Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2018

Giai thoại LÊ THỊ MIÊN

Giai thoại
LÊ THỊ MIÊN

Lê Thị Miên (1836 - 1908), còn được gọi là Yến Phi, biệt biệu Hồng Y liệt nữ; là vợ ba của Cai Vàng. Quê bà ở thôn Đại Trạch, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đối đáp với Tổng Thịnh:
Nguyễn Văn Thịnh tức Cai Tổng Vàng (còn gọi là Cai Vàng), người xã Vân Sơn, huyện Phượng Nhỡn, Kinh Bắc (nay thuộc xóm Kẻn, thôn Vân Sơn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, Bắc Giang). Năm 1862 Cai Vàng khởi binh chống lại vua Tự Đức, thời đó trong nước lan truyền câu ca: "Trên trời có ông sao dài, ở vùng Kinh Bắc có Cai Tổng Vàng". Một lần, Cai Vàng mở hội vật để tuyển người khoẻ mạnh xung vào nghĩa quân của mình. Có một đô vật nhỏ nhắn, khôi ngô tuấn tú, đã vật ngã nhiều đô vật sĩ nổi tiếng, sắp chiếm giải nhất, thì keo vật cuối cùng mái tóc của “đô” này bị xổ tung, hiện nguyên hình là một giai nhân. Cai Vàng đích thân ông thẩm vấn. Cô gái “đô vật” khai tên Lê Thị Miên, tự Yến Phi, con một ông đồ ở thôn Đại Trạch, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cai Vàng nói cô là con thầy đồ ắt phải biết chữ bèn ra câu đối: Cô Miên ngủ một mình

Vì đêm qua cô bị nhốt một mình ở trong rừng sâu, nên Cai Vàng mới nghĩ ra vế đối này. Nhưng vấn đề ở chỗ chữ "cô" là gái chưa chồng, đổi ra "cô" là cô đơn, một mình; chữ "Miên" là "dài" lại viết chữ "miên" là "ngủ" thành ra từ Hán Việt "cô miên" nghĩa nôm là "ngủ một mình", mà tai quái ở chỗ Miên lại chính là tên của cô gái này. Tổng Thịnh nghĩ chắc chắn cô gái không thể đối nổi.

Không ngờ cô gái đối ngay: Tổng Thịnh tóm nhiều đứa

Ông Cai Vàng tên "Thịnh" làm "cai tổng", thì "tổng" là "tóm", "Thịnh" là "nhiều", còn chữ "mình" thì cô đối bằng "đứa" mà lại rất phù hợp với tình thế lúc ấy. Cai Tổng Vàng cảm phục tài trí cô Miên, đã thu nạp làm… “vợ ba”, phong cho làm phó tướng.

Người ta kể rằng, vì cô Miên không chịu lấy chồng,, nên có lần cô bị các nho sĩ làm thơ trêu ghẹo rằng: Lạnh lùng thay, giấc cô Miên/Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u. Không chịu kém, cô Miên xướng trước một câu, thách ai đối được sẽ nhận người ấy làm chồng, nhưng rồi không một ai lên tiếng.

vế ra: Chưa chồng chơi chốn chùa chiền, chanh chua chuối chát chính chuyên chờ chồng

Câu đối này phải chờ mãi đến cuối năm 2013 mới có ông Trường Văn Nguyễn Phước Thắng đối lại được như sau: Thủ thân thăm thất thiên thần, thi thông thư thạo thảo thuần thành thân

Câu đối đề tại miếu thờ:
Sau khi Tổng Thịnh chết, mùa xuân năm 1864, Bà Ba Cai Vàng trực tiếp cầm quân đánh vào Nải Sơn (Kiến Thụy, Hải Phòng). Sau 22 ngày chiến đấu liên tục, hao quân hao tướng mà không thắng được. Xét thấy, không còn đủ sức để tiến hành cuộc chiến đấu lâu dài được nữa, bà giải tán lực lượng...Theo truyền thuyết, Bà Ba Cai Vàng mai danh ẩn tích ở chùa Dặn (Đình Bảng, Bắc Ninh). Cũng có người cho rằng, bà đã vào tu tại chùa Hương nơi thôn Tứ Kỳ (nay là thôn Đại Trạch, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), với pháp danh là Đàm Giác Linh. Tại chùa này, bà đã cho dựng miếu Âm Hồn để thờ chồng (Cai Vàng). Sau khi bà mất, nhân dân lập miếu thờ, hai bên cửa miếu có đề đôi câu đối sau:

Tiểu cát phục nhung y, kỵ mã huy kỳ, danh trấn anh hùng nhân Kinh Bắc (Thời trẻ mang giáp trụ, cỡi ngựa phất cờ, nức tiếng anh hùng miền Kinh Bắc)

Xuất gia quy thiền phái, chiêu kinh tịch kệ, giác chân đức độ Phật Như Lai (Xuất gia vào chùa thiền, tụng kinh đọc kệ, hiểu tường đức độ Phật Như Lai)


SẦU ĐAU

118.
SẦU ĐAU
[Thuận Nghịch-Láy]

Ngơ lòng dạ héo đọa đày thương
Lỡ vọt vàng đau quặn cuối đường
Mờ phấn tủi duyên nhòa nhạt tưởng
Ngớ đời xiêu nguyện thẫn thờ vương
Mơ dằng dặc nẻo chao chòng hướng
Vỡ tối tăm lòng rã rệu hương
Khờ thiết thảm tim thề ước sượng
Thơ tình úa cõi mịt mù sương

Sương mù mịt cõi úa tình thơ
Sượng ước thề tim thảm thiết khờ
Hương rệu rã lòng tăm tối vỡ
Hướng chòng chao nẻo dặc dằng mơ
Vương thờ thẫn nguyện xiêu đời ngớ
Tưởng nhạt nhòa duyên tủi phấn mờ
Đường cuối quặn đau vàng vọt lỡ
Thương đày đọa héo dạ lòng ngơ

HANSY

NGẨN NGƠ

Ngơ ngẩn giõi về nẻo nhớ thương
Lỡ đà yêu mến buổi quen đường
Mờ hôm khói tỏa nồng say tưởng
Dở bữa trăng xòe đắm lịm vương
Mơ dạ ngát ngào đan sắc phượng
Mở lòng hoan ngọt trải mùi hương
Khờ ơi mộng ghép vần êm hướng
Thơ thắm dệt tình ảo diễm sương

Sương diễm ảo tình dệt thắm thơ
Hướng êm vần ghép mộng ơi khờ
Hương mùi trải ngọt hoan lòng mở
Phượng sắc đan ngào ngát dạ mơ
Vương lịm đắm xòe trăng bữa dở
Tưởng say nồng tỏa khói hôm mờ
Đường quen buổi mến yêu đà lỡ
Thương nhớ nẻo về giõi ngẩn ngơ.

Hà Thu

VỌNG NUỐI


VỌNG NUỐI
[Thuận Nghịch độc]

Nhiều thiết thảm trơ buốt quạnh đời
Tủi lòng chao vắng thẳm nguyền rơi
Phiêu phờ lụn ước mơ tàn vợi
Mệt mỏi trầm hoan mộng tản rời
Kiều dỗi ái đơn thuyền ngóng đợi
Gió hờn tim
lạnh bến chìm vơi
Xiêu hồn lạc xót đau tình hỡi
Chiều vọng khúc thương nuối nghẽn trời

Trời nghẽn nuối thương khúc vọng chiều
Hỡi tình đau xót lạc hồn xiêu
Vơi chìm bến lạnh tim hờn gió
Đợi ngóng thuyền đơn ái dỗi kiều
Rời tản mộng hoan trầm mệt mỏi
Vợi tàn mơ ước lụn phờ phiêu
Rơi nguyền thẳm vắng chao lòng tủi
Đời quạnh buốt trơ thảm thiết nhiều

HANSY

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2018

GHÉP TỪ KHÔNG CHUẨN

GHÉP TỪ KHÔNG CHUẨN

Nhà thơ Vũ Từ Trang viết trong bài “Nhà thơ của bến My Lăng” đăng trên Tuần báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam …Đó là những vần thơ thương nhớ quê hương và nỗi cảm khái của người không xu thời mẫn thế”. Thiết nghĩ viết như vậy không ổn.

Theo Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh, xu thời là hùa theo thời cuộc, mẫn thế là lo việc đời, thương đời. Như vậy đem một từ có nghĩa xấu ghép với một từ có nghĩa tốt là không chuẩn xác, bạn đọc không hiểu tác giả muốn nói điều gì.

Trước nay ta vẫn quen dùng từ ghép “ưu thời mẫn thế”, cũng theo Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh thì hai từ này đồng nghĩa.


T.N.T.

CHÚC XUÂN Vancali


CHÚC XUÂN Vancali


Năm mới Van càng đượm vẻ Xuân

Dung nhan khởi sắc tuyệt muôn phần 
Gia đình Phước-Lộc nhiều tin cẩn
Dòng họ Tâm-Lòng lắm hảo chân 
Viễn xứ đất người nên diễm phận
Quê hương tông tổ trỗi linh thần 
Dù xa máu đỏ da vàng cận
Nhung lụa đâu bằng với nghĩa ân 

Nhung lụa đâu bằng với nghĩa ân 
Thi thư ngời rạng ý long thần 
Tâm tình thánh thiện trời tinh tấn
Chan chứa cuộn cuồn cõi chất chân 
Hãnh diện thiếu thời thơm bảng phấn
Hàm ơn giữa thế đẹp duyên phần 
Xuân về chúc phước nhiều hưng thuận
Năm mới Van càng đượm vẻ Xuân

HANSY



VỮNG LÒNG


VỮNG LÒNG

Bàn tay yêu thương nồng thắm mầm yêu
Hãy đưa cho Ta cùng nhiều tin cậy
Sẽ dìu mê say để tình loang dậy
Cho hạnh phúc về lộc nẩy hoa đơm.

Hãy tin vào lòng chung thủy thảo thơm
Của khối chân thành vành tim nóng bỏng
Trao trọn cho nhau con diều bay bổng
Của tình nồng từ độ chớm thương nhau.

Hãy tin yêu, người nhé, chuyện trầu cau
Một đời dâng nhau muôn vàn thương quý
Ngày nào đó hạnh phúc tràn song hỉ
Khúc mơ lòng rạng rỡ vạn vì sao.

Hãy tin yêu cho gừng muối đón chào
Khi lả lướt dìu nhau về bến mộng
Ngộ tình cờ pháo tình giăng trước cổng
Đón nhau về giữa hạnh phúc tin yêu...

HANSY



HỢP BẾN TƯƠNG PHÙNG

Người ấy à gieo hạt giống mầm yêu
Được không á bao điều mình tin đấy
Rồi dìu dặt hương tình khơi sống dậy
Mãi đắm say chồi nhú kết nồng đơm

Dấu yêu à xanh quả ngọt hoa thơm
Ngạt ngào mãi khát khao tim cháy bỏng
Mình hiến trọn đêm dài nuôi giấc mộng
Giữa đương thì chẳng ngần ngại trao nhau

Người ấy à hãy ướm thử buồng cau
Trầu xanh lá điểm vôi têm loan phượng
Giao bôi cạn hương nồng say ngất ngưởng
Giấc mơ đời Mình - Ta đã tròn đôi

Nhớ nhe anh ngàn sau mãi dâng bồi
Xây hạnh phúc có nhau đời viên mãn
Cả tuổi trẻ mà đời người có hạn
Là 60 bởi vậy gắng thơm nồng.


Kiều Trang​

ĐẠI NHẠC HỘI


ĐẠI NHẠC HỘI
[Tập Nhạc]

Bolero đẹp ngả nghiêng đường
Quyến rũ nồng nàn điệu Rock vương
Ballade mơ màng theo mọi hướng
Country lãng đãng quyện màn sương
Nồng nàn Bebop cùng vui hưởng
Lả lướt Rumba thật dễ thương
Lộng lẫy Twist vang lòng khó cưỡng
Tango huyễn hoặc giữa mơ thường

Đàn Tranh âm điệu thật phi thường
Xúc động đàn Bầu nốt dễ thương
Đàn Nhị bổng trầm trong vạn hướng
Đàn Hồ réo rắt giữa ngàn sương
Oai hùng đàn Đá tràn lan tưởng
Mềm mại đàn Kìm lả lướt vương
Diễm ảo ngần trong Đàn Tứ vượng
Đàn Tam nhấn nhá biết bao đường

HANSY

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018

Bình - PHỐ VẮNG ANH RỒI -Kiều Trang


PHỐ VẮNG ANH RỒI

Anh đi rồi phố vắng chỉ mình em
Chân lạc bước vần thơ đêm lạc lõng
Lá vàng úa giữa cõi trần nhạt mộng
Nghe rụng rời tim bỗng lạnh bơ vơ.

Dấu yêu à đêm trắng dệt vần thơ
Hoài trăn trở giữa thẫn thờ xa ngái
Là hồi tưởng những giận hờn xưa ấy
Cứ đợi chờ nhưng chẳng thấy gì đâu.

Vắng anh rồi tim quặn thắt dòng đau
Hoa nhạt sắc nào khoe như ngày cũ
Căn gác lạnh gối chăn hờn không ngủ
Nắng vườn yêu chẳng kết nụ vương thềm.

Dấu yêu à sao không đến gần em
Chiều thứ bảy trao tình môi lịm ngọt
Không bỏ sót từng phút giây bồng bột
Tim quyện hòa sánh bước ... được không anh?

Dấu yêu à ước vọng mãi chân thành…

Kiều Trang
…………..

Được gần bên nhau là mong ước muôn đời của những kẻ yêu nhau, bởi chỉ cần dăm phút giây xa nhau thì thời gian cứ dằng dặc như ngàn trùng cách biệt. Thế nhưng, con đường tình là một cuộc hành trình chứa đầy những quãng đứt gãy, mà ở đó luôn hiện hình bao trắc trở, dọa đe có thể gây ra những đau đớn cho cả tim lòng. PHỐ VẮNG ANH RỒI qua những giai điệu của tác giả KIỀU TRANG, là một trong những lời thở than hoài vọng khi buộc lòng phải tạm biệt người thương.

Anh đi rồi phố vắng chỉ mình em

Có thật thế không?
Thật ra, con phố vẫn thế! Vẫn ồn ào, đông đúc, nhộn nhịp… như sóng triều dâng muôn đời của dòng sông phố thị, vẫn ngựa xe rộn ràng qua lại, vẫn nhoang nhoáng đèn màu của tửu quán, ca lâu… Và cơ man là người… Nhưng tất cả đó đều vô hình, vô nghĩa trong mắt của kẻ đang yêu khi con phố bỗng dưng không còn sự hiện hữu dáng hình người ấy nữa!

Chân lạc bước vần thơ đêm lạc lõng
Lá vàng úa giữa cõi trần nhạt mộng
Nghe rụng rời tim bỗng lạnh bơ vơ.

Tâm trạng của những kẻ đang yêu rất thất thường và phức tạp. Nẻo lòng của họ có thể thăng hoa lên tận chín tầng mây, nhưng rủi thay, cũng có thể lặn sâu xuống mấy tầng địa ngục. Trong thế giới tình yêu, dường như khái niệm “mặt đất” hay “trần gian” là một con số KHÔNG tròn trĩnh và to tướng!

Ôi nắng cũ nhạt mùi hương dã thảo!
Lạnh màu riêu, tảng đá nhớ chân đi
Những cánh chim từ quá khứ bay về
Tà áo mỏng chập chờn phai sắc bướm
[Đinh Hùng]

Tình yêu là một thứ ma túy mà tạo hóa trao nhầm cho loài người. Nó gây nên những ảo giác và để lại những hậu quả khôn lường. Buồn thay, gia tài đó nhiều khi chứa đầy tiêu cực hơn tích cực. Đúng như một nhạc sỹ nào đó đã viết lời ca: “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn”.

Dấu yêu à đêm trắng dệt vần thơ
Hoài trăn trở giữa thẫn thờ xa ngái

Ngay cả khi đang yêu, mà chỉ vì người ấy phải đi xa vì lý do nào đấy có khi rất cụ thể và thường tình như đi công tác, chữa bệnh, nghỉ phép, thăm quê… vẫn khiến cho người còn lại ủ rũ mặt mày, buồn thảm… và không loại trừ có thể ngã bệnh vì… nhớ!

Vắng anh rồi tim quặn thắt dòng đau

Trong suy nghĩ của họ, hai người yêu nhau phải luôn dính liền  như hình với bóng. Thiếu một người không chỉ là thiếu cái bóng mà hình như thiếu gần cả cuộc đời của họ. Tất cả chỉ còn là màn đêm tăm tối với những nguy cơ tan tành, đổ vỡ, sai lạc… khủng khiếp nhất của cõi trần.

Là hồi tưởng những giận hờn xưa ấy
Cứ đợi chờ nhưng chẳng thấy gì đâu.

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tâm trạng u sầu lan tỏa ra không gian xung quanh một màu tang tóc, nhạt nhòa, u ám…

Nắng buồn thương nhớ bên nhau
Nhìn lưa thưa lá niềm đau trong cành
[Bùi Giáng]

Nhận thức thế để thấy rằng mãnh lực tình yêu có sức mạnh vô cùng kinh khiếp, ảnh hưởng to lớn lên tâm trạng con người cả hai mặt tích cực và tiêu cực.

Hoa nhạt sắc nào khoe như ngày cũ
Căn gác lạnh gối chăn hờn không ngủ
Nắng vườn yêu chẳng kết nụ vương thềm.

Dẫu là thế, con người không bao giờ quên đi chút hy vọng sót lại trong góc nhỏ của chiếc hộp Pandora[1]. Âu đó cũng là liều thuốc trường sinh cuối cùng của Thượng đế giúp con người vượt qua nỗi ám ảnh đen tối nhất của cuộc đời mình để hướng về ánh bình minh phía trước.

Dấu yêu à sao không đến gần em
Chiều thứ bảy trao tình môi lịm ngọt
Không bỏ sót từng phút giây bồng bột
Tim quyện hòa sánh bước ... được không anh?


THỜI GIAN là vị giám khảo công minh đo lường chính xác sự thủy chung và lòng son sắt trong lời hẹn thề dưới trăng, nhưng NIỀM TIN mới chính là liều doping giúp cho những trái tim yêu nhau hòa cùng nhịp đập khi muốn cùng hướng về một bến bờ mộng tưởng lâu dài.

Đó cũng là tiếng thì thầm trong lòng tác giả Kiều Trang khi nhắn nhủ với người thương đang ở rất xa mà cũng rất gần trong tâm tưởng.

Dấu yêu à ước vọng mãi chân thành…

HANSY
[1]Hộp đựng niềm Hy vọng (theo thần thoại Hy Lạp)


TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN [5] VƯƠNG HẬU CHIÊM QUỐC


TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN
5.
VƯƠNG HẬU CHIÊM QUỐC

Đám cưới lớn, dân thường nghỉ việc
Suốt bảy ngày yến tiệc linh đình
Chế Mân đón rước tận tình
Ra tận bờ biển với linh vật thờ.

Áo bào trắng, quần bo cũng trắng
Khoác giáp ngoài, hia thắng đầu voi
Vỏ kiếm vàng, chuôi ngà voi
Ngực thắt đai ngọc, mũ ngời ngợi sang…

Trong hoa cưới cùng chàng sánh bước
Nở nụ cười khắp trước thần dân
Chiêm Thành ngưỡng mộ Huyền Trân
Trai tài gái sắc thỏa ân ái nguyền.

Giữa triều đình vua tuyên chức phận
Phong cho làm vương hậu Chiêm bang
Từ nay Chiêm-Việt chung sàng
Một thiên tình sử đẫm bàng bạc thơ…

HANSY
Ghi chú:
Huyền Trân công chúa [
玄珍公主] sinh năm 1288, con của vua Trần Nhân Tông.
Năm 1306, Huyền Trân công chúa được gả cho Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân [Jaya Sinhavarman III] để đổi lấy hai châu Ô [từ đèo Hải VânThừa Thiên - Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay].
Một năm sau, Chế Mân chết, Huyền Trân công chúa được vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung cướp về, sau đó xuất gia.
Bà mất ngày Mồng 9 tháng Giêng năm 1340




KHI SỰ NGU NHÂN DANH KHOA HỌC

KHI SỰ NGU
NHÂN DANH KHOA HỌC

Tôi không cổ súy thiên hạ chửi một ông già trên tám mươi như ông Bùi Hiền dù ông đáng bị chửi khi công bố một “công trình khoa học” đe dọa và gây tổn thương cho cả cộng đồng. Sự thực, ông ấy gốc học tiếng Trung, tiếng Nga và chỉ làm cái việc dạy tiếng, không phải là chuyên gia ngôn ngữ học đích thực nên hiểu sai làm sai là chuyện bình thường.

Nhưng tôi phải nổi giận mà viết bài cuối cùng này. Bài này dành cho những chuyên gia ngôn ngữ học như Phạm Văn Tình, Trần Ngọc Thêm, Lê Đức Luận… kể cả cái ông Ngô Như Bình đang dạy tiếng Việt bên đại học Harvard.

Mấy ông này vẫn khăng khăng cái lý thuyết chữ ghi âm thì nhất thiết chữ phải ghi đúng âm, tức phải “nói sao viết vậy” là hợp lý khoa học.

Cứ cho lý thuyết này là đúng thì xin hỏi các ông mấy điều:
1.
Nếu lấy âm Hà Nội làm chuẩn, theo Bùi Hiền, thì thử dẫn xem người Hà Nội nào đọc âm /ng/ thành /q/, âm /th/ thành /w/, âm /kh/ thành /x/, /ch/, /tr/ thành /c/? Trừ phi đó là người nói ngọng, thụt lưỡi, méo mồm, hoặc mấy ông Nga, ông Hán đang ở Hà Nội muốn làm cách mạng Hán hóa, Nga hóa dân Việt.
2.
Còn nếu không lấy âm Hà Nội làm chuẩn thì mỗi địa phương có một cách phát âm khác nhau, chữ viết nào ghi cho hết các dạng âm thanh ở các vùng miền? Hay là chấp nhận mỗi địa phương một cách viết? Người khu Bốn đọc “âu” thành “u”, “ước” thành “ác”, không phân biệt thanh hỏi và nặng, chữ “trâu” buộc phải viết thành “tru”, chữ “nước” buộc phải viết thành “nác”, chữ “đủ” buộc phải viết thành “đụ”? Người Huế không phân biệt huyền và nặng, chữ “lộn” buộc phải viết thành “lồn”? Người Quảng không phân biệt vần “am” với vần “ôm”, chữ “làm” buộc phải viết thành “lồm”? Người Bình Định, Phú Yên không phân biệt âm cuối “ng” và “n”, “t” và “c”, chữ “hán” buộc phải viết thành “háng”? Rồi cái xứ anh ngọng không phân biệt “n” với “l”, từ nào có âm “n” thì viết thành “l” và “l” viết thành “n”, “lôn ra máu” chẳng hạn?

Hai câu hỏi đó đủ thấy cái sáng kiến kia phản khoa học đến mức kẻ ngu nhất cũng thấy: 1) Âm đọc không bao giờ thống nhất, nhưng chữ viết phải đóng vai trò trung gian để thống nhất các âm đọc khác nhau. 2) Chỗ nào âm đọc không có tính khu biệt thì chính chữ viết khắc phục bằng những dấu hiệu khu biệt. Cái mà các ông tưởng bất hợp lý lại chính là cái hợp lý của chữ viết tiếng Việt hiện hành. Sự hợp lý hóa ấy đã diễn ra cả một quá trình kéo dài mấy thế kỷ mà sáng kiến của các ông chừng như cố tình quay lại điểm xuất phát. Tất nhiên đến thời điểm này tôi không nói nó hợp lý hoàn toàn, nhưng sự bất hợp lý không đáng kể bởi chữ viết nào cũng phải có.
Chính sự khu biệt rất lớn của chữ viết đã làm cho tiếng Việt giàu có và trong sáng. Viết, như tôi đã nói, khác với phát âm. Phát âm có thể dễ dãi nhờ có ngữ cảnh giao tiếp khu biệt, còn viết với tư cách là văn bản luôn tách ra khỏi ngữ cảnh nên cái chữ buộc phải tạo ra các khu biệt bởi dấu hiệu trong bản thân nó. Nói thuộc hoạt động bắt chước, có khi không cần phải học, nhưng viết thì phải học nghiêm túc chứ không đòi hỏi phải dễ dãi như phát âm với phương châm lười nhác “nói sao viết vậy”!

Chữ viết, vì thế, là cả một vấn đề văn hóa lớn lao. Nó dung hòa tình cảm và thống nhất ý chí giữa các địa phương, vùng miền, giữa hiện tại và quá khứ, nâng cao trình độ dân trí chứ không đơn thuần chỉ là ký hiệu phục vụ nhất thời cho những kẻ lười nhác biếng học.

Hội nhập thì chữ Việt phải giống chữ Tây ư? Lý luận này không chỉ là mặc cảm thuộc địa mà còn thể hiện sự mù văn hóa nghiêm trọng khi không biết thế giới đang chủ trương hòa điệu những khác biệt.

Cải cách chữ viết theo sáng kiến Bùi Hiền làm nghèo nàn, dị dạng, lai căng, đồng hóa tiếng Việt và hủy hoại vẻ đẹp văn hóa Việt chứ không phải tiết kiệm, tiện lợi như các ông nghĩ. Đó là sự thiếu hiểu biết gây hậu quả nghiêm trọng.

Xem chừng sau khi các nhà ngôn ngữ học uy tín tầm Cao Xuân Hạo chết đi, trừ một ít kế thừa và chịu khó học hỏi, còn lại đa số là những nhà ngữ học dỏm mang hàm giáo sư tiến sĩ nhai chữ như nhai kẹo cao su. Mà sự thật như tôi thấy, khi nhà nước trao cho cái danh hiệu dỏm đó, nhiều ông ngạo nghễ tưởng đó là của thật nên không bao giờ chịu khó đọc sách hay động não nên mới cứ phô cái sự ngu của mình ra cho thiên hạ chửi!

Riêng ông Ngô Như Bình gốc học tiếng Nga đi dạy tiếng Việt cho sinh viên Mỹ thì tôi nghĩ trình độ của ông ta cũng như thợ làm nail bên ấy thôi chứ không thể là nhà ngữ học tầm cỡ để các báo dựa vào đấy mà bảo vệ cho sự ngu của giáo sư tiến sĩ bên này!

Chu Mộng Long

SẦU THƯƠNG


117.
SẦU THƯƠNG
[Thuận nghịch độc]

Nhàu tê dạ nhớ lặng âm đàn
Lẻ gối đơn hồn xót nguyệt tan
Chau rụi nghĩa tình thơm thảo vỡ
Đổi thay nguyền ái mộng mơ tàn
Đau lòng giữa phận căm hờn níu
Buốt nẻo trong đời hận tủi mang
Sâu quạnh nuối rời duyên phím lỡ
Sầu thương quặn mắt lệ dâng tràn

Tràn dâng lệ mắt quặn thương sầu
Lỡ phím duyên rời nuối quạnh sâu
Mang tủi hận đời trong nẻo buốt
Níu hờn căm phận giữa lòng đau
Tàn mơ mộng ái nguyền thay đổi
Vỡ thảo thơm tình nghĩa rụi chau
Tan nguyệt xót hồn đơn gối lẻ
Đàn âm lặng nhớ dạ tê nhàu

HANSY

CANH TRƯỜNG
Nhàu gối tẻ đêm quạnh quẽ đàn
Rót niềm chan đẫm giọt buồn tan
Chau nhòe mắt tủi hoen giòng vỡ
Lệ ướt bờ mi héo lụn tàn
Đau nhịp rát lòng cung quãng lặng
Buốt lời ran dạ khúc cầm mang
Sâu thềm nặng nhớ khơi hồn trải
Sầu hỡi điệu thương sóng ngập tràn

Tràn ngập sóng thương điệu hỡi sầu
Trải hồn khơi nhớ nặng thềm sâu
Mang trầm khúc dạ ran lời buốt
Lặng quãng cung lòng rát nhịp đau
Tàn lụn héo mi bờ ướt lệ
Vỡ giòng hoen tủi mắt nhòe chau
Tan buồn giọt đẫm chan niềm rót
Đàn quẽ quạnh đêm tẻ mắt nhàu.

Hà Thu

GỞI NÀNG DẤU YÊU


GỞI NÀNG DẤU YÊU 

Vẫn đang dò dẫm đường về 
Trời xanh mây trắng, bỗng lè phè thôi
Thong dong bỗng chốc quên đời
Chứ đâu bạc toát hoặc lơi lả nào. 

Ân tình này đã trót trao
Làm gì có chuyện ghé  lao xao ngoài 
Cảm tình cũng đã nguôi ngoai
Chung tình số một, chớ hoài mãi ghen. 

Thực lòng chẳng chút lem nhem 
Dối gian giỏi mấy cũng bèm nhèm ra
Thế nên nào dám la cà 
Một đường thẳng tuột kẻo sa ngã lòng. 

Giữa đời chả thiếu bông hồng
Mặc dây quến dụ, dạ không tường gì 
Chữ tình vốn lắm mê si
Thử vô là dính, khó đi đứng liền

Lòng người vốn sẵn khùng điên 
Thường hay xấu bụng gây phiền nhiễu nhau 
Thôi đừng vướng phải mà đau
Chữ thương đã dệt, chớ cau có hoài . 

Thế gian lắm chuyện mệt nhoài
Đừng quan tâm lắm, khó thoai thoải tình
Hướng về phía ánh bình minh 
Để nghe vang vọng niềm linh cảm chờ… 

Dệt tình bằng những câu thơ 
Trăm năm gởi lại giữa lơ ngơ đời… 

HANSY

VỀ NGOẠI


VỀ NGOẠI
[Ngũ độ]

Ngày xưa biết hỡi còn quay lại
Buổi giỡn hồn nhiên ngoài láng trại
Bạn hữu bây giờ chẳng có ai
Người thân thuở nọ ôi mờ bãi
Triền miên kỷ niệm dõi thăm hoài
Rộn rã ân tình ôm ấp trải
Những nẻo làm ăn cứ miệt mài
Lâu rồi cứ phải xa làng ngoại

Lâu rồi cứ phải xa làng ngoại
Biệt nẻo trăng rằm thương tiếc mãi
Chẳng nữa câu hò xáo động trai
Đâu còn giọng sáo vang lừng bãi
Đìu hiu dốc cũ lặng chân hài
Rả rích mưa buồn lem quãng trại
Ngõ mịt mù chao thở nuối dài
Ngày xưa biết hỡi còn quay lại

HANSY

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2018

LẠI MỘT CƠN “SỐT THƠ” ĐANG TIẾN VÀO ĐỜI SỐNG


LẠI MỘT CƠN “SỐT THƠ”
ĐANG TIẾN VÀO ĐỜI SỐNG

Nhiều năm trở lại đây, việc “sốt thơ”được coi là “xa xỉ” hoặc “hiếm có khó tìm” so với các loại hình nghệ thuật khác. Vậy nhưng, mấy ngày trở lại đây, thơ bỗng nhiên lại lên “cơn sốt”, được nhiều người săn lùng. Vậy bài thơ nào và tác giả nào có được vinh hạnh này?

Thi phẩm có được vinh hạnh này là bài thơ Gọi của nhà thơ Hữu Việt. Bài thơ này được xuất hiện qua giọng đọc của diễn viên Nhã Phương trong bộ phim truyền hình đã và đang chiếu trên VTV - Ngày ấy mình đã yêu.

Bài thơ có nội dung giản dị, dễ nhớ:  

GỌI

Khi nào thấy nhớ
Thì gọi cho anh
Hãy gọi cho anh
Cả khi không nhớ...

Có một con đường
Gọi là quá khứ
Có một lọn gió
Gọi là tóc bay

Có một người say
Một người mắt ướt
Có một lỡ bước
Gọi là đến sau

Có một mưa mau
Rụng rời quán nhỏ
Có một lối cỏ
Cho nụ hôn đầu

Có một bể dâu
Cho lòng đỡ tủi
Có một sợ hãi
Gọi là mất nhau

Có một niềm đau
Tên là dĩ vãng...

Hữu Việt

Đáng chú ý, bài thơ Gọi  xuất hiện trên mạng internet  đã 10 năm nay, nhưng lại không gây sốt. Và chỉ đến khi bài thơ được đưa vào sử dụng cho bộ phim thì lại có số phận khác. Đây không phải là “hiện tượng hiếm hoi” của thi ca, khi tác phẩm được nổi tiếng, được nhiều người biết đến nhờ một loại hình nghệ thuật khác tương tác hay truyền tải qua bài hát, phim ảnh… Có thể kể đến các tác phẩm thơ được phổ nhạc được đến với công chúng rộng rãi hơn như: Thời hoa đỏ, Lá Diêu bông, Khúc hát sông quê…

Trước cơn sốt thơ này, nhiều người trong giới văn chương thích thú và đưa ra nhận định rằng, rất có thể một số bộ phim sau sẽ được đạo diễn đưa thơ vào, thơ sẽ công chúng quan tâm hơn, có giá hơn... hoặc chí ít thì tác giả Hữu Việt chuẩn bị tái bản cuốn sách có bài thơ Gọi.

Nhà thơ, nhà báo Hữu Việt  sinh năm 1963, là con của nhà văn “Ông cố vấn” - Hữu Mai. Anh từng đoạt một số giải thưởng về thơ và dịch.

Bộ phim "Ngày ấy mình đã yêu" là tác phẩm được “Việt hóa” từ kịch bản Hàn Quốc với nhan đề "Tình yêu tìm thấy”, bắt đầu lên sóng VTV từ 11/6. Bộ phim được làm lại quy tụ dàn sao khá đình đám của điện ảnh Việt như: Nhã Phương, Nhan Phúc Vinh, Lương Thế Thành… nên đã thu hút sự quan tâm của khán giả. Bên cạnh đó, bộ phim cũng có “số phận kỳ lạ”, dù mới chỉ chiếu chưa đến 10 tập phim nhưng ngay cả một bài thơ như Gọi hay một vai diễn phụ cũng được chú ý.