Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2017

12. HOÀNG DUNG

12.
HOÀNG DUNG
Dạo chơi giữa nhân gian

Nhìn thấy một cậu bé ăn xin nhếch nhác giữa phố phường đột nhiên biến thành một tiên nữ tóc dài thướt tha xinh đẹp trên thuyền bơi giữa hồ, đừng nói chàng Quách Tĩnh chưa quen thế sự, mà ngay cả một độc giả hiểu biết sâu rộng cũng trố mắt kinh ngạc. Cảnh tượng hài hước này giống như cảnh chàng thiếu niên Ôn Thanh trong Bích huyết kiếm bỗng dưng biến thành thiếu nữ Hạ Thanh Thanh, nhưng ở đây cảnh tượng độc đáo hơn. Khỏi phải nói, tính cách của nhân vật chính Hoàng Dung lanh lợi đa biến hơn hẳn thiếu nữ Hạ ThanhThanh, sắc thái truyền kỳ cũng phong phú hơn. Bắt đầu từ giây phút ấy hình tượng nhân vật Hoàng Dung đã lóe sáng, không chỉ bao trùm Quách Tĩnh, mà còn bao trùm toàn bộ sách Anh hùng xạ điêu. Cái tinh linh cực kỳ thông minh và vô cùng ngang ngạnh này, dưới ngòi bút của Kim Dung, một nửa là tiên nữ trên trời, một nửa là yêu tà dưới trần.

I
Đặc điểm tính cách nổi bật của Hoàng Dung đương nhiên là sự thông minh lanh lợi. Khi mới xuất hiện, thiếu nữ này đã treo Hoàng Hà tứ quỉ võ công khá cao lên cây, lại còn làm cho sư thúc của Hoàng Hà tứ quỉ là Hầu Thông Hải cứ loay hoay không sao đối phó được; sau đó nàng lại ung dung thoát thân khỏi Hoàn Nhan vương phủ, một nơi có vô số cao thủ, đủ biết nàng chẳng phải nhân vật tầm thường. Hoàng Dung sở dĩ phục hồi nguyên hình thiếu nữ, là vì nàng muốn trêu ghẹo anh chàng Quách Tĩnh ngốc nghếch, chủ yếu là để Quách Tĩnh biết chân tướng diện mạo của nàng - thiếu nữ này đã phải lòng Quách Tĩnh rồi. Hoàng Dung yêu Quách Tĩnh là vì "ta thấy chàng đối đãi chân thành với ta, bất kể ta là nam hay nữ, ta dễ nhìn hay khó coi", "Ta mặc bộ quần áo này, ai cũng lấy lòng ta, chuyện đó đâu có gì lạ ? Khi ta làm kẻ ăn xin, chàng đối tốt với ta, đó mới là tốt thật". (Xem Anh hùng xạ điêu).

Bất kể có môn đăng hộ đối hay không, điều cốt yếu là chân tình đối với nhau, là tình đầu ý hợp. Chỉ riêng việc này cũng đủ thấy Hoàng Dung có kiến thức phi phàm, từ trong đất cát nhận biết, phát hiện được cục vàng, hòn ngọc nguyên khối Quách Tĩnh mà người khác chưa biết, thế mới là tuệ nhãn thức anh hùng. Càng phi phàm cái việc Hoàng Dung không chỉ phát hiện được phẩm chất đạo đức cao quí của Quách Tĩnh, mà còn bồi đắp và phát huy phẩm chất trí tuệ cho chàng. Cùng đi một chuyến với Quách Tĩnh, thực sự nàng là một giáo viên giảng về văn hóa nghệ thuật Trung Nguyên và cuộc sống giang hồ cho người bạn trai của mình. Không có sự hướng dẫn, chỉ dẫn của nàng, chuyến trở về Trung Nguyên của Quách Tĩnh chẳng những không có thu hoạch, mà còn vô vị tẻ ngắt, thậm chí khó đi từng bước. Có nàng đi bên cạnh, hành trình trở nên tươi đẹp vô hạn, đầy họa ý thi tình, hơn nữa Hoàng Dung còn tạo ra cho chàng nhiều cuộc kỳ ngộ chốn giang hồ , khiến cho Quách Tĩnh được thoát thai hoán cốt. Gọi là tạo ra nhiều cuộc kỳ ngộ, tức là chỉ ra rằng, chẳng hạn, việc Hoàng Dung đoán đúng, qua vài biểu hiện nhỏ, như việc ông lão ăn xin thích ăn phao câu gà, biết đó là kỳ nhân đương thời Hồng Thất Công, trong giây lát nấu vài món ăn đầy hấp dẫn để lấy lòng vị đại tông sư võ học ấy, khiến cho lão tự nguyện giúp nàng, đem tuyệt kỹ độc môn "Hàng long thập bát chưởng” truyền thụ cho chàng ngốc Quách Tĩnh.

Tiếp đó nàng lại trổ tài nấu nướng vô số món ăn vừa lạ miệng vừa thanh nhã, đặt cho chúng những cái tên thú vị, như "Quân tử hảo cầu”, "Kiều minh nguyệt" ... để Hồng Thất Công bị mắc lừa, chịu đem võ công “Tiêu dao du” cực kỳ phức tạp, đầy biến hóa, môn võ công mà Quách Tĩnh vừa nhìn đã hoa cả mắt, truyền thụ cho Hoàng Dung. Nói Hoàng Dung là cô giáo hướng dẫn văn hóa và dạy cách sống cho Quách Tĩnh là vì nàng tuy không dạy võ công cho chàng như Giang Nam lục quái và Hồng Thất Công, song đã mời các vị giáo sư lỗi lạc dạy cho Quách Tĩnh, thiết kế giáo trình học tập và thực hiện; lại còn tìm ra bộ giáo trình "Vũ Mục toàn thư” của vị anh hùng dân tộc tiền bối Nhạc Phi, một cuốn sách giáo khoa về võ thuật, quân sự, chính trị, đạo đức. Sau khi nàng bị thương, nàng tìm Anh Cô hỏi han, khiến một người tự xưng là Thần Toán Tử như Anh Cô cũng phải thẹn vì thua kém nàng. Đối với bốn cao thủ Ngư, Tiều, Canh, Độc, mưu kế và hiểu biết của nàng cũng khiến họ phải mến phục. Kiệt tác tâm trí của Hoàng Dung dĩ nhiên còn bao gồm kế "Áp quỷ đảo" đánh gục Âu Dương Khắc, tại miếu Thiết Thương dẫn dụ Khúc cô, lột mặt nạ Dương Khang. Cuối cùng đối phó rất lâu dài với đại ma đầu số một thiên hạ Âu Dương Phong, không bị suy tổn chút nào, còn kịp thời truy hỏi Âu Dương Phong "Mi là ai" trên đỉnh Hoa Sơn, khiến vị đại tông sư võ học này trở nên điên điên khùng khùng.

Các đại cao thủ võ lâm siêu cấp như Hoàng Dược Sư, Hồng Thất Công, Quách Tĩnh đều không thắng nổi Âu Dương Phong, chỉ một người có thể đánh bại lão ta, ấy là Hoàng Dung. Đáng chú ý là Hoàng Dung cơ trí linh lợi, đa mưu túc trí, song hoàn toàn không phải mất công suy nghĩ, mà là tùy cơ ứng biến, hết sức tự nhiên. Tài trí của nàng đúng là thần tình, tinh linh. Ví dụ về sự thông minh linh lợi, bác học đa năng của Hoàng Dung thật nhiều không kể xiết. Độc giả nói chung có thể đôi chỗ cảm thấy sự tinh minh của nàng thiếu nữ này là "phịa", khó tin, nhưng nàng là con gái duy nhất của bậc kỳ tài Hoàng Dược Sư thông minh tuyệt đỉnh, chắc là được di truyền cộng với uyên nguyên gia
học, nên lại khiến bạn đọc không thể không tin.

2.
Tính cách của Hoàng Dung không chỉ dừng ở thiên tư thông minh dĩnh ngộ. Trong hành vi cá tính của nàng, thực ra còn bao gồm sự ngang bướng kỳ quái, sự kiêu ngạo, tùy hứng, muốn gì làm nấy, tự cho mình là trung tâm, vừa có khí tiên linh vừa có khí yêu tà. Hoàng Dung rõ ràng không chỉ thừa hưởng trí thông minh của vợ chồng Hoàng Dược Sư, mà cả tính cách và quan niệm giá trị của Đông Tà, cho nên tính cách tâm lý của nàng cũng khác mọi người. Hoàng Dung lang bạt giang hồ, tình cờ quen biết rồi yêu Quách Tĩnh, là vì nàng giận cha mà bỏ nhà đi. Một thiếu nữ xinh đẹp, cải trang thành một cậu bé ăn xin nhếch nhác, mục đích chính là để phụ thân hồi tâm chuyển ý. Tuy nàng rất yêu cha, nhưng do từ nhỏ được cưng chiều, nên không thể chịu lép chút nào. Gặp lại cha tuy rất vui, nhưng vì cha đối với người yêu của nàng không chút khách khí, nên nàng lại lao đầu xuống hồ để cảnh cáo và yêu sách; sau khi trở về đảo Đào Hoa, nghe tin Quách Tĩnh gặp nguy hiểm suýt mất mạng, nàng đương nhiên không chút do dự, lại giương buồm vượt biển đi tìm Quách Tĩnh. Vị đại tông sư Hoàng Dược Sư đối với cô con gái như thế trước sau cũng chẳng biết làm cách nào, đành khóc dở cười dở mà thôi.

Đông Tà Hoàng Dược Sư còn như thế, thì những người khác dĩ nhiên chịu hết nổi. Hoàng Dung dám một mình xông pha giang hồ , thậm chí cố ý gây sự với Hoàng Hà tứ quỉ và Hầu Thông Hải, vào Hoàn Nhan vương phủ như vào chỗ không người, cố nhiên là vì nàng tự thị võ công không kém, lại thông minh lanh lợi, nhưng nguyên nhân sâu xa hơn còn vì nàng là độc nữ bảo bối của Hoàng Dược Sư; một mặt tâm cao khí ngạo, không coi người khác ra gì; mặt khác, có chỗ dựa, không sợ trong võ lâm có ai dám cả gan động tới con gái rượu của Đông Tà. Tóm lại, nàng không chủ động gây sự với người khác là may lắm rồi, người khác dẫu là chính phái hay tà phái, cao thấp thế nào, cũng chẳng dại gì gây khó dễ với nàng. Ví dụ thứ nhất, là việc Giang Nam lục quái không cho đệ tử Quách Tĩnh quan hệ với Hoàng Dung. Hàn Bảo Câu nhiếc nàng là "tiểu yêu nữ", Chu Thông gọi nàng là "đại ma đầu'; nàng đốp lại luôn, nhiếc Chu Thông là "gã tú tài xấu xa dơ dáy", nhiếc Hàn Bảo Câu là “lão mập lùn khó coi", lại còn hát mấy câu trêu chọc : "Quả dưa lùn, trái cầu da, đá một cước, bắn tung ra; đá hai cước ..." (Xem Anh hùng xạ điêu).

Các vị sư phụ của Quách Tĩnh, chuyện sư đạo tôn nghiêm, nàng chẳng coi ra gì. Ví dụ thứ hai, Khưu Xứ Cơ quá nhiệt tình, muốn làm mối cho Quách Tĩnh lấy Mục Niệm Từ, chẳng để ý xem hai người ấy đã có yêu ai hay chưa. Làm vậy dĩ nhiên là đắc tội lớn với Hoàng Dung, người đang tha thiết yêu Quách Tĩnh. Thế là nàng bèn bảo Quách Tĩnh sẽ tìm một bà vừa già vừa xấu gả cho Khưu Xứ Cơ. “Khưu Xứ Cơ dĩ nhiên sẽ không chịu. Nhưng lão lại chẳng chịu nghĩ xem, huynh bảo huynh không muốn lấy Mục cô nương, sao lão đạo trưởng cứ ép huynh phải lấy nàng ta. Hừ, đợi một ngày nào đó võ công của muội cao hơn lão đạo sĩ mũi trâu ấy, nhất định muội sẽ ép lão phải lấy một bà vừa xấu xí vừa dữ dằn, cho lão nếm mùi bị người ta ép lấy một mụ vợ thế nào". (Xem Anh hùng xạ điêu). Tuy về sau Hoàng Dung không bức bách Khưu Xứ Cơ phải lấy một bà xấu xí, nhưng mối hiềm khích đối với Khưu Xứ Cơ nàng cứ để mãi trong lòng. Ví dụ thứ ba, là việc dùng vũ lực cưỡng chế đối với "tình địch” Mục Niệm Từ. Tuy Quách Tĩnh đã biểu thị với nàng, rằng chàng dứt khoát không bao giờ lấy Mục Niệm Từ làm vợ, song Hoàng Dung vẫn không khỏi lo lắng, vì thế khi gặp Mục Niệm Từ, nàng bèn điểm huyệt, rồi vung dao nhọn trước mắt nàng ta, buộc nàng ta thề sẽ không bao giờ làm vợ Quách Tĩnh.

Khi Mục Niệm Từ hiểu ra dụng ý của Hoàng Dung, bèn nói mình đã có người yêu rồi, không đời nào lấy Quách Tĩnh cả, Hoàng Dung mới mừng rỡ, xin lỗi đối phương, làm lành. Sau Hoàng Dung còn "giúp" Mục Niệm Từ trong việc đẩy nàng ta vào vòng tay Dương Khang. Gọi là giúp Mục Niệm Từ, thực ra là để dập tắt nguy cơ đối với mình. Nếu Mục Niệm Từ quả thật có ý với Quách Tĩnh, không biết hậu quả sẽ ra sao ? Ví dụ thứ tư, là việc đối phó với chuyện Âu Dương Khắc cầu hôn nàng. Âu Dương Khắc vừa gặp nàng đã si mê, Hoàng Dung thì trước sau không hề xúc động, cảm thấy người này thật đáng ghét. Tại hoang đảo, Âu Dương Khắc định thừa cơ cưỡng bức nàng, tức là y tự đi vào tử lộ ; Hoàng Dung chỉ thi triển một kế nhỏ , đã khiến y suýt nữa bị chết, nếu Âu Dương Phong không đến kịp, chắc y đã bỏ mạng.

Những việc kể trên, hoặc có động cơ mà chưa làm, hoặc tuy đã làm song gây hậu quả tai hại, hoặc do đối phương nhân phẩm thấp kém phải tự chuốc lấy, không hề làm tổn hại đến hình tượng Hoàng Dung, ngược lại chỉ khắc họa sinh động thêm tính cách của nhân vật này. Độc giả chỉ thấy thiếu nữ này đáng yêu, đảo để hơn người, tác giả miêu tả hành vi, tâm tính của Hoàng Dung một cách có chừng mực, thành thử đôi điều không đáng yêu của nhân vật này được tác giả và độc giả hợp tác với nhau, vô tình hoặc cố ý che giấu đi.

CUỐI
Đáng chú ý là đọc đến bộ tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, tính cách của Hoàng Dung lại thay đổi khiến người ta không thích. Trong đó biểu hiện chủ yếu là thái độ nghi ngờ, bài chiết quá đáng của nàng đối với Dương Quá, dẫn đến sự lạnh nhạt và khe khắt. Chúng ta thấy Hoàng Dung hầu như "trí tuệ vô hạn" trong Anh hùng xạ điêu, thì trong Thần điêu hiệp lữ lại xuất hiện giới hạn hạn chế trí tuệ của nàng, nàng buộc phải thú nhận không thể đoán biết tâm tư của Dương Quá, càng không thể tác động tới hành vi của cậu bé. Điều quan trọng hơn, giới hạn của trí tuệ thực ra lại xuất phát từ giới hạn về tính cách. Hoàng Dung cũng đành phải thừa nhận với Quách Tương (con gái nàng): "Ôi, nói về sự chân thành tin và biết người, ta thật thua xa cha con". (Xem Thần điêu hiệp lữ). Điều lý thú là Hoàng Dung tuy rất giỏi suy xét, nhưng mỗi lần vào thời điểm quan trọng, nàng lại bất giác trở về thái độ ban đầu, nghi ngờ và bài chiết Dương Quá.

Có lẽ đó là do người cha của Dương Quá là Dương Khang để lại ấn tượng quá xấu trong tâm trí nàng, song đúng hơn phải nói là Hoàng Dung còn thiếu tấm lòng độ lượng nhân ái thật sự, nên không hề có chút tình thân thiết yêu quí đối với Dương Quá. Sự thay đổi tính cách của Hoàng Dung có thể khiến một số độc giả quen biết nàng nhất thời chưa lý giải được, khiến một số độc giả yêu nàng hết sức thất vọng, thậm chí phản đối mạnh. Thực ra, biểu hiện về sau của tính cách Hoàng Dung không những phá vỡ qui tắc thông thường vốn cho rằng tính cách của nhân vật chính trong tiểu thuyết võ hiệp sau khi định hình sẽ không thay đổi nữa, mà còn làm cho tính cách đó phong phú đầy đủ hơn, đáng tin hơn. Cùng với năm tháng, địa vị thay đổi, kinh nghiệm sống và sự chín muồi của tâm chí, tính cách của một con người phát triển, thay đổi là lẽ đương nhiên về lý và về thế. Sự thay đổi tính cách của Hoàng Dung khiến tôi bất giác nhớ đến nhân vật chính trong bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng, Giả Bảo Ngọc có nói đại ý: thiếu nữ chưa lấy chồng giống như viên ngọc, thiếu phụ đã có chồng giống như mắt cá, còn ngươi phụ nữ đã làm mẹ thì giống như mắt của con cá chết. Câu này dĩ nhiên không có ý nghĩa phổ biến, chỉ là sự thể nghiệm của Giả Bảo Ngọc, song cũng có cái lý của nó.

Sự thay đổi của Hoàng Dung rất hợp với câu nói trên : thiếu nữ Hoàng Dung trong Anh hùng xạ điêu tuyệt đối đáng yêu, nhưng sau khi lấy chồng và có con, thì thiếu phụ Hoàng Dung trong Thần điêu hiệp lữ không còn đơn thuần đáng yêu nữa. Chẳng nói đâu xa, chỉ riêng thái độ của nàng đốivới Quách Phù cũng chứng minh rõ điều đó. Hoàng Dung quá yêu và nuông chiều con gái, thậm chí không cho Quách Tĩnh được dạy con một cách bình thường và hữu hiệu, đã làm cho cô con gái rượu cuối cùng trở thành một thứ bị thịt thô bạo, ngu ngốc, vô tích sự. Hoàng Dung làm như thế tất nhiên xuất phát từ bản năng người mẹ, mà cái bản năng người mẹ ấy không chỉ hạn chế nghiêm trọng trí tuệ bẩm sinh của nàng, mà còn là sự tương phản sống động với thái độ của nàng đổi với Dương Quá. Cái tính tự tư tự lợi của nàng phát triển cùng với bản năng người mẹ. Trong Thần điêu hiệp lữ, thiếu nữ Hoàng Dung đã trở thành thiếu phụ Hoàng Dung; một Hoàng Dung tự do tự tại, buông thả đã trở thành một Hoàng Dung có thân phận cao quí, đoan trang, lo nghĩ chuyện được mất. Cùng với địa vị xã hội được đề cao, tâm tư, quan niệm và hành vi của nàng cũng thay đổi lúc nào không biết. Ví dụ khi nàng mới yêu Quách Tĩnh, các quan niệm luân lý đạo đức nàng đâu có coi ra gì?

Nhưng khi nàng đã trở thành phu nhân đại hiệp kiêm bang chủ Cái Bang, thì nàng lại can thiệp vào tình yêu của sư đồ Dương Quá và Tiểu Long Nữ. Về chuyện này, Hoàng Dược Sư từng nói trắng ra : "Hoàng Dung sau khi lấy được đức lang quân như ý, thì không còn nghĩ đến nỗi khổ tương tư của người khác. Đứa con gái rượu của lão phu bây giờ thì, hihi, ngoan phải biết, cứ gọi là 'xuất giá tòng phu, tam tòng tứ đức' đâu ra đấy !" (Xem Thần điêu hiệp lữ).Tôi hoàn toàn không định bới lông tìm vết đối với hình tượng nhân vật này, chỉ muốn nói rằng sự phát triển hoặc thay đổi tính cách kiểu này là chuyện thường tình ở con người. Một vài khiếm khuyết hoặc hạn chế tinh thần chỉ làm cho hình tượng Hoàng Dung từ trên trời trở về với cõi nhân gian phàm tục, trở nên gần gũi và đáng tin hơn. Tuy nói là sự nghi ngờ và khe khắt của nàng khiến Dương Quá phải đi đường vòng, phải chịu bao nỗi khổ sở, nhưng cuối cùng nàng kiên trì cùng chồng giữ thành Tương Dương, là có ơn lớn đối với dân tộc Hán ở Trung Nguyên, rồi nàng oanh liệt hi sinh, cho nên hình tượng nàng được kính yêu mãi mãi.

VẾT LĂN TRẦM

151.
VẾT LĂN TRẦM

Vàng trăng em hỡi khỏa men sầu
Cho bạt đau nguyền thuở gió ngâu
Bể hạnh lặng lờ ran cõi điệu
Vầng duyên se thắt quặn khung mầu
Huyền mê ngọc thẫn thờ chung rượu
Lặng lẽ cung tình huyễn ảo châu
Dẫu biết mùa thương nào vĩnh cửu
Mà sao ngóng mãi khúc giang đầu

Mà sao ngóng mãi khúc giang đầu
Để kỷ niệm về lén đẫm châu
Vẫn tưởng nguồn ân hoài dậy mộng
Nào hay mạch ái lặng phai mầu
Trời mê thảo chập chùng sương khói
Bát ngát khuya ngàn vạt huyễn ngâu
Tiến tửu ta mời chung cuộc nhé
Vàng trăng em hỡi khỏa men sầu

HANSY

NIỆM KHÚC CUỐI

Khúc nhạc người ơi đẫm giọt sầu
Tuôn tràn rả rích cứa đời ngâu
Say men tửu ngọt ngào hương ái
Quấn quyện bờ thương đắm sắc màu
Hạnh phúc đang về muôn vạn nẻo
Tâm hồn bay bổng khắp ngàn châu
Mùa sang bỗng chốc ngày đêm đổi
Vỡ vụn trời mây cảnh sắc đầu

Vỡ vụn trời mây cảnh sắc đầu
Ai làm ứa nghẹn những dòng châu
Sâm Thương ngớ ngẩn mơ cùng lối
Nhật Nguyệt say sưa ước đổi mầu
Lãng tử thuyền quyên lìa cõi mộng
Ngưu lang Chức nữ khóc mùa ngâu
Nâng niu kỷ niệm vầng trăng khuyết
Khúc nhạc người ơi đẫm giọt sầu


Minh Hien

LẶNG

LẶNG

Tình xưa đó ra đi trong lặng lẽ 
Ta dỗi hờn câm lặng giấu than van 
Trả hết đi giữa gió núi trăng ngàn 
Buông kỷ niệm chặt chôn niềm đau xuống.

Ngơ ngác mãi giữa cuối chiều thương muộn 
Ngoái cung tình xưa cũ lại ngùi thương 
Tình yêu ơi, sao khúc khuỷu trăm đường 
Nào ai biết lúc nào vang khúc lỡ.

Xa xót lòng nghe vành tim nức nở 
Giện trăng thề sao buông bỏ mù tăm 
Còn chi đâu thuở ấy sáng trăng rằm 
Ta chết lặng giữa bão bùng dối gạt.

Khúc tình xưa giờ đây đà vỡ nát
Tưởng thiên thu đâu biết ngủm mau nè
Ai quay lòng dứt bỏ nuộc hồng se 
Cho kỷ niệm đành chôn vùi địa huyệt...

HANSY

VÀI CHUYỆN THÚ VỊ VỀ CHÓ TRONG SỬ VIỆT


VÀI CHUYỆN THÚ VỊ VỀ CHÓ
TRONG SỬ VIỆT

Chó là loài vật gần gũi trong gia đình người Việt, lại là con vật trong “lục súc” thường xuất hiện trong sách vở chữ Nho, nên nó có mặt rất nhiều trong sử sách Việt Nam.
1.
Từ truyền thuyết Lạc Long Quân

Bộ truyện Lĩnh Nam chích quái, tương truyền do danh sĩ Trần Thế Pháp viết vào thế kỷ 15 tập hợp nhiều câu chuyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết Việt Nam từ thời thượng cổ, trong truyện Ngư tinh, nối ngay sau truyền thuyết về họ Hồng Bàng, kể về sự tích Quốc tổ nước Việt là Lạc Long Quân và Hùng Vương, đã có chó xuất hiện. Để đánh bại Ngư tinh, Hùng Vương đã theo kế của vị Lạc hầu làm hàng nghìn lưỡi câu bằng sắt, dùng cả dây gai các loại treo hàng trăm lưỡi câu như vậy rồi dùng dê và chó xâu vào làm mồi vứt xuống biển để dụ cá nhưng nó tinh khôn không thể bắt giết được. Cuối cùng vua Hùng mới đành phải lập đàn cầu khấn nhờ đức Lạc Long Quân dùng phép thần diệt thủy quái.

Long Quân dùng gươm báu giết chết được Ngư tinh, cắt đuôi, lột da phủ lên núi (nay là đảo Bạch Long Vĩ), còn đầu trôi ra bể biến thành con chó ngao, Long Quân liền lấy đá ngăn bể rồi chém chó. Cái đầu biến thành một ngọn núi (nay gọi là Cẩu Đầu Sơn), thân trôi ra ngoài Mạn Cầu, chỗ đó nay gọi là Mạn Cầu Thủy hoặc Cẩu Đầu Thủy. Những tên gọi này ngày nay là tên một số hòn đảo phần lớn thuộc vùng biển Đồ Sơn của thành phố Hải Phòng và vịnh Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh.
2.
Chó báo điềm sinh vua Lý Thái Tổ

Đến đời vua mở đầu triều Lý - Lý Thái Tổ, do vua sinh năm Giáp Tuất (974), nên đời sau đã sáng tác ra câu chuyện liên quan đến chó thành điềm báo về việc vua ra đời. Chuyện được đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư, viết rằng: “Trước ở viện Cảm Tuyển chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó đẻ con sắc trắng có đốm lông đen thành hình hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là điềm năm Tuất sinh người làm thiên tử. Đến nay, vua sinh năm Giáp Tuất lên làm thiên tử, quả là ứng nghiệm”.

Còn có truyền thuyết kể rằng bà mẹ vua là người họ Phạm sống trong chùa, nằm mơ thấy thần chó đá và thụ thai. Sinh con trai, bà mang đến chùa Cổ Pháp và con chó bằng đồng của chùa bỗng sủa mừng. Sư cụ là Lý Khánh Vân cho là điềm lành, ứng vào sấm ký của chùa, rước nuôi đứa bé và đặt tên Công Uẩn, cho mang họ của mình. Cậu bé theo học thầy Vạn Hạnh, thành đạt, phò nhà tiền Lê làm tướng giỏi, sau lên ngôi vua.
3.
Đội quân chó đánh giặc của Nguyễn Xí

Thời nhà Minh xâm lược nước ta, trong cuộc kháng chiến của Lê Lợi, sử sách ghi lại có một đội quân chó rất dũng mãnh, nhiều lần làm quân giặc kinh hồn bạt vía.

Đó là đội quân chó của Nguyễn Xí. Nguyễn Xí quê ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, gốc người làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Năm lên 9 tuổi, Nguyễn Xí theo anh đến làm trong nhà Lê Lợi. Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn ghi rằng: “Vua sai Nguyễn Xí nuôi đàn chó săn gồm hơn 100 con. Sớm chiều chia cơm cho chó ăn, ông đều dùng chuông làm hiệu. Bầy chó theo sự điều khiển của ông, tiến thoái răm rắp”.

Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, đội quân chó săn của Nguyễn Xí rất hữu dụng trong quân. Những lúc nghĩa quân bị vây hãm, hết lương thực, đàn chó đi săn thú, bắt chim về làm thức ăn. Khi xung trận, Nguyễn Xí điều khiển bầy chó lăn xả vào trận làm quân giặc hoảng sợ. Tên tướng Minh là Mã Kỳ, mỗi khi nghe đến đội quân khuyển của Nguyễn Xí là hết sức kinh hãi.

Truyền thuyết còn kể rằng, Nguyễn Xí từng dùng đàn chó thực hiện kế “thuyền cỏ mượn tên” như của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Ông cho buộc vào cổ đàn chó những chiếc đạc ngựa, ban đêm xua chó chạy vào trại giặc Minh để phát ra tiếng kêu như cả đoàn kỵ mã tấn công. Bên ngoài, ông cho trống thúc, quân reo, khiến quân giặc trong trại hốt hoảng tưởng bị tấn công, nhưng không rõ binh lực của quân ta thế nào nên không dám ra đánh. Chúng đành dùng cung nỏ bắn ra ngoài như mưa. Cứ làm như vậy đến gần sáng, nghĩa quân thu nhặt được hàng vạn mũi tên.
4.
Đem hình ảnh chó ra biện bạch với quân Nguyên

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2 (1285), khi quân đội hai bên dàn trận hai bên bờ sông Hồng, để thăm dò sức mạnh đối phương, vua Trần Nhân Tông sai viên Chi hậu cục thủ là Đỗ Khắc Chung giả mang thư sang trại giặc, vào trướng Ô Mã Nhi để đưa thư. “Đại Việt Sử ký toàn thư” ghi lại đoạn đối thoại của Ô Mã Nhi và Đỗ Khắc Chung đã được chép tỉ mỉ:

“Ô Mã Nhi hỏi: “Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ “Sát Thát”, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”.

Khắc Chung đáp: “Chó nhà cắn người lạ không phải tại chủ nó. Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi. Quốc Vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có?”, rồi vạch áo ra cho quân Nguyên xem, chứng minh mình không xăm chữ “Sát Thát”.

Khắc Chung về rồi, Ô Mã Nhi bảo các tướng rằng: “Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xướng là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói “Chó nhà cắn người”, thật giỏi ứng đối. Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được”.

Nói xong, Ô Mã Nhi sai quân đuổi theo Đỗ Khắc Chung toan bắt lại nhưng không kịp. Vì hành động dũng cảm này, mà vua Trần Nhân Tông đã khen Khắc Chung rằng: “Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế”.
5.
Thần khuyển đại tướng quân của vua Gia Long

Nếu trong truyền thuyết về vua Lê Lợi, khi bị giặc Minh truy đuổi, có đàn cáo chạy bụi rậm ra cứu mạng vua, thì đến truyền thuyết về vua đầu triều Nguyễn là Nguyễn Ánh, loài vật cứu mạng ông là con chó.

Cuốn sách “Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đô”̀, ghi chép và lý giải tất cả những chuyện liên quan đến hoàng tộc, có nói về sự tích này. Cứu mạng vị chúa trẻ, hậu duệ sống sót cuối cùng của các chúa Nguyễn trước sự truy đuổi của quân Tây Sơn là 4 con chó Phú Quốc, và chúng cứu mạng Nguyễn Ánh những hai lần. Một lần, đàn chó cứu chúa Nguyễn Ánh ở dốc Gành Đỏ (vùng Bằng Lăng, Phú Yên), một lần, ở vùng Cà Tang (Quế Sơn, Quảng Nam) hiện nay.

Khi Nguyễn Ánh phải chui vào một bụi rậm, 4 con chó vây quanh bảo vệ. Khi quân Tây Sơn nhìn thấy bụi rậm, họ dùng giáo chọc vào để kiểm tra. Một con chó đã lấy thân mình đỡ ngọn giáo đâm vào chúa, 3 con còn lại chạy ra đánh lạc hướng quân Tây Sơn, giúp Nguyễn Ánh thoát nạn. Theo quyển sách nói trên, sau khi lên ngôi, vua Gia Long bình xét công trạng của các tướng sĩ, đã không quên sắc phong cho 4 con chó Phú Quốc danh hiệu: “Cứu khổn phò nguy Tá quốc huân thần Thần khuyển đại tướng quân”. Sau khi chúng qua đời, ông đã cho an táng và lập miếu thờ trọng thể.
6.
Đền thờ chó ở hồ Trúc Bạch?

Ở trên hồ Trúc Bạch, đoạn cuối đường Thanh Niên, Hà Nội hiện nay, có một hòn đảo nhỏ, trên có một ngôi đền tương truyền có từ lâu. Sách “Tây Hồ chí“ (có ý kiến cho rằng tác giả là Đốc học Dương Bá Cung), viết rằng: “Đó là đền Cẩu Nhi tức là chó con, mẹ là Cẩu Mẫu. Đền ở trên bến Châu Chử tại góc hồ (Đời Trần gọi đây là bến Thần Cẩu). Tương truyền rằng, ở chùa Thiên Tâm trên núi Ba Tiêu, châu Bắc Giang, có một con chó trắng bụng chửa bỗng bơi qua sông Cái, rồi lên ở trên núi Khán. Sau đó đẻ được một chó con. Mọi người lấy làm lạ. Đến năm Nhâm Tuất, hai chó đều hóa. Khi Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, nghe chuyện này, bèn bảo: “Đó là chó thần”. Rồi sai dựng miếu thờ chó mẹ trên núi, miếu thờ chó con ở trên hồ”.

Đề tài đền thờ này có phải thờ thần chó hay không đã làm dấy lên một cuộc tranh luận kéo dài trong suốt nhiều năm qua. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đền Cẩu Nhi không có thật trong lịch sử và cuốn “Tây Hồ chí” không có cơ sở tin cậy vì không rõ tác giả là ai. Do đó hiện nay, chính quyền thành phố Hà Nội đã cho tu sửa, dựng cầu đá vào đền, đổi tên thành Đền Thủy Trung Tiên, tên hiệu bà Mẫu Thoải, tức vị chúa cai quản sông nước trong đạo thờ Mẫu.

Nhiều tài liệu lịch sử cũng ghi chép việc thờ cúng chó đá. Như trong cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí”, ở phần “Dư địa chí” ghi chép về trấn Thanh Hoa, nhà bác học Phan Huy Chú viết “Nghi môn ở điện Lam Kinh có hai con chó đá rất thiêng”.

LÊ TIÊN LONG 


VỌNG VỀ HÀ NỘI

VỌNG VỀ HÀ NỘI
(Ngũ độ thanh)

Quãng mộng êm đềm nhớ chẳng vơi
Thầm mong Hà Nội buổi hoan ngời
Vòng tay nũng nịu chuyền thương tới
Nhịp phách mơ màng phả cõi lơi
Phảng phất ân tình con chữ gợi
Triền miên hạnh phúc nẻo thơ mời
Dù bao cách trở hoài tim đợi
Rạng rỡ tao phùng ngất ngưởng ơi

Rạng rỡ tao phùng ngất ngưởng ơi
Hồ Gươm lộng lẫy biếc thơm mời
Cùng vui cảnh sắc mình ngâm ngợi
Giữa lịm nghê thường khúc lả lơi
Rộn rã đường yêu vờn nẻo mới
Tràn lan cõi ước nở hương ngời
Mùa thương lại sẽ bồng lai khởi
Quãng mộng êm đềm nhớ chẳng vơi

HANSY

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

Kỳ 42 - VÌ SAO NHÀ TRẦN PHẢI HỎI Ý KIẾN NHÂN DÂN TRƯỚC KHI ĐÁNH NGUYÊN?

Kỳ 42
--------
VÌ SAO NHÀ TRẦN PHẢI HỎI Ý KIẾN NHÂN DÂN
TRƯỚC KHI ĐÁNH NGUYÊN?

Trần Thánh Tông thông qua hội nghị Diên Hồng không chỉ dò biết được ý nguyện của nhân dân, mà hơn thế nữa là cho nhân dân biết được ý nguyện của họ đã được các nhà cai trị tôn trọng và lắng nghe.


Càng gần đến ngày quân Nguyên tiến sang, không khí chuẩn bị kháng chiến càng tích cực. Để khích lệ lòng quân, Trần Hưng Đạo soạn Hịch Tướng Sĩ cho mọi người cùng đọc. Binh sĩ nghe lời hịch hết sức cảm khái, rủ nhau xăm lên cánh tay hai chữ Sát Thát để bày tỏ ý chí quyết chiến. Ông còn soạn Binh Thư Yếu Lược cho các tướng lĩnh học tập. Tháng 9.1284, Trần Hưng Đạo thừa lệnh vua Trần Nhân Tông tổ chức một cuộc tổng duyệt binh ở Đông Bộ Đầu, các quân vương hầu đều kéo đến tham dự rồi chia nhau đóng giữ các nơi xung yếu. Cho cuối năm 1284, ngay trước khi quân Nguyên tiến sang, những ngả đường quan trọng ở các tuyến biên giới đều có trọng binh trấn giữ.

Tại các vùng tây bắc, quân của các tù trưởng đã chuẩn bị chiến đấu. Thế lực họ Hà ở châu Quy Hóa trước đây đã có nhiều chiến công trong cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất, nay lại tiếp tục sản sinh ra những vị anh hùng mới. Hà Đặc bấy giờ là tù trưởng ở châu Quy Hóa, có trong tay hàng ngàn quân người Tày, sẽ là lực lượng đầu tiên đương đầu với quân Nguyên ở Vân Nam. Tù trưởng Trịnh Giác Mật ở châu Đà Giang cũng là một lực lượng đáng kể. Trịnh Giác Mật đã từng khởi binh chống lại triều đình năm 1280, được Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chiêu dụ, Mật lại chịu phục tùng và sát cánh với triều đình Đại Việt.

Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đóng ở lộ Tuyên Quang, giữ trại Thu Vật phòng quân Nguyên ở Vân Nam theo đường Quy Hóa đánh vào trung châu. Trần Nhật Duật là người tài năng kiệt xuất, tính cách nhu hòa, tinh thông ngôn ngữ và phong tục của nhiều tộc người nên rất được lòng các sắc dân thiểu số. Ông là cầu nối quan trọng giữ các lực lượng miền núi tây bắc và miền xuôi phía đông. Trong quân của Trần Nhật Duật có nhiều sắc dân cả trong và ngoài nước. Trong đó có nhiều người tài tuấn. Lựa chọn Trần Nhật Duật cho tuyến phòng thủ mặt tây bắc cho thấy cách dùng người rất hay của Trần Hưng Đạo và vua Trần.

Phần đông quân chủ lực Đại Việt dồn lên phía Lạng Châu để đề phòng quân Nguyên từ Ung Châu theo đường lớn đánh sang. Phạm Ngũ Lão cùng nhiều tướng khác đảm nhận tuyến biên giới đến ải Chi Lăng, bao gồm một loạt cửa ải Khâu Ôn, Khâu Cấp, Khả Li ... Quân của Phạm Ngũ Lão bố trí trận địa dựa vào các địa hình hiểm trở, có vai trò cố gắng tiêu hao lực lượng địch càng nhiều càng tốt khi chúng vừa phạm vào biên giới. Trần Hưng Đạo đóng đại doanh ở ải Nội Bàng. Xung quanh Nội Bàng là các cụm cứ điểm vệ tinh để ứng cứu nhau và liệu đường tiến thoái. Quản quân Nguyễn Nộn được lệnh đóng giữ châu Thất Nguyên. Hoài Thượng Hầu Trần Lộng đóng giữ vùng Tam Đái… Thủy quân ở Vạn Kiếp, Thăng Long đã bố trí sẵn để làm hậu viện cho các cụm phòng thủ phía bắc. Tại Thăng Long, vua Trần Nhân Tông tự mình cũng nắm giữ một lực lượng thủy quân mạnh để tiện ứng biến.

 Thế trận phòng ngự do Hưng Đạo Vương sắp đặt là một thế trận phòng ngự đa tuyến, đa điểm, không dồn quân vào một chỗ mà bố trí nhiều nơi để linh hoạt đánh và rút cũng như cơ động hỗ trợ cho nhau. Trong thế trận này, sự cơ động của thuyền bè đóng vai trò rất quan trọng mà ta sẽ thấy sau. Trần Quốc Tuấn còn sai các thân vương tích cực đi mộ binh các xứ để làm lực lượng dự bị. Cùng với việc bố trí các lực lượng quân sự, thì các kho tàng hậu cần cũng được chuẩn bị sẵn ở nhiều nơi để đề phòng quan quân sẽ dùng tới trong các cuộc di tản.

Mặc dù việc binh bị đã chuẩn bị rất khẩn trương, vua Trần Nhân Tông vẫn mong muốn níu kéo hòa bình. Trong năm 1284, lần lượt 3 sứ đoàn sang Nguyên xin hoãn binh đều không mang lại kết quả. Thoát Hoan vừa hành quân xuống miền nam nước Nguyên để tiến sang Đại Việt, vừa sai sứ đòi vua Trần phải chuẩn bị lương thực, và phải lên cửa quan đón quân Nguyên vào nước để “đi đánh Chiêm Thành”. Vua Trần Nhân Tông bèn trả lời thư: “Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường thủy đường bộ đều không tiện”.

Để dò biết lòng dân, đầu năm 1285 (tháng Chạp năm Giáp Thân 1284 Âm lịch) Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mời các bô lão trong nước đến dự hội nghị tại điện Diên Hồng. Thượng hoàng ban yến và ân cần hỏi ý kiến của các bô lão nên đánh hay hòa trước thế giặc mạnh. Trong hội nghị ấy, các bô lão, những người đại diện cho lòng dân cả nước đã đồng thanh hô “Đánh !”. Muôn người một tiếng, lời như một miệng phát ra. Đó cũng là hiệu lệnh quyết chiến cho toàn dân tộc. Sử gia các đời đánh giá rất cao hội nghị Diên Hồng vì đó là một động thái chính trị rất sáng tạo và đột phá trong bối cảnh lịch sử thời Trung đại. Ngày nay, chúng ta gọi đó là tinh thần dân chủ.

Trần Thánh Tông thông qua hội nghị không chỉ dò biết được ý nguyện của nhân dân, mà hơn thế nữa là cho nhân dân biết được ý nguyện của họ đã được các nhà cai trị tôn trọng và lắng nghe. Sức ảnh hưởng của hội nghị này rất lớn, giúp cho dân chúng một lòng quyết chiến với quân đội triều đình. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã nhận xét : “Giặc Hồ vào cướp nước là nạn lớn nhất của đất nước. Hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn há lại không có kế sách gì chống giặc mà phải đợi đến ban yến hỏi kế ở các phụ lão hay sao? Là vì Thánh Tông muốn làm thế để xét lòng thành ủng hộ của dân chúng, để dân chúng nghe theo lời dụ hỏi mà cảm kích hăng hái lên thôi. Đó là giữ được cái nghĩa người xưa nuôi người già để xin lời hay vậy.”

Bấy giờ quân của Thoát Hoan đã tiến đến Ung Châu, quân Nguyên từ Vân Nam do Nạp Tốc Lạp Đinh (Naxirut Din) cũng đang sẵn sàng vượt biên giới. Tình thế vô cùng khẩn trương. Nhân dân trong nước ngoài việc cung cấp nhân lực, vật lực cho quân đội triều đình thì những người ở các làng xã cũng đã tự mình tổ chức cất giấu lương thực, lập các đội dân binh, các cụm chiến đấu tự vệ ở địa phương. Hầu hết dân chúng răm rắp làm theo mệnh lệnh triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng!”.

Cuối tháng 1.1285, quân Nguyên do Thoát Hoan và A Lý Hải Nha chỉ huy đã kéo đến biên giới nước ta, giáp với Lộc Châu (Lộc Bình, Lạng Sơn). Quân Đại Việt đã dàn sẵn trận địa để đợi giờ quyết chiến. Vua Trần sai người mang thư đến cho Thoát Hoan để nuôi cái chí kiêu ngạo của chúng:  " Không thể tận mắt trông thấy cái hào quang của ngài, nhưng trong lòng lấy làm hoan hỉ. Nhân vì ngày trước có nhận được thánh chiếu nói rằng: "Sắc riêng cho quân ta không phạm vào nước ngươi", mà nay thì thấy ở Ung Châu doanh trạm cầu đường nối nhau san sát, trong lòng thật lấy làm kinh sợ, mong hãy xét rõ lòng trung thành, nếu có gì thiếu sót xin lượng thứ cho". ( theo Nguyên sử )

Thoát Hoan đưa thư hồi đáp với lời lẽ gian trá: “Sở dĩ hưng binh là để phạt Chiêm Thành, chứ không phải An Nam” (theo Nguyên sử)

Thư từ qua lại như thế nhưng không ảnh hưởng gì tới tiến độ hành quân của quân Nguyên. Ngày 27.1.1285, quân Nguyên chia làm hai đạo tiên phong mà tiến. Cánh phía tây do Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ (Bolquadar), A Thâm chỉ huy tiến vào Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn ngày nay). Cánh phía đông do Tản Tháp Nhĩ Hải (Satartai Satardai), Lý Bang Hiến chỉ huy tiến vào Khâu Cấp (Lộc Bình, Lạng Sơn ngày nay). Thoát Hoan cùng A Lý Hải Nha dẫn đại quân theo sau cánh quân phía đông. Tại những những nơi Khâu Ôn, Khâu Cấp những trận chiến đầu tiên đã diễn ra. Cuộc chiến Đại Việt – Nguyên Mông chính thức bắt đầu.

Quốc Huy



TẦM HƯƠNG

120.
TẦM HƯƠNG
(Thuận Nghịch độc)

Đông giá nhuộm sầu thẫm buốt vương
Ái hoan thầm dõi mịt xưa đường
Lòng tê tái ảo huyền mây nhớ
Dạ thiết tha ngời rạng nẻo thương
Trông ngóng vạn đời xiêu rã mộng
Đợi chờ muôn kiếp mỏi tàn sương
Dòng thơ đẫm biệt nguyền ơi hỡi
Đông giá nhuộm sầu thẫm buốt vương

Vương buốt thẫm sầu nhuộm giá đông
Hỡi ơi nguyền biệt đẫm thơ dòng
Sương tàn mỏi kiếp muôn chờ đợi
Mộng rã xiêu đời vạn ngóng trông
Thương nẻo rạng ngời tha thiết dạ
Nhớ mây huyền ảo tái tê lòng
Đường xưa mịt dõi thầm hoan ái
Vương buốt thẫm sầu nhuộm giá đông

HANSY



LANH LÙNG

Đông tẻ lạnh hồn dạ vấn vương 
Biệt mơ tàn cội rẽ chia đường
Lòng đau phụng dỗi neo thầm nhớ 
Dạ giận loan hờn gởi níu thương
Trông ái vạn đời mê muội cõi 
Đợi tình muôn kiếp ảo mù sương
Dòng trăng dệt mộng còn đâu hỡi
Đông tẻ lạnh hồn dạ vấn vương 

Vương vấn dạ hồn lạnh tẻ đông 
Hỡi đâu còn mộng dệt trăng dòng
Sương mù ảo kiếp muôn tình đợi
Cõi muội mê đời vạn ái trông
Thương níu gởi hờn loan giận dạ
Nhớ thầm neo dỗi phụng đau lòng
Đường chia rẽ cội tàn mơ biệt 
Vương vấn dạ hồn lạnh tẻ đông 

HANSY


SƠN HÀ NGUY BIẾN

Đông hải chiến trường Việt quốc vương 
Thoái lui nào nữa có đâu đường
Lòng sôi sục uất lèn tâm hận
Trí thiết tha nguyền trỗi dạ thương 
Trông ngút lóa tràn khơi súng giặc
Dõi mù loang dậy biển trùng sương
Dòng thơ giục gọi rền xương máu
Đông hải chiến trường Việt quốc vương 

Vương quốc Việt trường chiến hải Đông 
Máu xương rền gọi giục thơ dòng
Sương trùng biển dậy loang mù dõi
Giặc súng khơi tràn lóa ngút trông
Thương dạ trỗi nguyền tha thiết trí
Hận tâm lèn uất sục sôi lòng
Đường đâu có nữa nào lui thoái
Vương quốc Việt trường chiến hải Đông 

HANSY

NHỚ SAO

NHỚ SAO

Vẫn là lẻ chốn đông người 
Vẫn là giả bộ vẻ tươi tắn ngoài
Chứ lòng dõi nhớ về ai
Trông con nước lớn, dậy lai láng niềm.

Nơi này ủ rũ càng thêm 
Bởi thao thức mãi ước mềm mại yêu
Chùng thơ bí vận bao chiều
Mà nghe vang vọng thuở yêu dấu nào.

Trời chiều Em có nao nao
Khi hình dung kẻ lịm khao khát tình

Ước gì ái ngộ bình minh
Để đôi ta mãi phả sình sịch thương.


Đã chung tim một con đường
Thì xin gắng giữ mộng vương vấn hoài...



HANSY

HOA

HOA
(Thủ nhất thanh)

Hoa mai quân tử tụng ca lời
Hoa sứ trắng ngần mộng ngút vơi
Hoa điệp cẩn nghiêm vàng cõi đất
Hoa sen tinh khiết ngát phương trời
Hoa đào thắm rạng bừng muôn chốn
Hoa phượng tươi hồng rợp khắp nơi
Hoa dại ven đường tô cảnh vật
Hoa mơ bảng lảng tím canh đời

Hoa vương bồng ngát dậy men đời 
Hoa đợi canh dài ước chẳng vơi 
Hoa nghĩa đượm nồng loang cả đất
Hoa duyên lừng ngát lộng bao trời
Hoa tình nghiêng cánh lưu ngàn chỗ
Hoa ái chao hồn vọng tỷ nơi 
Hoa mộng luyến lưu hồn lãng tử
Hoa ân thơm thảo ngọt hương lời

HANSY

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2017

11. HOÀNG DUỢC SƯ

11.
HOÀNG DUỢC SƯ
Tự hạn chế mình

1.
Hư cấu “Càn khôn ngũ tuyệt" Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông, tổ chức cuộc Hoa Sơn luận kiếm, đoạt "Cửu ám chân kinh", được coi là các tuyệt chiêu tiểu thuyết võ hiệp của tác giả. Năm vị tông sư võ học ấy, Vương Trùng Dương là Đạo gia, Đoàn Hưng Trí vào cửa Phật, Hồng Thất Công hành hiệp nghĩa, Âu Dương Phong nghiền ngẫm độc công, Hoàng Dược Sư giương ngọn cờ tà, mỗi vị nghiễm nhiên thành gia, khiến người người tin phục. Trong số đó đệ nhất cao thủ Trung Thần Thông Vương Trùng Dương lặng lẽ chết sớm, Nam Đế Đoàn Hưng Trí lại đi tu, Tây Độc Âu Dương Phong và Bắc Cái Hồng Thất Công là một cặp oan gia sinh tử, mấy chục năm sau trên đỉnh Hoa Sơn lại ôm nhau cười ngất, xóa hết cừu hận, vị nào cũng gây bất ngờ và làm cho người ta phải suy ngẫm mãi.

Nhưng nói về chiều sâu nhân văn của hình tượng mấy nhân vật truyền kỳ đó, trước hết phải kể đến Đông Tà Hoàng Dược Sư biến hóa đa đoan. Đông Tà Hoàng Dược Sư có thể nói là đệ nhất kỳ tài thông minh tuyệt đỉnh, không chỉ văn võ song toàn, mà còn kiêm thông cầm kỳ thư họa, y bốc tinh tướng, toán số thao lược, ngũ hành kỳ môn. Con gái Hoàng Dung của Đông Tà chỉ cần học được một chút tài hoa học thức của cha đã khiến người ta tưởng là người trời; nhìn đảo Đào Hoa nơi Đông Tà cư trú, hoa cỏ thành trân, người ta phải hoa mắt, tối tăm mặt mũi. Một câu hỏi lý thú đặt ra, vì sao một người thông minh tuyệt đỉnh như thế, về phương diện võ công tại sao lại không thể trở thành người số một trong thiên hạ? Tại cuộc Hoa Sơn luận kiếm năm nào, Đông Tà Hoàng Dược Sư bị bại dưới tay Trung Thần Thông Vương Trùng Dương; sau biết "Cửu âm chân kinh", luyện đi luyện lại, mới chỉ ngang hòa với Tây Độc, Bắc Cái; thời gian qua đi, Đông Tà hiển nhiên đã không còn là đối thủ của Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông nữa; lâu dần rồi chính lão cũng sẽ không bằng chàng rể Quách Tĩnh của mình.

Điều này dĩ nhiên có thể giải thích, chẳng hạn, một là tác giả thiết kế như vậy, hoặc nói là do quan niệm truyền thống, đông tây nam bắc không thể sánh bằng "Trung ương thần thông”; thứ hai, anh hùng thiên hạ rất nhiều, con đường thành tài khác nhau, mọi con đường đều dẫn tới La Mã, môn học nào cũng có cao nhân; thứ ba, Hoàng Dược Sư bác học bàng thông, tinh lực quá phân tán, đương nhiên không thể chuyên tâm vào một môn để đạt tới cảnh giới cao nhất. Dĩ nhiên tác giả hoàn toàn không nêu ra các vấn đề đó nhưng trong sách ta thấy có một số dấu vết, đoạn quan trọng nhất là lời Lão Ngoan đồng kể cho Quách Tĩnh nghe quan điểm của sư huynh lão là Vương Trùng Dương: "Sư ca năm ấy nói ta có thiên tư học võ , lại thích thú không chán, nhưng một là quá say mê vào đó, hai là thiếu tấm lòng cứu nhân độ thế, nên dù suốt đời chuyên cần khổ luyện cũng không đạt tới cảnh giới tuyệt đỉnh.

Bấy giờ ta không tin, nghĩ rằng học võ thì lo học võ, đấy là thứ công phu sử dụng quyền cước và binh khí, đâu có liên quan gì đến kiến thức khí độ kia chứ ? Nhưng mười mấy năm trở lại đây, ta đã không thể không tin. Này huynh đệ, huynh đệ lòng dạ trung hậu, độ lượng, chỉ tiếc là sư ca của ta đã qua đời, nếu không sư ca ta gặp huynh đệ thể nào cũng sẽ vui mừng, đem toàn bộ một thân võ công cái thế của mình truyền thụ hết cho huynh đệ ..."(Xem Anh hùng xạ điêu). Đấy là di ngôn của đệ nhất cao thủ Vương Trùng Dương, hậu nhân không thể không tin; Lão Ngoan đồng tuy điên điên khùng khùng, nhưng thông minh dĩnh ngộ, suốt đời si mê đạo võ công, nên không thể xem nhẹ sự thể nghiệm của lão. Huống hồ câu nói trên tuy có phần trừu tượng, rõ ràng mang hơi hướng huyền học truyền thống của phương Đông, song về sự sinh thành và phát triển của trí tuệ loài người và từng cá thể, có thể nói là tiên tri và kinh nghiệm. Ta có thể diễn giải quan điểm trên như sau: trí thông minh cố nhiên là nhân tố quan trọng của sự phát triển trí tuệ, song tuyệt nhiên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thành tựu trí tuệ. Sự phát triển, chuyển hóa của trí thông minh, hoặc mức độ khai thác tiềm năng trí tuệ của con người, thành tựu của nó, phụ thuộc không chỉ vào bản thân trí thông minh, mà còn vào rất nhiều nhân tố như cá tính, hoài bão, ranh giới tinh thần, tầm nhìn, khả năng tài chính, điều kiện môi trường ...

Nếu không đủ các nhân tố trên, thì dù trí thông minh có cao đến mấy, cũng sẽ gặp vô số hạn chế, sau khi đạt tới đỉnh cao nào đó, sẽ khó vượt qua chính mình. Nghĩa là giới hạn võ công của Hoàng Dược Sư là do ranh giới tinh thần, tầm nhìn, môi trường và cá tính của chính Hoàng Dược Sư quyết định. Nói nôm na, khí chất cá tính của Hoàng Dược Sư đã quyết định sự hạn chế của lão. Hoàng Dược Sư là một người thông minh, ưu điểm của người thông minh là giỏi vận dụng đầu óc của mình để xem xét vạn sự vạn vật, sau đó đưa ra phát minh sáng tạo. Còn khuyết điểm của người thông minh là dễ kiêu ngạo tự mãn, việc thiếu vốn văn hóa sẽ dẫn đến chỗ tự hạn chế sự phát triển trí tuệ của mình. Cá tính kiêu ngạo của Hoàng Dược Sư, trong sách có nhiều ví dụ chẳng hạn khi hành tẩu giang hồ, lão thích mang mặt nạ, vì lão cảm thấy những kẻ dung tục không đáng được nhìn thấy bản lai diện mục của lão.

Ví dụ hùng hồn nhất, là khi Quách Tĩnh phát hiện trên đảo Đào Hoa di thể năm vị sư phụ của chàng, chàng tưởng lầm là do Hoàng Dược Sư giết họ, bèn rời bỏ Hoàng Dung, rời Đào Hoa đảo, đi tìm Hoàng Dược Sư liều mạng. Hoàng Dược Sư thừa biết Quách Tĩnh hiểu lầm, song không thèm giải thích gì với chàng ngốc Quách Tĩnh; thậm chí khi Hoàng Dung tới hiện trường xin cha giải thích rõ sự hiểu lầm, lão vẫn ngang ngạnh nhận món nợ máu ấy, chấp nhận sự khiêu chiến của Quách Tĩnh và đệ tử phái Toàn Chân, ngụ ý là đệ tử phái Toàn Chân sở dĩ khiêu chiến với lão, chẳng qua là do hiểu lầm, đã thế lão cũng chẳng thèm giải thích. Trận đại chiến kinh tâm động phách ấy bảo là do sự hiểu lầm của cánh trẻ cũng đúng, nhưng đúng hơn là do sự cao ngạo của Hoàng Dược Sư gây nên. Còn một ví dụ nữa, sau khi nửa bộ “Cửu âm chân kinh" do phu nhân Hoàng Dược Sư chép lại bị đệ tử môn hạ Trần Huyền Phong lấy trộm mang đi mất, Hoàng Dược Sư thề nếu chưa viết bù nửa bộ "Cửu âm chân kinh", sẽ không rời Đào Hoa đảo nửa bước. Lão thề như vậy vì quá tự tin, cho rằng bộ chân kinh đã do con người sáng tạo ra, thì một người thông minh như lão nhất định cũng sẽ làm được. Nhưng rồi Hoàng Dược Sư trước sau không viết được pho bí kíp võ công mới nào cả, nửa bộ "Cửu âm chân kinh" bị khuyết, lão cũng không viết bù; song vì Hoàng Dung giận dỗi bỏ Đào Hoa đảo mà đi, lão đành bất chấp lời thề, rời Đào Hoa đảo đi tìm con. Vì sao Hoàng Dược Sư không viết bù nổi "Cửu âm chân kinh”?

Đơn giản là vì lão không đủ nguồn thông tin cần thiết. Hồi trước Hoàng Thường - nói theo lời Quách Tĩnh, người ấy cũng họ Hoàng, cũng rất thông minh, -sáng tạo ra "Cửu âm chân kinh", là nhờ đã đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ, tu chỉnh nhiều lần đạo tàng thiên hạ; Hoàng Dược Sư vị tất có điều kiện và công phu như thế. Hơn nữa, dẫu có đủ tư liệu, liệu Hoàng Dược Sư có chịu khó đọc hay không? Đọc như thế nào? Vận dụng như thế nào? Còn là cả một vấn đề . Trong sách có tả cuộc "đấu trí" rất lý thú giữa Hoàng Dung với đệ tử của Nhất Đăng đại sư là Trạng nguyên thư sinh Chu Tử Liêu; thực ra cũng là gián tiếp miêu tả Hoàng Dược Sư, bởi vì các câu trả lời cơ trí của Hoàng Dung đều là do cha nàng dạy cho nàng cả. Chẳng hạn mở đầu nói tới Mạnh Tử và loại thơ "Đả du”

Khất cái làm sao hai vợ được?
Láng giềng liệu có mấy con gà?
Đương thời thiên tử nhà Chu đó, Tề,
Ngụy sao lòng vẫn thiết tha?

Nguyên bài thơ ấy là kiệt tác của Hoàng Dược Sư, có ý chê bai Thang, Vũ; coi thường Chu Khổng, đối với những lời thánh hiền truyền lại lúc rảnh rỗi lại bài bác mỉa mai, từng làm không ít thơ ca từ phú chế nhạo “Khổng Mạnh". (Xem Anh hùng xạ điêu). Thực ra bài thơ này hoàn toàn không phải do Hoàng Dược Sư sáng tác, cũng không phải do Kim Dung viết, mà là trích dẫn từ cuốn sách Cổ kim tiếu do Phùng Mộng Long đời nhà Minh biên soạn. Có điều là Kim Dung nói do Hoàng Dược Sư sáng tác nghe cũng rất hợp lý). Ví dụ này nói rõ nhất cá tính của Hoàng Dược Sư, cái ngoại hiệu "ĐôngTà" của lão rõ ràng cũng liên quan tới điều này. Ở đây chúng ta cần phải kính trọng thái độ phủ định và bài bác của Hoàng Dược Sư đối với một số vấn đề văn hiến kinh điển truyền thống. Con người này không theo Đạo, không theo Phật, không theo hiệp nghĩa cũng chẳng theo tà ác, đối với thánh nhân và kinh điển Nho gia càng giễu cợt châm biếm, vậy thì lão lấy gì để tham khảo sáng tạo, lấy gì làm nguồn vốn văn hóa của mình ?

2.
Hoàng Dược Sư không chỉ kiêu ngạo tự mãn, chẳng cần nghe ai, bài bác kinh điển, mà đồng thời còn vô cùng cô quạnh, cố chấp, thiên kiến. Trong nhóm anh tài ngang vai với lão, thì Vương Trùng Dương là giáo chủ giáo phái Toàn Chân, Đoàn Hưng Trí là quốc vương Đại Lý, Hồng Thất Công là bang chủ Cái Bang, Bạch Đà sơn của Âu Dương Phong cũng rất đông đệ tử, riêng ĐôngTà Hoàng Dược Sư là cô gia quả nhân, cho nên lão thiếu không chỉ vốn văn hiến, mà cả sự trao đổi tin tức. Cần phải nói rằng Hoàng Dược Sư vốn cũng lập thành một phái, môn hạ đệ tử cũng có nhiều, nhưng đại đệ tử của lão là Trần Huyền Phong và nữ đệ tử Mai Siêu Phong ăn cắp nửa bộ "Cửu âm chân kinh" của lão mang đi mất, nên lão giận cá chém thớt, trút giận xuống đầu mấy đệ tứ vô tội Khúc, Lục, Vũ, Phùng, bẻ gãy chân họ, rồi đuổi ra khỏi cửa. Lão còn làm cho toàn bộ tôi tớ ở Đào Hoa đảo bị điếc và mù, biến thành kẻ tàn phế. Như vậy là lão tự tạo ra cho mình một thế giới cô độc cô quả.
Chữ "tà" trong hành vi cá tính của Hoàng Dược Sư có nhiều ví dụ.

Ví dụ điển hình là, lão và bà vợ lão bày cách đánh lừa, lấy được "Cửu âm chân kinh" của Lão Ngoan đồng; Lão Ngoan đồng biết chuyện đến tính sổ với lão, thì lão lại trách cứ Lão Ngoan đồng và bộ chân kinh kia đã "hại chết" vợ lão, rồi lão bẻ gãy hai chân của Lão Ngoan đồng, nhốt Lão Ngoan đồng trên Đào Hoa đảo suốt mười lăm năm ròng rã. Con gái Hoàng Dung của lão đến chơi đùa với Lão Ngoan đồng, bị lão chửi mắng đến mức cô bé Hoàng Dung phải tức giận bỏ nhà mà đi.
Ví dụ rõ hơn nữa, là tính cách cổ quái cô độc của lão không chịu nói rõ chân tướng "chiếc thuyền tự sát”, chút nữa thì hại chết Quách Tĩnh, Hồng Thất Công và Lão Ngoan đồng, khiến Hoàng Dung đành phải giong buồm ra biển tìm cứu. Lão không thể không ra biển tìm con gái, bị Linh Trí hòa thượng đánh lừa, tưởng rằng Hoàng Dung đã chết, thế là vừa khóc vừa cười, vừa ca hát ngâm thơ, kêu trời chửi đất, rủa quỉ mắng thần, than trách số phận bất công đối với lão. Thế cũng đi một nhẽ, đàng này sau khi lên bờ, lão lại đem cơn giận dữ trút xuống đầu Quách Tĩnh: "Nếu không phải hắn, Dung nhi đâu có lên thuyền ? Chỉ có tên tiểu tử ấy làm cho Dung nhi bị chết, chứ ta biết chửi ai bây giờ ?" Rồi lão nhớ đến sư phụ của Quách Tĩnh là Giang Nam lục quái, liền gào lên : "Giang Nam lục quái chính là thủ phạm hại chết Dung nhi của ta?

Nếu mấy tên ấy không dạy võ công cho tên tiểu tử Quách Tĩnh, thì làm sao hắn quen biết được Dung nhi kia chứ ? Không bẻ gãy hết chân tay từng gã lục quái thì ta nguôi hận sao được?" (Xem Anh hùng xạ điêu).

Mấy ví dụ trên chứng minh tính cách tà môn quái gở của Hoàng Dược Sư, rõ là lão chẳng cần nghe ai, đúng hơn là duy ngã độc tôn, bất chất lý lẽ, hoành hành ngang ngược, dựa thế khinh người. Các ví dụ ấy còn chứng tỏ sự thông minh của Hoàng Dược Sư có điểm mù, sai lầm và hạn chế. Một người hiểu chút tình lý trên thế gian, sẽ không như lão, vì đại đệ tử phạm tội mà đi trừng phạt nặng nề các đệ tứ khác, cũng sẽ không đối xử tàn nhẫn với Lão Ngoan đồng hồn nhiên; càng không vì thương con gái mình mà đi giận lây Quách Tĩnh, thậm chí giận lây Giang Nam lục quái, là những người không hề dính dáng đến "cái chết" của con gái lão. Nếu muốn tổng kết, thì thực tế toàn là do sai lầm của lão gây ra: nếu lão không tham lam bí kíp võ công, thì vợ lão đã không bị chết sớm, Lão Ngoan đồng sẽ không bị hành hạ thảm thương bao nhiêu năm, mà đệ tử Trần Huyền Phong cũng sẽ không có sách đâu mà lấy trộm. Hơn nữa, nếu Hoàng Dược Sư không quá hà khắc với các đệ tử, thì vợ chồng Trần Huyền Phong đâu đến nỗi phải bỏ lão trốn đi? Cuối cùng, nếu lão thật sự yêu quí con gái lão, thì sẽ không để cho người yêu của con gái lão là Quách Tĩnh bị nguy hiểm như thế, lão cũng sẽ không bị mắc lừa.

Tất cả dĩ nhiên đều do tính cách của Hoàng Dược Sư quyết định, các hành vi, suy nghĩ kể trên của lão vừa gặp họa là bùng ra như sấm, lập tức chửi trời chửi đất rủa thần rủa quỉ, thực ra đâu có khác gì một gã thôn phu ngu muội, đâu có thấy gì là một người thông minh tuyệt đỉnh?
Như vậy chúng ta đã đi đến kết luận lý thú, rằng một người thông minh tuyệt đỉnh như Hoàng Dược Sư thực tế lại không phải là bậc trí giả chân chính. Sự thông minh của lão đủ để giúp lão có tuyệt kỹ cầm kỳ thư họa y bốc tinh tướng, song không đủ để lão có trí tuệ nhân sinh chân chính, nhất là trí tuệ "nhận thức chính mình", ngược lại, tạo nên sự hạn chế tài trí của lão, khiến lão không thể trở thành cao thủ số một thiên hạ về võ công.


CUỐI.
Hoàng Dược Sư một đời đơn độc lai vãng, thổi sáo hớp hồn, đạn chỉ thần thông, thần kiếm thấp thoáng trong ánh hoa đào, tiếng tiêu hòa với sóng biển xanh, vị Đào Hoa đảo chủ tưởng như vị tiên Đông Hải. Thực ra vị cao thủ võ lâm phi phàm ấy lại bị bệnh tâm thần nghiêm trọng. Mấy ví dụ trên chứng tỏ, trừ một kẻ ngu xuẩn, hoặc một bệnh nhân tâm thần ra, không ai lại đi suy đoán hoàn toàn phi lý và hành động một cách không thể hiểu nổi như vậy? Hoàng Dược Sư dĩ nhiên không phải là một kẻ ngu xuẩn, nên chỉ có thể nói lão bị bệnh tâm thần. Một nguyên nhân rõ ràng, là lão bị thiếu thốn tình cảm suốt thời gian dài. Hoàng Dược Sư thông minh tuyệt đỉnh, hoành hành bá đạo, coi trời bằng vung đấy, thực tế là một kẻ cực kỳ yếu đuối về tâm lý. Bằng chứng là từ ngày vợ chết, lão biến thành một thứ cô hồn dã quỉ chỉ mạnh bề ngoài, thậm chí giống như một cái xác không hồn; lão luôn đeo một cái mặt nạ không thay đổi, cũng là một tượng trưng rõ rệt. Bằng chứng cao hơn là lão đã chuẩn bị sẵn cho mình "chiếc thuyền tự sát", nếu không phải vì đứa con gái nhỏ Hoàng Dung không người trông nom, thì lão đã bước lên “chiếc thuyền tự sát" từ lâu rồi.

Quãng đời trống trải, vô vị sau khi vợ chết làm cho tâm lý của lão bị biến dạng. Nhìn chung có thể coi Hoàng Dược Sư là một kẻ đa tình, bằng chứng là sau khi vợ chết, lão đau khổ, thương nhớ không nguôi; nhưng mặt khác, lão lại không thực sự hiểu được tình cảm, tình người. Bằng chứng là lão trước sau vẫn không hiểu nổi tình cảm của đứa con gái : nếu lão thật sự yêu con gái, thì lão phải yêu người yêu của nó, đàng này lão lại hết sức căm ghét Quách Tĩnh. Lý do bề ngoài, là thấy Quách Tĩnh ngốc nghếch, xuất thân hèn kém, không xứng đôi với Hoàng Dung; nhưng thực chất, lão ghét Quách Tĩnh, thậm chí coi chàng như kẻ thù, là có nguyên nhân tâm lý sâu xa, không phải vì đứa con gái, mà chỉ vì chính lão, chỉ sợ Hoàng Dung lấy chồng rồi, sẽ không còn ai làm chỗ dựa tinh thần cho lão nữa. Tôi dã nói, Hoàng Dược Sư bề ngoài tỏ ra kiên cường, tâm linh thực ra lại vô cùng yếu đuối. Vợ chết đi, lão coi như mất hết tất cả mọi thứ trên đời. Đứa con gái là lý do khiến lão tiếp tục sống, là chỗ dựa duy nhất về tinh thần của lão.

Tôi nói Hoàng Dược Sư không hiểu được tình cảm, tình người, vì quan niệm nhân sinh của lão trước sau rất mơ hồ, tình cảm không có chỗ dựa, cuộc sống tinh thần của lão thực ra chứa đầy mâu thuẫn và trống rỗng. Đào Hoa đảo đã là chốn trống trải, tịch mịch về phương diện tự nhiên; Hoàng Dược Sư lại còn tạo thêm sự trống trải và tịch mịch bằng việc đuổi đệ tử, biến tôi tớ thành kẻ mù và điếc, vợ chết, con gái bỏ nhà đi, độc trùng sinh sôi Cuối cùng môi trường quyết định tính cách, lão sống trong một môi trường như thế, làm sao không mắc bệnh tâm thần ? Một người thông minh tuyệt đỉnh phải hiểu ý nghĩa của hai chữ "sống, hay là chết", song vì sự hạn chế trí tuệ và căn bệnh tâm lý, lão không tìm ra đáp án thích hợp cho mình. Bởi vậy cuộc sống của lão chứa đầy xung đột mâu thuẫn khó hiểu : lão muốn chết, nhưng trước sau vẫn không chết; muốn ẩn dật chốn sơn lâm, nhưng lại thích danh vọng giữa nhân gian; cả đời luôn châm biếm kinh điển thánh hiền Nho gia, song lại bảo "bình sinh ta kính trọng nhất là trung thần hiếu tử" (Xem Anh hùng xạ điêu); thề chưa viết bù "Cừu âm chân kinh" thì chưa rời Đào Hoa đảo, nhưng lại tự vi phạm lời thề.

Điều này cũng phản ánh toàn bộ cuộc đời của lão: muốn viết câu chuyện nhân sinh khác hẳn với tiền nhân, kết quả là nếu không giống tiền nhân, thì lại chẳng là gì hết. Vốn định gửi gắm cuộc đời, trông đợi ở tình cảm vợ chồng, nhưng sự thông minh của lão lại không tính được chuyện vợ lão chết sớm? Nhân gian lắm đường tà, Hoàng Dược Sư tự phụ tài hoa cái thế, muốn dựng một ngọn cờ, kết quả lại hoàn toàn không thoát khỏi lẽ thường của cõi nhân gian, lão rốt cuộc vẫn chỉ là một thành viên bình thường giữa đám chúng sinh đáng thương mà thôi. 

VẮNG LẶNG

150.
VẮNG LẶNG
(Ô thước-Láy)

LẶNG hút tình yêu não nuột buồn
LẶNG chờ quay quắt xót nghìn muôn
LẶNG thao thức giữa đêm cuồn cuộn
LẶNG mịt mù trong buổi cuống cuồng
LẶNG lẽ chăn màn hoang hoải muốn
LẶNG lờ hương phấn trễ tràng buông
LẶNG thinh đờ đẫn niềm đau luống
LẶNG ngắt người ơi thổn thức luồn

LẶNG hiu hắt nẻo giá băng luồn
LẶNG cõi ân tình khắc khoải buông
LẶNG rã rời tim chiều rớt muộn
LẶNG thê thảm dạ sớm chao cuồng
LẶNG im quạnh quẽ đìu hiu cuộn
LẶNG vắng ê chề thảm thiết muôn
LẶNG khoảnh khắc lòng tê dại muốn
LẶNG neo kỷ niệm xót xa buồn

HANSY


LẶNG VẮNG

Vắng anh sỏi đá cũng u buồn
Vắng nửa đời người rệu rã muôn
Vắng vẻ song thưa hờ hững cuốn
Vắng im bước mệt thẩn thơ cuồng
Vắng cung đàn ái êm đềm cuộn
Vắng tiếng thơ tình lả lướt buông
Vắng lặng thời gian hoài phí uổng
Vắng hoang lạnh cõi trắng sương luồn

Vắng hoang lạnh cõi trắng sương luồn
Vắng hạnh phúc mình giữ chẳng buông
Vắng ngắt con đường đông rét muộn
Vắng tanh ghế đá gió điên cuồng
Vắng khi ân ái yêu cuồn cuộn
Vắng lúc ưu phiền khổ vạn muôn
Vắng những lời thương lòng vẫn muốn
Vắng anh sỏi đá cũng u buồn

Minh Hien