự nhiên đấy nhỉ? Bay giờ nhân cuộc vui, tôi thử làm một bài tức cảnh nữa nhé!" 

  Nhìn ra sân thấy con chó, quan mới vịnh luôn một bài rằng:

Chẳng phải voi mà chẳng phải trâu,
Ấy là con chó cắn gâu gâu.
Khi ngủ với nhau thì phải đứng,
Cả đời không ăn một miếng trầu.


  Người kia lại gật gù tâng bốc, quan lại thương rượu và gọi thêm đồ nhắm, hắn ta lại được thể lại càng đưa quan lên chín tầng mây. Rồi vui miệng, hắn cũng xin đọc theo một bài. Được quan cho phép, hắn liền đọc:

Quanh quanh đằng đít lại đằng đầu,
Hễ thấy ai vào cắn gâu gâu.
Ăn hết của thơm cùng của thối,
Trăm năm chẳng được chén chè tàu.

  Cứ thế, cuộc ngâm vịnh kéo dài mãi cho đến khi hai người say mềm mới thôi.
7/
Hé gương 

   Một o hàng vải xứ Nghệ – chắc chắn là tay cừ trong đám hát hàng vải – một hôm mang vải đi thuyền xuống tỉnh bán. Thuyền chật, người đông, nhất là trong khoang, chỗ sang trọng nhất, thì đã bị đám dăm bảy thầy đồ ý chừng cũng xuôi tỉnh thi cử gì đây, chiếm hết cả. O hàng vải không có chỗ ngồi, nhưng không chịu lép, leo ngay lên mui thuyền ngồi. Chẳng biết cô ta có nghĩ rằng ngồi như vậy là ngồi trên đầu các thầy nho hay không. Một lúc lâu, cô ả muốn tụt xuống, không ngờ tà váy bị gió thổi, mắc vào một đầu sào gác dọc trên mui thuyền. Hai chân đã  chạm xuống khoang thuyền mà tà váy lại cứ bị níu lại ở trên, ả loay hoay mãi mới gỡ ra được. Nhưng dù sao, các thầy đồ ngồi trong khoang cũng đã trông thấy cả rồi. Một thầy đồ trẻ nhất bọn, lấy giọng ngâm một câu "Kiều lẩy" như sau:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Sẳn đây ta đúc một tòa thiên nhiên
 (Nguyên câu trong truyện Kiều là:
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẳn đúc một tòa thiên nhiên)
 

  Ai ngờ cô ả đã ngồi xuống đàng hoàng ở đằng lái, khoan thai sửa lại vành khăn trên đầu rồi cũng lên giọng trong trẻo ngân nga, "lẩy" lại một câu rằng:

Mười lăm năm mới một lần
Hé gương cho khách hồng trần thử soi
  (Nguyên câu trong truyện Kiều là:
Mười lăm năm bấy nhiêu lần
Làm gương cho khách hồng trần thử soi)

  Các khách hồng trần – các thầy đồ – đau điếng người, nhưng phải phục lăn vì cô ả đã tài tình, thật đã góp những trận cười giòn nhất vào trận cười thích thú của hành khách. 







MỘNG TÌNH

71.
MỘNG TÌNH
[Áp cú]

Trong diễm tuyệt hương phả ngọt lòng
Lòng ngời sắc tím tỏa vờn song
Song thùa nhớ bạn lèn thơm bóng
Bóng ngã thương chiều trải mượt sông
Sông dậy cõi tình vang nhịp trống
Trống khua tấc dạ đoái hoa hồng
Hồng nhan rạng biếc mùa yêu vọng
Vọng mãi ân nguyền thỏa trắng trong

Trong thơm chút nghĩa ở tim lòng
Lòng đượm bao tình gởi luyến song
Song lả lướt tìm tha thẩn bóng
Bóng êm đềm ngủ miệt mài sông
Sông choàng mặt phả ngàn dương bổng
Bổng lướt trời chen vạn ánh hồng
Hồng tỏa mơ nguồn khao khát mộng
Mộng nguyền thơm thảo mãi hoài trong

HANSY


XUYẾN LÒNG

Trong câu hát đợi xuyến xao lòng
Lòng trải mơ màng quấn quyện song
Song nguyệt xõa mình soi dịu sóng
Sóng mây xòa bóng rọi mềm sông
Sông xưa bến dệt hoan trời mộng
Mộng cũ bờ xây lộng cõi hồng
Hồng thắm duyên ngời say đắm bỏng
Bỏng ran nẻo nhớ mặn mà trong

Trong mắt người ơi nẻo hẹn lòng
Lòng thầm giữ vẹn quãng thề song
Song thềm nhớ trải lan tràn bóng
Bóng cửa mong bày xõa ngập sông
Sông gợn sóng tình da diết bỏng
Bỏng khơi bão mộng thiết tha hồng
Hồng tim ngọt ấm khung trời vọng
Vọng đắm cung huyền diễm biếc trong.

Hà Thu

HẸN LÒNG

HẸN LÒNG

Thoảng hương cau giữa vườn xưa 
Mà nghe nồng mặn như vừa biết yêu 
Chiều nao trầu gởi thương nhiều 
Để trăm năm mãi đượm kiều làn môi.

Hương tình tỏa ngát núi đồi 
Bạc bàng khắp lối, vạn đời nào phai 
Thầm nghe tim bảo thương hoài 
Tình xuân ấm lại trúc mai tan sầu.

Hẹn tình cùng bước sang cầu 
Hẹn lòng sát mộng dệt câu viên thành 
Rộn ràng hoa bướm yến oanh 
Trời yêu rộng mở, hương chanh tỏa vườn.

Nhé em, xây chữ vĩnh trường 
Bởi trong tiền kiếp đã thương lỡ rồi...

HANSY

TA – NÀNG

TA – NÀNG
[TNT]

TA ngời sắc nhớ giữ nào phai
TA ướp tình yêu ngọt tháng ngày
TA tỏa mộng mơ thùa nguyện ái
TA lồng khát vọng kết thề ai
TA tràn nỗi ước mùa thơ trải
TA dậy niềm yêu cõi nắng cài
TA vẫn mỏi mong dù biệt ngái
TA nguyền chung thủy tựa cùng vai

NÀNG hỡi hãy cùng nguyệt sánh vai
NÀNG gieo làn gió đẫm hương cài
NÀNG đem nẻo mộng vầy hoa trái
NÀNG thả cung thề dệt trí ai
NÀNG lộng chứa chan hòa bến bãi
NÀNG khơi quấn quyện thỏa đêm ngày
NÀNG ngan ngát phả lời thương lại
NÀNG nhé ân tình chớ rụi phai

HANSY

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

“VIỆT VỊ” hay “LIỆT VỊ”?


“VIỆT VỊ” hay “LIỆT VỊ”?

Có thể nói, World cup 2014 là một kỳ World cup đến một cách lặng lẽ chưa từng thấy. Chưa đến, chưa qua mà đã thấy buồn, thiếu hẳn sự háo hức, mong chờ, chuẩn bị như mọi lần. Có lẽ tất cả cảm xúc của người dân Việt Nam, ngoài đời cũng như trên báo chí đều đang hướng về biển đảo của Tổ quốc. 

Giàn khoan 981 của Tàu giống như mũi dao đang cắm sâu trên thân mình đất nước ta khiến ngọn lửa yêu nước và tự hào dân tộc dâng lên ngùn ngụt. Nhưng tình yêu bóng đá với Việt Nam cũng giống như nhu cầu ăn uống hàng ngày. Bốn năm mới có một đại tiệc bóng đá. Ta căm thù giặc ngoại xâm và làm tất cả để đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương, nhưng cũng không quên giành tình cảm cho những gì mình yêu thích. Phút “giao thừa” của cái “Tết bóng đá” với những bữa “đại tiệc” linh đình sắp đến. Tuấn Công Thư Phòng xin góp vài lời trước giờ bóng lăn để không khí bớt vẻ trầm lắng.

Trong môn bóng đá, trọng tài thường bắt lỗi vị trí của cầu thủ, gọi là “lỗi việt vị”, “bắt việt vị”. Hai từ “việt” và “liệt” có âm na ná như nhau, bình luận viên lại nói nhanh trên nền âm thanh sôi động của trận đấu nên nhiều người nghe nhầm, nói nhầm “việt vị” thành “liệt vị”. Họ suy đoán, “liệt” có lẽ là trong từ “tê liệt” (chỉ trọng tài phạt lỗi bắt dừng lại, không thể tiếp tục tấn công được nữa). Có người lại cho rằng, “liệt” ở đây là hàng lối. Ý là cầu thủ phạm lỗi “liệt” vị là băng xuống vị trí phía dưới hàng cầu thủ đối phương...Thậm chí có ý kiến còn cho rằng không phải “việt vị” hay “liệt vị” mà là “việc vị” (!) Nhiều người dùng đúng, nhưng không ít người không biết “việt vị” và “liệt vị” dùng từ nào cho đúng; tại sao lại đúng, tại sao lại sai.

Với khán giả đam mê bóng đá là như vậy. Đối với các cầu thủ chuyên nghiệp chuyện phân biệt “việt” hay “liệt” cũng có sự lúng túng. Báo Lao động ngày 20/1/2014 đăng bài “Công Vinh bị fan chọc quê vì dùng từ “liệt vị”. Bài báo viết:“Công Vinh viết trên facebook của mình: “Rõ ràng là không có lỗi liệt vị.Về xem lại băng ghi hình cũng không phải liệt vị, làm mình ức chế tâm lý sau quả này ghê. Nhưng vẫn phải chấp nhận thôi biết sao được, quan trọng là đội mình hôm nay thắng trận đầu tiên ở tại sân Vinh. Hy vọng năm nay đầu xuôi đuôi lọt. Cheer”.

Kèm theo dòng trạng thái này, Công Vinh dán thêm đường dẫn video quay chậm bàn thắng. Ngay lập tức chủ đề này thu hút cả trăm bình luận và hơn nghìn lượt “like”. Nhiều fan nhanh chóng bắt lỗi chính tả của Công Vinh: “Việt vị chứ không phải liệt vị. Có phải Công Vinh không vậy?”. Một số fan ruột khác ra sức bảo vệ Vinh: “Ở miền Trung, liệt vị hay việt vị đều đúng nhé các thánh”. Còn số khác thì viện dẫn cả luật bóng đá để chứng minh “việt vị” mới là từ chuẩn. Thậm chí, có fan còn phân tích nghĩa Hán Việt của từng từ cấu thành nên chữ “việt vị” để giải thích cho rõ ràng”.
Tưởng thế là xong. Nhưng phía dưới bài viết này lại có thêm những phản hồi của bạn đọc:

Đăng Minh - 10:12 PM - 20/01/2014
 "Liệt vị" là đúng đấy các bạn ạ. Tiếng nga là "положение вне игры", tiếng anh là offside đều có nghĩa "vị trí ngoài cuộc chơi", tức vị trí liệt. Gọi việt vị là do không biết, dùng quen mồm..Lỗi ở tận VFF, bộ môn bóng đá của Đại học TDTT...Đã có 1 thời các bình luận viên bóng đá nói "liệt vị" chứ không nói "việt vị" như bây giờ đâu.

Thanh Nhàn - 09:17 PM - 20/01/2014
"Liệt vị" mới đúng. Tiếng Anh dùng từ "off site" nghĩa là " chỗ chết, "liệt" là chết, "vị" là vị trí. Cầu thủ đứng ở vị trí chết (dưới hàng phòng ngự), chờ sẵn bóng đến. Còn "việt vị" chẳng có ý nghĩa gì cả trong từ Hán-Việt. Chẳng qua dùng mãi thành quen giống như từ "khuyễn mại" mà mọi người dùng thành "khuyễn mãi". Khuyến là khuyến khích, mại là mua, khuyến khích mua, "thương mại "là là mua bán.

Thế là “việt vị” với ‘liệt vị” cứ lung tung cả. Ai phân tích nghe cũng có lý, chẳng biết đường nào mà lần !

Vậy “việt vị” hay “liệt vị” ? Có thể khẳng định rằng “việt vị” chứ không phải “liệt vị”. Nhưng tại sao lại gọi lỗi đó là “việt vị” ? Theo nghĩa Hán-Việt “việt” là vượt qua, vượt lên, “vị” là nơi, chỗ, vị trí. “Việt vị” nghĩa là một người nào đó (ở đây cụ thể là cầu thủ bóng đá) đã vượt quá vị trí mà luật bóng đá quy định trong tình huống tấn công. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia bản tiếng Việt cũng như Hán ngữ đều dùng từ “việt vị” chứ không dùng “liệt vị”.

Từ “việt” với nghĩa vượt qua, vượt lên còn xuất hiện trong các trường hợp khác như: “việt cấp” (vượt quá bực) “việt lễ” (vượt qua lễ phép), “việt quyền” (vượt qua quyền hạn của mình),v.v...Trong khi từ Hán Việt, “liệt vị” chỉ có nghĩa là: các ngài !

Nói đến lỗi việt vị trong bóng đá, chúng ta lại liên tưởng việc làm của Trung Quốc ở biển Đông. Trung Quốc chấp nhận tham gia Công ước quốc tế về Luật biển, nghĩa là chấp nhận luật chung của thế giới. Vậy mà khi vào cuộc chơi, Trung Quốc lại đòi đẩy vạch ngang ở đường trung tâm giao bóng xuống tận vòng 16m50 của đội bạn, đòi phần sân của mình phải sát đến cầu môn của đối phương rồi cứ ngang nhiên dẫn bóng xộc thẳng sang tấn công, bất chấp luật thế nào. Khi bị trọng tài thổi “việt vị” đội Trung Quốc vẫn cứ ngang nhiên “ghi bàn” và đòi công nhận “bàn thắng”. Khi bị cầu thủ đội bạn phản ứng thì Trung Quốc lại nằm lăn ra ăn vạ, khiếu nại trọng tài là bản thân mình bị “phạm lỗi”, mình bị “cản trở” tình huống tấn công. Rốt cuộc là cả “đội bóng” Trung Quốc, huấn luyện viên, lẫn cổ động viên nhà xông vào thượng cẳng chân, hạ cẳng tay đối với trọng tài và đội bạn, đòi “kết thúc trận đấu” với phần thắng về phía mình (!)  Thật đáng xấu hổ !

Xem World cup 2014 chúng ta tin tưởng rằng, “đội bóng” Việt Nam của chúng ta, khán giả của chúng ta, trọng tài quốc tế và cả thế giới sẽ không bao giờ chấp nhận cái kiểu ngang ngược, tự vẽ lại sân bóng, thay đổi luật chơi có lợi cho mình như kiểu của Trung Quốc. Trước sau, Trung Quốc cũng sẽ chuốc lấy thất bại nhục nhã, ê chề trước bàn dân thiên hạ.

HOÀNG TUẤN CÔNG
(Bài này được viết lại trên cơ sở bài “Việt vị hay liệt vị ?” đăng trên mục “Ngôn ngữ và đời sống” Báo Văn hóa thông tin Thanh Hóa” số 531- 1998)           

LIÊU TRAI

291.
LIÊU TRAI 
[Hồi đầu]

Hương dạ ru tình tím dạ hương 
Sương mờ ảo ảnh lộng mờ sương 
Dạt dào quân tử tim dào dạt 
Vương vấn nghĩa tình mộng vấn vương 
Nhạc điệu ru hồn loang điệu nhạc 
Chương vần thả phím trỗi vần chương 
Gió mây đùa ghẹo cùng mây gió 
Thương nhớ ngạt ngào dậy nhớ thương 

HANSY 

BẢNG LẢNG 

Hương ấm vui mùa diệu ấm hương 
Sương làn tỏa nhẹ phớt làn sương 
Dậy mơ nỗi ái choàng mơ dậy 
Vương mộng cung tình níu mộng vương 
Khúc nhạc nhớ thương bừng nhạc khúc 
Chương lầu ghi khắc lộng lầu chương 
Nước non hòa điệu mừng non nước 
Thương quý trăng vàng trỗi quý thương 

HANSY


QUỲNH HƯƠNG

Hương quỳnh thơm thảo đẫm quỳnh hương 
Sương tỏa bên thuyền nước tỏa sương 
Góp mộng bồng lai tràn mộng góp 
Vương tình hoa nguyệt dậy tình vương 
Tứ vần neo dạ lưu vần tứ 
Chương khúc quyện hồn luyến khúc chương 
Đẫm ước mùa trăng thời ước đẫm
Thương thầm kỷ niệm lắng thầm thương 

HANSY

TIGON ƠI

TIGON ƠI

Rồi em sẽ vầy vui duyên mới
Quên cả đường xưa chốn hẹn thề
Có nhớ đến bài tigôn cũ
Để an ủi lòng kẻ lắm si mê...

Rồi em dần phai theo năm tháng
Quên lãng tình ta trong bộn bề
Có biết góc nhà luôn mong ngóng
Gởi về trong gió chút hương quê...

HANSY 

HÀO KHÍ TỘC VIỆT

HÀO KHÍ TỘC VIỆT

Lạc Việt dân mình sống nghĩa nhơn
Từ rừng ra biển dậy âm đờn
Hùng Vương dựng nước ngàn năm hiển
Chúa Nguyễn khai miền vạn thuở ơn
Chống Bắc diệt thù quân cẩu sợ
Ngăn Nam dẹp giặc lũ tham chờn
Dựng xây Tổ quốc ngời vinh hiển
Hào khí kiêu hùng mãi vút hơn

Hào khí kiêu hùng mãi vút hơn
Làm quân xâm lược tái tê chờn
Quần thoa dũng cảm nhiều thơm nghĩa
Nghĩa sỹ anh hùng lắm diệu ơn
Giặc giã súng gươm liền mũ giáp
Bình yên thơ rượu thoảng tay đờn
Dù cho cẩu trệ nhiều gian ác
Lạc Việt dân mình sống nghĩa nhơn

HANSY

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2018

ĐỐI DIỆN VỚI ĐỒNG TIỀN


ĐỐI DIỆN VỚI ĐỒNG TIỀN

Đứng trước đồng tiền, thế gian có 4 kiểu người:

Kiểu người thứ 1: 
Trong túi không có tiền, trong tâm cũng không có tiền, thế nhưng họ lại có thể sống nhẹ nhàng cả cuộc đời.

Kiểu người thứ 2: 
Trong túi không có tiền, trong tâm lại có tiền, thế nhưng họ lại sống đau khổ cả cuộc đời.

Kiểu người thứ 3: 
Trong túi có tiền, trong tâm cũng có tiền, thế nhưng họ lại sống lao lực cả cuộc đời.

Kiểu người thứ 4: 
Trong túi có tiền, trong tâm lại không có tiền, thế nhưng họ lại có thể sổng vui vẻ hạnh phúc cả cuộc đời.


Bạn có thể tích lũy được bao nhiêu tiền không phụ thuộc vào bạn có thể kiếm được bao nhiêu mà là do bạn biết cách đầu tư tiền như thế nào.

Người nghèo nhìn người giàu: ai ai cũng vì tiền mà bất nhân. Người giàu nhìn người nghèo: đáng đời bọn họ mãi nghèo.

Người nghèo có tiền rồi thì phát hiện ra tiền không phải là vạn năng, người giàu phá sản rồi thì phát hiện ra không có tiền có khi lại càng tự do tự tại.

Ngày và đêm đều có kẻ khóc người cười, có tiền hay không có tiền đều có người vui vẻ người khổ đau.

Bạn chỉ có thể thấy được sự hoành tráng ở đằng trước nhưng không nghe được tiếng thở dài ở đằng sau. Bạn ghen tỵ khi thấy họ đeo vòng vàng nhẫn bạc, còn họ ngưỡng mộ bạn có thể ngủ thẳng giấc đến tận hôm sau.

Con người là vậy, cùng có một đôi mắt nhưng cách nhìn lại khác nhau, quan điểm khác nhau; cùng có một đôi tai nhưng cách lắng nghe khác nhau; cùng có một cái mồm nhưng cách nói khác nhau; cùng có một trái tim nhưng cảm nhận khác nhau; cùng có một bộ não nhưng tư tưởng cách nghĩ khác nhau; cùng có tiền nhưng cách tiêu khác nhau; cùng có sách nhưng cách đọc khác nhau… và cùng là con người nhưng cách sống khác nhau.

Nhìn xa trông rộng, nghĩ sâu nghĩ rộng khiến cuộc đời của chúng ta mỗi ngày sẽ có một sắc màu.

Quay đầu càng nhiều, đường càng khó đi; bỏ lại quá khứ mới hướng được đến tương lai tươi sáng hơn.

Thời gian không phải dùng để xóa mờ đi tất cả, mà là để chúng ta đi tìm ra câu trả lời cho tất cả những gì chúng ta cần.

Tất cả những gì trong cuộc sống của chúng ta không phải là tính ra được mà là cảm nhận được; không phải cầu nên được mà là tu nên được.
Bản chất sự đau khổ của con người chính là sự phẫn nộ về việc thiếu năng lực của bản thân.

Trong cuộc sống, chúng ta có nhiều cơ hội để thay đổi suy nghĩ của mình, và con người ai cũng có lúc phải chịu tủi hờn, thế nhưng chúng ta không thể để sự tủi hờn làm mất đi giá trị sống của bản thân. Hãy học cách cười, cách chịu đựng, cách tha thứ để chúng ta phát triển trong sự khoan dung.





TRỐNG CƠM KHÔNG PHẢI TRỐNG CƠM

TRỐNG CƠM
KHÔNG PHẢI TRỐNG CƠM

Trên mạng xã hội, tôi từng có lần hỏi 500 anh em Facebooker rằng “con xít là con gì?”. Các bạn đã trả lời rất nghiêm túc, để biết trên đời có con xít/sít thật. Rất cám ơn các bạn, nhưng dường như nhiều bạn không chú ý tôi hỏi “con xít” là cái con xít trong bài dân ca quan họ Trống cơm cơ (trừ có 2-3 bạn bảo bài hát phải là “con nít”).

Về bài hát Trống cơm, xin thưa thế này: Tôi sinh ra và lớn lên ở đồng bằng sông Hồng, gần xứ Kinh Bắc. Thuở nhỏ, toàn thấy người lớn hát và dạy hát là “con nít” chứ không phải là “con xít”. Các bậc cao niên thì bảo: Hát trống cơm nhưng không phải là nói cái trống cơm.

Toàn bộ bài thơ dân ca như sau:

Trống cơm ai vỗ nên bông
Một bầy con nít lội sông đi tìm
Thương ai con mắt lim dim
Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ
Duyên nợ khách tang bồng.

Chỉ có đúng một câu đầu nói về cái trống cơm. Còn lại toàn nói chuyện tính chuyện tình. Chuyện tình duyên này là “duyên nợ khách tang bồng”. Muốn phân tích để hiểu bài thơ dân gian này, phải đi từ cuối lên đầu, đi từ kết quả lần về nguyên nhân. Điển cố văn học cả dân gian và bác học khi nói đến “con nhện giăng tơ”, thì rõ không phải tơ nhện, mà là tơ duyên. 

Vậy chuyện tơ duyên ở đây cụ thể là cái gì? Hồi còn nhỏ, tôi thấy các vị cao niên bảo rằng: Bài hát trống cơm là diễu vui người đàn bà chửa (miền Nam gọi là mang bầu). Cái trống cơm khi sử dụng thì đeo trước bụng, còn cái trống cơm do “tình bằng” mà có thì là cái trống người đàn bà đeo nó suốt 9 tháng 10 ngày. Khi nghe hát “một bầy (tang tình) con nít, (nó mới lội, lội…) lội sông (nó mới) đi tìm” thì hầu hết người ta hiểu rằng đám con nít này lội sông tìm về nơi có tiếng trống. Và chính sự hiểu này dẫn đến người ta thay từ “con nít” bằng “con xít/sít”, một loài chim lội nước. Không đơn giản thế. Đám con nít này xuất phát từ hư vô, chúng lội qua con sông đời để đi tìm về cái trống của người đàn bà. Thế đấy.

Đến lượt con nhện, thì chúng giăng tơ tìm về đôi mắt người đàn bà, khiến nó lim dim. Cái tơ con nhện giăng ở đây cũng là cái tơ duyên ảo diệu. Ai sung sướng cũng lim dim, thông thường là thế. Bài hát còn chỉ rõ hơn là bài thơ nguyên bản: “em nhớ thương ai, con mắt (nó mới) lim dim”. Toàn bộ bài thơ cũng như bài hát không hề có câu nào thừa. Câu nào cũng có công dụng của nó. Kể cả những từ đệm vào theo truyền thống quan họ: Tình bằng, khen ai, ấy mới, tang tình, thương ai… khiến cho âm nhạc biểu cảm sự châm chích vui vẻ mà rộn ràng. Nếu ai đó bảo bài hát nói về trống cơm thì vô lý. Loại nhạc cụ này dùng cơm căng mặt trống, dùng trong lễ tiết, kể cả việc tang ma. Nhưng bài trống cơm quan họ lại tinh nghịch, vui vẻ, dí dỏm. Đi xa hơn giai thoại nói bài Trống cơm là chế người đàn bà chửa, có ông còn bảo đó là người đàn bà chửa hoang ngày xưa. Cho nên mới có câu “duyên nợ khách tang bồng”. Cái trống mà người đàn bà mang đây là cái duyên nợ của một người đã đi đâu rồi, là “khách tang bồng”, tức là khách đi xa rồi không biết ở đâu.

Nguồn gốc dân ca quan họ còn tranh cãi nhiều, nhưng rõ ràng ca từ của các bài ca đầy tính bác học. Tu từ rất chỉnh. Mẫu mực về thể loại giao duyên. Dân ca đồng bằng sông Hồng và miền núi phía bắc phần lớn là vui tươi, giao duyên (không như miền Trung, miền Nam còn có âm hưởng oán thán, buồn bã). Nhiều bài quan họ nói chuyện tình duyên đầy ý nhị, kín đáo, như cái duyên thầm phụ nữ mà người xưa từng tôn thờ. Xe chỉ luồn kim, không chỉ là chuyện kim chỉ. Ngồi tựa mạn thuyền không chỉ là mạn thuyền, bèo dạt mây trôi đâu chỉ là chuyện bèo mây…

Chuyện trống cơm không phải phát kiến của tôi. Chỉ là nhớ lại một giai thoại về một bài hát. Dường như đang có một sự đứt gãy về tinh thần nào đó (điều này không dám lạm bàn)…


Nguyễn Xuân Hưng 

MÊ LẦM

70.
MÊ LẦM
[Tiệt hạ]

Cứ ngỡ nồng mê sẽ mãi từng
Ai dè mưa gió khiến lòng ngưng
Nào hay ái lạc làm xiêu lửng
Biết thế ngày nao đã kịp dừng
Ngoảnh mặt phớt lờ không có những
Chuyền tim lơ láo biết đâu chừng
Thì thôi vĩnh quyết vì tim khựng
Mong nhớ đau buồn chỉ khiến sưng

Mong nhớ đau buồn chỉ khiến sưng
Vàng khuya lậm buốt kiểu tê chừng
Người ta phụ rẩy nên lòng khựng
Bạn hữu hoài can ấy dạ dừng
Thê thảm góc tình dang dở đứng
Ê chề khúc ái nhoẹt nhòe ngưng
Ngày xưa dù được trăng làm chứng
Cứ ngỡ nồng mê sẽ mãi từng

HANSY


CÕI TÌNH

Và đây khúc mộng thủa nao từng
Vẫn nở tươi bừng bận gió ngưng
Ý đượm lời thương đầy sát lửng
Thơ nồng tiếng nhớ đẫy bên dừng
Vần mơ ấy điệu không nề khững
Vận ước này câu chẳng bỏ chừng
Cứ quyện say nhoài say đắm khựng
Cho tình bỏng rát mãi hoài sưng

Cho tình bỏng rát mãi hoài sưng
Để ước về trao ngọt đẫy chừng
Giữ sắc êm đềm say đắm khựng
Gìn hương nồng ấm lịm ngơ dừng
Lòng ơi xuyến đảo triền mơ đứng
Dạ hỡi cuồng quay quãng ái dừng
Quấn quyện đan hồn da diết nựng
Và đây khúc mộng thủa nao từng.

HàThu

ÁI ÂN MỘT CỘI

ÁI ÂN MỘT CỘI

Thơ tình chất chứa lòng anh 
Gởi theo mây gió vọng nguồn ái hôn 
Yêu nhau trăng nước cũng hờn 
Gió ghen nồng thắm, suối sông ghen tình.

Cuộc vui tối chí bình minh 
Hương thơm tỏa ngọt linh đình mộng cao 
Mộng vàng ướm cánh trao nhau 
Thỏa đời giao kết lòng cau với trầu.

Chữ thương ghi khắc làm đầu 
Chữ yêu làm của, rễ dâu bạc vàng 
Thơm hoài một cánh hoàng lan 
Nguyệt Tơ xe mối rộn ràng soán ngôi.

Tình mình lan tỏa ngàn khơi 
Kết mây góp gió thảnh thơi duyên cùng 
Nguyền rằng vạn kiếp tình chung 
Ái ân nồng mặn thỏa lòng ước mơ.

Sâm Thương dẫu cách đôi bờ
Hừng đông ló dạng hồn thơ chao tình…

HANSY

TƯỞNG LÀ…

TƯỞNG LÀ…
[Ngũ độ]

Cứ tưởng mầm yêu mãi ngọc ngà
Âm đàn sáo vọng trỗi huyền ca
Nào hay tráo trở thành ngơ dạ
Những kiểu gian lừa khiến ngọng ta
Có phải duyên tình xơ mục rã
Mà gây nuộc ái phải tan nhòa
Vì đâu ước thệ đành xiêu ngã
Để mối si lầm não ruột ra

Để mối si lầm não ruột ra
Từng đêm thổn thức lệ u nhòa
Người đi bỏ lại niềm tin rã
Cõi nhớ quay về kỷ niệm xa
Nghĩ thuở êm đềm câu ái lạ
Bây giờ nhão nhoẹt khúc tình ca
Chiều đi sóng dội niềm đau lả
Cứ tưởng mầm yêu mãi ngọc ngà

HANSY


Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

NỤ và HOA

NỤ và HOA

Đối với từ "hoa", trước hết những người sử dụng tiếng Việt đã đặc biệt chú ý đến vẻ quyến rũ của thứ sự vật thường có màu sắc và hương thơm mà từ này biểu thị. Ngoài ra người ta cũng quan tâm tới hình thức, tức hình dạng thường gặp của hoa: chính giữa là nhụy, và những cánh hoa mở ra xung quanh đều đặn như một sự bày đặt khéo léo của tạo hóa. 

Đây cũng là điểm xuất phát chung trong văn hóa nhân loại: Ở rất nhiều nước trên thế giới, hoa được coi là biểu tượng của sự toàn hảo, sự thanh tao và tỏa sáng, của tình yêu và cả sự bấp bênh thoáng qua vẻ đẹp nơi trần thế. Đồng thời, hoa cúc thường gợi nhớ đến mùa thu và những kỷ niệm, hoa hướng dương là biểu tượng của lòng khát khao lý tưởng, hoa mẫu đơn tượng trưng cho sự phú quý, hoa sen là biểu tượng của sự thuần khiết giữa bụi trần tục lụy, hoa hồng là lời ngợi ca sự toàn mỹ, còn hoa đào tượng trưng cho mùa xuân…

Trong tiếng Việt, hoa được dùng để ví von với vẻ tươi đẹp: mặt hoa da phấn, tươi (đẹp) như hoa. Trong văn nghệ, từ "hoa" thường được dùng khi nói về người con gái đẹp (còn "bướm" và "ong" là những chàng trai si tình). Cũng theo hướng suy tưởng như thế, hoa được sử dụng trong các từ ghép chỉ người con gái đẹp nhất (trong cuộc thi người đẹp ở một vùng, hoặc một lĩnh vực nào đó) là hoa hậu và hoa khôi. Hoặc khi để chỉ tính chất đẹp đẽ lộng lẫy thì người ta nói là hoa lệ, biểu thị vẻ bên ngoài đẹp nhờ trau chuốt thì nói là hoa mỹ, ví von tuổi trẻ tươi đẹp của đời người thì gọi là hoa niên (hay tuổi hoa)… 

Bằng sự cảm nhận trực tiếp, những người dùng tiếng Việt đã so sánh hình dạng thường gặp của hoa với nhiều sự vật khác (trông cũng từa tựa hoa), để từ đó lấy hoa làm tên gọi chung cho các sự vật khác này (theo cách ẩn dụ) hoặc chỉ tính chất của chúng: hoa lửa, hoa tuyết, hoa đèn, hoa tai, hoa tay, pháo hoa, cháo hoa, rỗ hoa… Người ta thậm chí còn nói vải hoa và chiếu hoa (chỉ loại vải và chiếu có hình trang trí, nhưng không nhất thiết bằng những hình hoa), chữ hoa (chỉ dạng chữ to thường dùng ở đầu câu và đầu danh từ riêng)… Như thế là từ "hoa" đã được mở rộng về nghĩa: Thoạt đầu nó chỉ hoa, rồi hình hoa, rồi hình trang trí tựa bông hoa, và rồi chỉ hình trang trí nói chung (trong vải hoa, chiếu hoa…). Về chữ hoa, chúng ta nhớ rằng trước đây dạng chữ này không chỉ to, mà còn được trang trí khá cầu kỳ bằng những nét và những móc, rất đẹp…

Ta hãy trở lại với từ "nụ". Đây là một từ bản thân nó đã khiêm nhường và hình như vẻn vẹn như chính sự vật được nó biểu thị (nụ): Đó là sự vật có hình viên tròn như cái khuy, không có gì đặc biệt về hương thơm và màu sắc, lại thường bị bao bọc trong chiếc đài màu xanh nên hay bị lẫn vào trong cành lá (trừ khi trên cành trơ trụi lá). Nhưng không phải ngẫu nhiên mà nhân gian lại thích chọn cành đào với những nụ lấm tấm làm biểu tượng cho mùa xuân: Người ta chú ý rằng nó chưa phải là hoa nhưng rồi sẽ là hoa, và trong cái hình dạng kín đáo hay rụt rè cam phận kia đang hứa hẹn một sự mỹ miều quyến rũ...