Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2016

25. NGÔN NGỮ XÃ HỘI HÓA

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI

25.
NGÔN NGỮ XÃ HỘI HÓA

Người nhạc sĩ viết một ca khúc; ba bốn chục năm sau, một người thưởng thức nào đó còn nhớ được một vài ca từ, nghêu ngao hát lên là số phận ca khúc đó sống được trong lòng người. Một nhà thơ in cả trăm bài, chỉ cần có người yêu thơ thuộc được một đoạn hay vài câu là thơ đã sống được. Văn học, nghệ thuật là những sản phẩm tinh thần dành cho đám đông. Trong quá trình giao thoa giữa tác giả và người thưởng thức, một số câu, chữ, từ ngữ đặc biệt của tác phẩm đi luôn vào lòng người. Tác phẩm như vậy đã là thành công rồi. Còn ngôn ngữ văn chương tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đối với người Sài Gòn, người miền Nam thì sao?

Khi tác phẩm Ỷ thiên Đồ long ký được Tiền Phong Từ Khánh Phụng dịch với tựa đề Cô gái Đồ long, Nhà xuất bản Trung Thành in và phát hành năm 1966 thì bốn chữ “Cô gái Đồ long” đã trở thành một câu hát:

Có cô gái Đồ long lắc bầu cua
Lắc một cái ra hai con gà mái…


Trẻ con khắp hang cùng ngõ hẻm hát, người lớn cũng hát trong những dịp Tết chơi lắc bầu cua. Ngôn ngữ văn học tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đã được xã hội hóa một cách rộng rãi đến bất ngờ. Tôi rất hiểu có nhiều người không biết “Đồ long” là gì nhưng họ vẫn hát: “Có cô gái Đồ long lắc bầu cua…”. Mà cần gì phải biết, hễ cao hứng thì cứ hát.

Gần như từ giai đoạn đó trở đi, một số từ ngữ trong văn chương của Kim Dung ngày càng được xã hội hóa tại Sài Gòn và miền Nam theo sự xuất hiện của các bản dịch tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung trên báo chí.

Khái niệm “Tẩu hỏa nhập ma” được Kim Dung nhắc đến trong nhiều tác phẩm để chỉ một trạng thái nguy kịch có thể dẫn đến cái chết, sự điên loạn hoặc sự tê liệt hoàn toàn của một người luyện nội công sai đường. Như trong Hiệp khách hành, Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên) vừa có nội công Hàn ý miên chưởng (công phu chí âm của bà mẹ nuôi Mai Phương Cô truyền cho) vừa luyện Viêm viêm công (công phu chí dương của Tạ Yên Khách chỉ điểm). Đến lúc tối hậu, hai luồng chân khí âm dương đối địch nhau, mặt chàng lúc đỏ như say rượu, lúc xanh như xác chết trôi. Chàng ngã lăn trên phiến đá, giãy đành đạch mấy cái rồi nằm im, hơi thở mỏng như tơ… Đó là trạng thái tẩu hỏa nậhp ma. Giới trí thức và giới sinh viên thời ấy dùng phổ biến cụm từ này. Thí dụ “Thằng ấy đang tẩu hỏa nhập ma” có nhĩa là thằng ấy đang… khùng.

Những tiếng chửi tục của bọn hào sĩ giang hồ trong Tiếu ngạo giang hồ được dân sinh viên thời ấy “mượn” tối đa. Tác phẩm có thuật chuyện bọn môn đệ Tung Sơn bị Lệnh Hồ Xung đâm mù mắt đã dụ quần hùng lọt vào hậu động Hoa Sơn, bít cửa động lại rồi giết họ. Bọn chúng có câu ám ngữ “Cút con bà mày đi” để nhận ra nhau là đồng bọn. Lệnh Hồ Xung cũng học được câu chửi ấy nên mới tự giữ mình được. Dân sinh viên dùng câu ám ngữ này như một… lời chào. Hai anh bạn gặp nhau, vừa mời nhau điếu thuốc, vừa “Cút con bà mày đi”.

Báo là nơi in tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung trước tiên cho nên giới nhà báo cũng là những người được đọc Kim Dung kỹ và đầy đủ hơn mọi người. Từ say mê feuilleton, họ say mê luôn các nhân vật và dùng luôn tên các nhân vật làm bút danh cho mình. Ông Lê Tất Điều ký bút danh Kiều Phong, ông Nguyên Sa ký bút danh Hư Trúc, ông Chu Tử ký bút danh Kha Trấn Ác. Những bút danh Tiểu Siêu, Du Thản Chi… lần lượt xuất hiện trên báo chí. Một số những nhân vật khác của Kim Dung cũng được “mượn” họ tên để biểu hiện cho tính cách con người. Kẻ đạo đức giả, có thủ đoạn lừa mị thì bị gọi là “Nhạc Bất Quần”. Kẻ hay ton hót, nịnh nọt thì bị gọi là “Vi Tiểu Bảo”. Những danh từ riêng ấy qua tác động xã hội hoá, trở thành danh từ chung ám chỉ mộmt loại người. Điều ngộ nghĩnh là các ông nghị, bà nghị trong lưỡng viện Sai Gòn trước đây cũng hay sử dụng các “thuật ngữ” này để thoá mạ nhau khi đấu khẩu trước diễn đàn hay phát biểu trước công luận.

Nhiều từ ngữ khác trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung thâm nhập đời sống một cách tự nhiên. Những người ăn xin thì được gọi là “Cái bang”, nhà giáo đánh học sinh một cái bạt tay được gọi là đánh một “chưởng”. Khái niệm “chưởng” được mở rộng ra để chỉ tất cả các loại phim quyền cước do Hongkong, Đài Loan sản xuất: Phim chưởng. Chữ “chiêu” được sử dụng rộng rãi nhất: “ra phố dạo mấy chiêu”, “cầm cơ bi da đánh một chiêu”, “anh đừng giở cái chiêu ấy ra với tôi”… Ngữ nghĩa chữ “chiêu” càng ngày càng được mở rộng đến nỗi nó… vượt xa tầm tay của Kim Dung. Người nhỏ tuổi gọi người lớn tuổi là “Sư phụ”, sếp cơ quan được nhân viên gọi là “Trưởng lão”, từ chối một chức vụ hay xin hưu thì gọi là “rửa tay gác kiếm”, cầm bút viết lại thì gọi là “tái xuất giang hồ”.

Nhưng chưa có chữ nào được xã hội hoá rộng nhất như chữ “Ma giáo”. Trong tiểu thuyết của mình, Kim Dung hay nhắc đến Ma giáo, phát xuất từ chữ Manichéisme (Bái hỏa giáo, Minh giáo). Người Trung Hoa phiên âm là Ma Ni giáo, gọi mãi, người ta lượt bỏ chữ Ni để chỉ còn Ma giáo. Đi vào xã hội Việt Nam, chữ “ma giáo” (không viết hoa) dùng để chỉ đặc điểm của một người có hành vi lật lọng, phản bội, xấu xa: “Anh đừng có chơi ma giáo với tôi”, “ông ấy làm ăn rất ma giáo”, “con người ma giáo ấy chẳng được ai ưa”.

Có thể người ta quên mất nhiều câu chuyện được kể trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung. Có thể người ta quên sạch các chương hồi, các tình huống, các nhân vật. Thế nhưng, một số từ ngữ đặc biệt trong văn chương tiểu thuyết võ hiệp của ông được xã hội hóa, đi vào cuộc sống thì vẫn còn mãi trong văn nói của người Sài Gòn, người miền Nam. Tuỳ theo từng cách dùng, tuỳ theo từng thời điểm, ngữ nghĩa của các từ, ngữ ấy có thể chuyển đổi một ít hoặc toàn bộ.

Truyện Kiều của Nguyễn Du để lại cho ngôn ngữ văn chương Việt Nam ta những tên Sở Khanh, mụ Tú bà, máu Hoạn Thư… Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung cũng đem lại cho ngôn ngữ nói của chúng ta một số từ, ngữ mới; làm phong phú thêm ngôn ngữ nói và mở rộng thêm được một số khai niệm cần diễn đạt. Ở một chừng mực nào đó, ta có thể nói tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp của ông đã giao thoa đúng tần số với một bộ phận bạn đọc Việt Nam. Đó cũng là một thành công lớn của người cầm bút về phương diện ngôn ngữ, diễn đạt.

♥♥


ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH


ĐẤT NƯỚC MÌNH
NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu

Trần Thị Lam
(Hà Tĩnh)




HÃY LÀ...

HÃY LÀ...

Không ưa em là hoa
Vì tối tàn, sớm nở
Em chớ là hơi thở
Vì mặn ngọt đủ điều

Cũng đừng là Thúy Kiều
Mà đoạn trường nhiều khúc
Em hãy là Hạnh phúc
Rót mật ngọt đời anh

Là tiếng hát chân thành
Ru hồn anh khắp lối
Hãy sáng đèn đêm tối
Dắt anh đến bến tình

Và là ánh bình minh
Soi đời anh rực cháy

Nhé em!

HANSY

BỀN LÒNG

166.
BỀN LÒNG

Một lời đã hứa chớ quên
Duyên mình bén rễ cội bền vạn năm

Nhờ ai gắng bỏ công chăm
Cho mầm xanh tốt để tằm kén tơ

Mặc ai gieo mộng bơ vơ
Thuyền yêu em vững một bờ mến thương

Tình trường song lối đoạn trường
Bền lòng giữ chặt tân nương nhé chàng

Mặc cho mưa gió kéo sang
Trong tay hạnh phúc an khang cả đời.

Hoa Tím

MÃI MIẾT CÓ NHAU

Làm gì có chuyện vờ quên 
Đã chung một nguyện bến thuyến trăm năm 
Thì dầu sóng vỗ mưa đầm 
Mơ hồng đã cột, ta nàng vướng tơ.

Chắc lòng, chớ nghĩ vu vơ 
Bền tâm, dệt mộng cập bờ yêu thương 
Rồi ra nồng đượm đêm trường 
Thiếp đưa mắt liếc, chao nghiêng tim chàng.

Chắp tình bướm mộng vờn sang 
Cho tim em thắm rỡ ràng buông lơi
Thuyền tình dậy sóng chơi vơi
Bồng lai cùng đến, vạn lời ngọc châu.

Nhé em, dương thế có nhau
Tình xanh mãi miết, trầu cau mãn đời…

HANSY

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2016

Blog: ĐỆ NGŨ QUYẾN - Nguyễn Hưng Quốc

Blog: ĐỆ NGŨ QUYẾN 

Nói đến đệ ngũ quyền hẳn ai trong chúng ta cũng nhớ ngay đến khái niệm đệ tứ quyền vốn đã được sử dụng để chỉ giới truyền thông, từ báo in đến truyền thanh và truyền hình. Khái niệm này đã xuất hiện từ lâu, khoảng cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, trước hết là ở Pháp và ở Anh. Ba quyền kia, ở Anh, được phân bố trong Thượng nghị viện, bao gồm Viện Tăng Lữ (Lords Spiritual), Viện Quý tộc (Lords Temporal) và Viện Thứ dân (the Commoners); ở Pháp, quyền lực cũng được chia cho ba giới như vậy nhưng dưới tên và hình thức khác (Nhà thờ, Quý tộc và Thị dân).

Sau này, khái niệm tam quyền được dùng để chỉ ba lãnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có điều, lúc nào và ở đâu người ta cũng nhận thấy, sự phân quyền ấy chỉ có thể hiệu quả và bảo đảm được tự do và dân chủ nếu có thêm cái quyền thứ tư: quyền thông tin và quyền ngôn luận được thể hiện qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Các phương tiện truyền thông đại chúng ấy, thoạt đầu, chỉ bao gồm báo in; sau, thêm truyền thanh, và, từ giữa thế kỷ 20, thêm truyền hình. Về phương diện chính trị, tất cả đều nhắm đến một mục tiêu lý tưởng: minh bạch hoá các hoạt động của chính phủ trong cả ba lãnh vực lập pháp, tư pháp và hành pháp, đặc biệt là hành pháp, để tránh việc lợi dụng và lạm dụng quyền lực, hay nói cách khác, theo cái khẩu hiệu thường nghe ở Việt Nam, làm cho dân biết, dân bàn và dân kiểm tra.

Không còn hoài nghi gì nữa, trong suốt thế kỷ 20, truyền thông đại chúng đã từng nhiều lần chứng minh vị thế của một thứ đệ tứ quyền trong đời sống chính trị, nhất là ở các nước dân chủ. Giới truyền thông được quyền yêu sách chính phủ phải công khai hoá những quyết định quan trọng liên quan đến đất nước và xã hội. Giới truyền thông cũng từng đóng vai trò phản biện tích cực đối với những chính sách mà họ cho là sai trái, qua đó, hướng dẫn dư luận và buộc chính phủ phải điều chỉnh nhiều chính sách để hợp với nguyện vọng của dân chúng. Với vai trò đó, truyền thông đại chúng đã trở thành một thứ hàn thử biểu để đo lường tính chất dân chủ trong một xã hội: Ở đâu truyền thông được tự do và độc lập, ở đó có dân chủ; ngược lại thì không. Đơn giản chỉ vậy.

Ở Mỹ, trong suốt nửa sau thế kỷ 20, truyền thông trở thành một lực lượng chính trị quan trọng, trong đó, nổi bật nhất là hai sự kiện: chiến tranh Việt Nam và sự kiện Watergate.

Trong chiến tranh Việt Nam, truyền thông đóng vai trò quan trọng đến độ nó trở thành danh xưng của cả cuộc chiến tranh: chiến tranh truyền thông (media war) hay chiến tranh trong phòng khách (lounge room war), nơi mỗi buổi tối mọi người dân Mỹ đều có thể theo dõi, hầu như tận mắt, những cảnh khốc liệt trong cuộc chiến ở Việt Nam. Truyền thông, đặc biệt là tivi, đã mang hình ảnh chiến tranh trong rừng núi và đồng quê ở một nước châu Á xa xôi heo hút vào tận phòng khách từng nhà. Nó biến cuộc chiến tranh ở Việt Nam thành cuộc chiến tranh về Việt Nam. Nó cũng biến cuộc chiến tranh trên mặt trận quân sự thành một cuộc chiến tranh trong trái tim từng người.

Kết quả là phong trào phản chiến càng ngày càng lớn mạnh, tạo thành một sức ép đè nặng lên chính quyền Mỹ, và, cuối cùng, không thể chịu đựng nổi những sức ép ấy, họ tuyên bố rút quân, để đến năm 1975, chấp nhận thua trận. Bởi vậy, nhiều nhà bình luận cho rằng Mỹ không thua trận ở chiến trường Việt Nam; họ chỉ thua trên mặt báo và trên màn ảnh tivi.

Cũng ở Mỹ, truyền thông lại chứng tỏ được sức mạnh lớn lao của mình qua vụ án Watergate. Đó là tổng hành dinh của đảng Dân Chủ và cũng là nơi, vào ngày 17 tháng 6 năm 1972, cảnh sát bắt được năm người đàn ông lén lút đột nhập và ăn trộm tài liệu của đảng Dân Chủ. Các cuộc điều tra, sau đó, phát hiện cả năm người này, trực tiếp hay gián tiếp, đều có liên hệ với Uỷ ban tái tranh cử Tổng thống của đảng Cộng Hoà lúc ấy đang cầm quyền.

Sự cố ấy gây khá nhiều xôn xao trong dư luận nhưng có lẽ nó sẽ không có ảnh hưởng quá lớn lao nếu hai nhà báo Bob Woodward và Carl Bernstein không tung ra bài phóng sự trên The Washington Post, trong đó, hai ông tiết lộ, một viên chức cao cấp của chính phủ, dưới mật danh là Deep Throat, cho biết: hành động ăn cắp tài liệu của đảng Dân Chủ ở Watergate nằm trong âm mưu chung của đảng Cộng Hoà và được sự chấp thuận của chính Tổng thống Richard Nixon. Bài phóng sự làm thay đổi hẳn dư luận, cuối cùng, buộc Tổng thống Nixon phải từ chức. Đó là việc từ chức đầu tiên, và cho đến nay, duy nhất của tổng thống Mỹ.

Tuy nhiên, không phải lúc nào và ở đâu truyền thông cũng có thể đóng vai trò quan trọng và cần thiết như vậy. Có hai trở lực chính:

Thứ nhất, ở các quốc gia độc tài, chính phủ luôn luôn tìm cách thâu tóm hoạt động truyền thông vào tay mình. Báo chí: nhà nước nắm. Truyền thanh: nhà nước nắm. Truyền hình: nhà nước nắm. Người ta có thể tư hữu hoá và tư nhân hoá trên rất nhiều lãnh vực, trừ truyền thông. Tất cả mọi nguồn tin tức đều bị nhà nước kiểm soát. Mọi tiếng nói phản kháng hay phản biện, thậm chí, hơi một chút độc lập, đều bị dập tắt. Vai trò thông tin và kiểm soát của dân chúng đối với chính phủ không thể thực hiện được. Cái gọi là “dân biết, dân bàn và dân kiểm tra” chỉ còn là một khẩu hiệu suông, láo khoét và rỗng tuếch. Việt Nam nằm trong trường hợp này.

Thứ hai, ngay ở các nước tự do và phát triển, tự do trong lãnh vực truyền thông cũng càng ngày càng hạn chế. Lý do chính là vì xu hướng tập trung hoá trong lãnh vực kinh tế. Để bao quát được mọi tin tức nổi bật trên phạm vi toàn thế giới và để có thể loan tin nhanh chóng đến mọi hang cùng ngõ hẻm, người ta cần nguồn nhân lực mạnh và điều kiện kỹ thuật cao; tất cả đều cần nhiều vốn liếng mà chỉ có các nhà đại tư bản mới gánh vác nổi. Hậu quả là hầu hết các cơ quan truyền thông đều nằm trong tay một số người. Chính họ, chứ không phải dân chúng, khuynh loát toàn bộ dư luận trong xã hội. Trong các cuộc bầu cử tự do, họ ngả theo phe nào, phe đó thường thắng. Sự ủng hộ của họ, dĩ nhiên, sẽ được trả công, dưới hình thức này hay hình thức khác.
Trong cả hai trường hợp vừa kể, cái gọi là đệ tứ quyền nếu không bị bóp nghẹt (ở trường hợp trên) thì cũng bị hạn chế rất nhiều (trường hợp dưới). Truyền thông không còn hoàn toàn tự do và độc lập nữa. Vai trò của nó đối với tiến trình dân chủ hoá xã hội bị giảm thiểu đáng kể. Chính vì vậy, người ta mới thấm thía nhu cầu cần có một thứ “quyền” khác: đệ ngũ quyền.

Đại diện của đệ ngũ quyền chính là internet, đặc biệt, của các blog.

Thật ra, internet cũng nằm trong lãnh vực truyền thông; nhưng internet khác các hình thức truyền thông truyền thống khác ít nhất ở hai điểm:

Thứ nhất, nó không bị giới hạn về không gian và thời gian. Về không gian, tất cả hình thức truyền thông cũ, đặc biệt là báo in, đều bị giới hạn trong một khung địa lý nhất định. Ngay truyền thanh và truyền hình cũng không thể đi quá xa. Chỉ có internet là thực sự có tính toàn cầu: Bất cứ ở đâu, hễ có máy vi tính được nối mạng là người ta đọc được. Về thời gian, trên báo cũng như trên truyền thanh và truyền hình, tin tức và bài vở chỉ xuất hiện một lần. Lỡ hụt là hụt luôn. Trên internet, ngược lại, bài vở cứ nằm ở đó mãi. Đọc lúc nào cũng được. Khi cần, người ta có thể đọc lại được cả những bài rất cũ, cả mấy năm hay hàng chục năm trước đó.

Thứ hai, internet thoát được xu hướng tập trung hoá. Một đại công ty có trang mạng hay blog? Ừ, cũng được. Nhưng một cá nhân nào đó muốn có trang mạng hoặc blog? Cũng được. Trên thế giới, không hiếm gì các trang mạng hoặc blog của cá nhân lại được đọc nhiều hơn hẳn các cơ sở truyền thông lớn.

Mang tính cá nhân, các trang mạng hoặc blog có thể vấp phải một số hạn chế nhất định. Chẳng hạn, một số thông tin có thể chưa được kiểm tra đầy đủ hay một số ý tưởng hay cách diễn đạt chưa được biên tập kỹ lưỡng, v.v... Có thể. Nhưng bù lại, chúng được tự do và độc lập, không bị áp lực của cả chính trị lẫn kinh tế.

Chính vì tính chất tự do và độc lập ấy, internet, đặc biệt là blog, đã được vinh danh là đệ ngũ quyền, tương đương với đệ tứ quyền vốn bao trùm toàn bộ ngành truyền thông truyền thống nói chung.

Chức năng chính của đệ ngũ quyền là gì?

Nếu chức năng chính của đệ tứ quyền là công khai hoá, minh bạch hoá và kiểm soát các hoạt động của chính phủ, từ lập pháp đến tư pháp và hành pháp; chức năng chính của đệ ngũ quyền, trước hết, là kiểm soát và bổ sung cho đệ tứ quyền. Nó lên tiếng ở những nơi đệ tứ quyền im lặng. Nó cải chính những sai sót mà đệ tứ quyền vấp phải. Nhiều người quan niệm: nếu đệ tứ quyền có nhiệm vụ canh chừng các hoạt động của chính phủ thì nhiệm vụ chính của đệ ngũ quyền là canh chừng những kẻ canh chừng ấy.

Điều này có thể thấy rõ trong trường hợp của Việt Nam. Các cơ quan truyền thông chính thống im lặng trước dự án bauxite ở Tây Nguyên ư? Thì các blog lên tiếng. Các cơ quan truyền thông im lặng trước tệ nạn tham nhũng, lãng phí và độc quyền của chính phủ ư? Thì các blog sẽ lên tiếng.

Ở Tây phương, người ta nhìn nhận những sự bổ sung và cải chính như vậy là cần thiết. Riêng ở Việt Nam, người ta gọi đó là phản động và tìm mọi cách để trấn áp.

Buồn.



♥♥


TINH KHÔI

TINH KHÔI

Tim vẫn nóng, hồn mãi hoài phúc hạnh 
Tiếng thơ rao lanh lảnh ngọt chùng chao 
Đời vẫn vui, người vẫn thắm câu chào 
Chung thủy nhé, phút đầu thơm thảo cuối.

Dỗ tim lòng, nhóm niềm yêu trao gởi
Ươm mộng ngào cho biếc đợi lừng xanh 
Trời hạnh ngộ điểm hương vạn sắc cành 
Giữ tươi nguyên như ngày thơ mộng ấy.

Thơ tím rịm, giọt sương đời rón rẩy 
Gởi bạc bàng trong ngùi ngậy trời thương 
Từng nốt nhạc vang vang ướp mộng thường 
Đã yêu Em dù mấy sông cũng lội.

Sóng tinh khôi mãi hoài như gió thổi 
Lóng lánh đời ngọt mát cõi niềm tư…

HANSY

VÀNG ĐÁ KHÔNG PHAI

165.
VÀNG ĐÁ KHÔNG PHAI

Nguyện thề khắc chữ lên cây
Trái tim trao gửi để xây lâu đài

Nghĩa tình nồng ấm men say
Đưa nhau mấy kiếp chung tay với đời

Song hành lối mộng khắp nơi
Dẫu cho bão tố khó dời đôi ta

Cau trầu bén ngọn tình ca
Vôi nồng thắm thiết làm quà đón dâu

Nguyện thề chung một nhịp cầu
Tam tùng giữ vẹn tròn câu đá vàng

Hoa Tím

HÒA DUYÊN

Tình mình lan tỏa cỏ cây 
Mặn mòi nhuốm cả gió mây trang đài 
Ai ngờ men rượu nồng say 
Để thương một lúc thành vay suốt đời.

Xưa lòng tản mạn nhiều nơi 
Nay tình gom một chỉ người với ta 
Quyện hồn thánh thót lời ca 
Gió trăng mây nước chan hòa rễ dâu.

Sông duyên ta bắc nhịp cầu 
Bờ mơ đón đợi canh thâu mộng vàng…

HANSY

NGỘ

 
NGỘ
 
Họa từ một chút dậy lòng sân
Thói xấu tật hư quyến lộn vần
Miệng lưỡi chua ngoa gần địa ngục
Ngôn từ ác độc xuống trầm luân
Từ bi gốc cốt nên điều thật
Phước thiện mối giềng ấy dạ chân
Bùn vấy mà sen nào có bẩn
Cũng do tuyết ngọc gội muôn lần
 
Cũng do tuyết ngọc gội muôn lần
Suy nghiệm đạo trời đạt ngộ chân
Tứ đại giai không loài ký huyễn
Kiến giai ngũ uẩn giống nương bần
Giúp người trợ khó mau làm thiện
Tích đức tu nhân khéo kiệm cần
Cát bụi sẽ hoàn về cát bụi
Tội gì khư giữ mãi lầm sân
 
HANSY

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

24. ĐẶT LẠI MẤY VẤN ĐỀ LỊCH SỬ

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI

24.
ĐẶT LẠI MẤY VẤN ĐỀ LỊCH SỬ

Một tác phẩm văn học không bao giờ là một tác phẩm sử học. Tác phẩm văn học được viết bởi nhà văn; tác phẩm sử học được viết bởi những sử quan mà đời Hán gọi là Thái sử lệnh. Tác phẩm văn học được xây dựng từ những khả năng hư cấu lãng mạn; tác phẩm sử học dựa trên những sự kiện lịch sử cụ thể. Tuy nhiên, nếu biết vận dụng khéo léo, đưa những yếu tố lích sử vào tác phẩm văn học thì tác phẩm văn học hấp dẫn hơn, haòng tráng hơn và hiện thực hơn. Đó là đặc điểm của một số bộ tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung. Ông đã đưa yếu tố lịch sử vào văn học và vượt xa hơn, ông dùng tác phẩm văn học để đặt lại một số vấn đề lịch sử.

Ai cũng hết lời ca ngợi Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương, tức Minh Thái tổ, làm vua Trung Hoa từ năm 1368 đến năm 1398, được coi là người anh hùng của phong trào kháng Nguyên, người có công bậc nhất thiên hạ giành lại đất nước Trung Hoa từ tay Di Dịch. Thế nhưng, qua Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung đã buộc người đọc phải nhìn lại đúng bản chất của Chu Nguyên Chương. Xuất thân từ nông dân, Chu Nguyên Chương đã nhân lúc An Huy đói kém, nổi lên làm giặc cướp rồi đi tu ở chùa Hoàng Giác. Ăn cướp một con bò của một nhà giàu làm thịt nấu ăn, bị người nhà giàu sai hai gia nhân đi bắt, Chu Nguyên Chương đã dùng vũ lực bóp miệng hai gia nhân buộc họ phải ăn lông bò. Thủ đoạn vu oan giá hoạ như vậy không phải ai cũng có thể làm được. Chu Nguyên Chương gia nhập Minh giáo (Manichéisme) Trung Hoa, lãnh đạo đội quân Hoài Tứ. Trước khi cuộc khởi nghĩa Minh giáo thành công, Chu Nguyên Chương giết thủ lĩnh của mình là Hàn Sơn Đồng, trấn nước con trai là Hàn Lâm Nhi để nắm quyền lãnh tụ. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung đã mô tả đoạn nghĩa quân Minh giáo đón Trương Vô Kỵ giáo chủ, đoạn Chu Nguyên Chương tạ ơn giáo chủ đã khen ngợi mình. Thế nhưng, chính thuộc hạ Chu Nguyên Chương đã bỏ thuốc độc vào bình rượu cho Vô Kỵ và Triệu Mẫn uống rồi xiềng khoá hai người, giam vào đại lao. May còn được thanh Ỷ thiên gãy, Vô Kỵ đã chặt xiềng, dẫn Triệu Mẫn lặng lẽ ra đi... Con người thủ đoạn, phản bạn, bất trung với cấp trên như vậy đã lên làm vua khai sáng triều Minh ở Trung Hoa. Về sau, để bảo vệ cho quyền lực họ Chu, Nguyên Chương đã tận sát hết các chiến hữu từng cùng ông ta vào sinh ra tử. Ông ghét văn chương đến nỗi chỉ cần đọc một chữ nghi ngờ có ý giễu mình là ông giết ngay người viết.

Trong Thiên Long bát bộ, Kim Dung lại cho ta thấy được tư cách của một ông vua Trung Hoa khác - Tống Triết tôn Triệu Hú. Để làm nổi bật tính cách lấc cấc, huyênh hoang của Triệu Hú, Kim Dung đã xây dựng một nhân vật Hoàn Nhan A Cốt Đả, thủ lĩnh kiêu dũng của bộ lạc Nữ Chân ở miền Đông Bắc; một Đại Liêu hoàng đế Gia Luật Hồng Cơ thâm trầm, sắc sảo bên kia Nhạn Môn quan, một nước Tây Hạ thịnh vượng ở phía Tây, một nước Đại Lý quân thần như huynh đệ ở phía Nam. Triệu Hú lên ngôi năm 8 tuổi, được bà thái hậu họ Cao nhiếp chính. Vào khoảng năm 1090 đến năm 1093, những biến pháp của Vương An Thạch (phe Tân đảng) đã gần như phá sản, Cao Thái hậu áp dụng tư tưởng cai trị mềm dẻo của phe Cựu đảng gồm Tư Mã Quang, Tô Thức, Tô Triệt. Cách trị nước của Cao Thái hậu vững vàng, ôn hoà khiến quân Liêu không dám đưa binh qua biên giới gây hấn với nhà Tống. Tể tướng nước Liêu dâng sớ lên Gia Luật Hồng Cơ, ca ngợi: "Từ khi thái hậu Đại Tống buông rèm nghe chính sự, chiêu nạp trung thần, bài trừ chính trị hà khắc, trong chín năm trời thiên hạ yên vui, triều đình hưng thịnh". Trong khi đó, Triệu Hú chỉ muốn áp dụng biện pháp của phe Tân đảng Vương An Thạch để gây chiến tranh với nước Liêu. Kim Dung thuật lại đoạn thái hậu bệnh nặng, nằm trong điện Sùng Khánh thành Biện Lương, kêu Tống Triết Tôn Triệu Hú đến dặn dò. Gã vua con nít này chỉ muốn kích động cho bà nội chết sớm; hắn bảo sẽ đem quân Bắc phạt, sẽ trừng trị bon "hủ nho" Tư Mã Quang, Tô Thức, Tô Triệt. Hắn rút kiếm chém chiếc ghế đứt làm hai đoạn trước mắt bà nội. Khi bà già tắt thở, hắn reo lên: "Ta đã được làm vua rồi". Theo chính sử Trung Hoa thì đó là năm 1093, khi Triệu Hú 18 tuổi. Quả nhiên, Triệu Hú giáng Tô Thức từ Lễ bộ thượng thư xuống làm tri phủ Định Châu, giáng Tể tướng Tô Triệt xuống làm tri phủ Nhữ Châu; mắng Hàn lâm học sĩ Phạm Tô Vũ khi người này dâng bản tấu can gián.

Một thứ hôn quân như Tống Triết Tôn mà có thể cai trị được đất nước Trung Hoa quả là một chuyện lạ. Triệu Hú chết năm 1099, em ruột lên ngôi xưng là Huy Tôn. Cái lẽ bại vong của nhà Tống không phải đợi đến sau này mà nó nằm ngay trong đời Triệu Hú, trong Thiên Long bát bộ của Kim Dung. Đoạn văn Triệu Hú chọc cho bà nội chết sớm thật lâm li biến ảo, không thể tìm thấy trong Tống sử hay lịch sử Trung Hoa. Kim Dung không bình luận, nhưng bản chất Tống Triết Tôn Triệu Hú như thế nào thì mọi người đọc văn ông đều rõ.

Kim Dung viết Lộc Đỉnh ký là một cách đối chiếu lịch sử, giúp cho hàng tỷ đồng bào của ông có cơ hội nhìn lại các ông vua của triều Minh - dòng dõi Hán tộc và các ông vua triều Thanh - dòng dõi Di Địch trong bốn rợ (Tứ di). Hình ảnh của vua Minh Sùng Trinh không hiện ra; hình ảnh của những ông vua hậu duệ nhà Minh như Phúc vương, Quế vương, Đường vương, Lỗ vương cũng không hiện ra. Nhưng cảm giác mà Kim Dung tạo ra được cho người đọc là sự nhận chân ra bản chất triều Minh: những ông vua u tối, nhu nhược, không được người Trung Hoa ủng hộ. Đúng ra, có một số ít người theo họ nhân danh chữ trung của nhà nho. Nhưng bản thân chữ trung đó cũng ngu xuẩn nốt: phe thì ủng hộ Đường, phe thì ủng hộ Quế, phe nào cũng chỉ nhận mình mới là chính thống. Điều đó nói lên được thực chất của các phong trào phản Thanh phục Minh cuối thế kỉ 17 ở Trung Hoa: những lực lượng ô hợp, không nêu lên được một khẩu hiệu rõ ràng, một ngọn cờ chính thống. Đối lập với họ là một ông vua con Khang Hy thông minh, tài trí, đức độ. Con người xuất thân từ dòng dõi Di Địch đó đã biết chia rẽ các lực lượng chống đối, áp dụng thủ pháp có nhu có cương để cai trị thiên hạ, thể hiện lòng nhân từ và tư tưởng đại đoàn kết để thu phục nhân tâm. Nhà vua thiếu niên đọc thật kĩ sử sách Trung Hoa, rút ra những bài học lâm sàng từ những ông vua hôn ám để tránh, đi theo cái vương đạo mà bậc đại học đã đi. Đối với quân Mông Cổ, Tây Tạng, Nga La Tư, nhà vua có đối sách ngoại giao rõ ràng. Chính vì vậy khi Ngô Tam Quế dựng lên chiêu bài "hưng Minh thảo Lỗ" ở Vân Nam, phát hịch kể tội nhà Thanh và Khang Hy thì không có lực lượng nào của người Trung Quốc ủng hộ Ngô Tam Quế cả.

Kim Dung là một nhà văn chứ không phải là một nhà sử học. Cách đặt lại vấn đề lịch sử trong tác phẩm của ông cũng rất văn học: không cay cú kết án, không hồ hởi ca ngợi. Ông chỉ nhẹ nhàng trình bày sự kiện người đọc nhân ra quan điểm cá nhân của ông. Nhiều khi, tôi kinh ngạc khi đọc đến những kiến giải uyên bác của Kim Dung về sử học. Thí dụ như đoạn lung trong Lộc Đỉnh ký, khi Kim Dung mượn lời của Lữ Lưu Lương giải thích cho con trai nghe về hai từ "trục lộc" (đuổi hươu). Con hươu ví với thiên hạ, gồm có đất đai và dân chúng. Khương Thái Công tâu với Văn Vương: "Lấy thiên hạ như đuổi bắt con hươu làm thịt chia nhau mà ăn. Có khi nhiều người cùng ăn, có khi một người ăn hết". Ông dẫn lời trong Hán thư: "Nhà Tần để sổng con hươu, thiên hạ tranh nhau bắt". Từ khái niệm "hươu" (lộc), Kim Dung đưa ta qua khái niệm "vạc" (đỉnh). Đỉnh là cái vạc cao, có ba chân, dùng để nấu thịt (hươu) mà ăn. Sau đó, người ta dùng đỉnh để làm một hình cụ. Lịch Sinh bị Tề vương Điền Quảng bỏ vào vạc dầu luộc chín khi Hàn Tín đánh vào Lâm Tri. Nối "lộc" và "đỉnh" lại có khái niệm lộc đỉnh. Trong địa danh Trung Quốc, có núi Lộc Đỉnh ở miền bắc sông Hắc Long, đọc theo âm Mãn Châu là Hô Mã Nhĩ Oa Tập Sơn. Kim Dung đã nắm tay độc giả dẫn vào thế giới Lộc Đỉnh ký, bộ tiểu thuyết ông viết ra trong khoảng 1969 - 1972 tự nhiên như thế. Cách dẫn nhập từ khái niệm lịch sử vào thế giới tiểu thuyết của Kim Dung không phải ai cũng làm được!

♥♥


CHÚT TÌNH TRONG GIÓ

CHÚT TÌNH TRONG GIÓ 

Định mệnh an bài, em biết chăng? 
Người đi, ta ở dạ thương thầm 
Ô hay, năm tháng vờn song cửa 
Vẫn giấu trong hồn nỗi ngóng trông

Em ơi ngày đó ngát hoa hồng 
Nào biết nhân gian lắm đoạn trường 
Cứ ngỡ yêu đương là mãn kiếp 
Nào ngờ trời đọa lắm bi thương. 

Tình chúng mình đẹp tựa bài thơ 
Bỗng chốc mưa về rạn cõi mơ 
Làm cho đàn sáo tan tành nhịp 
Khúc nhớ thương ôi, lộng bến bờ. 

Gởi trong gió ngùi yêu vẳng ca
Thuyên về bên ấy chút tình xa 
Em ơi, nguyền mộng giờ tan vỡ 
Để góc liêu phòng, nguyệt khóc Ta. 

HANSY

VƯỜN TRẦU NỞ HOA

164.
VƯỜN TRẦU NỞ HOA

Hôm qua anh bảo em ơi
Tu đi để được ông trời ban ơn
Đôi mình không lỗi nhịp đờn
Du dương cầm sắc ai hờn kệ ai

Em cười vuốt nhẹ tóc mai
Vãng sanh em đọc khỏi hoài công theo
Nghiệp dày nên đức cứ nghèo
Tụng cho ngạ quỹ đến đèo rước đi

Ừ thì em chẳng sân si
Có anh bên cạnh chẳng gì không qua
Tình em như trái mướp già
Ấp con đạo đức để mà khai hoa

Đủ duyên tôn vị làm cha
Oa oe thú vị cửa nhà đông vui
Mặc đời đạo đức chôn vùi
Gia đình mình vẫn ngọt bùi tháng năm

Hoa Tím

SAY TÌNH

Nhớ sao là nhớ người ơi 
Đường xa diệu vợi, biển trời cách ngăn 
Nhớ thương biếng bấm phím đờn 
Gởi tình mây gió, lặng hồn theo ai.

Tình mình hò hẹn trúc mai 
Thời gian thăm thẳm vẫn hoài đường theo 
Thương nhau chi sá giàu nghèo 
Miễn cùng một cội thì đeo suốt đời.

Chỉ trăng thệ nguyện một lời 
Dẫu giông gió mấy cũng rồi sẽ qua 
Nương nhau từ trẻ chí già 
Lòng yêu thắm đỏ tình òa nở hoa.

Bi bô con trẻ gọi cha 
Bên anh lướt Net, cả nhà hòa vui 
Thấm yêu dạ luyến chan vùi 
Tình như biển lớn mặn mòi ngàn năm.

Thơm nồng như lá rau răm
Như hương bưởi mộng, như dòng phù sa…

HANSY

NUỐI TÌNH

NUỐI TÌNH
(Thuận Nghịch độc)

Xa buồn nẻo luyến mỏi mòn trông
Oải cánh sầu khơi chạnh nuối lòng
Pha vợi mắt nào hương được dõi
Lặng thầm môi cũ sắc gì mong
Qua rồi mộng thắm ngon ngào đượm
Hết rụi trầm thơm hứa hẹn nồng
Trà nhạt úa hương tình rệu rã
Hoa đời lạc bước phụ nguyền sông

Sông nguyền phụ bước lạc đời hoa
Rã rệu tình hương úa nhạt trà
Nồng hen hứa thơm trầm rụi hết
Đượm ngào ngon thắm mộng rồi qua
Mong gì sắc cũ môi thầm lặng
Dõi được hương nào mắt vợi pha
Lòng nuối chạnh khơi sầu cánh oải
Trông mòn mỏi luyến nẻo buồn xa

HANSY

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

CÁI CHUNG và CÁI RIÊNG TRONG THƠ - Nguyễn Hưng Quốc

CÁI CHUNG và CÁI RIÊNG 
TRONG THƠ 

1.
Thơ hay không bao giờ là của riêng ai cả. Nó là cảm xúc của đám đông. Nó là của cuộc đời. Nó không phải chỉ là sự tự thể hiện của nhà thơ. Nó còn có tác dụng giúp mọi người chung quanh, từ nó, nhận diện được những tiếng sóng ngầm u uẩn ngay chính trong đáy sâu của lòng họ. Hoàn toàn không phải tình cờ, khi người ta, ở Việt Nam cũng như ở khắp nơi trên thế giới, để tìm hiểu tâm trạng của một thời đại, thường căn cứ chủ yếu vào tác phẩm của các nhà thơ lớn.

Quan hệ giữa nhà thơ và xã hội giống như quan hệ giữa hạt muối và đại dương. Nhiệm vụ của nhà thơ là cô sắc cái đại dương kia: tâm sự chung, thành ra cái hạt muối này: thơ. Tâm sự chung của thời đại là khối tinh vân khổng lồ bay lênh đênh trong vũ trụ. Nó khổng lồ nhưng nó rất lênh đênh. Bằng sự nhạy cảm, bằng năng lực tưởng tượng, bằng tài hoa cấu tứ và bằng trình độ sử dụng ngôn ngữ, mỗi nhà thơ phải tìm cách kết tinh từ khối tinh vân mênh mông mù loãng kia thành ra những mặt trời thơ, những mặt trăng thơ, những vì sao thơ.

2.
Hình ảnh của nhà thơ, dưới ngòi bút Xuân Diệu ngày trước, là hình ảnh của người vẽ chân dung những hồn người khốn khổ:

Nghiệp tài tử xưa nay đông lắm chắc
Chúng tôi hùn làm một kiếp đa duyên
Cảm nếp trán của người lo sáu khắc
Thương năm canh nước mắt những ai phiền.
Quách Thoại cũng nghĩ tương tự:
Nói lời thơ đời nhân loại đau thương.


Nhưng thơ không phải chỉ có cái chung. Chỉ là cái chung cho tất cả mọi người, thơ sẽ bị chìm lẫn trong vô số những tiếng động hoặc lặng lẽ hoặc ồn ào của cuộc sống. Thơ phải thể hiện cái chung ấy một cách rất riêng tây, qua cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm và cách viết của một người.

Trong bài “Thi sĩ”, Tô Thuỳ Yên nhấn mạnh đến tính chất độc đáo của thơ:

bằng mỗi lời độc nhất
tôi kề tai tiết lộ với từng người
những điều không lặp lại
bài thơ như lá sâm.

Thanh Tâm Tuyền gọi một bài thơ độc đáo là “bài thơ tháng giêng":

Con đường chưa ai tới
Màu hoa nào chưa ai trao
Những nghĩa chữ còn hoang
Câu thề thốt lạ thường
Nơi không gian còn tiết trinh.


Chính vì mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung như thế, chúng ta thường bắt gặp ở các nhà thơ những lời phát biểu thoạt nghe dễ ngỡ là mâu thuẫn. Một mặt, ai cũng muốn khẳng định mình là một cái gì thật độc đáo, thật cá biệt, thật riêng tây. Vũ Hoàng Chương: “Tôi: thù nhân của Số Nhiều”. Trần Huyền Trân: “Chân mình vẫn lạc dấu nghìn chân”. Xuân Diệu: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất”. Huy Cận: “Suốt một đời như núi đứng riêng tây”. Tô Thuỳ Yên: “Ta lớn lao và ta cô đơn”. Nhưng mặt khác, ngược lại, hầu như nhà thơ nào cũng muốn tự nhận thơ mình là tiếng nói của mọi người, là tâm sự của mọi người. Xuân Diệu: “Buồn thế hệ ta cũng đang u uất” hay “Nghìn trái tim mang trong một trái tim”. Tô Thuỳ Yên: “Chúng ta cười trên môi bằng hữu”. Thanh Tâm Tuyền: “Hãy cho anh khóc bằng mắt em”. Chế Vũ: “Ta nằm trong lòng thế hệ”. Tô Thuỳ Yên giải quyết cái mâu thuẫn biểu kiến ấy bằng một cách diễn tả tuyệt vời:

“Tôi là một người, là một đám đông”

Vâng, nhà thơ vừa là một người vừa là một đám đông. Thơ vừa là cái gì riêng, rất riêng, trong nghệ thuật, vừa là cái gì chung, rất chung, trong cảm xúc. Tầm vóc của một nhà thơ không định hình từ cái riêng; cũng không định hình từ những cái chung. Tầm vóc của một nhà thơ được định hình trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa cái riêng và cái chung. Nói cách khác, một nhà thơ lớn là một nhà thơ có tính chất cá thể đồng thời phải có tính chất nhân loại. Tính chất cá thể phải được nhân loại hoá. Tính chất nhân loại phải được cá thể hoá. Nhà thơ lớn là một chiếc lá ngô đồng. Lá là lá. Nhưng lá cũng là mùa:

Ngô đồng nhất diệp lạc,
Thiên hạ cộng tri thu.

(Ngô đồng một lá rụng,
Người biết mùa thu về)



♥♥


KÝ ỨC PHƯỢNG

KÝ ỨC PHƯỢNG

Phượng về
Im ắng lòng mê
Dư âm nắng hè
Của mùa xưa ly biệt
Xa phương nào em hỡi có còn nghe.
…………
Từng cánh đỏ au rơi rơi
Rơi vào lòng nhớ thương mái trường xưa cũ
Chợt giờ bóng phượng có mưa
Của dỗi hờn rắc rơi lên tóc rối
Cho vừa nỗi đau…

Úa lòng nhạt giấc trầu cau
Mùa thương bỏ lại, không nhau đớn hồn
Khẽ khàng như máu lòng tuôn
Người trăm năm cũ còn thương chút nào?

Phượng về
Ký ức chùng nao…

HANSY


THÔI KỆ

163.
THÔI KỆ

Nợ tình em đã trót vay
Hồn anh lỡ dại để dày công yêu
Sá gì một chút mưa chiều
Mà chia cách bạn để nhiều nhớ thương

Anh nhắc thôi kệ vô thường
Em cười thôi kệ trăm đường khó đi
Bão giông thì cứ vô nghì
Em anh thì vẫn ở lì bên nhau

Đố ai đốn được trầu cau
Đố ai thu dọn ngọt ngào anh trao
Nhìn nhau thôi kệ gió lào
Yêu nhau thôi kệ vách rào khó bung

Trăm năm vẹn giữ tình chung
Chọc cho nhân thế đi lùng để ghen
Anh bảo thôi kệ em nghen
Nghe anh thôi kệ mực đen của đời

Yêu anh nồng ấm đất trời
Trong tay mình cứ rạng ngời dấu yêu

Hoa Tím

HƯỚNG VỀ PHÍA TRƯỚC

Nợ đời vay trả trả vay 
Đào sâu nhọc lấp tháng ngày hờn yêu 
Có mai ắt hẳn qua chiều 
Có sôi có lặng, lắm điều ghét thương.

Mà thôi, chuyện cũng bình thường 
Đường yêu sẵn trớn một lòng cứ đi 
Dễ gì phá đổ khắc ghi 
Dể gì giông gió tách rời thương nhau.

Trầu em đã bén hương cau 
Tim thương xa lắc buổi đầu đã trao 
Cũng qua không ít gian lao 
Biết bao thử thách mà nào chịu buông.

Bây giờ tim hợp dòng chung 
Thương yêu đã chặt, xem thường ai ghen 
Giữ lòng giữ dạ em nghen 
Có anh là đủ, lèng quèng bỏ đi.

Cứ mơ cho rộn xuân thì
Cứ thương cho mộng tràn trề cõi yêu…

HANSY

PHẢ MẬT VÀO ĐƯỜNG

 
PHẢ MẬT VÀO ĐƯỜNG
 
Phả mật Đường thi ngọt biếc tình
Cho hồn nhân thế tỏa huyền linh
Ngào thơm chuỗi mộng tràn dâng tính
Nồng đượm chồi mơ trỗi tượng hình
Lộng lẫy thiên đường lâng dạ định
Kiêu kỳ hạ giới khỏa nàng xinh
Vàng trăng về đậu ngàn ân vĩnh
Khe khẽ lòng ngâm khúc ái bình
 
Khe khẽ lòng ngâm khúc dạ bình 
Hoan đời biêng biếc ngập hồn xinh
Mầm thương nhú mọng vần khơi chính
Cánh nhớ vờn chao ý lộng hình
Khỏng khảnh lua đời ngan ngát nhỉnh
Ngơ ngù thả kiếp dạt dào linh
Trầm hương em hỡi trầm hương diệu
Phả mật Đường thi ngọt biếc tình
 
HANSY

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2016

23. NGHỆ THUẬT TIỂUTHUYẾT

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI

23.
NGHỆ THUẬT TIỂUTHUYẾT

Mỗi một nhà văn viết tiểu thuyết đều có một nghệ thuật riêng. Nghệ thuật tiểu thuyết của Kim Dung là nghệ thuật tiểu thuyết võ hiệp, viết về bọn hào sĩ giang hồ chuyên sống trên đường đao, mũi kiếm. Nghệ thuật ấy vừa kế thừa thủ pháp truyền thống của các nhà văn tiền bối, vừa cách tân theo phong cách hiện đại. Bàn về tiểu thuyết võ hiệp của ông là bàn về sự kế thừa và sự cách tân.

Trước hết, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung là tiểu thuyết chương hồi, kế thừa thủ pháp căn bản, truyền thống của tiểu thuyết Minh - Thanh. Ta lấy ví dụ bộ Tiếu ngạo giang hồ dày 1692 trang (chân thư do Minh Hà xã, Hongkong xuất bản lần thứ 18 với chữ dấu mộc thự tên tác giả) gồm 40 chương. Trước mõi chương hồi có một bức vẽ minh hoạ, lấy ý chính của chương hồi làm chú thích.

Trong văn xuôi của tiểu thuyết, tác giả Kim Dung thường đưa vào những đoạn trích dẫn thi ca, từ phú và đôi khi là các văn kiện lịch sử mà ông sưu tầm được. Thơ ca trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung có thể là thơ ca do chính ông sáng tác. Bản thân Kim Dung là một nhà thơ và cái ý vị Đường thi trong thơ mới của ông đậm đà, lãng mạn một cách bát ngát. Thí dụ bàn về hoa trà trong Thiên Long bát bộ, tác giả viết:

Thanh quần ngọc diện như tương thức
Cửu nguyệt hoa trà mãn lộ khai
(Quần xanh mặt ngọc từng quen biết
Tháng chín, hoa trà rợp lối đi)
Hoặc:
Thanh câu thủy động trà hoa bạch
Hạ cốc vân sinh lệ tử hồng
(Dòng xanh nước gợn hoa trà trắng
Non hạ mây vươn trái vải hồng).

Đó cũng có thể là thơ của những nhà thơ tiền bối được Kim Dung trĩch dẫn để làm rõ ý trong những văn cảnh, những tình huống cụ thể. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Tổ Thiên Thi giảng giải cho Lệnh Hồ Xung nghe loại rượu nào phải uống với loại chén nào. Nói tới rượu Bồ đào phải uống với chén Dạ quang, Tổ Thiên Thu đọc hai câu trong bài Lương Châu từ của Vương Hàn:

Bồ đào mỹ tửu Dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
(Bồ đào rót chén Dạ quang
Muốn say, trên ngựa tiếng đàn giục đi)

Trong cung cách này, toàn bộ nội dung bộ Hiệp khách hành đều trích dẫn từ 54 câu thơ bài Hiệp khách hành của Lý Bạch; toàn bộ nội dung của bộ Tố tâm kiếm (Liên thành quyết) đều trích dẫn thơ của hàng trăm nhà thơ trong Đường thi tuyển tập.

Đưa thi ca, từ phú vào văn xuôi là chuyện không lạ. Đọc Tam quốc diễn nghĩa, Tây du ký, Hồng lâu mộng, Thủy hử, ta bắt gặp hàng trăm bài thơ. Nhưng thơ trong những tác phẩm ấy đơn thuần chỉ là thơ chứng minh, thơ ca nghĩ ngợi, thơ bày tỏ niềm thán phục của người đời sau. Thơ trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung vượt xa hơn, mang một ý nghĩa, một mục tiêu khác. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung nhắc đến một chiêu kiếm của phái Hoa Sơn tên là Vô biên lạc mộc. Bốn từ này lấy từ ý bài thơ Đăng cao của Đỗ Phủ:

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim dịch:
Miên man lá rụng điêu linh
Nước sông cuồn cuộn mông mênh chảy dào

Ngoài trích dẫn thơ, tác giả còn trích dẫn các văn kiện lịch sử, tư liệu lịch sử có thật trong sử Trung Quốc. Trong Thiên Long bát bộ, khi ca ngợi bà thái hậu sáng suốt của triều Tống (bà nội Tống Triết tôn), tác giả đưa luôn nhận xét trong bản tấu chương của nội viện nước Khất Đan khen ngợi tài đức của bà này và lời bàn rằng bà đang buông rèm nhiếp chính, chớ động binh gây hấn với triều Tống. Đoạn tư liệu này chép trong Tống sử.

Viết Lộc Đỉnh ký, khi bàn về quan hệ Trung - Nga, tác giả đưa luôn một đoạn trong bức thư của Sa hoàng gởi cho vua Khang Hy. Những hàng binh Nga trong cuộc chiến trang biên giới được đưa về Bắc Kinh. Vua Khang Hy trọng dụng họ, phiên chế thành một lực lượng quân sự đặc biệt trong Thanh binh, gọi là Nga La Tư tá lĩnh. Khi viết về đoạn này, Kim Dung theo sát tư liệu trong Thanh sử cảo của Lang Viên.

Nhà nghiên cứu Nghiêm Gia Viêm của Đại học Bắc Kinh ca ngợi văn phong của Kim Dung, cho rằng Kim Dung đã nâng văn chương thông tục lên thành thứ văn chương thanh nhã. Tại sao vậy? Kim Dung viết về bọn hào sĩ giang hồ, về những người bình thường Trung Quốc cho nên văn chương luôn luôn có tiếng chửi. Những tiếng "tổ mẹ nó, quân rùa đen đê tiện, phường cho đẻ, con bà ngươi..." luôn luôn hiện diện trong các bộ tiểu thuyết võ hiệp nhưng không làm cho văn chương dơ đi vì nó được đặt vào rất đúng văn cảnh. Văn chương của ông cũng phong phú các thành ngữ, tục ngữ Trung Quốc: "Lá rụng về cội", "Hạ đao đồ tể xuống là thành Phật", "Biển khổ không bờ, quay đầu thấy bến", "Non xanh còn đó, nước biếc vẫn đây, hẹn ngày gặp gỡ"... Những thành ngữ, tục ngữ thông dụng ấy được đặt vào đúng văn cảnh, vào từng tình huống một, tạo ra một giá trị nghệ thuật vừa rộng lại vừa sâu. Người học ít đọc Kim Dung cũng thấy thích mà người học cao đọc Kim Dung cũng thấy thích. Tác phẩm của ông vừa mang tính quần chúng rộng rãi vừa mang tính bác học cao nhã.

Nhưng thủ pháp cao cường nhất của Kim Dung vẫn là kĩ thuật xây dựng cốt truyện. Những bộ tiểu thuyết của ông thường liên quan tới các vấn đề lịch sử, các quốc gia (cũ) trong cộng đồng Trung Quốc, nghĩa là rất rộng lớn nên việc xử lý, kết cấu các tình huống tiểu thuyết phải làm sao cho hợp lý để cuốn hút người đọc ngay từ ban đầu. Ông đã tạo trong tác phẩm những mâu thuẫn chiều dọc giữa nhân vật này và nhân vật khác, giữa tình huống này và tình huống khác. Ông đã tạo trong tác phẩm những mâu thuẫn chiều ngang, hiểu như là sự diễn biến tâm lý phức tạp trong nội tâm từng nhân vật. Ông đã xây dựng những tình huống lạ lùng, tưởng đâu không thể có trong đời, mà rất thật. Tôi xin giới thiệu mấy tình huống để bạn đọc tham cứu.

Một đoạn trong Thiên Long bát bộ gồm các tình huống thế này: Kiều Phong cùng A Châu đến thăm Ôn Khang, được Ôn Khang tiết lộ rằng nhân vật thủ lĩnh đại ca đã đưa người ra Nhạn Môn Quan giết cha mẹ Kiều Phong là Đoàn Chính Thuần. Cả hai quay về vùng Thái Hồ, Giang Nam tìm Đoàn Chính Thuần rửa hận. Khi đến nơi, Kiều Phong chứng kiến cảnh Đoàn Chính Thuần lâm nguy; ông ra tay cứu giúp và ước hẹn cùng Đoàn Chính Thuần canh ba đêm ấy ra chỗ cầu đá để bàn chuyện Nhạn Môn Quan. Đêm ấy, Kiều Phong ngồi cạnh A Châu, hẹn ngày mai trả xong mối thù sẽ cùng nhau về bên kia biên giới, qua thảo nguyên săn chồn đuổi thỏ. Ông ẵm A Châu vào phòng nghỉ trước rồi toạ công và đúng canh ba, ra đi gặp Đoàn Chính Thuần.

Đến nơi hẹn, ông đánh Đoàn Chính Thuần một chưởng và Đoàn Chính Thuần ngã quỵ. Ông lấy làm lạ, nắm Đoàn Chính Thuần đưa lên thì thấy người y nhẹ hều. Hoá ra, đó không phải là Đoàn Chính Thuần; đó chính là A Châu, tình yêu của ông, trái tim của ông. A Châu thuật lại cho ông biết khi mới về Thái Hồ, cô tình cờ hiểu ra Đoàn Chính Thuần là cha ruột của cô nhờ nhìn thấy miếng ngọc bội đeo trên cổ cô em gái là A Tử giống như miếng ngọc bội cô đang có. Nhưng khát vọng trả thù của Kiều Phong cao quá, cô không thể ngăn cản, cũng không thể nói ra sự thật rằng mình là con của Đoàn Chính Thuần. Đêm ấy, cô giả bộ ngủ sớm rồi lén ra đi, gặp Đoàn Chính Thuần huỷ lời ước hẹn. Rồi cô hoá trang - mà kĩ thuật hoá trang của cô rất cao cường - làm Đoàn Chính Thuần, đến cầu đá để chịu một chưởng của Kiều Phong.

Kiều Phong nghe người yêu thuật lại chuyện, đứt từng khúc ruột. Ông bế xác của A Châu kên chạy loạn cả vùng Thái Hồ. Chôn cất A Châu xong, Kiều Phong định tự tử vì không còn muốn sống trên đời nữa. Nhưng chợt nhìn lên bài từ của Đoàn Chính Thuần đề trên lụa treo trên vách, Kiều Phong chợt nhận ra nét chữ của Đoàn Chính Thuần khác hẳn nét chữ của thủ lĩnh đại ca mà ông đã được nhìn thấy. Nghĩa là Đoàn Chính Thuần không phải là thủ lĩnh đại ca. Hoá ra Ôn Khang đã đánh lừa ông; ông đã giết oan A Châu. Nghĩ đến đó, Kiều Phong lại chợt ham sống, sống để tìm ra sự thật, sống để tạ tội giết oan người tình mà ông trọn đời yêu dấu.
Đây là khúc bi ca kinh hoàng nhất, đau thương nhất của Thiên Long bát bộ. Đọc đoạn tiểu thuyết này, người ta có thể đổ nước mắt vì mối thâm tình của A Châu đối với Kiều Phong, vì niềm đau đớn của Kiều Phong không có gì có thể so sánh nổi. Có thể coi Thiên Long bát bộ là một bộ tiểu thuyết tiêu biểu cho phong cách kết cấu câu chuyện của Kim Dung. Những tình huống đan xen, những ngã rẽ bất ngờ dẫn câu chuyện đến những chân trời mới lạ. Đọc hồi này, người ta khó có thể đoán được hồi sau và các hồi kế tiếp.

Kim Dung có khả năng hư cấu tuyệt vời, đẩy những mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm khiến người đọc có cảm giác nhân vật khó thoát khỏi tình huống bi kịch nhất. Nhưng rồi ông giải quyết vẫn đề một cách hết sức khoa học, gọn nhẹ, hợp lý. Tình huống kết thúc một cách tốt đẹp, vượt qua khỏi sự tưởng tượng của bao nhiêu bạn đọc. Ta hãy lấy một ví dụ trong Thiên Long bát bộ.

Trên bược đường giang hồ, Đoàn Dự đã gặp và yêu thương Chung Linh là con của A Bảo, Mộc Uyển Thanh là con của Tần Hồng Miên, Vương Ngữ Yên là con của Vương phu nhân. Mà những nhân vật A Bảo, Tần Hồng Miên, Vương phu nhân đều là người tình của Đoàn Chính Thuần (cha Đoàn Dự). Nói cách khác, các cô gái mà Đoàn Dự đem lòng thương yêu đều là em cùng cha khác mẹ của Đoàn Dự; những mối tình của Đoàn Dự với các cô gái là mối tình loạn luân. Làm sao giải quyết được những mâu thuẫn kinh khủng đó để cứu những mối tình trong trắng?
Kim Dung giải quyết khá tài tình. Trong phút cuối của đời mình, khi Đao Bạch Phụng, mẹ của Đoàn Dự sắp qua đời, bà mới tiết lộ một điều kinh khủng: Đoàn Dự không phải là con của Đoàn Chính Thuần mà là con của gã ăn mày Đoàn Diên Khánh. Bởi căm giận thói trăng hoa lơi lả của Đoàn Chính Thuần, Đao Bạch Phụng đã đem tấm thân vương phi cao quý của mình cho gã ăn mày Đoàn Diên Khánh giao hoan. Cuộc giao hợp chớp nhoáng kì lạ đó đã đẻ ra chàng trai Đoàn Dự. Đoàn Chính Thuần không có cái gien sinh con trai; con tư sinh của Đoàn Chính Thuần toàn là con gái. Và chỉ là đồng tông (cùng họ) nên theo luật hôn nhân của nước Đại Lý, Đoàn Dự có thể lấy tất cả các cô Chung Linh, Mộc Uyển Thanh, Vương Ngữ Yên... mà không cần phải thắc mắc về quan hệ huyết thống, dòng tộc, luân lý đạo đức.

Bản chất của tiểu thuyết là hư cấu. Kim Dung dựa trên nền tảng những sự kiện lịch sử có thật của đất nước Trung Hoa, đẩy khả năng hư cấu bay bổng tuyệt vời. Thí dụ trong Ỷ thiên Đồ long ký, ông cắt nghĩa sự ra đời của nhà Minh là cuộc kháng chiến do quần hùng Minh giáo Trung Hoa thực hiện. Thí dụ trong Thiên Long bát bộ, ông giới thiệu sự tương tranh, tương giao của các thế hệ quân chủ nhà Tống, nhà Liêu, nước Đại Lý, nước Thổ Phồn, nước Tây Hạ và tộc Nữ Chân. Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung có một trình độ hư cấu rất cao cường, nối kết hàng trăm nhân vật lại với nhau trong mối tương giao thật lạ lùng nhưng cũng thật hợp logic.
Kế thừa thủ pháp của các bậc tiền bối, tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung vẫn đưa ra những chi tiết có vẻ hoang đường nhưng tính hoang đường ấy được đặt trên nền tảng cái có thật. Ta lấy thí dụ nội công là khả năng có thật của người học võ. Nội công ấy được rèn luyện nhiều năm, trở thành công lực riêng của từng người. Trên cơ sở đó, Kim Dung hư cấu ra tình huống người này có thể dốc hết công lực để dồn vào cho công lực của người khác; người khác có thể sư dụng môn hấp công để thu hút hết công lực của địch thủ... Nếu các nhân vật Tây du ký đánh bằng phép thì nhân vật của Kim Dung đánh bằng công lực. Một phát chưởng đánh ra giữa không gian, phát thành chưởng phong bao lấy địch thủ, khiến địch thủ phải ngã quỵ, phải chịu thua. Đó là khả năng hư cấu trong kiếm hiệp Kim Dung.

Nếu phương Tây lãng mạn trong hành động thì phương Đông lãng mạn trong tư duy. Tư duy trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung quả thật lãng mạn bay bổng: hái một chiếc lá, ném một cành hoa cũng có thể giết chết địch thủ; phóng một ngón tay ra không trung (cách không chỉ pháp) cũng có thể phong toả đúng huyệt đạo của người cần phong toả.

Như tôi đã giới thiệu, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung được gọi là truyện, ký hoặc lục (Xạ điêu anh hùng truyện, Ỷ thiên Đồ long ký, Thư kiếm ân cừu lục). Văn thể cơ bản của tiểu thuyết Kim Dung là kể chuyện. Thế nhưng, cách kể chuyện của ông cũng rất lạ, rất hấp dẫn bởi trong diễn biến của một câu chuyện đang được ông kể, ông đưa vào đó một nhân vật mới và nhân vật này đã kể lại một câu chuyện đã xảy ra. Câu chuyện ấy áo giá trị như một đoạn phục hiện trong điện ảnh (hay trong kịch nói), nghĩa là nó đi ngược thời gian và thay đổi không gian, hấp dẫn người đọc bước vào một thế giới khác với những tình huống khác mới lạ hơn, lý thú hơn. Thí dụ trong Tiếu ngạo giang hồ, bọn hào sĩ đang bàn về sự giao du giữa Lệnh Hồ Xung đệ tử Hoa Sơn và tên thái hoa dâm tặc Điền Ba Quang. Ai nấy đang tức giận, nguyền rủa hai gã này thì ni cô Nghi Lâm của phái Hằng Sơn xuất hiện. Cô kể lại câu chuyện mình bị Điền Bá Quang bắt cóc định làm nhục, được Lệnh Hồ Xung ra tay cứu viện thế nào; La Nhân Kiệt của phái Thanh Thành nhân cơ hội Lệnh Hồ Xung bị thương nặng đã giết chàng thế nào. Chuyện kể của Nghi Lâm hấp dẫn đến nỗi dù các nhân vật không xuất hiện, người đọc vẫn thấy được đặc điểm, cá tính của từng nhân vật, nhận ra ai là anh hùng, ai là tiểu nhân. Đọc Kim Dung, người ta sảng khoái vì lối hành văn lạ lùng ấy.

Điều lạ là khi cầm đến một tác phẩm của Kim Dung; đọc chương đầu ta không thể bỏ được chương hai, đọc chương hai ta không thể bỏ được chương ba. những tình huống tiểu thuyết của ông uyển chuyển, phản trác, những loại nhân vật của ông không sống theo công thức bình thường của đời người. Tiếu ngạo giang hồ là một tác phẩm tiêu biểu cho nhận định này.

Đọc chương một, chương hai, chương ba của tác phẩm này, ta thương cảm chàng thiếu niên Lâm Bình Chi của Phước Oai tiêu cục lâm vào cảnh nhà tan, cửa nát, cha mẹ bị bắt; phải tìm lên Hành Sơn để cứu song thân, cứu không được cha mẹ, chàng trở thành đệ tử phái Hoa Sơn. Hết quyển thứ nhất, ta vẫn tưởng Lâm Bình Chi là nhân vật trung tâm. Nhưng rồi Lệnh Hồ Xung dần dần hiện ta như một tên lãng tử vô hạnh, một người có tấm lòng nghĩa hiệp cao cả. và người đọc bắt đầu có cảm tình, bắt đầu yêu mến chàng trai đó. Hoá ra đó mới là nhân vật trung tâm của tác phẩm, còn gã Lâm Bình Chi chỉ là một thứ nguỵ quân tử, một anh lại cái. Có thể coi đó là hai khuôn mặt đại biểu cho cách xây dựng nhân vật của Kim Dung.

Trong lối văn chương kể chuyện, thi thoảng Kim Dung cũgn dừng lại tả cảnh, tả tình. Cách tả tình của ông đặc biệt cô đọng, chủ yếu là đưa ra những nét chấm phá để người đọc tự suy luận. Khi yêu Lệnh Hồ Xung, ngày nào Nhạc Linh San cũng giành đem cơm lên núi sám hối cho chàng. Nhưng khi gần gũi Lâm Bình Chi, Nhạc Linh San quên mất đại sư ca, say mê thằng mặt trắng này. Nhạc Linh San là người phương Bắc, Lâm Bình Chi là người phương Nam. Lâm Bình Chi đã dạy cho Nhạc Linh San hát khúc sơn ca Phúc Kiến. Mô tả tâm tình của Lệnh Hồ Xung, Kim Dung viết: "Nhạc Linh San quay mình đi xuống núi, không nói một lời. Bỗng nhiên, giọng sơn ca Phúc Kiến "chị em lên núi hái chè" vang lên. Lệnh Hồ Xung nghe khúc sơn ca mà nát ngọc tan hồn, tưởng bị ai đánh mạnh một chuỳ vào ngực". Tác giả dừng lại ở đó để bạn đọc hiểu thế nào thì hiểu.

Cũng như tả tình, Kim Dung tả cảnh với những nét chấm phá. Thí dụ mùa xuân: "Làn gió mát ru êm cành liễu. Hương hoa thơm say đắm lòng người. Trời đang vào mùa xuân, ánh dương quang chói lọi khắp miền Nam". Đây là cảnh xuân ở thành Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến trong Tiếu ngạo giang hồ. Còn đây là cảnh Cung kiếm hồ ở núi Vô Lượng, Vân Nam: "Bên trái sườn núi là giải thác lớn trắng phau trông như một con rồng treo lơ lửng trên không cuồn cuộn đổ xuống một cái hồ trong vắt, rộng mênh mông không thấy bờ bên kia... Trên mặt hồ, chỉ có chỗ thác đổ vào là nước chảy quanh co, sóng vỗ bì bõm, càn xa hơn từ mười trượng trở đi lại phẳng phiu giống như một tầm gương khổng lồ".

Đọc Kim Dung, ta thấy phong cảnh thiên nhiên, bao la, hùng vĩ, lãng mạn, tươi đẹp hiện ra bốn mùa: tuyết trắng phủ Thiên Sơn, đàn hồng nhạn bay qua Nhạn Môn Quan, sông Tiền Đường sóng vỗ ầm ỳ, chùa Thiếu Lâm ngàn năm nấp sau rừng tung cách sum sê, hoa hồng lăng nở rộ mặt Thái Hồ mùa thu nước biếc... Có lẽ ông đi nhiều, thấy nhiều, biết nhiều nên kiến thức về địa lý học, hoa học, phong tục học rất uyên bác. Ông viết về một thứ văn chương giàu tính nghệ thuật, lôi cuốn, hấp dân khiền người ta đọc mà không thế chán. Các học giả Trung Quốc đã tặng cho Kim Dung một huy chương tinh thần về cách sử dụng kim văn để viết tiểu thuyết.
Sự thành công của Kim Dung chính là sự thành công của văn học Trung Quốc hiện đại.Ông được xếp vào một trong 10 nhà văn lớn của dân tộc Trung Hoa và hai tác phẩm của ông được chọn là hai tác phẩm để đời cho văn học Trung Quốc.

Phải nhìn nhận một điều: tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung là một loại hình tiểu thuyết khác hẳn với những tiểu thuyết viết về anh hùng hào kiệt thời Minh - Thanh, khác hẳn với các loại tiểu thuyết võ hiệp của các tác giả khá cùng thời, lại khác xa với Les trois mousquetaires (Ba chàng Ngự lâm pháo thủ) của Alexandre Dumas (cha); càng khác xa với những kịch bản phim cao bồi của Viễn Tây Hoa Kỳ. Nó là tiểu thuyết võ hiệp kim văn mới lạ. làm say mê hàng tỷ độc giả trên thế giới, trong đó có độc giả Việt Nam. Sự đóng góp của Kim Dung cho văn học Trung Quốc và thế giới như vậy là khá lớn lao. Ông xứng đáng là minh chủ của nền văn học võ hiệp.