Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

DZUI DZUI HALLOWEEN

DZUI DZUI HALLOWEEN
(Ngũ độ thanh)

Yêu rồi vất vưởng tựa hồn ma
Kiểu nghiện xì-ke* mãi ấy mà
Mỗi buổi âm thầm qua mặt má
Bao lần lặng lẽ dối lừa ba
Ngoài sông hẹn tuốt khu mồ mả
Giữa cảnh xa lìa mắt mẹ cha
Quãng cỏ xanh rì như đám mạ
Cần chi nệm mút lẫn chăn nhà


HANSY
*Ma túy
******************************************
Họa:
1.
HAPPY HALLOWEEN
Thõng thượt bên hồ đủ bóng ma
Mờ trong gốc liễu bộ xương mà
Đằng kia nhện mắc ngang đường cả
Sát cạnh dơi vờn ở ngã ba
Bỗng giật mình quan tài mở gá
Song lè lưỡi quỷ sứ làm cha 
Đêm thần chết nhảy quanh giường dọa 
Lễ hội đùa vui đến cửa nhà
+Minh Hien 
2.
MA DỎM
(+Minh Hien)
Lễ hội đùa vui đến cửa nhà 
Tưng bừng con cái hóa thành cha 
Lêu nghêu chóp mũ ông thầy cả
Loẳng ngoẳng bên sườn cái chĩa ba 
Đen nhẻm toàn thân ghê rợn á
Trắng nhờ hốc mắt sởn gai mà
Nhào dzô cứ việc vui đùa đã
Thõng thượt bên hồ đủ bóng ma
+Poet Hansy 
3.
Y ĐỀ
Cần chi nệm mút lẫn chăn nhà
Gặp gỡ âm thầm khỏi thấy cha
Thoải mái tòng ten ngoài bãi rạ
Tha hồ tán tỉnh cạnh hàng ba
Thương người dẫu lén nhưng là lạ
Hẹn kẻ dù chui cũng thích mà
Cái kiểu như vầy ôi thật đã...
Yêu rồi vất vưởng tựa hồn ma
+Hoccachquen Motnguoi 
4.
MUỐN LÀM CHA
(+Hoccachquen Motnguoi)
Tha hồ tán tỉnh cạnh hàng ba 
Quỷ sứ giỡn chơi cũng thú mà 
Rất lẹ hóa thành đôi cục đá
Chớp nhòa hô biến một hình ma 
Đầu têu thọc lét vào nơi cả
Rắn mắt hù oai ở góc nhà 
Thích chí mình ta cười hể hả
Thêm đòi muốn được cảnh làm cha
(Hahaahahahahaha)
+Poet Hansy 
5.
HALLOWEEN VUI VẺ
Bạn lỡ yêu nhầm phải bóng ma
Thì sao chuyện đó cũng vui mà
Khi thì gặp gỡ ngay bờ xả
Lúc lại tang tình ở ngã ba
Ái cảm trào dâng hòa bãi mạ
Khung trời mở rộng ngỡ hồn cha
Yêu cuồng thích hẹn quanh mồ mả
Lãng mạn còn hơn ở gác nhà
+Kiều Ngọc Tuyết 
6.
NHẢY CHACHACHA
(+Kiều Ngọc Tuyết)
Lãng mạn còn hơn ở gác nhà 
Kẻ thì làm gái đứa mần cha 
Cô kia hóa phép thành ra mạ
Mụ nọ xuất hàng lại giống ba 
Có muốn tung nhè không đấy hả
Hoặc thi nhảy cỡn để dzui mà
Hóa trang chả biết quen hay lạ
Bạn lỡ yêu nhầm phải bóng ma
+Poet Hansy 
7.
MA TRÔI HALLOWEEN
Trên đời tri kỷ thiếu gì ma
Kiếm ở trần gian đủ cỡ mà
Lãng nhãng trên phây đầy bóng má
Lờ đờ giữa mạng lắm hồn ba
Lời thơ dịu ngọt đong đưa bả
Tiếng nhạc êm đềm lả lướt cha
Đẹp lớp sơn ngoài đâu thật giả
Vừa khi tá hỏa đã hư nhà
+Vô Tư
8.
THIẾU GÌ MA
(+Vô Tư)
Vừa khi tá hỏa đã hư nhà 
Kiểu này thôi ngoẻo rạc đường cha 
Hiện tại nhẫn vòng còn lưng hộp
Ngày nao vàng bạc mứa thừa ba 
Thế nên rách việc hoài thôi ạ
Cũng bởi ham vui chút ấy mà
Tỉnh ngộ thiên đường đâu nỏ thấy
Trên đời tri kỷ thiếu gì ma
+Poet Hansy 
9.
SỢ MA
Mấy bữa hôm rồi kể chuyện ma
Trời ơi khủng khiếp thật cơ mà
Nghe rồi chạy ẩn bờ vai má
Nghĩ lại ôm ghì cả bóng cha
Cũng bởi tin vào tranh truyện nhá
Nên giờ chẳng dám gặp dì ba
Vì hay gạ gẫm ra bờ mả
Sợ lắm từ nay sẽ ở nhà
+Anh Khoa Nguyễn 
10.
TỞN MA
(+Anh Khoa Nguyễn)
Sợ lắm từ nay sẽ ở nhà 
Ngoài đường quỷ sứ ghé hàng ba 
Trời khuya e phải vô giường má
Buổi sớm chắc thì đến chỗ cha 
Hù dọa làm chi hoài ngán á
Cợt trêu những ấy mãi run mà
Gặp khi vận xấu thân người rã
Mấy bữa hôm rồi kể chuyện ma
+Poet Hansy 
11.
MA YÊU
Khủng khiếp sau hè một bóng ma
Thường hay ghẹo nữ ở quanh mà
Cô nào lộng lẫy đưa về mả
Các ẻm ngời xinh gạt đến nhà
Tiếng ngọt ru thầm như giọng má
Câu ngào thả nhẹ giống lời cha
Làm ngây ngất dạ bao nàng nhá
Gạ hết cô dì lẫn thím ba
+Khánh Duy 
12.
NGÁN MA
(+Khánh Duy)
Gạ hết cô dì lẫn thím ba 
Nhiều tên nhỏ xíu muốn làm cha 
Mình lo trữ sẵn vài viên đá
Chúng hết loanh quanh chỗ góc nhà 
Sao cứ quấy rầy luôn thế hả
Lại thêm lộn xộn mãi ru mà 
Hằng đêm lờ lượn nhào dzô phá
Khủng khiếp sau hè một bóng ma
+Poet Hansy 
13.
NHỚ NHÀ
Bệnh hiểm lâu ngày tựa xác ma
Hồn ngơ thể héo tả tơi mà
Đau nhiều cũng bởi quên lời má
Nghiệt lắm do vì thiếu bóng cha
Nhớ mãi hôm nào con tuốt rạ
Mơ hoài cái thuở trẻ cùng ba
Mà nay cách trở sao buồn quá
Chỉ ước lần quay trở lại nhà
+Huyền Trang 
14.
CẦU XIN
(+Huyền Trang)
Chỉ ước lần quay trở lại nhà 
Vui vầy hôm sớm với tình ba 
Chiều thơm trong gió mùi hương rạ
Sáng lộng bên đìa tiếng nói cha 
Cũng bởi bơ phờ thân sụt ná
Rồi thêm mệt mỏi trí hao mà 
Cầu xin thoát được niềm đau lả
Bệnh hiểm lâu ngày tựa xác ma
+Poet Hansy 
15.
LẮM MA
Phen này giả bộ NHỮNG hồn ma
Bóp cổ VÀI tên sẽ gục mà
Nhảy đến lìa thân rời vỡ VẠN
Xông vào chặt khúc bổ làm BA
Kìa xem MẤY mặt đều phô mả
Để thấy BAO thằng vẫn dựa cha 
Ở chốn KHÔNG người sao ngỡ lạ
Hàng TRĂM bóng ảo hiện sau nhà
+Minh Hien 
16.
TÉ RA
(+Minh Hien)
Hàng TRĂM bóng ảo hiện sau nhà 
MỘT đấng cao nghều vẻ điệu cha 
Luống cuống DĂM chàng vô đống rạ
Chần chừ BỐN kẻ nép hàng ba 
Trầm TƯ mệt óc hầy không nhá
LỤC lọi rã thân chẳng có mà
Té nỏ phải gì THIÊN biến cả
Phen này giả bộ NHỮNG hồn ma
+Poet Hansy 
17.
VUI CÙNG QUÍ HỮU
Các bạn chơi gì cái vận ma
Làm tôi họa mãi chẳng xong mà
Khi thì lụm chữ quăng bờ rạ
Lúc rảnh đem từ ném ngã ba
Cũng bởi cuồng si gờ cộng cả...
Vì do cảm mến chủ trang nhà
Nên đành gắng gượng mò câu nhá
Viết thử thơ dù cả tháng ba
+Nguyễn Tấn Tài 
18.
CỨ NHÀO DZÔ
(+Nguyễn Tấn Tài)
Viết thử thơ dù cả tháng ba 
Cứ vui xướng họa ở trang nhà 
Từ suôn kẹp nghĩa thành câu má
Ý đẹp xuôi vần hóa chữ cha 
Chớ ngại lu mờ theo tới á
Đừng lo tịt tuốt rán đi mà
Hồn trăng bóng quế toàn mu giả
Các bạn chơi gì cái vận ma
+Poet Hansy 
19.
GIẢ MA
Gạt gẫm anh làm thử bóng ma
Rồi xem cảnh tượng trước sau mà
Ngờ đâu vấp cẳng làm đau mạ
Lỡ chạy va đầu trúng phải cha
Cứ ngỡ chơi vầy như cậu cả
Ai dè giỡn cợt đúng bà ba
Làm cho mọi thứ thành tơi tả
Xíu nữa là treo ở cột nhà 
+Hoccachquen Motnguoi 
20.
THÔI  ĐỪNG
(+Hoccachquen Motnguoi)
Xíu nữa là treo ở cột nhà 
May nhờ mắt sáng của thầy Ba 
Chứ không lãnh đủ roi từ má
Hay phải mập mình gậy ở cha 
Chớ chớ đùa dai người ấy ạ
Xin xin giỡn mãi quỷ kia mà
Coi chừng có bữa ăn toàn đá
Gạt gẫm anh làm thử bóng ma
+Poet Hansy 
21.
ĐỪNG SỢ
Sắp sửa qua ngày lễ hội ma
Người ơi chớ sợ có anh mà
Vì vui mới rủ em về má
Bởi thích nên mời nhỏ xuống cha
Chả nghĩ nhiều chi mồ với mả
Không màng lắm chuyện bốn và ba
Yêu rồi mọi thứ đều suôn cả
Chỉ muốn nàng thơ gõ cửa nhà
+Anh Khoa Nguyễn 
22.
MẶC NGÀY QUA
(+Anh Khoa Nguyễn)
Chỉ muốn nàng thơ gõ cửa nhà 
Tay duồng bàn phím nảy vần ba 
Trời xanh ngát hẩy cành hoa lá
Đất mượt thơm lừng một giọng cha 
Lãng đãng bên bờ vui hết cả
Lai rai giữa cõi ướm thôi mà
Nồng duyên em hỡi hoài thương nhá
Sắp sửa qua ngày lễ hội ma 
+Poet Hansy 
23.
NGHIỆN HÚT
Kẻ đã suy đồi hóa mặt ma
Vì say thuốc phiện cũng lâu mà
Nhanh tay tất cả xoay tiền má 
Đảo mắt bao lần cưỡng bạc cha
Đạo đức chôn vùi quanh dẫy mả
Mưu đồ đổ vỡ góc nhà ba 
Ngu đần vấy phải lời lăng mạ
Đáng chịu lìa thân, ngã cả nhà.
+Thanh Cường Võ
24.
VŨNG LẦY MA TÚY
(+Thanh Cường Võ)
Đáng chịu lìa thân, ngã cả nhà 
Một mình sa bẫy khổ thành ba 
Tâm hèn liên lụy đau đời má
Tội lệ nhây nhờ buốt kiếp cha 
Có biết lầm mê là khốn hả
Nào hay trụy lạc ấy vứt mà
Công ơn phụ mẫu làm sao trả
Kẻ đã suy đồi hóa mặt ma
+Poet Hansy 
25.
GOOD NIGHT
Bây giờ sắp sửa đến canh ba
Tớ ngủ trước đây nhé cả nhà
Chúc bạn tối này vui vẻ nhá
Mừng anh lễ hội sướng tê mà
Coi chừng thức vậy sưng gò má
Nếu nhỡ chơi vầy gặp lũ ma
Cứ vẫy tay chào êm ấm cả
Không thì bảo nó gọi là cha
+Kiều Ngọc Tuyết 
26.
MA MEN XỈN NÓI SẢNG
(+Kiều Ngọc Tuyết )
Không thì bảo nó gọi là cha 
Cái lũ ơn trời kiếp quỷ ma 
Tối lửa tắt đèn e đụng đá
Ngăn đường rào giậu biết đâu nhà
Vì đâu lũ lượt đi hoài hả
Chắc hẳn long nhong suốt ấy mà 
Nhậu xỉn say mèn luôn vấp ngã
Bây giờ chắc đã quá canh ba
+Poet Hansy 
27.
GOOD MORNING

Sáng dậy ra đường chẳng thấy ba
Nhìn quanh mọi thứ cũng y mà
Sau vườn các bác đang trồng mạ
Trước cổng em mình quấn quýt cha
Nhớ chuyện hồi hôm toàn dối cả
Nào đâu có việc quỹ vô nhà
Vì sao lại bảo ôi kì lạ
Chẳng nhẽ do vì lễ hội ma
+Hoccachquen Motnguoi 






CÁC LOẠI LỖI DÙNG TỪ

CÁC LOẠI LỖI DÙNG TỪ

1- Cơ sở phân loại lỗi dùng từ.

Thông thường, sự chính xác của từ, ngữ được xét dựa trên hai cơ sở, đó là trục lựa chọn, tức trục đối vị và trục kết hợp, tức trục ngữ đoạn. Ngược lại, sự vi phạm tính chuẩn mực của từ ngữ cũng bộc lộ qua hai trục này. Một từ có ý nghĩa là nhờ vào những thế đối lập trên hai trục lựa chọn và kết hợp. Cũng từ đó, giáo viên mới đưa ra được những phương pháp sửa chữa lỗi dùng từ của học sinh, với mục đích giúp họ hiểu đúng, viết đúng và nói đúng 3. Do đó có thể phân loại lỗi dùng từ của học sinh, với mục đích giúp họ hiểu đúng, viết đúng và nói đúng[1]. Do đó, có thể phân loại lỗi dùng từ, ngữ dựa trên cơ sở hai trục vừa nêu. Dựa vào hai trục này, lỗi dùng từ, ngữ chia thành hai loại lớn : lỗi lựa chọn và lỗi kết hợp. Mỗi loại lỗi được chia thành nhiều kiểu lỗi sai nhỏ hơn, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hiện tượng sai.

2. Lỗi lựa chọn :

Nói đến lỗi lựa chọn từ, chủ yếu là xét qua hai mối quan hệ :

- Giữa nội dung muốn biểu đạt với nghĩa của từ được dùng ;

- Giữa giá trị phong cách của từ được dùng với phong cách ngôn ngữ văn bản.

Trên cơ sở đó, lỗi lựa chọn từ được chia thành ba kiểu lỗi sai nhỏ :

2.1. Chọn sai từ :

Chọn sai từ là chọn từ mà nghĩa của nó không phù hợp với nội dung muốn biểu đạt, tức khái niệm, hành động, tính chất, trạng thái ... mà người viết muốn nói đến. Nói cách khác, chọn sai từ là hiện tượng nghĩa của từ được dùng và nội dung muốn biểu đạt có sự chênh lệch ở mức độ này hay mức độ khác.

Xem xét các ví dụ dưới đây :

(a) ... và người dân là một miếng ăn của bọn chúng (bọn quan lại phong kiến)(BVHS).

(B) Tất cả mọi hành động, suy nghĩ của mình, chị Út đều dồn vào tương lai của đàn con(BVHS).

© Trái lại, lũ quan lại dưới triều đình chỉ biết hợp tác với nhau, dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để bóc lột nhân dân, ăn chơi xa xỉ (BVHS).

(d) Tuy nhà thơ yêu vội vã, say mê nhưng biết giới hạn niềm say mê nồng nhiệt của mình, không rơi vào thác oan (BVHS)

(e) Ðối với vợ, anh Trỗi hết lòng nuông chiều(BVHS)

Trong ví dụ (a) , miếng ăn có nghĩa là cái dùng để ăn, để nuôi sống bọn quan lại phong kiến, theo nghĩa đen của nó. Miếng ăn hoàn toàn không phù hợp với nội dung mà học sinh muốn biểu đạt : người gánh chịu hậu quả, tai họa.

Trong ví dụ (B), dồncó nghĩa là : cùng một lúc tập trung tất cả cả yếu tố, bộ phận vào một nơi, một vật chứa đựng nào đó. Nhưng nội dung mà học sinh muốn biểu đạt là nhắm vào, hướng về : chị Út hướng tất cả mọi suy nghĩ, hành động của chị vào tương lai của đàn con.

Trong ví dụ ©, có ba từ chọn sai : dưới, hợp tác, xa xỉ. Dướichỉ vị trí thấp hơn trong không gian so với một vị trí xác định nào đó, hay thấp hơn các vị trí khác nói chung. Nghĩa của từ dướitrong câu không phù hợp với nội dung muốn biểu đạt : thuộc phạm vi. Còn hợp táccó nghĩa là : cùng chung sức với nhau trong một công việc, một lãnh vực hoạt động nào đó, nhằm một mục đích chung. Nói hợp tác còn bao hàm sự đánh giá cao, tốt đẹp. Nhưng nội dung mà học sinh muốn biểu đạt là : hợp thành một phe cánh, một lực lượng để thực hiện âm mưu, hành động xấu xa. Xa xỉ có nghĩa là : tốn nhiều tiền mà không thật cần thiết, chưa cần thiết. So với nội dung muốn biểu đạt : quá sang trọng và mang tính chất lãng phí, thì nghĩa của từ xa xỉ hoàn toàn không phù hợp.

Trong ví dụ (d), nội dung mà học sinh muốn biểu đạt là : ở trạng thái hỗn loạn, không coön giữ trật tự, nền nếp bình thường. Nội dung muốn biểu đạt đó hoàn toàn không phù hợp với nghĩa của từ thác oan : chết một cách oan ức, lẽ ra không phải chết.

Cuối cùng, trong ví dụ (e), nghĩa của từ nuông chiềucó phần lệch lạc so với nội dung muốn biểu đạt. Nuông chiềucó nghĩa là : chiều người dưới một cách quá đáng, vô lí. Nhưng nội dung mà học sinh muốn nói về anh Trỗi là : ân cần chăm sóc với tất cả tình cảm thương yêu (đối với vợ). Hơn thế nữa, nói anh Trỗi nuông chiều vợ còn bao hàm sự phê phán.

Xem lại các ví dụ (a), (B), ©, (d) ở mục 1.1. Các từ hắt hơi, gan ruột, đâm chĩa, câu trong các ví dụ này cũng thuộc lỗi chọn sai từ.

Chọn câu sai từ có biểu hiện khá đa dạng. Có trường hợp chỉ sai nghĩa cơ bản. Chẳng hạn như các từ miếng ăn, dồn, dưới, xa xỉ, thác oan trong các ví dụ vừa dẫn. Có trường hợp vừa sai nghĩa cơ bản (nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu vật), vừa sai cả nghĩa biểu thái (thành phần nghĩa biểu thị thái độ đánh giá của người viết đối với đối tượng được nói đến). Ðó là trường hợp từ hợp tác, nuông chiều đã dẫn.

Nguyên nhân chủ yếu của lỗi chọn sai từ là do học sinh hiểu nghĩa của từ một cách lơ mờ, thiếu chính xác, hay do nhầm lẫn nghĩa của từ này với nghĩa của từ khác. Thực tế bài viết của học sinh cho thấy, xét về mặt số lượng âm tiết và về nguồn gốc của từ, đa số các trường hợp chọn sai là rơi vào từ đa âm tiết, trong đó từ Hán - Việt chiếm tỉ lệ rất cao. Và ở đây, sự lẫn lộn về nghĩa dẫn đến chọn sai thường xảy ra giữa các từ hai âm tiết, trong đó có một âm tiết giống nhau hay gần gũi nhau về vần. Chẳng hạn như giữa đào thảivới sa thải xa xỉ với xa hoa, trấn áp với đàn áp, khêu gợi với khơi dậy, thác loạn với thác oanv.v... Còn hiện tượng chọn sai từ đơn âm lại thường rơi vào từ thuần Việt. Và đa số các trường hợp chọn sai là do học sinh tự phát muốn dùng những các từ đơn tiết với nghĩa bóng, nghĩa trừu tượng nào đó, nhưng văn cảnh không cho phép. Từ dồn vừa nêu là một ví dụ tiêu biểu.

Xét về mặt từ loại, trong bài viết của học sinh, hiện tượng chọn sai từ thường tập trung vào lớp từ thực (danh từ, động từ, tính từ). Hiện tượng chọn sai đối với lớp từ hư xuất hiện ít hơn.

Chọn sai từ tất nhiên sẽ làm cho nội dung biểu đạt của câu lệch lạc, ngô nghê. Thậm chí, có trường hợp chọn sai dẫn đến nghĩa của câu mâu thuẫn với ý đồ biểu đạt của người viết.

Ví dụ:

Ðã quen có người bao bọc, thời gian đầu mặc áo sinh viên, tôi không cảm thấy bơ vơ...(TNH 1993).

Xét về mặt ý đồ muốn biểu đạt, đối tượng được nói đến trong câu là một người vốn được đồng đội, anh em nuôi dưỡng, chăm sóc, đùm bọc chu đáo. Nhưng rồi anh đi học đại học, thời gian đầu, phải sống tự lập giữa một môi trường xa lạ, không bạn bè thân thích, không được chăm sóc, đùm bọc như trước. Hoàn cảnh ấy tất nhiên làm cho anh cảm thấy bơ vơ, lạc lõng. Căn cứ vào ý đồ biểu đạt, ta thấy tác giả đã chọn sai hai từ : bao bọc, không. Bao bọccó nghĩa : làm thành một lớp che chắn khắp chung quanh một sự vật, không phù hợp với nội dung muốn biểu đạt. Có lẽ do người viết lẫn lộn giữa bảo bọcvà bao bọc, hay do in ấn sai sót. Lỗi sai này có thể cho qua. Lỗi thứ hai mới đáng nói. Phó từ khôngbiểu thị ý nghĩa phủ định. Tác giả viết : ...không cảm thấy bơ vơ là ngược lại ý đồ biểu đạt. Lẽ ra phải viết : ...không khỏi cảm thấy bơ vơmới chính xác.

Sửa chữa lỗi chọn sai từ, trước hết, chúng ta căn cứ vào văn cảnh của cả câu để phát hiện, xác định nội dung mà học sinh muốn biểu đạt, tức khái niệm, sự vật, hành động, tính chất... mà học sinh muốn đề cập đến. Trên cơ sở đó, liên hệ đến những đơn vị từ vựng có nghĩa tương ứng, chọn ra đơn vị thích hợp nhất và thay thế cho từ bị chọn sai. Có thể chọn một từ hay chọn một liên hợp song song gồm hai, ba từ để thay thế, tùy vào lỗi sai cụ thể.

Chẳng hạn, các trường hợp chọn sai đã dẫn có thể được sửa chữa như sau :

(a) ... và người dân là nạn nhân của bọn chúng.

(B) Tất cả mọi hành động, suy nghĩ của mình, chị Út đều hướng về tương lai của đàn con..

© Trái lại, lũ quan lại trong triều đình chỉ biết cấu kết với nhau, dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để bóc lột nhân dân, ăn chơi xa hoa.

(d) Tuy nhà thơ yêu vội vã, say mê nhưng biết giới hạn niềm say mê nồng nhiệt của mình, không rơi vào thác loạn.

(e) Ðối với vợ, anh Trỗi hết lòng thương yêu, chăm sóc.

2.2. Chọn từ, ngữ sáo rỗng :

Tữ, ngữ sáo rỗng là những từ, ngữ đọc lên nghe rất kêu (sáo), nhưng nghĩa của chúng vượt quá tính chất, mức độ cần thiết so với nội dung muốn biểu đạt, trở nên cường điệu, huênh hoang, rỗng tuếch.

(a) Bài thơ Tiếng rucủa Tố Hữu (...) là một đỉnh cao muôn trượng (BVHS).

(B) Chúng ta phải ra sức học tập để góp một phần công lao vĩ đại của mình đưa đất nước tiến lên tầm cao thời đại(BVHS).

© Nếu đời sống là nguồn cảm hứng dồi dào, mang đậm hương vị mặn mà của tiếng lòng nhân ái, thì thời đại là ánh hào quang trong băng giá, xua tan mây mù cho ánh sáng tràn theo với rực rỡ nắng và hoa lung linh màu sắc (BVHS).

Trong ví dụ (a), học sinh đã đánh giá bài thơ Tiếng rucủa Tố Hữu là đỉnh cao muôn trượng(!). Một bài thơ, dù là thành công đến đâu, cũng khó mà đạt đến đỉnh cao muôn trượng.

Trong ví dụ (B), học sinh muốn đóng góp một phần- chỉ một phần thôi - công lao vĩ đạicủa mình để đưa nước nhà tiến lên tầm cao của thời đại. Quả là quá huênh hoang, đại ngôn.

Trong ví dụ ©, hàng loạt cụm từ được trau chuốt bóng bảy, mượt mà, được dùng để ngợi ca thời đại, chẳng rõ là thời đại nào. Nhưng nghĩa của các cụm từ này và nghĩa của cả câu hết sức tù mù, khó mà hiểu chính xác được.

Thật ra, nếu xét một cách nghiêm ngặt, thì hiện tượng dùng từ, ngữ sáo rỗng cũng thuộc kiểu lỗi chọn sai từ. Bởi vì, sự sai lạc của hiện tượng này thể hiện ở sự chênh lệch, không hoàn toàn trùng khít giữa nội dung muốn biểu đạt và nghĩa của từ, ngữ được dùng. Nhưng ở đây, chúng tôi tách ra thành một kiểu lỗi riêng để tiện cho việc xem xét, sửa chữa.

Trong bài viết của học sinh, loại lỗi này xuất hiện không nhiều, và chỉ tập trung ở một số bài.

Nguyên nhân dẫn đến lỗi sai này là, một mặt do học sinh không xác định một cách rõ ràng, cụ thể nội dung muốn biểu đạt ; mặt khác, lại muốn trau chuốt, gọt giũa từ ngữ cho ra văn vẻ. Vì thế, học sinh thường lắp ghép từ, ngữ vốn được dùng trong tác phẩm nào đó vào câu văn của mình một cách máy móc, tùy tiện, nhưng lại không hiểu rõ nghĩa của những từ, ngữ ấy.

Sửa chữa lỗi chọn từ, ngữ sáo rỗng, trước hết, chúng ta dựa vào văn cảnh của câu để xác định một cách cụ thể nội dung mà học sinh muốn biểu đạt. Trên cơ sở đó, chọn từ, ngữ thích hợp thay thế những từ, ngữ sáo rỗng. Nếu thấy cần thiết, có thể thay đổi cách diễn đạt. Ðối với trường hợp câu văn có quá nhiều từ, ngữ sáo rỗng , làm cho nghĩa của câu quá mơ hồ, không thể hiểu rõ được, có thể không cần sửa chữa. Chẳng hạn như ví dụ © vừa dẫn.

Các câu (a), (B) có thể sửa chữa như sau :

(a) Bài thơ Tiếng rulà một trong những thành công nổi bật của Tố Hữu.

(B) Chúng ta phải ra sức học tập để sau này (có thể) đóng góp một phần công sức nhỏ của mình vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

2.3. Chọn từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bản :

Từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bản là những từ, ngữ mà giá trị phong cách của nó không phù hợp với phong cách ngôn ngữ văn bản.

Cũng giống như các ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, không phải tất cả các đơn vị từ vựng và cụm từ cố định đều có thể sử dụng trong tất cả các lãnh vực giao tiếp. Mà ở đây, thường xảy ra hiện tượng chuyên dùng, tức là việc ưu tiên sử dụng từ, cụm từ cố định hay có xu hướng cố định hóa trong từng lãnh vực giao tiếp khác nhau. Giá trị phong cách của từ, ngữ là nét nghĩa phụ của từ, ngữ, cho biết từ, ngữ thường được ưu tiên sử dụng trong phạm vi giao tiếp nào, tức là phong cách ngôn ngữ nào (trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên hay phong cách ngôn ngữ gọt giũa, trong phong cách ngôn ngữ hành chánh, khoa học hay phong cách ngôn ngữ văn chương...). Nếu một từ, ngữ nào đó vốn được chuyên dùng trong phong cách ngôn ngữ này, nhưng học sinh lại sử dụng trong phong cách khác, thì đó chính là hiện tượng chọn từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bản.

Trong bài viết của học sinh, kiểu lỗi này thường thể hiện ở việc sử dụng các đơn vị từ vựng, các cụm từ cố định hay có xu hướng cố định hóa thuộc phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Mà bài viết của học sinh lại thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học. Do đó, các từ, cụm từ này trở thành lỗi sai.

Ví dụ:

(a) Ðọc tác phẩm, em thấy thương yêu và caøm phục anh Trỗi, chị Quyên quá chừng !(BVHS).

(B) Chị Út Tịch là một người phụ nữ anh hùng quá xá cỡ !”(BVHS).

© Vợ chồng Nghị Quế tàn ác hết chỗ nói ! (BVHS).

(d) Ðọc hai câu thơ này, ta cứ ngỡ như Phan Bội Châu vẫn còn đâu đây, lòng chúng ta dâng lên niềm cảm xúc, ta thấy thương ông làm sao ấy.(BVSV).

Trong các ví dụ trên, các tổ hợp từ quá chừng, quá xá cỡ, hết chỗ nói, làm sao ấy thường xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, chúng thuộc phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Dùng những tổ hợp này trong bài viết là sai phong cách ngôn ngữ văn bản.

Hiện tượng chọn từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bản trong bài viết của học sinh không nhiều. Lỗi này chỉ xuất hiện rải rác trong một số bài, và bài có phạm lỗi, thường cũng không quá hai, ba trường hợp.

Nguyên nhân dẫn đến chọn từ, ngữ sai phong cách ngôn ngữ văn bản chủ yếu là do học sinh không hiểu rõ giá trị phong cách của từ ngữ cũng như đặc điểm của các phong cách ngôn ngữ khác nhau.

Sửa kiểu lỗi này, trước hết cần xác định nội dung học sinh muốn biểu đạt, dựa vào từ, ngữ đã chọn sai. Trên cơ sở đó, chọn lựa từ, ngữ khác, phù hợp với phong cách ngôn ngữ, để thay thế.

Bốn trường hợp chọn sai vừa dẫn có thể sửa chữa như sau :

(a) Ðọc tác phẩm, em thấy thương yêu và cảm phục anh Trỗi, Chị Quyên vô cùng.

(B) Chị Út Tịch là một người phụ nữ rất đỗi anh hùng.

© Vợ chồng Nghị Quế (thật) vô cùng tàn ác.

(d) Ðọc hai câu thơ này, ta cứ ngỡ như Phan Bội Châu vẫn còn đâu đây, lòng chúng ta dâng lên niềm cảm xúc, ta thấy thương ông vô hạn.

bacsigiadinh - June 9, 2006 01:25 AM (GMT)
(Tiếp theo)

3. Lỗi kết hợp :

Lỗi kết hợp là loại lỗi dùng từ, ngữ được xét qua mối quan hệ về nghĩa từ vựng giữa các từ, ngữ trong cấu tạo cụm từ. Dựa vào đặc điểm, tính chất của các hiện tượng vi phạm, có thể chia lỗi kết hợp thành các kiểu lỗi nhỏ như : kết hợp sai nghĩa từ vựng, kết hợp trùng lặp, thừa từ và so sánh khập khễnh.

3.1. Kết hợp sai nghĩa từ vựng :

Kết hợp sai nghĩa từ vựng là kiểu lỗi sai thể hiện qua hiện tượng kết hợp từ tạo thành cụm từ mà nội dung nghĩa giữa các thành tố không tương hợp với nhau, làm cho nghĩa của cả cụm trở nên luẩn quẩn, mơ hồ hay lệch lạc so với ý đồ biểu đạt.

Xem xét các ví dụ dưới đây :

(a) Vì thế mà văn học thời kì này đã để lại bao tác phẩm quý giá về văn học yêu nước của nhiều tác giả như Nguyễn Ðình Chiểu, Nguyễn Thông ...(BVHS).

(B) Chị Sứ đang nằm trong sự thâm độc của bọn giặc, gần kề cái chết, nhưng chị không hề lo sợ về mình, chỉ nghĩ đến cách mạng, đồng đội(BVHS).

© Chị Út Tịch được giao nhiệm vụ cực kì quan trọng trong khi chị đang có con chưa thành người(BVHS).

(d) Không có miếng ăn, người mẹ không tiếc gì cái chết của chính mình mà chỉ thương cho các con vô tội, phải chết oan uổng “(BVHS).

(e) Nỗi thất vọng của tình yêu còn lớn hơn vì tình yêu dẫn đến không đưa tới hạnh phúc(BVHS).

Trong ví dụ (a) , nội dung biểu đạt của cụm từ bao tác phẩm quý giá về văn học yêu nướclệch lạc, luẩn quẩn. Sự luẩn quẩn này bộc lộ qua mối quan hệ về nghĩa giữa bao tác phẩm quý giávới văn học yêu nước.

Trong ví dụ (B), sự lệch lạc của cụm từ đang nằm trong sự thâm độc của bọn giặc bộc lộ qua mối quan hệ về nghĩa giữa đang nằm với sự thâm độc của bọn giặc. Bởi vì sự thâm độc của bọn giặckhông phải là một phạm vi không gian, cho nên không thể kết hợp với đang nằm.

Trong ví dụ ©, nội dung biểu đạt của cụm từ đang có con chưa thành người có sự mâu thuẫn về nghĩa giữa đang có con với chưa thành người. Ðã nói đang có con thì không thể nói chưa thành người. Bởi vì con ở đây cũng là con người.

Trong ví dụ (d), không tiếc gìkhông tương hợp với cái chết của chính mình. Bởi vì không tiếc gì có nghĩa là : sẵn sàng rời bỏ, sẵn sàng chịu mất đi, chịu hi sinh. Mà cái chết của chính mìnhthì không thể nào là đối tượng của việc sẵn sàng rời bỏ, sẵn sàng chịu mất đi, chịu hi sinh.

Trong câu (e), nội dung biểu đạt của cụm từ dẫn đến không đưa tớicó sự mâu thuẫn về nghĩa giữa dẫn đến với không đưa tới. (Ngoài ra, trong câu này, học sinh còn chọn sai từ của. Phải thay bằng từ trong mới đúng).

Hiện tượng kết hợp sai nghĩa từ vựng có nhiều mức độ khác nhau, dẫn đến hậu quả khác nhau. Kết hợp sai nhẹ sẽ làm cho cụm từ luẩn quẩn hay lệch lạc về nghĩa. Các câu (a), (B) thuộc trường hợp này. Kết hợp sai nặng có thể làm cho các thành tố trong cụm từ mâu thuẫn với nhau về nghĩa. Chẳng hạn như trong các câu ©, (d), (e) đã dẫn.

Trong bài viết của học sinh, lỗi kết hợp sai nghĩa từ vựng xuất hiện khá phổ biến. Hơn 40% bài viết của học sinh mà chúng tôi đã khảo sát vi phạm loại lỗi này. Bài sai ít là một, hai lỗi. Bài sai nhiều lên đến năm, sáu lỗi.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lỗi kết hợp sai nghĩa từ vựng là do tư duy của học sinh thiếu mạch lạc ; học sinh không xác định được một cách rõ ràng, cụ thể nội dung cần biểu đạt, không hiểu chính xác nghĩa của từ và khả năng kết hợp của chúng, xét về mặt nghĩa từ vựng.

Sửa chữa loại lỗi này, phải tiến hành từng bước. Trước hết, dựa vào văn cảnh của câu, chúng ta xác định rõ ràng, cụ thể nội dung mà học sinh muốn biểu đạt. Tiếp theo, trên cơ sở nội dung biểu đạt đã xác định được, loại bỏ các yếu tố không có liên quan, không tương hợp về nghĩa với yếu tố khác, và chọn từ, ngữ khác để thay thế. Nếu cụm từ có yếu tố dư thừa thì loại bỏ. Ðối với trường hợp cả cụm từ không phản ánh đúng nội dung muốn biểu đạt, chúng ta tạo ra cụm từ khác để thay thế.

Các trường hợp kết hợp sai vừa dẫn có thể sửa chữa như sau :

(a) Vì thế mà văn học thời kì này đã để lại nhiều tác phẩm quý giá, mang đậm tinh thần yêu nước...

(B) Chị Sứ đang nằm trong tay của bọn giặc / đang bị bọn giặc bắt giữ, gần kề với cái chết, nhưng chị không hề lo sợ cho bản thân mình ...

© Chị Út Tịch được giao nhiệm vụ cực kì quan trọng trong khi chị đang mang thai / đang bụng mang dạ chửa, sắp đến ngày sinh nở.

(d) Không có miếng ăn, người mẹ không tiếc gì mạng sống / sinh mệnh của mình, mà chỉ thương cho các con vô tội...

(e) Nỗi thất vọng trong tình yêu còn lớn hơn, vì tình yêu đã không mang lại hạnh phúc.

Ở đây, cần phân biệt lỗi kết hợp sai nghĩa từ vựng với hiện tượng kết hợp sai ngữ pháp như sai đặc điểm từ loại, sai vị trí các thành tố trong cấu tạo cụm từ.

So sánh các ví dụ sau đây :

(a) Chị Sứ đang nằm trong sự thâm độc của bọn giặc ...(BVHS).

(B) Dưới sự lãnh đạo rất tài năng của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc(BVHS).

© Có người phải qua tám, chín năm rèn luyện trong kháng chiến mới hiểu được câu nói của Bác rất đơn sơ(NLPBCL, T.III).

Trong ví dụ (a), động từ nằmcó thể kết hợp với danh từ, ngữ danh từ làm bổ tố đứng sau, xét về mặt ngữ pháp. Nhưng về mặt nghĩa, danh từ, ngữ danh từ phải mang nét nghĩa nơi chốn, vị trí cụ thể hay trừu tượng (nằm trong bụng mẹ, nằm trong buồng tối...). Như vậy, hiện tượng kết hợp sai ở đây là sai về nghĩa từ vựng.

Trong ví dụ (B), phó từ chỉ mức độ rất không thể kết hợp với danh từ tài năng, chỉ sự vật. Kết hợp như vậy là sai đặc điểm từ loại. Những trường hợp rất kết hợp với danh từ mà theo chuẩn mực ngữ pháp, có thể chấp nhận được, thực chất, các danh từ này đã chuyển loại, mang đặc điểm của tính từ (rất Việt Nam, rất trăng).

Trong ví dụ ©, vị trí của các định tố trong cụm từ câu nói của Bác rất đơn sơđã bị kết hợp sai. Theo chuẩn mực ngữ pháp, trong ngữ danh từ, định tố biểu thị ý nghĩa tính chất phải đứng trước định tố biểu thị ý nghĩa sở thuộc. Do đó, phải chuyển đổi vị trí hai định tố lại : câu nói rất đơn sơ của Bác. Hiện tượng kết hợp sai vị trí của các định tố như vậy có thể dẫn đến sai ngữ pháp ở cấp độ tổ chức câu. Ðó là câu chập cấu trúc ngữ pháp.

3.2. Kết hợp trùng lặp, thừa từ ngữ :

Loại lỗi này gồm hai kiểu lỗi nhỏ, có liên quan với nhau : kết hợp trùng lặp và kết hợp thừa.

Kết hợp trùng lặp là hiện tượng lặp đi lặp lại một cách tự phát và không cần thiết những từ, ngữ nào đó trong câu.

Ví dụ :

(a) Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của nền văn học và nhiều tác phẩm viết bằng chữ Hán, trong những tác phẩm viết bằng chữ Hán thì tác phẩm Những điều trông thấylà tác phẩm nổi bật(BVHS).

(B) Chị tuyệt đối trung thành với đường lối chính sách của Ðảng của cách mạng, tuyệt đối trung thành vào đường lối cách mạng cao, đường lối sách lược của cách mạng(BVHS).

© Có nhiều nhà thơ đã dùng thơ văn của mình làm vũ khí đấu tranh, tố cáo tội ác của giặc, kêu gọi đoàn kết đấu tranh, tiêu biểu là Nguyễn Ðình Chiểu đã dùng thơ văn của mình như một vũ khí đấu tranh sắc bén đánh thẳng vào mặt kẻ thù (BVHS).

(d) Chúng ta suy nghĩ thế nào về hình ảnh người mẹ cầm súng đang trực diện với kẻ thù, quả thật đây là hình ảnh vô cùng cao đẹp, một hình ảnh chỉ có thể có được ở chị Út, người chiến sĩ cách mạng chân chính của nhân dân ta(BVHS).

Hiện tượng kết hợp trùng lặp từ, ngữ xuất hiện khá phổ biến trong bài viết của học sinh THPT, nhất là học sinh lớp 10 và 11. Trong số lượng bài viết của học sinh THPT mà chúng tôi đã khảo sát, có hơn 50% bài mắc loại lỗi này. Bài sai ít là bài có hai, ba lỗi. Bài sai nhiều lên đến năm, bảy lỗi. Cá biệt, có bài sai hàng chục lỗi. Trong bài viết học sinh cấp THCS, loại lỗi này xuất hiện nhiều hơn.

Kết hợp trùng lặp từ, ngữ sẽ làm cho câu văn đơn điệu, nặng nề, tạo ra những yếu tố thừa thãi không cần thiết, và có thể làm cho câu văn rối cấu trúc ngữ pháp, lủng củng về ý nghĩa.

Kết hợp thừa từ ngữ là hiện tượng sử dụng từ, ngữ có nội dung biểu đạt đồng nhất hay bao hàm lẫn nhau trong văn cảnh, và sự đồng nhất hay bao hàm này là không cần thiết.

Ví dụ :

(a) Họ nguyện chiến đấu đến cùng cho đến chết (BVHS).

(B) Bài thơ đã thốt lên kêu trời trước nỗi đau của người mẹ đã không nuôi nổi đàn con, đành phải nhìn chúng chết đói(BVHS).

© Nói về tình cảnh khổ cực của nhân dân lao động bị áp bức, Ngô Tất Tố có sáng tác tác phẩm Tắt đènnói lên cảnh nghèo khổ của vợ chồng chị Dậu(BVHS).

(d) Mặc dù anh đã chết, nhưng cái chết của anh đã thể hiện một tinh thần chiến đấu vô biên, hiên ngang, bất khuất, không chịu khuất phục trước kẻ thù, ngay khi hồn đã lìa khỏi xác(BVHS).

Hiện tượng từ, ngữ có nội dung biểu đạt đồng nhất hay bao hàm lẫn nhau trong văn cảnh xuất hiện khá nhiều trong bài viết của học sinh. Hiện tượng này tạo nên sự thừa thãi, luộm thuộm, và có thể làm cho câu văn lủng củng về cấu trúc cũng như ý nghĩa.

Nhìn chung, nguyên nhân dẫn đến lỗi kết hợp trùng lặp, thừa từ, ngữ là do học sinh nghèo nàn về vốn từ, hiểu nghĩa của từ, ngữ không chính xác. Lỗi này còn do học sinh không bao quát được thông báo của cả câu, suy nghĩ thiếu chặt chẽ trong quá trình viết.

Sửa lỗi kết hợp trùng lặp, trước hết, dựa vào chức năng cấu tạo câu, chúng ta xét xem từ, ngữ trùng lặp có thừa không. Nếu thừa thì loại bỏ. Ðối với từ, ngữ trùng lặp nhưng không thừa, do sự quy định của cấu trúc câu, chúng ta tìm từ, ngữ khác có giá trị biểu đạt tương đương để thay thế. Trong trường hợp câu có nhiều ngữ đoạn trùng lặp chồng chéo, rối rắm về ý nghĩa, chúng ta có thể thay đổi cách diễn đạt ở những chỗ cần thiết.

Các trường hợp trùng lặp vừa dẫn có thể sửa chữa như sau :

(a) Nguyễn Du là một nhà thơ lớn, có nhiều đóng góp trong nền văn học cổ Việt Nam, (.) trong các tác phẩm viết bằng chữ Hán của ông, Những điều trông thấylà một trong những bài thơ tiêu biểu.

Câu (a) được sửa theo cách loại bỏ ngữ đoạn trùng lặp, thừa thãi, kết hợp với việc thay thế bằng từ ngữ khác và thay đổi cách diễn đạt.

(B) Chị tuyệt đối trung thành với đường lối, chính sách của Ðảng, của cách mạng.

Câu (B) được sửa theo cách loại bỏ các ngữ đoạn trùng lặp, thừa thãi.

© Có nhiều nhà thơ đã dùng ngòi bút làm vũ khí đấu tranh, tố cáo (vạch trần) tội ác của giặc, kêu gọi nhân dân đoàn kết chống kẻ thù, tiêu biểu là Nguyễn Ðình Chiểu.

(d) Chúng ta suy nghĩ thế nào về hình ảnh người mẹ cầm súng đang đấu tranh trực diện với kẻ thù ? Hình ảnh ấy thật cao đẹp, mang tính chất tiêu biểu cho người chiến sĩ cách mạng chân chính.

Hai câu © và (d) sửa lại theo cách loại bỏ bớt yếu tố trùng lặp, thừa thãi, loại bỏ ngữ đoạn có nội dung biểu đạt thiếu chính xác.

Sửa chữa lỗi kết hợp thừa từ, ngữ, chủ yếu là chúng ta loại bỏ các yếu tố thừa thãi, kết hợp với việc thay đổi cách diễn đạt, nếu thấy cần thiết.

Các hiện tượng kết hợp thừa từ, ngữ đã dẫn có thể sửa chữa lại như sau :

(a) Họ nguyện chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng / đến cùng.

(B) Bài thơ là tiếng kêu thương trước nỗi đau của một người mẹ, đã không nuôi nổi đàn con, đành phải nhìn chúng chết đói.

© Viết về tình cảnh khốn quẫn, cùng đường của người nông dân (trong chế độ thực dân nửa phong kiến), Tắt đèncủa Ngô Tắt Tố là một trong những tác phẩm tiêu biểu.

Hay :

Tắt đèncủa Ngô Tất Tố là tác phẩm viết về tình cảnh khốn quẫn, cùng đường của vợ chồng chị Dậu.

(d) Mặc dù anh hi sinh, nhưng cái chết của anh đã thể hiện nổi bật tinh thần chiến đấu hiên ngang, bất khuất trước kẻ thù.

Cần phân biệt lỗi kết hợp trùng lặp với hiện tượng lặp từ, ngữ một cách có ý thức, nhằm thể hiện nổi bật nội dung muốn biểu đạt.

So sánh :

(a) Chị tuyệt đối trung thành với đường lối, chính sách của Ðảng, tuyệt đối trung thành với lí tưởng cách mạng mà mình đã đeo đuổi(BVHS).

(B) Có nhiều nhà thơ đã dùng thơ văn của mình làm vũ khí đấu tranh, tố cáo tội ác của giặc, kêu gọi đoàn kết đấu tranh, tiêu biểu là Nguyễn Ðình Chiểu đã dùng thơ văn của mình như một vũ khí đấu tranh sắc bén đánh thắng vào mặt kẻ thù (BVHS).

Trong câu (a) , tổ hợp tuyệt đối trung thành được lặp lại với mục đích nhấn mạnh lập trường kiên định của nhân vật chị Út Tịch. Thực chất, đây chính là phép tu từ điệp ngữ, một trong những biện pháp tu từ về mặt từ vựng - ngữ nghĩa. Còn trong câu (B), hiện tượng lặp lại các cụm từ dùng thơ văn của mình, vũ khí đấu tranhchỉ làm cho câu văn nặng nề, lủng củng, tạo nên sự thừa thãi, chớ không có giá trị gì về mặt nội dung biểu đạt.

3.3. So sánh khập khễnh :

So sánh khập khễnh là loại lỗi kết hợp, trong đó đối tượng được so sánh và đối tượng dùng để so sánh không có dấu hiệu tương đồng hay dấu hiệu tương đồng không tiêu biểu.

Trên bình diện tu từ, so sánh là một biện pháp trau chuốt, gọt giũa từ ngữ, trong đó, người viết đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có một dấu hiệu tương đồng nào đó, nhằm làm nổi bật lên đặc điểm của đối tượng được nói đến. So sánh tu từ nếu được vận dụng đúng, giữa đối tượng được so sánh và đối tượng dùng để so sánh có dấu hiệu tương đồng, mang tính chất tiêu biểu, thì ngôn ngữ trở nên sinh động, giàu sắc thái gợi tả, gợi cảm.

Ví dụ:

Chế độ phong kiến nanh ác đã cướp lại miếng mồi ngon của nó. Thúy Kiều sẽ như đóa hoa trên ngọn sóng, ba chìm bảy nổi, phiêu dạt khôn cùng(NLPBCL, T.III ).

Nhưng nếu học sinh không nắm vững cách dùng biện pháp tu từ này thì dễ dẫn đến hiện tượng so sánh khập khễnh, một kiểu lỗi kết hợp.

Ví dụ:

(a) Mẹ con chị Uït giống như những vì sao trên trời, sau cơn mưa, những vì sao ấy quần tụ lại với nhau, sáng lấp lánh(BVHS).

(B) Sức mạnh của đoàn kết như một đàn trâu cày phăng phăng thửa ruộng(BVHS).

© Nếu như những thiên thần thoại, truyền thuyết giống như những lớp sóng cồn giữa đại dương ầm ì vang dội, thì những câu ca dao, dân ca giống như cơn gió thoảng giữa trưa hè ru ngủ hồn ta”(BVHS).

Trong câu (a), giữa mẹ con chị Uït, đối tượng được so sánh, và những vì sao trên trời, đối tượng dùng để so sánh, không có điểm tương đồng nào cả. Biện pháp so sánh này không thể chấp nhận được. Trong ví dụ (B), đối tượng dùng để so sánh quá thô vụng. Không thể dùng hình ảnh một đàn trâu cày phăng phăng thửa ruộngđể ví von với sức mạnh của đoàn kết.Trong câu ©, học sinh đã dùng phép so sánh hai lần. Thứ nhất là so sánh những thiên thần thoại, truyền thuyếtvới những lớp sóng cồn giữa đại dương. Ở đây, khó mà xác định được dấu hiệu tương đồng giữa hai đối tượng. Thứ hai là so sánh những câu ca daovới cơn gió thoảng giữa trưa hè. Ðọc thoáng qua, tưởng chừng như có thể chấp nhận được. Nhưng cân nhắc kĩ, chúng ta thấy cách so sánh này vẫn khập khễnh. Bởi vì, nội dung ca dao, dân ca không chỉ là nhẹ nhàng, mát mẻ như cơn gió thoảng giữa trưa hè.

Lỗi so sánh khập khễnh xuất hiện tương đối ít trong bài viết của học sinh, ít nhất so với các loại lỗi dùng từ khác.

Nguyên nhân dẫn đến lỗi so sánh là do, một mặt suy nghĩ của học sinh non nớt, vụng về ; mặt khác, học sinh lại muốn trau chuốt, đẽo gọt chữ nghĩa, nhưng không nắm vững biện pháp tu từ này.

Ðối với lỗi so sánh khập khễnh, chỉ có thể sửa chữa bằng cách loại bỏ đối tượng dùng để so sánh, xác định lại nội dung học sinh muốn biểu đạt, trên cơ sở đó, vận dụng các phương tiện từ vựng, cú pháp tổ chức lại câu sao cho phù hợp với chuẩn mực ngữ pháp.

Ba ví dụ vừa dẫn có thể sửa chữa như sau :

(a) Sau mỗi trận đánh, mẹ con chị Út lại sum họp, quây quần bên nhau, trông thật đầm ấm, cảm động.

(B) Tinh thần đoàn kết có thể tạo nên sức mạnh dời non lấp biển.

© Nếu thần thoại, truyền thuyết thiên về mặt phản ánh những vấn đề trọng đại, lớn lao của lịch sử, xã hội, thì ca dao, dân ca có xu hướng thể hiện đời sống tâm tư, tình cảm, phong tục, tập quán muôn màu muôn vẻ của nhân dân.


QUYẾT TỬ CHIẾN

29.
QUYẾT TỬ CHIẾN

Hán gian ngẫm lại còn thua chó 
Đâu thể chân tình như dạ nó 
Ngoài mặt hô hào chuyện thích thân
Sau lưng thủ đoạn trò đen đỏ 
Ngàn xưa bá mộng vẫn đeo lời
Vạn kiếp thực dân luôn dính mỏ 
Hải đảo trùng khơi quyết một lòng
Liều thân bám biển đâu màng khó

HANSY



LOÀI CẨU TRỆ

Láng giềng chẳng khác chi mèo chó 
Gây sự láo lường cũng chính nó 
Ỷ thế quân nhiều súng đạn to
Giương oai tàu lớn giàn khoan đỏ 
Coi chừng lửa giận đốt thành tro
Nhớ nhé gan hờn phang toác mỏ 
Phản bạn lừa thầy thứ mặt mo
Thâm lòng hiểm độc toàn gây khó

HANSY

CHÓ MÁ-NGƯỜI NGỢM

Không xơi đồng loại là con CHÓ
Còn MÁ thì ăn luôn chính nó
Mất hết lương tâm chỉ biết no
Cạn phai lý trí nào đâu đỏ
Hãy đừng bôi mặt với trơ mo
Xin chớ khua môi và múa mỏ
Thứ NGỢM là dân loại hổ bò
Chữ NGƯỜI giữ vẹn vô cùng khó

HANSY




TIN YÊU

TIN YÊU 

Lá rụng nào cũng tìm về với cội 
Dẫu xa xôi tâm tưởng gởi về nhau 
Tình đượm thơm trộn lẫn giữa sắc màu 
Mùa hoa nở hồng chao lèn đôi má 

Nắng chiều thu rạng ngời loang khắp ngã 
Nâng bước người về mớm phả  tình yêu 
Hỡi lòng ai óng ánh một thân kiều 
Niềm hạnh ngộ, liêu xiêu ngàn hạnh phúc... 

Anh chở tình xuyên về trong mỗi lúc
Sưởi lòng nhau thúc giục buổi huy hoàng
Dậy hương yêu trong rạng rỡ chiều vàng 
Nồng thắm lại tháng năm tràn cuộn sóng. 

Dẫu biết đời đâu mấy sông phẳng lặng 
Vẫn xin người một đắm thắm về anh 
Lỡ mai kia mộng ước dẫu không thành 
Thì cũng được một lần thanh thản vẹn. 

Gặp lại nhau trong kiếp nào đã hẹn
Sẽ mừng vui kể chuyện thuở duyên đầu.... 

HANSY

ĐÊM SUY TƯ

ĐÊM SUY TƯ 

Mắt hết biếc vì đời bao lầm lỡ 
Môi thôi hồng vì vỡ nát lòng nhau 
Đã sinh ra chịu một kiếp nhân sầu 
Đành cam nhận dãi dầu trong cuộc thế. 

Khi chân mỏi, ngoảnh nhìn vương ngấn lệ 
Thương cho mình bao dâu bể trầm luân 
Lắm dập vùi, oan nghiệt giữa gian trần 
Lòng chát đắng vì thâm quầng ứ nghẹn. 

Từng ngày qua, sông đời như tắc nghẽn
Nhọc nhằn ơi, chìm cuộc sống gian lao 
Kỷ niệm xưa, từng bước vẫy tay chào  
Ta mệt mỏi giữa trăm nghìn quá vãng. 

Mùa nối mùa xoá tan nhiều lãng mạn 
Cõi tâm hồn khô cứng, nản lòng ơi!
Những dòng thơ vùi lấp giữa rác đời
Ta quạnh quẽ nghe hồn hoang hoải khóc... 


HANSY

HOANG VẮNG

HOANG VẮNG
(Thuận Nghịch độc)

Thương nhớ ngập lòng lịm ảo mơ
Vắng xa nguyền thệ rã tim khờ
Hường môi thuở ấy tình mê muội
Sẫm mắt hôm nào mộng xác xơ
Hương úa dạ mòn đau ái đợi
Sắc tan lòng mỏi xót duyên chờ
Thường mong ước lại nồng lưu luyến
Sương héo giữa hồn đắng chát thơ

Thơ chát đắng hồn giữa héo sương
Luyến lưu nồng lại ước mong thường
Chờ duyên xót mỏi lòng tan sắc
Đợi ái đau mòn dạ uá hương
Xơ xác mộng nào hôm mắt sẫm
Muội mê tình ấy thưở môi hường
Khờ tim rã thệ nguyền xa vắng
Mơ ảo lịm lòng ngập nhớ thương

HANSY

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2016

MỘNG MỊ

60.
MỘNG MỊ
(Giao cổ)

Mộng mị trùm bao giữa nguyệt hà
Ơi tình ngan ngát cõi mù xa
Buồn chăn gối chập chùng cơn huyễn
Lặng lẽ giấc uyên vọng tiếng gà
Vẫn muốn thêm dài câu ước phụng
Mà nào có được khúc đàn hoa
Vàng trăng ơi hỡi vàng trăng nguyện
Rải xuống lòng mê khuỷnh ấm hòa

Khoảnh ấm trần gian đượm ái hòa
Cho nguyền thôi tủi buổi tình xa
Mà sao ngúng nguẩy nhiều như thế
Lại nữa tèm lem lắm vậy cà
Ngơ ngáo bên đời say tửu lượng
Bơ phờ giữa thế ngọng lời ca
Và mây với gió về đâu nhỉ
Trống trải mùa thương tủi xót òa


HANSY

CHIÊM BAO

Chiêm bao gặp gỡ cuối Ngân hà
Chỉ có đôi mình thỏa nhớ xa
Đã biết tình trao chìm suối ngọc
Mà sao mộng ước trải canh gà
Mờ sương khói hão huyền môi ấm
Huyễn hoặc tay mềm ảo cánh hoa
Trở nguyệt tan tành ôi nguyệt trở
Màn đêm sóng sánh lệ rơi nhoà

Màn đêm phủ xuống cảnh giao hoà
Cũng bởi yêu thầm nhớ trộm xa
Ví phỏng trời thương cho phận nhé
Nào đâu ái nhận kết duyên cà
Lòng ghen trỗi dậy mờ tâm tưởng
Nỗi tủi ôm choàng lịm tiếng ca
Hẹn kiếp này thôi đành lỡ dở
Đời như giọt nước vỡ tan oà


Minh Hien

DỞ DANG

DỞ DANG

Xuân về hoa lá mừng vui 
Sắc hồng đượm thắm, ngát trời đất xanh
Nụ hoa sắc mộng thơm lành
Mừng Em về lại giữa thanh thản đời...

Ve chuyền khúc hạ người ơi 
Nghe loang loáng mộng giữa phơi phới tình
Đỏ chen nắng rợp nồng xinh
Cài Em tim nhớ, luống thình thịch ngân.

Giọt sương ủ ấp trong ngần
Buồn tha thắt ấy khiến gần gũi thêm
Huyền thu lặng lẽ buông thềm
Cùng nhau sưởi ấm cho mềm mại yêu.

Rồi thì tuyết lạnh lãng phiêu
Nguyền rơi rớt nhịp, xám yêu kiều nào
Thậm buồn khi ái cảm chao
Tròn năm chưa tới đã ngao ngán tình...

HANSY

ƯƠM HỒN

ƯƠM HỒN

Xuân lòng ngan ngát một trời hoa
Bóng nắng xiên khoai chớm nhạt nhòa
Sắc duỗi chân trời mây lả hút
Bướm đùa ngọn cỏ gió vờn xa
Chiều ơi rót mật cùng mơ điệu
Em hỡi chan tình với mộng ta
Tỏa sóng bừng thương  thùa ước thệ
Nồng môi quấn quyện dậy thơm nhà

Nổng môi quấn quyện dậy thơm nhà
Vũ khúc chao hồn đẫm mượt ta
Hương ngát thảo thơm vờn xứ lạ
Sắc lừng ngào ngọt ghé vườn xa
Hồng tươi khúc mộng hoài không nhạt
Diệu thắm vành tim mãi chẳng nhòa
Dậy ước thơ nguyền mùa ái phả
Xuân lòng ngan ngát một trời hoa

HANSY

♥♫ -Hương Ngọc Lan


Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

Kỳ 17 - VIỆT – TỐNG NGHỊ HÒA - LÂN BANG KINH HÃI

Kỳ 17
-------
VIỆT – TỐNG NGHỊ HÒA
LÂN BANG KINH HÃI

Quân Tống đi mười phần thì về chưa được ba phần. Khi kiểm binh, trong số 10 vạn lính chiến đấu đã ra đi chỉ còn 23.400 lính trở về, ngựa chiến thì còn lại 3.174 con. Số dân phu 20 vạn trở về không được một nửa. Phí tổn chiến tranh được người Tống tính ra là 5.190.000 lạng vàng, một con số khủng khiếp.

Sau khi đánh tan tác cụm quân của Triệu Tiết, diệt đến gần sáu phần mười tổng số quân giặc, Lý Thường Kiệt chủ động bàn hòa, mở một lối thoát cho quân Tống, cũng là một lối thoát cho hòa bình để đỡ tốn xương máu của cả hai bên. Bước đi hòa hoãn của Lý Thường Kiệt đã được tính toán rất kỹ. Lý Thường Kiệt bàn với các tướng sĩ: “dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng sĩ, đỡ tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”. Sứ giả mang thư của triều đình nhà Lý gởi cho Quách Quỳ. Thư viết rằng: “… Xin hạ chiếu rút đại quân về, sẽ lập tức sai sứ sang tạ tội và triều cống …”. Rõ ràng bao nhiêu tâm huyết mà nước Tống đổ vào cuộc xâm lược đâu chỉ để đổi lấy việc cầu hòa suông như thế. Nhưng nay tình thế quá bi đát, việc cầu hòa của Đại Việt như chiếc phao cho Quách Quỳ bám víu, tránh khỏi thảm cảnh toàn quân bị diệt. Quách Quỳ chấp nhận giảng hòa, bàn với các tướng: “Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức để báo mệnh triều đình. Đó là ý trời ! Thôi ta đành liều một thân ta chịu tội với triều đình, để mong cứu hơn mười vạn nhân mạng”. (10 vạn nhân mạng mà Quỳ nói là tính cả quân và phu của Tống cho đến thời điểm này).

Triều đình Đại Việt mang biểu của vua Lý Nhân Tông giao cho Quách Quỳ để chuyển tới vua Tống. Quân hai nước định ngày để cho Tống rút quân. Thế nhưng Quách Quỳ sợ quân ta bội ước mà đánh nên đang đêm đốc thúc quân sĩ lui gấp, hàng ngũ rối loạn giày xéo lẫn nhau mà chạy. Tướng Tống là Đào Bật cùng đội thân binh nhận nhiệm vụ rút sau chặn hậu. Quân Đại Việt không truy kích, chỉ theo sau đường quân Tống rút mà chiếm lại đất đai. Quân Tống rút lui nhưng không về hẳn nước Tống mà lại đóng quân chiếm lấy các châu Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn Châu, Tư Lang nằm gần biên giới toan chiếm cứ. Lý Thường Kiệt xua quân tiến chiếm lại các châu Quang Lang, Tô Mậu, Môn Châu, Tư Lang. Quân Tống rút về tập trung ở Quảng Nguyên. Triều đình Đại Việt chủ trương dùng biện pháp ngoại giao để điều đình đòi lại vùng Quảng Nguyên. Từ đây chiến tranh Tống – Việt đã kết thúc, nhưng cuộc đấu tranh ngoại giao đòi đất bắt đầu.

Sau khi đánh lui được quân Tống, Đại Việt đã giải tỏa được thế lưỡng đầu thọ địch. Liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp thiếu đi sự phối hợp của quân Tống như rắn mất đầu. Ưu thế nghiêng hẳn về phía Đại Việt. Chính thế vậy mà ngay sau khi biết tin quân Tống rút lui, vua Harivarman IV cũng lui quân. Quân Chiêm Thành rút lui nhưng vẫn lưu lại chiếm giữ ba châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình. Vào khoảng cuối năm 1077 đến năm 1079, quân Đại Việt quay mũi giáo về phương nam để “hỏi tội” nước Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt chính là người chỉ huy cuộc chinh phạt này. Quân Đại Việt chẳng những thu hồi lại nhanh chóng các vùng lãnh thổ mà Chiêm Thành thừa cơ chiếm đóng mà còn tiến chiếm kinh đô Vijaya. Vua Harivarman IV phải rút quân về vùng cao nguyên phía Tây để bảo toàn lực lượng và gởi thư cầu hòa. Lý Thường Kiệt nhân đó chấp nhận hòa đàm và rút lui. Bấy giờ, một cánh quân Khmer (Chân Lạp) gởi sang Chiêm Thành để tiếp viện cho quân Chiêm chống lại quân Đại Việt do hoàng thân Khmer Sri Nandanavarmadeva chỉ huy vẫn đang đóng quân tại địa khu Panduranga của Chiêm Thành. Nhận được tin Chiêm – Việt nghị hòa, Sri Nandanavarmadeva tức giận cho rằng vua Chiêm Thành đã phản bội đồng minh, bèn tung quân chiếm luôn Panduranga, chính thức trở mặt gây chiến với Chiêm Thành.

Như vậy là, sau khi thất bại trong việc liên minh sâu xé Đại Việt thì hai nước này quay sang đánh lẫn nhau. Một lần nữa, Lý Thường Kiệt lại phải đem quân vào Chiêm Thành nhưng khác với những lần trước, ông đem quân giúp đỡ nước Chiêm Thành chống lại quân Khmer theo lời thỉnh cầu của vua Harivarman IV. Có được sự giúp đỡ của Đại Việt, quân Chiêm Thành nhanh chóng đẩy lùi được quân Khmer khỏi bờ cõi, truy kích tận sang đất Khmer. Vua Harivarman IV tấn công kinh thành Angkor, giết chết vua Khmer Harshavarman III, đẩy Khmer vào thời kỳ loạn lạc. Từ đây, quan hệ Đại Việt – Chiêm Thành trở lại hòa thuận.

Về phía nước Tống, sau khi Quách Quỳ rút quân và gởi biểu “xin hàng” của vua Lý về triều đình (3.1077 ), vua Tống rất tức tối, ý muốn đánh liều dốc thêm quân lính tiếp viện để Quách Quỳ quay lại đánh tiếp, nhưng phân vân vì quốc lực đã hao tổn quá nhiều. Quần thần Tống triều biết vậy, hết sức dùng lời can gián vua Tống. Tể tướng đương nhiệm của Tống bấy giờ là Ngô Sung bấy giờ thay mặt quần thần dâng biểu “mừng công” lên vua Tống. Trong đó có ý chúc mừng vua Tống đã “dẹp yên An Nam, lấy được Quảng Nguyên”. Tống Thần Tông nhận thấy rằng tuy Tống chịu tổn thất nhưng phía Đại Việt đã biết giữ thể diện cho Tống, dâng biểu cầu hòa, bèn hạ lệnh bãi binh, chấp nhận nghị hòa.

Quân Tống đi mười phần thì về chưa được ba phần. Khi kiểm binh, trong số 10 vạn lính chiến đấu đã ra đi chỉ còn 23.400 lính trở về, ngựa chiến thì còn lại 3.174 con. Số dân phu 20 vạn trở về không được một nửa. Phí tổn chiến tranh được người Tống tính ra là 5.190.000 lạng vàng, một con số khủng khiếp. Mọi mục tiêu chiến lược của Tống đề ra trước chiến tranh như sung công của cải, biến Đại Việt thành quận huyện đều không thực hiện được. Nước Tống đã gần như cố gắng ở mức cao nhất để đổ dồn vào cuộc xâm lược Đại Việt nhưng vẫn thất bại. Vì vậy, không còn cách nào khả dĩ hơn là hòa đàm với Đại Việt. Vào khoảng tháng 3.1077, vua Tống gởi thư cho Đại Việt chấp nhận nghị hòa, yêu cầu Đại Việt phải trở lại triều cống và trao trả tù binh. Chiến tranh giữa hai nước chính thức kết thúc trên danh nghĩa.

Đại Việt giao phong với Tống cũng chịu tổn thất nhiều, thiệt hại cũng đến hàng vạn người. Những vùng khê động mà quân Tống đi qua đều xơ xác bởi sự giết chóc và vơ vét của quân giặc. Các thế lực trung thành với triều đình nhà Lý trước đây như họ Thân ở Động Giáp, họ Lưu ở Quảng Nguyên đều chịu tổn thất nặng nề. Tuy đã kết thúc chiến tranh nhưng đất đai Đại Việt bị nước Tống chiếm đóng một phần. Vậy nên chiến thắng của Đại Việt vẫn chưa trọn vẹn. Lý Thường Kiệt trong năm 1077 vẫn đóng quân ở biên giới, chiếm lại các vùng đất đã mất. Lần lượt các châu động trở về với Đại Việt bằng con đường vũ lực. Duy chỉ còn châu Quảng Nguyên là khó có thể dùng quân đánh chiếm bới quân Tống dồn về đây dựng lên những cứ điểm kiên cố. Lý Thường Kiệt đóng quân uy hiếp quân Tống ở châu Quảng Nguyên. Cùng với đó là chính sách đòi đất bằng ngoại giao của triều đình Đại Việt.

Đối với việc ngoại giao với nước Tống, triều đình ta luôn tỏ vẻ khiêm nhường, chấp nhận coi Tống là một nước lớn, mình là nước nhỏ. Nhưng thái độ với đất đai lãnh thổ, nước ta lại rất cương quyết. Mùa xuân năm 1078, sứ bộ Đại Việt do sứ thần Đào Tông Nguyên sang Tống điều đình đòi lại Quảng Nguyên và những tù binh bị Tống bắt. Đại Việt tặng Tống 5 con voi thuần, hứa trả lại các tù binh Tống đã bị bắt trong chiến tranh. Châu Quảng Nguyên trong mắt người Tống là một món lợi bởi ở đây bấy giờ có mỏ vàng. Tuy nhiên sau một thời gian chiếm đóng, nước Tống đã nhận ra việc chiếm giữ vùng này lại hại nhiều hơn lợi. Bởi vì đóng ít quân thì tất quân ta sẽ dễ dàng chiếm lại như các châu Quang Lang, Tô Mậu, Tư Lang mà đóng nhiều quân thì phí tổn lại cao. Châu Quảng Nguyên đối với dân khê động Đại Việt là đất lành, nhưng đối với dân Tống thì lại là đất dữ. Quân Tống đóng giữ tại đây không quen thổ nhưỡng, chết lần chết mòn, hết lớp này đến lớp khác thay thế.

Quân Tống hễ ai có lệnh gọi đi thú ở Quảng Nguyên thì từ biệt vợ con như là đi chết, lính Quảng Nguyên đào ngũ rất nhiều. Tống triều đã chán ngán đất Quảng Nguyên nhưng vẫn không thể vô cớ trả đất, vì sẽ mất thể diện thêm. Nay nhân việc Đại Việt cử sứ giả sang, vua Tống nhanh chóng nhận lời trả đất. Vua Tống nói với những quan lại còn luyến tiếc: “Vì Càn Đức đã phạm thuận, ta mới sai quân đi hỏi tội. Quách Quì đã không đánh lấy được kinh đô nó. Mà nay, Thuận Châu (tên mà Tống đặt cho Quảng Nguyên sau khi chiếm đóng) là đất lam chướng. Triều đình được đất ấy cũng chưa có lợi. Lẽ nào lại còn tự mình xua thú binh vào nơi nước độc. Một người bị chết, Trẫm còn thương xót huống chi mười người chết mất năm sáu”. Những người Tống không hiểu chuyện, vì tiếc nguồn lợi mỏ vàng ở Quảng Nguyên mà đi làm thơ mỉa mai triều đình Tống :

“Vì tham voi Giao Chỉ
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên”.

Quốc Huy