Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

103-KHÚC TRẦM CA


103
KHÚC TRẦM CA

Mây trắng thờ ơ giữa cõi tà
Chao lòng lỗi hẹn khúc trầm ca
Ngày nao huyễn ảo đừng quên nhá
Hiện tại mờ hoang vốn vậy mà
Ngọt lịm lời trao đầu lưỡi á
Thơm nồng dạ gởi chót tình nha
Mầm yêu ngắn ngủi như đời lá
Đâu nữa mùa thương đẫm ruột rà

Đâu nữa mùa thương đẫm ruột rà
Thôi thì quên nhé tảng lờ nha
Trời trăng mây gió đêu phiêu cả
Chăn gối phấn hương cũng chỉ mà
Suối nguyện e chừng vơi điệu phả
Cung thề có lẽ nghẹn lời ca
Giỡn trêu chê chán rồi tan rã
Mây trắng thờ ơ giữa cõi tà

HANSY

SẮC NƯỚC HƯƠNG TRỜI

Hoa Mây trẻ đẹp ngất ngây mà
Họa phú cầm kỳ giỏi xướng ca
Khả ái hoài thương ngoan ngoãn ạ
Tươi xinh mãi cảm trắng trong à
Giang hồ lắm kẻ yêu thầm nhá
Hải ngoại bao chàng mến mộ nha
Ảo diệu câu từ nghiêng cội lá
Vần thơ súc tích chẳng rườm rà

Vần thơ súc tích chẳng rườm rà
Phượng các Quỳnh hương tỏa sắc nha
Yểu điệu hồng nhan lay động cả
Đài trang thể ngọc cuốn lôi à
Hoài chung thủy sắt son lòng đã
Quyến rũ trăng còn mãi ngợi ca
Lãng tử nơi nơi đều rộn rã
Hoa Mây trẻ đẹp ngất ngây mà

Minh Hien

NGUYỄN DU VIẾT TRUYỆN KIỀU NĂM 14 TUỔI?


NGUYỄN DU VIẾT TRUYỆN KIỀU
NĂM 14 TUỔI?

Như chúng tôi đã có lời thưa từ bài báo trước, trong Thơ quốc âm Nguyễn Du (Nxb Giáo dục, H, 1996), thay vì việc xem "bản Kinh" của Truyện Kiều là bản sách in bởi vua Tự Đức, Nguyễn Thạch Giang đã viết đó chỉ là những bản chép tay bởi các quan văn trong triều. Điều này là rất đúng.
Nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn - Ảnh: vietnamnet.vn
Thế nhưng, cũng trong công trình này, nếu như trước đây (1972), khi viết về việc Phạm Quí Thích "đưa in" Truyện Kiều ở phố Hàng Gai - tức "bản phường" đầu tiên, Nguyễn Thạch Giang còn dùng hai chữ "tương truyền" thì nay, ông lại khẳng định việc đó(1). Chẳng những thế, ông còn cho biết năm Phạm Quí Thích mang khắc in Truyện Kiều thì Nguyễn Du đã...mười lăm (15) tuổi (Sđd, tr. 14). Như thế thì kỳ lạ quá. Nhưng ta đừng lấy làm lạ. Bởi vì ở hai trang sau (17 và 18), ông đã đưa ra tài liệu để chứng minh Nguyễn Du viết xong Truyện Kiều từ năm 14 tuổi. Tôi xin phép được chép nguyên văn sự trình bày của ông để bạn đọc tiện theo dõi:

"Năm 1771, thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm về trí sĩ, (...) Nguyễn Du cùng mẹ là Trần Thị Tần theo cha về Tiên Điền, suốt thời thơ ấu đến năm 19 tuổi đi thi ra Bắc làm quan.

"Bấy giờ ở Tiên Điền và Trường Lưu có trường học lớn của Tiến sĩ Nguyễn Huệ, anh Nguyễn Nghiễm, bác Nguyễn Du, có Phúc Giang thư viện của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh. Nguyễn Du chắc chắn là môn sinh của những trường học lớn này. Lại nữa, Nguyễn Huy Oánh đi sứ năm Ất Dậu (1763) có mang về nhiều sách Trung Quốc. Ta không loại trừ khả năng Nguyễn Huy Tự đã đọc Đệ bát tài tử thư Hoa tiên ký để viết Hoa tiên cũng như khả năng Nguyễn Du đã đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để viết Truyện Kiều trong thời gian ở quê nhà, qua lại thư viện Phúc Giang ở Trường Lưu. Mà điều này là có thật. Bản Vương Thúy Kiều truyện - Cổ Hoan Nghi Tiên Nguyễn gia tàng bản - Biệt hữu diễn Nam âm nhất bản vốn lưu giữ tại Viện Văn hóa Trung Bộ mà ta đọc được ở thư viện nhà thờ Quận vương Tôn Thất Hân (Huế) là một chứng cứ.

"Bản này là bản sao lại bản gốc chép tay vào năm Long Phi Kỷ Hợi (1779) Cảnh Hưng thứ 40. Bản sao trên khổ giấy 14x24, gồm 67 tờ tóm tắt thật đầy đủ 20 hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, liền một mạch...

"Chúng ta tin rằng chính bản thư thành 1779 này là do Nguyễn Du tóm lược cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà Nguyễn Huy Oánh đã mang từ Trung Quốc về tàng trữ tại Phúc Giang thư viện trong thời gian Nguyễn Du lui tới học tập (?), nấu sử sôi kinh ở đây (?). Và Nguyễn Du đã dựa vào cuốn truyện đó mà sáng tác truyện Kiều.

"Điều này cũng phù hợp với lời các cố lão ở Tiên Điền và Trường Lưu kể rằng: Nguyễn Du có thói quen nằm đưa võng mà làm Kiều, được câu nào thì ghi lên vách đố, thỉnh thoảng sang Trường Lưu trao đổi với bà con họ Nguyễn Huy, bấy giờ có bà Nguyễn Thị Đài, cháu Nguyễn Du, vợ Nguyễn Huy Tự, giỏi Nôm đã góp nhiều ý kiến cho chú. Có điều, Nguyễn Du bấy giờ chỉ cảm thấy tài sắc Kiều bị vùi dập mà động lòng trắc ẩn, mới là bản thảo đầu chưa trải qua những lần sửa chữa về sau của chính tác giả, trải qua nhiều lần nhuận sắc của bạn bè (?), của nhân dân (?) để có một bản Kiều hoàn hảo như ngày nay"...

"Bản Biệt hữu diễn âm nhất bản chắc chắn là bản sao của bản Kiều Tiên Điền. Bản này còn nguyên vẹn trong tủ sách của cụ Nghè Mai (...) mà chúng tôi đã có dịp nghiên cứu văn bản từ những năm 1953, 1961, 1962, 1963 trong những lần đi nghiên cứu ở Tiên Điền.
"Chúng tôi cho rằng bản Vương Thúy Kiều truyện này vốn là sách của thư viện Tụ Khuê, hay của thư viện Càn Thành được sáp nhập vào Viện Văn hóa Trung Bộ thành lập vào tháng 10 năm 1945 do cụ Nguyễn Đình Ngân làm giám đốc, bấy giờ cũng chịu chung số phận khi mặt trận Thừa Thiên bị vỡ ngày 9.2.1947. Tài sản của Viện bị phá hoại nghiêm trọng, sách Hán Nôm đủ loại tản mác trong dân gian và được dùng vào đủ mọi việc kể cả việc đun nấu. May bản Vương Thúy Kiều truyện không bị phá hủy mà được thư viện cụ Tôn Thất Hân lưu giữ. Gia đình cụ Tôn Thất Hân cho tôi biết chắc rằng thư viện cụ còn một bản Kiều chép tay nằm lạc trong mấy tủ sách lớn còn lại, hiện chưa tìm thấy"(2) (Sđd, tr.17,18,19)

Tôi đã cố gắng ghi hết sức đầy đủ tư liệu, lập luận của soạn giả Thơ Quốc âm Nguyễn Du. Đoạn trích có vẻ khá dài, nhưng không có cách nào khác được. Bạn đọc có thể thấy rồi, vì nghề nghiên cứu văn bản vẫn là rắc rối. Nhưng rối, còn là vì đoạn văn của soạn giả có nhiều chỗ mâu thuẫn. Chẳng hạn đã nói "bản Vương Thúy Kiều truyện không bị phá hủy" "mà ta đọc được", thì tất nhiên là cái bản Truyện Kiều chép tay kia phải còn chứ sao lại "chưa tìm thấy"? Mà đã "chưa tìm thấy" sao "biết chắc rằng" "còn"? Bản Kiều "chưa tìm thấy" này có phải là bản Biệt hữu diễn âm nhất bản (riêng có một bản diễn ra thơ Nôm) được đóng liền vào Vương Thúy Kiều truyện - Cổ Hoan Nghi Tiên Nguyễn gia tàng bản - như tên tài liệu đã thể hiện chăng?

Để bạn đọc tiện theo dõi, tôi xin trình bày sự hiểu của tôi về đoạn văn của Nguyễn Thạch Giang như sau: Soạn giả muốn công bố cho ta biết rằng ông có một tài liệu "sao lại bản gốc chép tay". Bản gốc này được viết vào năm 1779 (tức năm Nguyễn Du 14 tuổi). Trong bản sao này, có hai văn bản: Một là Vương Thúy Kiều truyện - Cổ Hoan Nghi Tiên Nguyễn gia tàng bản, là bản "Nguyễn Du tóm lược cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân". Ta có thể hình dung đây là bản tóm tắt 20 hồi sách Trung Quốc mà Nguyễn Du dùng làm "đề cương" để viết Truyện Kiều; Hai là Biệt hữu diễn Nam âm nhất bản, "chắc chắn là bản sao của bản Kiều Tiên Điền" mà soạn giả đã có dịp nghiên cứu từ những năm 1953 đến 1963.

Thế nghĩa là năm 1779, Nguyễn Du 14 tuổi, đã viết xong Truyện Kiều. Đó là bản Tiên Điền!

Nhưng nếu dúng như thế thì sao Nguyễn Thạch Giang lại nói rằng đây "mới là bản thảo ban đầu chưa trải qua những lần sửa chữa về sau của chính tác giả..."? Đây là cái lầm lớn của Nguyễn Thạch Giang. Tôi không khó khăn gì để chứng minh chắc chắn rằng "bản Tiên Điền" mà Nguyễn Thạch Giang đã nghiên cứu, chỉ là bản chép lại bản in năm 1902 của Kiều Oánh Mậu chứ quyết không thể là "bản thảo ban đầu" của Nguyễn Du vào năm 1779. Làm sao mà một cậu bé 13 tuổi tang cha chưa xong đã chịu tang mẹ như thế mà có thể nằm võng mà sáng tác được Truyện Kiều khi 14 tuổi?! Mà làm sao cậu ta ở lì tại quê cha từ năm 1771 (7 tuổi) đến năm 19 tuổi mới "đi thi, ra Bắc làm quan" mà lại có thể gặp cụ Tiến sĩ Phạm Quí Thích (1759 - 1825) đúng vào cái năm cụ đỗ Tiến sĩ (1779) để cụ có thể mang in cái Truyện Kiều của tác giả 14 tuổi kia! Trong việc nghiên cứu này mà cứ đặt toàn giả thiết như "ta không loại trừ khả năng" này "khả năng" nọ; "Chúng ta tin rằng"; Lời các cố lão kể rằng; "Truyện Kiều đã" qua nhiều lần nhuận sắc của bạn bè, của nhân dân"... thì rất nguy. Nguy, là vì cứ tin vào giả thuyết, giai thoại như thế thì khi gặp phải tài liệu rất dễ bị "say", bị mắc cạn trong đó.

Quả thật là Nguyễn Thạch Giang đã dùng phải tài liệu giả đề năm "Long Phi Kỷ Hợi Cảnh Hưng thứ 40" (1779). Giả là giả ở hai chữ LONG PHI này.

Số là, ngày xưa, để ghi các dòng "lạc khoản" trên bia đá hay đề "lạc khoản" - năm, ngày tháng viết tác phẩm, thường thì người ta viết rõ là năm thứ mấy của niên hiệu vua nào. Thí dụ: trên bia đá khắc " Hoàng triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi thất" tức là năm thứ bảy niên hiệu của triều vua Vĩnh Thịnh (1711). Cách ghi theo niên hiệu vua (như Vĩnh Thịnh, Cảnh Hưng, Gia Long, Minh Mệnh, Tự Đức...) vừa giản đơn vừa không sợ nhầm lẫn, dễ qui ra năm dương lịch; mà người đương thời cũng thấy dễ hiểu vì họ sống ở thời vua nào thì bia đá sách vở ghi niên đại bằng niên hiệu thời vua ấy.

Thế nhưng, ở Việt , ngoài cách ghi niên đại đơn giản ấy lại còn nhiều cách ghi rắc rối khác - trong đó cách ghi theo thuật ngữ tượng trưng cho triều đại. "Đây là cách ghi đặc thù trong văn bản bi ký nước ta. Hiện tượng này không nhiều về mặt thuật ngữ sử dụng. Chúng tôi mới gặp hai trường hợp là THIÊN VẬN và LONG PHI. Tuy nhiên sự xuất hiện của chúng lại khá phổ biến" (3). Tìm nguồn gốc và sự xuất hiện của cách ghi niên đại này, các chuyên gia Hán Nôm thấy hai chữ "Thiên vận" xuất hiện vào thời LÊ (nửa sau thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII). "Nghĩa của hai chữ "Thiên vận" là "mệnh trời, triều đại hưng thịnh, đã nhờ được mệnh trời".

Còn hai chữ LONG PHI đến đời NGUYỄN mới xuất hiện. "Long phi vốn là chữ trong sách Kinh Dịch, chỉ bậc thánh nhân ở ngôi báu. Người đời sau dùng để chỉ bậc đế vương ở ngôi vị cao quí". Ta dễ dàng tìm thấy hai chữ "Long phi" trên bia đá, sách in sau đời vua Tự Đức.Thí dụ "Trên chuông Đông Dư (Gia Lâm Hà Nội) vừa ghi "Hoàng triều Bảo Đại", vừa ghi "Long phi Giáp Thân". Tra ra, thì thấy năm Giáp Thân (1944) thuộc triều Bảo Đại. Tra cứu, khảo sát nhiều tấm bia, các chuyên gia Hán Nôm dám khẳng định rằng: chắc chắn hai chữ LONG PHI ra đời " ở giai đoạn cuối Nguyễn mà sớm nhất không thể vượt quá niên hiệuTự Đức được (4). Thí dụ năm Long Phi Ất Sửu trên bia chùa Phương Viên Hà Nội là năm 1925; cuốn Quốc âm thi tuyển có chép thơ Hồ Xuân Hương khắc in năm "Long Phi Giáp Dần" (tức năm 1914); lần sau khắc lại đề "Long phi Tân Dậu xuân tân san" (tức năm 1921). Đã nói đến hai chữ "Long Phi", cán bộ viện Hán Nôm ai cũng biết là văn bản đó thuộc vào niên đại "Nguyễn muộn" (tức là từ sau đời Tự Đức - 1848 đến 1883).

Vậy thì hai chữ LONG PHI trên văn bản mà Nguyễn Thạch Giang khai thác đã chứng tỏ đó là văn bản "Nguyễn muộn", văn bản viết sau đời Tự Đức (1848 - 1883). Sau, là vì đời Tự Đức chỉ có các năm Kỷ Dậu (1849), Kỷ Mùi (1859), Kỷ Tỵ (1869), Kỷ Mão (1879) chứ không có Kỷ Hợi. Thế mà sau Tự Đức thì năm Kỷ Hợi là năm 1899. Năm này đã thuộc đời vua Thành Thái (1889 - 1907) rồi!

Thế thì, sớm nhất, văn bản mà Nguyễn Thạch Giang đưa ra phải được viết vào năm 1899 chứ không thể là năm 1779 được. Tôi còn ngờ rằng: vào năm 1899, chưa ai cố ý cổ hóa văn bản, làm văn bản giả về những sự quanh Truyện Kiều. Nếu cái ngờ của tôi là đúng, thì văn bản này đã được "sản xuất" vào năm Kỷ Hợi (1959) tức là năm thứ 15 niên hiệu Việt Nam dân chủ Cộng hòa!

Rõ ràng là không thể dựa vào văn bản ở nhà thờ Quận vương Tôn Thất Hân (Huế) - một tư liệu mang niên đại giả cổ - để làm chứng cứ cho việc Nguyễn Du vừa nằm võng vừa viết Truyện Kiều từ năm 14 tuổi.

Các cụ bảo: sai một ly đi một dặm. Việc đời đã thế, việc nghiên cứu văn học cổ, văn bản cổ càng là như thế. Rất mệt. Mà viết một bài như thế này, cũng mệt lắm. Mệt, không hẳn chỉ ở lập luận khoa học mà mệt nhiều khi lại là mệt ở cái lẽ "tôi yêu thầy tôi nhưng tôi còn yêu lẽ phải hơn", nên cứ phải vượt qua sự đàm tiếu xì xèo mà viết.

ĐÀO THÁI TÔN
----------------------------------------------------------------
(1) Chúng tôi đã chứng minh: không có bản in này (Tạp chí Sông Hương và Tạp chí Văn học số 1 năm 1998)
(2) Những dấu (?) xen vào giữa các đoạn văn trích cùng những chữ nghiêng, in đậm là cho chúng tôi. Đ.T.T
(3), (4) Đinh Khắc Thuân: Một số vấn đề về niên đại bia Việt . Tạp chí Hán Nôm số 2/1987.

TRẦM TƯ


TRẦM TƯ

Mùa vui đi
Niềm đau gởi lại
Kỷ niệm ơi!
Man mác giữa tim lòng
Ngoảnh cuối đường chỉ thấy cõi hư không
Nghe giá buốt tận cùng hoang hoải mộng…

Người xưa đi
Người nay nào thấy
Lạc lõng ơi!
Kiếp thương này mãi mãi cút côi
Quờ quạng vòng tay
Mất hút cả rồi
Hương lửa đó giờ buồn tênh kỷ niệm…

Đời không yên
Lòng người chao chọng
Dốc tửu canh trường chỉ khổ nuộc trần ai
Cũng đành thôi khi định mệnh đã an bài…

Tình đã cạn
Ái đã mòn
Sầu thương nữa
Cũng chỉ thế mà thôi…

HANSY

NGÀN NĂM CHUNG THỦY

NGÀN NĂM CHUNG THỦY
[Thuận Nghịch độc]

Trông đợi mãi cùng chẳng ngộ duyên
Thảm tình đơn bóng lẻ đời quyên
Lòng chăng giữ ấy ngày chung thệ
Dạ hỡi còn nao thuở ước nguyền
Mong gởi ái bền luôn thắm vẹn
Vái thầm hương đẹp giữ tròn nguyên
Nồng thơm khúc cũ mùa yêu dấu
Dòng quấn quyện mơ bến dõi thuyền

Thuyền dõi bến mơ quấn quyện dòng
Dấu yêu mùa cũ khúc thơm nồng
Nguyên tròn giữ đẹp hương thầm vái
Vẹn thắm luôn bền ái gởi mong
Nguyền ước thuở nao còn hỡi dạ
Thệ chung ngày ấy giữ chăng lòng
Quyên đời lẻ bóng đơn tình thảm
Duyên ngộ chẳng cùng mãi đợi trông

HANSY

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019

Từ “TRÁT” đến “LÁT”


Từ “TRÁT” đến “LÁT”

Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên, bản 2008, giảng trát là “[cũ] lệnh bằng văn bản của quan lại truyền xuống cho dân, cho cấp dưới”, với thí dụ: lính cầm trát về làng bắt phu.

Thực ra cho đến giữa thập niên 1950, tại Sài Gòn, người ta vẫn xài trát để dịch từ mandat của tiếng Pháp. Mà cái nét nghĩa “lệnh bằng văn bản” cũng chưa cụ thể vì trát lại là chính “tờ giấy ghi cái lệnh đó”.

Trát là một từ Hán Việt mà chữ Hán là [], có nghĩa gốc là “cổ đại tả tự dụng đích tiểu nhi bạc đích mộc phiến” (miếng gỗ nhỏ mà mỏng thời xưa dùng để viết chữ [lên trên]), như đã cho trong Hiện đại Hán ngữ từ điển (Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1992, nghĩa 1). Rồi về sau, nó mới có nghĩa phái sinh là “thượng quan hành ư thuộc lại chi công độc” (công văn quan trên sức xuống cho cấp dưới), như đã cho trong Từ hải, bản cũ (nghĩa 3). Cái nghĩa của từ trát trong tiếng Việt chính là phái sinh từ cái nghĩa phái sinh này của từ trát [] trong tiếng Hán, mà âm Bắc Kinh là zhá, ghi theo pinyin.

Trong tiếng Việt, trát có một điệp thức là lát, mà từ điển Vietlex giảng là “miếng mỏng được thái hoặc cắt ra” (nghĩa 1), như trong lát bánh mì, tương đương với tiếng Anh slice of bread và tiếng Pháp tranche de pain. Với từ lát, ta có các cấu trúc như lát chanh, lát gừng, cắt lát, thái lát, xắt lát, máy thái lát..., nhưng có lẽ sẽ là chuyện hơi lạ vì thời gian cũng bị cắt/thái/xắt…

Vâng, đúng như thế, vì nếu không phải như thế thì tiếng Việt làm gì có những danh ngữ đẳng lập như chốc lát, giây lát, và những lối nói như lát nữa tôi sẽ đi, chờ tôi một lát, thậm chí câu đáp đùa mấy lát cũng chờ… Sở dĩ có sự chuyển nghĩa từ lát chanh, lát bánh mì sang lát “thời gian” thì chỉ đơn giản là vì thời gian cũng được quan niệm như một vật cụ thể, một súc gỗ chẳng hạn, được cưa, được cắt ra thành từng khoanh nhỏ, từng tấm mỏng...

Tương quan phụ âm đầu TR ↔ L giữa trát và lát không phải là duy nhất trong tiếng Việt, vì ngoài trường hợp này, ta còn có:

- trá [], giả dối ↔ lá trong lèo lá;
- trang [,] trong thôn trang ↔ làng trong xóm làng;
- tránh [], vùng vẫy để thoát khỏi ↔ lánh trong xa lánh;
- trạo [], khua, vẫy, lay động ↔ lạo trong lục lạo;
- trân/trăn[], tới, đến ↔ lân trong lân la;...

Và thú vị là trường hợp của lòng đỏ, lòng trắng (trứng) và tròng trắng, tròng đen (con mắt). Cái mà ngoài Bắc gọi là lòng đỏ, lòng trắng của trứng gà, trứng vịt, thì trong Nam kêu là tròng đỏ, tròng trắng. Lòng và tròng là những điệp thức. Nếu tách riêng ra thì lòng có nghĩa gốc là “ruột” (lòng lợn theo cái nghĩa thật chặt chẽ thì chỉ là ruột lợn) và nghĩa rộng là “cả bộ ruột” (Huình - Tinh Paulus Của). Lòng và tròng là những điệp thức gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [] mà âm Hán Việt hiện hành là trường và có nghĩa là “ruột”. Vậy ta có biểu thức:

Lòng ↔ tròng ← []trường.

Cuối cùng thì có nhiều trường hợp về tương quan ƯƠNG ↔ ONG nhưng ở đây, để “làm mẫu”, chỉ xin nêu chữ vong [], vốn đọc là vương vì thiết âm của nó trong Quảng vận là vũ phương thiết [武方切]. V[ũ] + [ph]ương = vương.

AN CHI

102-KHƠI NGUYỀN LUYẾN ÁI


102
KHƠI NGUYỀN LUYẾN ÁI
[Thuận Nghịch độc]

Êm ngào mật ngọt đẫm dòng khơi
Nếm thỏa lòng thơm quấn quyện đời
Thềm phả nhớ thương vằng vặc đợi
Đệm lừng mơ mộng dạt dào lơi
Thêm hoài nghĩa lịm mê huyền cõi
Đếm mãi tình ân ái huyễn lời
Mềm mại khách si quỳnh đắm khởi
Đêm nguyền hẹn ước dặt dìu ơi

Ơi dìu dặt ước hẹn nguyền đêm
Khởi đắm quỳnh si khách mại mềm
Lời huyễn ái ân tình mãi đếm
Cõi huyền mê lịm nghĩa hoài thêm
Lơi dào dạt mộng mơ lừng đệm
(1)
Đợi vặc vằng thương nhớ phả thềm
Đời quyện quấn thơm lòng thỏa nếm
Khơi dòng đẫm ngọt mật ngào êm

HANSY
(1)một loại chiếu

NGỌT NGÀO

Êm ấm ngọt tình thả lỏng lơi
Nhớ thương thầm lặng diết da đời
Thềm loang ánh nguyệt màu hư ảo
Lối ngập hương quỳnh cánh nhẹ tơi
Thêm nuối để chìm mê lịm cảnh
Lại mơ còn ủ đắm say  lời
Mềm thân sát đất trời nghiêng ngả
Đêm mải miết nồng ái dậy khơi

Khơi dậy ái nồng miết mải đêm
Ngả nghiêng trời đất sát thân mềm
Lời say đắm ủ còn mơ lại
Cảnh lịm mê chìm để nuối thêm
Tơi nhẹ cánh quỳnh hương ngập lối
Ảo hư màu nguyệt ánh loang thềm
Đời da diết lặng thầm thương nhớ
Lơi lỏng thả tình ngọt ấm êm

Minh Hien

GIÓ TÌNH LAY ĐỘNG



GIÓ TÌNH LAY ĐỘNG

Gió vờn trong nắng sớm
Bông cỏ thương đùa bay
Lả lơi một cánh bướm
Chọn đáp hoa nào đây?

Thênh thang đường tình mở
Mộng ước chớm mùa lay
Trái tim Ta bỏ ngỏ
Ôi, thương giọt nhớ đầy.

Em, đóa vàng tinh khiết
Dịu ngọt giữa lòng Ta
Một màu vàng biêng biếc
Thắm tình dậy bao la.

Mùa nao rộn hương hoa
Cho niềm yêu tha thiết
Tưởng là tình bất diệt
Nào ngờ cũng chia xa…


HANSY

CUỐI NẺO DƯƠNG TRẦN

CUỐI NẺO DƯƠNG TRẦN

Đời xong nhắm mắt phủi tay về
Chớ mãi ôm đồm kẻo mộng khê
Bại thắng đau đầu thêm tốn lệ
Thành hư mỏi trí lại rêm mề
Đời yên dạ thản thời không tệ
Phước dựng tâm bình sẽ khỏi mê
Hẹn ước tào khang đừng lỗi thệ
Gìn lòng giữ đạo tránh mùi dê

Gìn lòng giữ đạo tránh mùi dê
Lắm mộng điêu tàn bởi hám mê
Dẫu kẻ tranh giành đâu dụng kế
Dù ai chọc tức nỏ lay mề
Câu tình vạn thuở luôn bồng bế
Chữ đức muôn đời chẳng khú khê
Biết đủ thì tâm hoài diễm lệ
Đời xong nhắm mắt phủi tay về

HANSY

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2019

DÀO và DẦU


DÀO và DẦU

Theo Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh thì trong kiệt tác của mình, Nguyễn Du đã dùng chữ dào ở các câu 238 và 2846 với nghĩa là “dào dạt, tràn trề”.

Câu 238 là “Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương”. Đào Duy Anh giảng: “Dào mạch nước sông Tương, chỉ mối tương tư dào dạt. Theo truyền thuyết, sông Tương là chỗ vợ vua Thuấn xưa khóc vua Thuấn, người ta nhân điển ấy và nhân đồng âm với chữ tương nên dùng để tỷ dụ lòng tương tư”.

Đào Duy Anh đã giảng sai. Câu 238 nằm trong đoạn Kiều kể lại cho mẹ chuyện nàng “gặp” Đạm Tiên lúc chiều và sự lo xa của nàng (Phận con thôi có ra gì mai sau, câu 234) nên mới dào mạch Tương (nước mắt tuôn trào) chứ ở đây làm gì có chuyện “tương tư”. Đào Duy Anh cũng sai khi khẳng định vì “đồng âm với chữ tương nên dùng để tỷ dụ lòng tương tư”.

Thật ra, chữ tương tự nó đâu đủ sức để chuyển tải khái niệm “tương tư”. Phải đi chung với chữ tư [] là nhớ thì mới diễn đạt được chuyện “trồng cây si”, chứ bản thân nó thì còn cặp kè với nhiều chữ khác, trong đó có cả tương khắc là “xung đột với nhau” nữa.

Mạch Tương xuất phát từ hai chữ Tương lệ [湘淚], có nghĩa là “nước mắt [khóc ở] sông Tương”. Theo truyền thuyết, vua Thuấn đi tuần phương Nam, đến vùng Thương Ngô thì chết ở gần sông Tương.

Hai bà phi của vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh hay tin nên đến đó khóc chồng. Ven bờ sông Tương có rất nhiều tre gọi là “tre sông Tương” (Tương trúc). Nước mắt xót thương của hai bà chảy thấm thân tre. Từ đó về sau, thân tre sông Tương đều có đốm, vết tích của những giọt nước mắt đó. Đây dĩ nhiên chỉ là truyền thuyết.

Câu 2846 được Đào Duy Anh chép là: “Càng âu duyên mới càng dào tình xưa”. Các nhà chú giải khác cũng đọc chữ thứ 6 của câu này là “dào”, kể cả Nguyễn Tài Cẩn và Nguyễn Quảng Tuân khi phiên âm Kim Vân Kiều tân truyện do Nam Việt Gia Định Thành Cư sĩ Duy Minh Thị trùng san. Chúng tôi cho rằng kiểu đọc chữ này thành “dào” chẳng những không đúng với cách diễn đạt của Nguyễn Du mà còn mâu thuẫn với tâm lý của nhân vật nữa. Trước đó 9 câu, sau khi biết được Kiều đã bán mình và bặt vô âm tín thì Kim Trọng đã:

“Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê
Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”.

Thấy thế, Vương Ông sợ quá, bèn “sắm sửa chọn ngày” để se duyên cho chàng với Thúy Vân. Nhưng lòng thương nhớ Kiều của Kim có bao giờ nguôi: “Vui này đã cất sầu kia được nào” (câu 2844).

Thế thì tình cảm của Kim ở đây “dạt dào” là dạt dào như thế nào, “tràn trề” là tràn trề ra làm sao? Nói theo người bình dân Nam kỳ thì, về mối tình đối với Kiều, Kim Trọng còn “rầu thúi ruột” sau khi cưới Vân nữa, chứ “dạt dào”, “tràn trề” thế nào được. Ở đây chỉ có chữ dàu mới thích hợp mà thôi. Dàu là “buồn phiền, ủ rũ, kém tươi vui”, như đã giảng trong Từ điển tiếng Việt của Vietlex do Hoàng Phê chủ biên. Dàu tình xưa là mòn mỏi vì mải mong chờ người tình xưa trong vô vọng. Các nhà phiên âm và chú giải “ép” Kim Trọng phải “dạt dào”, “tràn trề” tình cảm trong hoàn cảnh này thì chẳng tội nghiệp cho chàng ta lắm ru?

AN CHI


101-KHUYẾT


101
KHUYẾT
[TNT-Láy]

KHUYẾT một nàng thơ lặng lẽ buồn
KHUYẾT vầng trăng ái rã rời muôn
KHUYẾT làn hơi ấm chòng chao cuộn
KHUYẾT đóa hoa xinh đắng đót cuồng
KHUYẾT giọng mê huyền thao thức muộn
KHUYẾT lời mơ đượm não nề buông
KHUYẾT tình tri ngộ tàn hoang luống
KHUYẾT vắng em ơi huyễn hoặc luồn

KHUYẾT vắng em ơi huyễn hoặc luồn
KHUYẾT niềm an ủi ngọt ngào buông
KHUYẾT triền hạnh phúc tan tành muốn
KHUYẾT cõi bồng lai lạnh lẽo cuồng
KHUYẾT kỷ niệm nguyền xao xác cuộn
KHUYẾT trầm hương ái bẽ bàng muôn
KHUYẾT tình tri kỷ ê chề cuốn
KHUYẾT một nàng thơ lặng lẽ buồn

HANSY

LẶNG


LẶNG cơn gió thoảng tái tê buồn
LẶNG bước đi rồi cách trở muôn
LẶNG tiếng yêu thương đờ đẫn ngượng
LẶNG câu tình tự nhớ nhung cuồng
LẶNG thầm lệ xót lòng đau cuộn
LẶNG lẽ đêm dài bóng tối buông
LẶNG nỗi tưng tư hồn vất vưởng
LẶNG trăng ảm đạm cuối thu luồn

LẶNG trăng ảm đạm cuối thu luồn
LẶNG vắng tay người đã vội buông
LẶNG ngỡ ngàng xuyên trời rét muộn
LẶNG âm ỉ thấm dạ điên cuồng
LẶNG tìm hương lửa nồng nàn luống
LẶNG giữ ân tình hạnh phúc muôn
LẶNG phắc không gian dòng viễn tưởng
LẶNG cơn gió thoảng tái tê buồn

Minh Hien

ẢO ẢNH PHÙ DU



ẢO ẢNH PHÙ DU

Ảo ảnh xa rồi, ảo ảnh ơi
Chiều nao mây tím gác ngang trời
Bâng khuâng chút nhớ lồng mơ tới
Ta vẫn thương nàng, ảo ảnh ơi…

Ảo ảnh hôm nào đến tận đâu
Mà gây thương nhớ lẫn mê sầu
Xưa kia hồn trẻ nào chi thấu
Ảo ảnh chớ hoài ảo ảnh đau…

Ảo ảnh giỡn đùa với tình yêu
Làm thơ lặng chết giữa mưa chiều
Thương con nước nhỏ vầng trăng chiếu
Khiến ảo ảnh bừng mộng liêu xiêu…

Giã từ thôi nhé ảo ảnh ơi
Xìn hãy về vui giữa cuộc đời
Được sống mãi hoài trong ngâm ngợi
Ảo ảnh hãy về góc nhớ thôi…


HANSY

RỘN RÀNG SHOWBIZ

RỘN RÀNG SHOWBIZ
[Sắc ẩn-Tập ca sỹ]

Hồng Ngọc ru hồn lả lướt đưa
Nhạc loang Mây Trắng thảo thơm vừa
Hoàng Thùy Linh giọng ngon ngào hứa
Dương Triệu Vũ lời thắm thiết cưa
Giai điệu Lam Trường mê mệt cứa
Ca từ Bích Hữu dạt dào thưa
Ngọc Huyền dằng dặc làn hơi chứa
Thanh Thảo tưng bừng nhảy đẹp chưa

Thanh Thảo tưng bừng nhảy đẹp chưa
Êm đềm Lý Hải ngọt ngào thưa
Hồng Nhung xí xọn nhiều câu hứa
Ngân Khánh tang tình lắm vẻ cưa
Thoải mái Thuỳ Dương câu tiếp nữa
Triền miên Thanh Thúy điệu đâu vừa
Hoàng Oanh phảng phất dường như lửa
Hồng Ngọc ru hồn lả lướt đưa

HANSY

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2019

CỐNG hay CỔNG?


CỐNG hay CỔNG?

Câu 267 của Truyện Kiều là Thâm nghiêm kín cổng cao tường. Phần lớn các bản phiên âm đều đọc như thế, nhưng Tản Đà thì đọc thành Thâm nghiêm kín cống cao tường.

Nghĩa là thi sĩ “Tản Viên trước mặt - Đà giang cạnh nhà” đã đổi chữ thứ 4 trong câu thơ của Tố Như thành “cống”. Đây là chuyện hồi năm 1941. Rồi đến 2002, trong Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872 (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội), Nguyễn Tài Cẩn cũng theo thuyết của Tản Đà mà viết: “Có thể đọc CỐNG hoặc CỔNG. Nhưng theo Tản Đà, đọc CỐNG thì hợp lý hơn: KÍN CỐNG thì mới CẠN DÒNG LÁ THẮM được”. Vì thế trong phần phiên âm, Nguyễn Tài Cẩn cũng ghi “kín cống cao tường”.

Thực ra thì Tản Đà đã sai ngay từ đầu: Cống thì phải hở, phải mở chứ kín thì làm sao nước chảy ra ngoài được. Huống chi, kín cổng là vế đầu của thành ngữ kín cổng cao tường đã ra đời tự đời nào. Nguyễn Tài Cẩn cũng theo Tản Đà mà đọc như thế. Còn chúng tôi thì lại cho rằng nếu cống mà kín thì dòng sẽ không cạn (câu 268 là Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh); nó sẽ tràn, sẽ ngập, hoặc sẽ trào ra ở bất cứ chỗ nào nước có thể thoát đi được. Nói cho đúng ra thì cái sự “cạn dòng” chỉ có thể là kết quả của sự khô nước, ít nhất cũng là sự thiếu nước mà thôi, chứ làm sao lại có thể do sự “kín cống” gây ra cho được? Minh chứng cho điều vừa nói là cái sự ngập đường trong mùa mưa tại Hà Nội và TP.HCM chỉ do cái sự “kín cống”, nghẹt cống, thiếu cống mà ra đó. Huống chi, đã không làm thì thôi, chứ đã làm thì người ta phải làm cống “hở” (cho nước thoát đi) chứ ai lại làm cống “kín”?

Vậy chữ “cống” của thi sĩ Tản Đà là một chữ không thích hợp và sở dĩ chúng tôi buộc phải lý sự như trên chỉ là để nói rằng ta không nên hiểu ngữ đoạn vị từ “cạn dòng lá thắm” theo nghĩa đen của từng tiếng. Và khi ta đã không cần hiểu chữ “cạn” theo nghĩa đen thì ta tất cũng chẳng cần bận tâm đổi cổng thành “cống” làm gì vì bốn tiếng kín cổng cao tường vốn là một thành ngữ đã tồn tại từ lâu. Huống chi, nếu ta cứ tự trói mình vào nghĩa đen, thì ta cũng buộc phải thừa nhận rằng “tường cao” cũng chẳng thể nào “dứt đường chim xanh” được.

Chim bay về núi tối rồi (ca dao). Đến núi mà chim còn có thể bay về được thì “tường cao” đã... nhằm nhò gì!

Hóa ra nếu cứ hiểu từ ngữ ở đây theo nghĩa đen thì ta lại vô tình biến Nguyễn Du thành một ông già lẩm cẩm, ăn nói cứ mâu thuẫn lung tung: cứ bít cống lại thì nước sẽ cạn, cứ xây tường cho cao thì chim khỏi bay qua! Và biết đâu có người sẽ giải thích rằng sở dĩ Kiều nói với Kim Trọng “Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh” thì chẳng qua chỉ là vì nàng không đủ... vật liệu và nhân công để làm việc đó mà thôi.

AN CHI

100-HUYỄN TÌNH ẢO MỘNG


100
HUYỄN TÌNH ẢO MỘNG
[Thuận Nghịch-Nhị thức]

Sang huyễn ảo lồng dệt tứ thơ 
Sáng lâng ngời nhạn vút sương mờ 
Vang dìu nốt ái canh trường mở
Rạng đẫm cung nguyền diệu khúc mơ
Vàng võ dạ hoan dằng dặc nhớ
Lãng phiêu hồn lịm ngát ngan chờ
Đan thùa khớp mộng lèn hơi thở
Quang cảnh thẫm hòa quyện dải tơ

Quang cảnh thẫm hòa quyện dải tơ
Thoảng hư huyền mộng giữa mê khờ
Ngàn hương tỏa lộng ngời tim trở
Quãng khúc bồi trau thắm dạ đờ 
Quàng ước tuổi thơm ngào ngọt thở
Loáng nguyền tâm bổng miệt mài vơ
Mang đời dậy ái thương hồn ngỡ 
Loang vọng cõi trầm quyện nét mơ

***
Mơ nét quyện trầm cõi vọng loang
Ngỡ hồn thương ái dậy đời mang
Vơ mài miệt bổng tâm nguyền loáng
Thở ngọt ngào thơm tuổi ước quàng
Đờ dạ thắm trau bồi khúc quãng
Trở tim ngời lộng tỏa hương ngàn
Khờ mê giữa mộng huyền hư thoảng
Tơ dải quyện hòa thẫm cảnh quang

Tơ dải quyện hòa thẫm cảnh quang 
Thở hơi lèn mộng khớp thùa đan
Chờ ngan ngát lịm hồn phiêu lãng 
Nhớ dặc dằng hoan dạ võ vàng
Mơ khúc diệu nguyền cung đẫm rạng
Mở trường canh ái nốt dìu vang
Mờ sương vút nhạn ngời lâng sáng
Thơ tứ dệt lồng huyễn ảo sang


HANSY
*
LÃNG DU 

Sang tiết nắng hồng tuổi mộng thơ
Lãng du hồn thả bóng mây mờ
Vang lòng sáo dặt dìu ai nhớ
Thoảng gió hương ngào ngạt giấc mơ
Vàng rực sắc hoa vui rộ nở
Sáng trong tình bạn khó quên lờ
Đang chờ đợi Tết xuân ràng rỡ
Quang lối ngõ thềm trải lụa tơ

Quang lối ngõ thềm trải lụa tơ
Loáng loang đèn diễm mắt ngây khờ
Làng trên xóm dưới lời trao mở
Dáng đẹp hình xinh tiếng cậy nhờ
Quàng chặt xiết ôm người ngạt thở
Lạng nghiêng vùi ấp ái đừng lơ
Mang hoài dạ sắt son vàng tợ
Ngang cõi ảo huyền giấc huyễn mơ


***
Mơ huyễn giấc huyền ảo cõi ngang
Tợ vàng son sắt dạ hoài mang

Lơ đừng ái ấp vùi nghiêng lạng
Thở ngạt người ôm xiết chặt quàng
Nhờ cậy tiếng xinh hình đẹp dáng
Mở trao lời dưới xóm trên làng
Khờ ngây mắt diễm đèn loang loáng
Tơ lụa trải thềm ngõ lối quang

Tơ lụa trải thềm ngõ lối quang
Rỡ ràng Xuân Tết đợi chờ đang
Lờ quên khó bạn tình trong sáng
Nở rộ vui hoa sắc rực vàng
Mơ giấc ngạt ngào hương gió thoảng
Nhớ ai dìu dặt sáo lòng vang
Mờ mây bóng thả hồn du lãng
Thơ mộng tuổi hồng nắng tiết sang

Minh Hien