Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2017

34 ĐỊCH VÂN

34
ĐỊCH VÂN 
Không chốn nương thân

Hình tượng nhân vật chính Địch Vân của bộ tiểu thuyết võ hiệp Liên Thành Quyết cho thấy rõ hơn khuynh hướng sáng tạo gần gũi với con người trong đời sống xã hội của tiểu thuyết gia Kim Dung. Địch Vân không giống với nhân vật chính của bất kỳ bộ tiểu thuyết võ hiệp nào trước đó. Cho dù đã tập luyện võ công, đã trải qua những cuộc kỳ ngộ đau thương thảm khốc khó ai có thể tưởng tượng nổi, gã vẫn không giống như nhân vật chính của một câu chuyện truyền kỳ, thay vào đó, lại chỉ giống như một con người tầm thường như bao nhiêu người khác.

Trong một số trường hợp, gã lại còn kém thua hơn cả người tầm thường, bởi vì trong đa số người tầm thường ở thế gian cũng không thấy ai là thật thà khờ khạo như gã. Duyên do sự ra đời của nhân vật Địch Vân, theo lời tác giả, là để nhớ về một “ông lão rất thân thiết” trong ký ức tuổi thơ của mình. Nhưng trên thực tế, ông đã mượn câu chuyện về nhân vật này để bày tỏ lòng cảm khái sâu sắc của mình về thế gian và lòng người. Do vậy, có thể xem đây chính là một câu chuyện ngụ ngôn về thế giới nhân gian.

I

Đặc điểm của nhân vật Địch Vân thật vô cùng đơn giản, đó là không biết trước điều gì, không định trước việc gì, với một bẩm tính là thực thà, trung hậu. Câu chuyện về gã ta kỳ thực cũng đơn giản, chỉ hiềm nỗi là gã liên tục bị lừa lọc dối gian, phải chịu nhiều oan khuất. Lúc còn là một gã nhà quê ngày ngày cày ruộng luyện kim ở quê nhà, Địch Vân đã sống một quãng đời hoàn toàn bình an. Một ngày nọ, gã rời quê vào thành. Có ngờ đâu ma đưa lối quỉ dẫn đường, mỗi bước chân đi là mỗi bước gã rơi vào từng hố bẫy đang chờ sẵn. Từ đó về sau, vận rủi trở thành một cơn ác mộng bén gót theo gã. Đầu tiên gã bị xử oan tội cưỡng hiếp, sau đó lại thêm tội trộm cắp, bị chặt đứt một ngón tay, bị xuyên thấu xương quai xanh, và bị tống vào tử lao.

Trong nhà lao, không rõ vì can cớ gì, bạn tù đem lòng oán hận ngày ngày ra sức ức hiếp dày vò gã. Cũng trong nhà lao, cuối cùng gã nhận được tin sư muội tâm ái Thích Phương của gã lại được đem gả cho kẻ thù đang tâm hãm hại gã là Vạn Khuê. Không thể tránh được nỗi hàm oan, không thể tỏ bày niềm oán hận, trên thế gian này, gã không còn một người thân, cũng không còn một tia hy vọng, gã bèn nghĩ đến cái chết, bởi vì có lẽ chỉ có cái chết mới có thể giúp gã chấm dứt khổ đau.

Bất ngờ, khi gã định tự sát, lại có một người bạn tù là Đinh Điển cứu sống gã, để rồi trở thành bạn chí thân của gã. Với bản chất thật thà khờ khạo của mình, có lẽ gã sẽ không bao giờ có thể biết được rằng tất cả những oan khiên mà gã phải gánh chịu hoàn toàn không phải do nơi gã, mà chính là do gã có một sư muội quá xinh đẹp, mà sư muội xinh đẹp này lại chung tình với gã, cho nên mới dẫn đến một loạt những âm mưu hãm hại nhắm vào gã, theo một kế hoạch độc ác một mũi tên nhắm ba mục tiêu: thứ nhất là lừa gạt làm cho gã phải ngồi tù; thứ hai là cấu kết với quan phủ giam giữ gã vô thời hạn; thứ ba là mê hoặc Thích Phương, làm cho nàng ta phải cảm động đến nỗi cuối cùng đành cam tâm tình nguyện làm vợ tên Vạn Khuê từ lâu đã ao ước thèm nàng đến nhỏ dãi. Địch Vân cùng Đinh Điển vượt ngục, bất ngờ Đinh Điển bị trúng độc tử vong, Địch Vân một mình suýt chút nữa thì trở thành miếng mồi ngon cho ác tăng Bảo Tượng.

May nhờ "Thánh nhân đãi kẻ khù khờ", gã không những không bị Bảo Tượng giết mà còn được Bảo Tượng "ban cho" tấm áo cà sa làm áo khoác. Nhưng cũng không ngờ được chính việc này đã mang lại cho gã một mối hoạn nạn vô vọng mới. Khi gã cứu người bên sông, thì bị con tuấn mã của Linh Kiếm Song Hiệp trứ danh đạp gãy chân, bởi vì gã đang mặc một tấm tăng bào của Huyết Đao Môn. Nhìn qua sắc áo chẳng trách Linh Kiếm Song Hiệp cũng như bao nhiêu người khác đều cho rằng gã Địch Vân thực thà khờ khạo, trong sạch vô tội này chính là tên dâm tăng bạo ngược tội ác dẫy đầy, chất chồng nợ máu.

Nguy hại hơn nữa, không những Linh Kiếm Song Hiệp và đám thị dân lòng đầy căm hận cho rằng gã là dâm tăng, mà ngay đến chính Lão Tổ của Huyết đao dâm tăng cũng nhận gã là đồ đệ của Bảo Tượng, là học trò của chính mình. Kết quả là, những người thuộc chính phái đều muốn bắt gã, còn lão tổ của tà môn Huyết đao lại trở thành cứu tinh của gã, đã đưa gã cùng "con mồi" Thủy Sênh từ Giang Nam cùng đào tẩu đến một hang tuyết nơi biên giới Tây Tạng, và gã rốt cuộc chẳng có được một cơ hội nào để biện minh cho chính mình.

Từ một gà nhà quê chân chất thiện lương, đột nhiên phải trải qua những bất hạnh cùng cực không rõ nguyên do mà không có cơ hội giãi bày và cũng chẳng có ai chịu lắng nghe chuyện oan ức của gã, cho nên chẳng trách sau khi lão tăng Huyết đao chết, đối diện với hai kẻ thù là Tứ Hiệp Giang Nam Hoa Thiết Cán và Linh Kiếm Song Hiệp Thủy Sênh, gã cuối cùng không chịu đựng được nữa mới khàn giọng thét lên, nghe như một tiếng khóc rằng: "Bọn ác nhân các ngươi sẽ có ác nhân trong thiên hạ trừng trị, Địch Vân ta đây không sợ các ngươi. Các ngươi đã tống ta vào ngục, xuyên thấu xương quai xanh ta, chặt đứt ngón tay ta, cướp sư muội của ta, đạp gãy chân ta, ta đều không sợ, bây giờ cho dù các ngươi có giết ta, ta cũng không sợ!

II

Địch Vân nói "không sợ”, đương nhiên cũng có phần chân thực trong đó, là bởi đến cái chết gã còn không sợ, huống gì những nỗi thống khổ hàm oan? Nhưng nếu chỉ nhìn bề ngoài của thái độ "không sợ" này thôi e chưa đủ. Trên thế gian này, Địch Vân có thể không sợ bọn "ác nhân", nhưng tình nhân biến thành người xa lạ, cho đến người thân biến thành kẻ thù, thì điều này đã làm cho gã kinh sợ đến không nói nên lời.

Chính vì vậy khi hay tin Thích Phương xuất giá, gã đã tuyệt vọng đến mức muốn tự sát trong lao tù. Trong khoảnh khắc thét to "không sợ", thái độ của Địch Vân rõ ràng có chút điên cuồng. Thật may mắn cho gã, bởi nếu không có sự điên cuồng này thì hoặc là gã sẽ không thể sống nổi với mối căm hờn oan ức tràn ngập, hoặc là từ đây về sau, tâm lý của gã sẽ hoàn toàn thay đổi, biến gã thành một tay đại ác nhân thực thụ chuyên báo thù một cách điên cuồng cả toàn thế giới. Địch Vân giờ đây đã luyện thành công Tuyệt thế thần công thần chiếu kinh, không bao lâu nữa sẽ luyện thành thục Huyết đao đao pháp, về phương diện võ công e rằng ít có địch thủ nào sánh kịp, nếu như gã có ý định báo thù, từ đây rắp tâm làm ác, thì cả thế giới cũng từ đây cũng khó mong được an lành.

Nhưng cũng may là Địch Vân đã không bị cơn điên cuồng ấy đè bẹp, và thái độ của gã cũng không thực sự biến đổi, gã vẫn chỉ là gã nhà quê thực thà trung hậu ngày nào. Chính vì thế mà vận rủi của gã vẫn chưa đến hồi kết thúc. Đợi cho đến lúc băng tuyết tan đi nơi hang tuyết, đại hiệp Hoa Thiết Cán bỗng chốc trở nên anh hùng, trong khi Địch Vân và Thủy Sênh bị vu thành dâm tặc và dâm phụ. Địch Vân muốn biện hộ cho Thủy Sênh nhưng càng nói càng không được gì. Gã vừa thất vọng vừa phẫn nộ. Nếu thực sự trong lòng gã không còn chút hy vọng nào nữa thì không biết chừng gã đã hóa điên vì phẫn nộ.

Học được chút hiểu biết từ Đinh Điển, được rèn giũa trong quãng đời phiêu bạt, sau khi rời khỏi hang tuyết, Địch Vân không những võ công cao cường hơn xưa mà tâm trí và kiến thức cũng được mở mang không ít. Ít ra, gã đã có thể hiểu rõ âm mưu của Vạn Khuê đối với gã từ trước cho đến nay. Rời khỏi hang tuyết, Địch Vân có hai khát vọng cháy bỏng: thứ nhất là tìm được sư phụ, tìm lại được cuộc sống tốt đẹp ngày nào; thứ hai là cùng sư phụ gặp lại sư muội mãi mãi chung tình Thích Phương, nói cho nàng biết mối oan khuất của mình, vạch rõ chân tướng của Vạn Khuê, rồi sau đó...

Khi những oan khuất của gã được giải tỏa hoàn toàn, thì chân tướng của cha con Vạn Khuê cũng bộc lộ rõ ràng không thể chối cãi. Ở tại sào huyệt của họ Vạn, Địch Vân đã dùng chính đạo lý của chúng để trừng trị chúng. Gã nhốt chúng vào khe giữa hai bức tường, để cho chúng tự chịu lấy hậu quả. Sau đó, khi mà gã và Thích Phương đã lại có thể bên nhau như một đôi bướm lượn, nối lại tình xưa, bắt đầu một đời sống tốt đẹp hạnh phúc, thì biến cố lại xảy ra. Thích Phương yêu cầu gã: “Đợi một chút", mà kết quả là kể từ đây đôi ngả âm dương đành cách biệt. Nguyên là Thích Phương định lén đi thả tên Vạn Khuê chồng nàng ra, có ngờ đâu Vạn Khuê lại nỡ ra tay giết hại cả nàng. Địch Vân lúc này, vừa đau khổ vô cùng trước cái chết của Thích Phương, vừa bội phần căm hận sự độc ác của Vạn Khuê, vừa lại càng đau xót hơn cho chính mình, một lần nữa lại bị Thích Phương lừa dối.

Có thể là Thích Phương trước sau vẫn là lương thiện vô tội, nhưng trớ trêu thay cũng chính vị sư muội lương thiện vô tội này đã phản bội và lừa dối gã lần nữa. Với sự hiểu biết của mình, Địch Vân sẽ không bao giờ có thể giải đáp được các câu hỏi: Thích Phương tại sao biết rõ là gã trong sạch mà vẫn chấp nhận làm vợ Vạn Khuê? Tại sao biết rõ cha con Vạn Khuê là độc ác mà vẫn còn có thể nghĩ được đến điều "nhất nhật phu thê bách nhật ân" (vợ chồng một ngày nên nghĩa), để rồi đã lừa gã mà đi thả gã chồng ác độc, để rồi đã phải mất mạng vào tay hắn? Tại sao một kẻ lương thiện và vô tội như Địch Vân lại phải chịu hàm oan và bị chối bỏ?

Nếu như Địch Vân không bao giờ có thể hiểu được hành vi và tâm lý của Thích Phương, thì với những gì sư phụ Thích Trường Phát của gã đã làm, gã lại càng không tài nào hiểu được. Thời gian ở trong lao tù, Đinh Điển đã có lần nói với gã, sư phụ Thích Trường Phát ngoại hiệu "Thiết Sách Hoành Giang" của gã văn võ kiêm thông, bác học đa tài, nhất định không thể xem thường. Địch Vân tuy chân thành tín phục Đinh Điển, nhưng khi nghe Đinh Điển đánh giá sư phụ mình như vậy, gã thực sự không có cách gì tin được, nói cho đúng hơn là gã không dám tin, cũng như không muốn tin. Cho đến một lần vô tình dao găm của sư phụ gã đâm một nhát gần sát tim gã, gã mới thực sự biết rõ sư phụ mình là người như thế nào: Thích Trường Phát vì tiền của, có thể giết cả sư phụ mình, giết sư huynh, hoài nghi con gái ruột, thì tại sao lại không thể giết đồ đệ?" (Xem Liên thành quyết).

Nhưng gã vẫn còn chưa hiểu: "Một con người trong cuộc đời không cần bất kỳ người thân nào, không cần sư phụ, sư huynh đệ, đồ đệ, đến con gái ruột cũng không quan tâm, thì cho dù có đến một kho của cải vĩ đại nhất phỏng có vui sướng gì?" (Xem Liên thành quyết). Đến đây Địch Vân vừa cảm thấy tuyệt vọng khi hiểu rõ chân tướng sư phụ mình, vừa hoàn toàn u mê không hiểu tại sao sư phụ lại có thể như vậy. Nếu như tất cả những cạm bẫy, những cú đòn của số phận đã từng trải qua trước đây đều do người ác làm hại, do phải chịu oan khuất, thì Địch Vân vẫn còn có thể cắn răng chịu đựng, nhưng những biến cố về sau chính là những cú đánh chí mạng đối với gã. Bởi những cú đánh này không phải đến từ người ác, không phải đến từ kẻ thù không rõ chân tướng, mà lại đến từ tình nhân, từ người thân.

Mất đi sư muội Thích Phương khiến cho gã phải chịu một mất mát lớn về mặt tình cảm, làm lung lay đến tận gốc rễ niềm tin và hy vọng của gã về tình người trong nhân gian; sư phụ Thích Trường Phát từ đầu đến cuối lừa gạt gã, làm cho thân tâm gã bị tổn thương, làm cho tất cả những quan niệm và tinh thần của gã về bản chất con người, về luân lý tình thân, về đạo đức xã hội v.v..., đều bị hủy hoại nghiêm trọng.

III

Điểm lại cuộc đời của Địch Vân, có lẽ không ai là không rùng mình run sợ. Trên thế gian này nơi nào là nơi Địch Vân được sống hạnh phúc? Có ba nơi: thứ nhất, khi còn làm ruộng ở quê nhà; thứ hai, chịu án oan nơi nhà lao tử tù; thứ ba, ở nơi hang tuyết gần biên giới Tây Tạng. Tình cảnh của Địch Vân thật là thê lương thảm não. Khi gã muốn về lại quê nhà thì nhà đã mất, không còn sư phụ, cũng không còn sư muội, gã còn biết tìm về cái gì ở đó?

Trong nhà lao tử tù thì Đinh Điển - người bạn thiết thân duy nhất của gã, ánh sáng ấm áp duy nhất trong nhân gian dành cho gã, đã nằm sâu dưới ba tấc đất lạnh, bây giờ chỉ còn có thể tưởng niệm mà thôi. Cuối cùng, Địch Vân thực sự không còn có chỗ nào để đi, cho nên, gã đành về lại cái hang tuyết nơi mà gã đã chịu đủ không biết bao nhiêu oan ức dày vò, tuy rằng lạnh lẽo nhưng đó lại chính là nơi duy nhất gã có thể trú thân. Qua câu chuyện của Địch Vân, ai cũng thấy đời sống xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ thật có quá nhiều nghịch lý. Các quan phủ là gương sáng treo cao, vì dân tạo phúc, nhưng chức quan phủ được mua bằng tiền; các hiệp khách hành hiệp trượng nghĩa, minh oan cho người, thì hoặc là bị người xấu giết hại, hoặc như Hoa Thiết Cán biến thành một loại côn trùng tội nghiệp tham sống sợ chết. Một đất nước nổi tiếng có lễ nghi nhưng dân chúng thuần phác lương thiện hoặc phải chịu nhiều oan khuất hoặc không thể phân biệt trắng đen tốt xấu.

Lại có cả những chuyện không đáng có, như những bậc tiền bối giả nhân giả nghĩa, những lớp đồ đệ hết sức độc ác hung bạo ỷ mạnh hiếp yếu, hoành hành ngang ngược . Đáng sợ hơn nữa là mối tình nguyên sơ sâu sắc giữa Địch Vân và Thích Phương không rõ vì đâu đã đổi thay, còn vị sư phụ thực thà trung hậu của Địch Vân hóa ra là một đồ đệ hoàn toàn giả dối và tàn nhẫn vô tình. Trong một xã hội mà đại hiệp háo danh, tà đồ háo sắc, từ quan phủ cho đến dân chúng ai ai cũng điên cuồng vì đồng tiền, thì con người thành thực trung hậu chất phác, không háo danh không háo sắc, không hám tiền của là Địch Vân, lại không thể tìm được một chốn dung thân, thật đáng thương thay!

LÒNG XUÂN

14.
LÒNG XUÂN
(Thuận Nghịch độc)

Đầy lan tỏa sắc ngọt xuân hường
Rực ánh huê tình phả nguyệt nương
Cây huyễn ảo thùa xao xuyến nẻo
Gió thơm ngời lộng ngát ngan đường
Bầy chim duỗi phím lời vương cội
Mộng bướm hoan đời cánh đẫm sương
Mây luyến quyện mời câu hứa hẹn
Ngây thơ giữa ái diễm tình trường

Trường tình diễm ái giữa thơ ngây
Hẹn hứa câu mời quyện luyến mây
Sương đẫm cánh đời hoan bướm mộng
Cội vương lời phím duỗi chim bầy
Đường ngan ngát lộng ngời thơm gió
Nẻo xuyến xao thùa ảo huyễn cây
Nương phả nguyệt tình huê ánh rực
Hường xuân ngọt sắc tỏa lan đầy

HANSY

CẢNH HUYỀN MƠ

Đầy loang ánh tỏa mộng mơ hường
Cảnh rộn chim đùa ngọt rẫy nương
Cây cỏ trỗi màu xanh bãi đất
Bướm ong lùa bóng rực hoa đường
Bầy vui cá lội êm dòng nước
Gió lộng ao bồi khẽ giọt sương
Mây bỡn én chào thơm bến cõi
Ngây thơ buổi huyễn sắc niên trường

Trường niên sắc huyễn buổi thơ ngây
Cõi bến thơm chào én bỡn mây
Sương giọt khẽ bồi ao lộng gió
Nước dòng êm lội cá vui bầy
Đường hoa rực bóng luà ong bướm
Đất bãi xanh màu trỗi cỏ cây
Nương rẫy ngọt đùa chim rộn cảnh
Hường mơ mộng toả ánh loang đầy

HCQ

NÀNG ƠI

NÀNG ƠI

Nghe ngàn gió lộng ước ao
Thoảng yêu dấu đượm những khao khát tình
Cứ hoài nhé, khúc bình minh
Cho thuyền ái mộng phả kìn kịt yêu.

Này Em, hảo dáng thiên kiều
Ta nguyền được mãi đắm liêu xiêu nàng
Dỗ đời giai điệu tình tang
Nồng mê ái cảm giữa bàng bạc hương,

Mai này bù lại yêu thương
Trầu cau sóng sánh hiệp trường cửu nha
Dong thuyền về chốn la đà
Hò lơ trong gió đẫm tha thiết lời.

Giữ tình chung thủy người ơi
Rôi đây khuya sớm sẽ phơi phới lòng
Thề nguyền Em nhé ngời trong
Để thiên thu mãi được thong dong hoài.

Ta thì nguyện sẽ mối mai
Còn Em, giữ nhé, chớ phai nhạt nè...

HANSY

HOAN KHÚC

HOAN KHÚC
(Ngũ độ thanh)

Quãng lịm say hồn khỏa phím tơ
Mà gieo hạt ước đẫm môi chờ
Còn thương hãy lại cùng hoa nhớ
Vẫn ước xin về lộng rẻo mơ
Chỗ nọ là đêm làm kẻ ngớ
Triền đây vốn mộng chẳng gương mờ
Tìm trong quá vãng choàng hơi thở
Để suốt canh đời lộng lẫy thơ

Để suốt canh đời lộng lẫy thơ
Ngàn thương ấp ủ mãi không mờ
Êm đềm kỷ niệm dù tan vỡ
Phảng phất ân nguyền giữa mộng mơ
Ái cảm muôn đời mong gặp gỡ
Tình yêu mãn kiếp lịm thương chờ
Hòa chung trí não từng hơi thở
Quãng lịm say hồn khỏa phím tơ

HANSY

Thứ Năm, 29 tháng 6, 2017

BÀN VỀ HAI CHỮ *THẤU CẢM”

BÀN VỀ HAI CHỮ "THẤU CẢM
TRONG ĐỀ THI MÔN VĂN 2017
1.
Trong đề thi môn ngữ văn Quốc gia năm 2017 xuất hiện một từ không có trong từ điển tiếng Việt, với cách hiểu khác nhau trong dư luận là một điều không nên. Bởi trong bài làm thế nào các em học sinh cũng nhắc lại từ ấy với cách hiểu theo tác giả hoặc theo cách khác, các thầy cô chấm bài cũng không biết sao mà chấm. Nếu bỏ qua chuyện dùng từ đúng, sai thì sẽ xảy ra tình trạng chấp nhận một chuyện hầm bà làng trong việc chấm thi Quốc gia, và như vậy làm cho bài thi trở thành thiếu khoa học.. Do đó một điều cần rút ra trong việc ra đề là từ ngữ trong đề phải là từ ngữ có trong từ điển tiếng Việt hiện hành để làm căn cứ.
2.
Ở đây cần nói thêm một điều: Người làm từ điển thu thập các từ ngữ có trong sách báo một thời, đặc biệt là trong tác phẩm tác giả có uy tín, đưa vào từ điển, rồi giải thích theo ngữ cảnh được sử dụng. Như thế số từ trong từ điển bao giờ cũng ít hơn từ ngữ có trong thực tế giao tiếp. Do đó cách một thời gian, các từ điển phải tiến hành bổ sung các từ mới được dùng, nhằm phản ánh được thực tế từ ngữ trong tiếng mẹ đẻ. Do thế một từ chưa có trong từ điển cũng có thể chấp nhận được trong thực tế. Điều đó làm cho tiếng nói được phong phú.
3.
Tôi không biết tác giả đoạn trích trong đề văn hiểu từ “thấu cảm” theo nghĩa nào, dịch từ tiếng nào ra tiếng Việt. Theo gợi ý của đáp án. “Theo tác giả, thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ, là sự hiểu biết thấu đáo trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ và tất cả xảy ra mà không sự phán xét” (Câu này có lỗi diễn đạt) thì đó là áp đặt cho học sinh phải hiểu theo tác giả một cách máy móc. Vậy là trong thấu cảm con người không có cái tôi nữa hay sao? Trong khi đó nếu dùng đúng theo tiêng Việt, trong trường hợp này nên dùng từ đồng cảm, thì trong đó vừa có mình, vừa có người khác, đúng hơn. Lại nữa, tại sao lại không có phán xét? Nếu có thì không thấu cảm hay sao? Rồi “thấu cảm” thì làm sao mà “hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó” được? Muốn được thế thì phải tìm hiểu, điều tra dài ngày mới mong có kết quả được. Mà lúc đó thì phải gọi là “thấu hiểu”, chứ không phải chỉ “thấu cảm”! Đáp án lại đồng nhất thấu hiểu với thấu cảm, coi hai từ như đồng nghĩa. Trong khi đó tác giả xem “thấu cảm” là hoạt động xảy ra như trong chốc lát trực giác, thế là mâu thuẫn. Tôi cho rằng người làm đáp án đã bắt học sinh chấp nhận tuỳ tiện một khái niệm tù mù, trôi nổi, thiếu khoa học.
4.
Có người giiải thích từ “thấu cảm” đây là dịch từ “empathy” trong tiếng Anh, là một thuật ngữ trong tâm lí mĩ học. Theo tôi biết thì từ này vốn tiếng Đức là Einfuhlung, do hai cha con người Đức là Theodore và Robert Vischer đặt ra để chỉ hiện tượng cảm nhận thẩm mĩ của con người đối với thế giới vô sinh, khi người ta cảm thấy cây cối, đồ vật, mây, gió cũng vật vả, quay cuồng, bay lượn, gầm thét giống như là thế giới hữu sinh. Một nhà tâm lí học thực dụng Mĩ dịch ra tiếng Anh là Empathy. Nghiã là khi quan sát thế giới bên ngoài, con người đặt mình vào cảnh huống của sự vật, xem các sự vật vốn không có sự sống xem như là có sự sống, làm như chúng cũng có cảm xúc, cảm giác, tình cảm như con người. Đây là điều rất nguyên thuỷ và đã thể hiện rất nhiều trong các ẩn dụ, không có gì mới lạ. Thực chất của nó là suy bụng ta ra bụng người. Nhưng nó là khái niệm quan trọng để giải thích cơ chế cảm thụ thẩm mĩ, khi ta đứng trước một phong cảnh, một kiến trúc hay bức tượng.

Dịch từ Empathy này như thế nào? Nhà mĩ học Trung Quốc là Chu Quang Tiềm dịch thành tiếng Trung là “Di tình”, nghĩa là đem chuyển cái tình cảm của con người cho sự vật mà nó quan sát. Ông Chu cũng gợi ý có thể dịch thành “nhập cảm”, hoặc “cảm nhập”, “ngoại xạ” (tức là bắn ra ngoài), hoặc “cảm ngộ”, (Ở Việt Nam ông Phương Lựu lúc đầu dịch là di tình, sau lại dịch là chuyển cảm), tất cả đều không ra ngoài phạm vi ý niệm đem cảm xúc của con người mà gán (chuyển) cho sự vật vô sinh. Như thế Empathy có thể dịch thành thấu cảm được, nhưng không thể dịch thành đồng cảm được, bởi như thế thì đối tượng cũng phải là vật hữu sinh. Trong trường hợp tác giả nói đây nó không phải là Empathy, mà chỉ là đồng cảm. Trong bài lại không nói gì về quan hệ giữa người và sự vật vô sinh, cho nên dùng từ thấu cảm (Empathy) vào đây không đúng ngữ cảnh.

Theo tôi đúng nhất vẫn là từ Đồng cảm. Đồng cảm bất cứ mức độ nào đều tốt cả. Không nhất thiết cứ phải thấu hiểu trọn vẹn. Nhưng người ta cứ muốn mới lạ cho nên sinh sự.

Tóm lại trong trường hợp đề thi ngữ văn, hiểu theo tiếng Việt hay theo tiếng Anh, tiếng Đức đều không đúng. Cách hiểu của tác giả có mâu thuẫn. Xét về mặt sư phạm cũng không chuẩn.


GS.TRẦN ĐÌNH SỬ

HIỆP CẨN

151.
HIỆP CẨN

Mỏng mảnh tơ lòng mỏng mảnh rơi 
Trầm hương thơm biếc ngát tim đời 
Trần gian muôn nẻo tình tang kiếm
Cõi ái triệu đường thủng thẳng chơi 
Nguyệt lão xe lòng an số mệnh
Tơ bà cột dạ định vuông trời 
Cầm thư phách nhịp ngời hương lửa
Mát ngọt xuân hồng mát ngọt ơi

HANSY


BẢNG LẢNG

Giọt lệ trăng sầu giọt lệ rơi 
Ngàn xưa vang vọng tiếng ru đời 
Thềm hoang úa rũ hoài mơ cợt
Phế tích lu mờ ký ức chơi 
Ngoái lại cung đường hiu đoạn khúc 
Nhìn ra khoảnh mộng ngút chân trời 
Mênh mông sắc nhạt hờn rêu phủ
Quá vãng xa rồi quá vãng ơi

HANSY

NHẮN NHỦ

NHẮN NHỦ

Ta ở nơi này dõi mắt xa
Tình thơ trải rộng khắp giang hà
Đời Em hẳn vẫn hồng môi má
Đăm mượt phiêu bồng khúc nguyệt ca

Xin được một lần mình trong nhau
Tan lẫn vào yêu phả nhiệm mầu
Ta - Em dệt mãi niềm  thương ngấu
Yêu mãi hoài vang vọng kiếp sau.

Tình yêu là mật ngọt của đời
Hãy mở tim lòng tựa giếng khơi
Thì bao nồng mặn hoài luôn tới
Lúng liếng âm vang giữa rạng ngời.

Chớ ngại ngần gì khi đã yêu
Hãy dâng mật ngọt sáng như chiều
Thỏ thẻ bên rèm bao giai điệu
Cho cõi đời này lãng đãng phiêu...

HANSY

LỜI THỀ SÔNG NÚI

LỜI THỀ SÔNG NÚI

Trùng dương sóng dậy tỏa linh thần
Vũ bão kiêu hùng tựa sấm dâng
Chiến hạm giương nòng ra sức tấn
Phi tuần nhả đạn đuổi tàu lân
Anh hào Việt quốc ngời thiên vận
Nữ tú Nam trời tỏa ngọc chân
Thề sẽ quét tan đồ biển lận
Dựng xây đất nước đẹp vô ngần

Dựng xây đất nước đẹp vô ngần
Nam Việt muôn đời rạng lý chân
Quyết giữ biên thùy ngăn tặc lấn
Luôn gìn hải đảo dẹp thù lân
Lời cao nữ kiệt tưng bừng dấn
Chí cả anh hùng mải miết dâng
Tổ quốc sơn hà đang rất khẩn
Trùng dương sóng dậy tỏa linh thần

HANSY

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

33 NAM LAN

33
NAM LAN 
Một đời mộng chẳng thành

Từ khi ở Thương gia bảo bị Hồ Phỉ trước mặt mọi người nhiếc một câu "Mụ là người thiếu lương tâm,Thiên lôi sẽ đánh chết mụ”, suốt đời Nam Lan chỉ e sẽ không thể ngủ yên. Điều nghiêm trọng là lời phán xét ấy của Hồ Phỉ sẽ ảnh hưởng đến thái độ của rất nhiều độc giả, họ sẽ coi thiếu phụ Nam Lan là một người xấu xa. Dưới con mắt một số bạn đọc, Nam Lan là một phụ nữ đã có chồng, lại bỏ đi theo trai, là vô đạo đức Hơn nữa người chồng bị phản bội lại là Miêu Nhân Phụng, gã trai là Điền Qui Nông, một kẻ tiểu nhân thấp kém, thật là dại dột. Nam Lan bỏ đi theo trai, nghe tiếng con gọi cũng mặc kệ, đương nhiên không còn cả tình mẹ. Một phụ nữ như thế, cuối cùng thân tàn ma dại, hối hận đã muộn, chẳng phải là ác giả ác báo đó sao? Nhưng các bạn đọc hiểu rõ Hồ Phỉ, nhất định sẽ nghĩ kỹ một chút, Hồ Phỉ chỉ là một cậu bé, tuy có dũng khí và lòng hiệp nghĩa, nhưng rất nông nổi, thô lỗ, nói sai, làm hỏng nhiều lần. Hơn nữa, Hồ Phỉ khi đó chưa biết hoàn cảnh cụ thể ra sao, chưa biết tí gì về thân thế của Nam Lan, tâm sự của nàng. Lời phán xét của Hồ Phỉ, sao đủ để làm căn cứ Nam Lan rốt cuộc là người như thế nào, rõ ràng ta cần hiểu đã, rồi hãy đánh giá. Nếu biết hoàn cảnh của Nam Lan, ta sẽ thấy nàng quả là một phụ nữ bất hạnh. Sự bất hạnh của nàng, trước hết là số phận đẩy nàng vào thế giới võ lâm xa lạ, một thế giới mà nàng căm ghét.

Là tiểu thư con nhà quan, trưởng thành trong dòng chủ lưu của xã hội, nàng vốn theo cha lên kinh chờ việc bổ nhiệm, nào ngờ chỉ trong một đêm cha bị giết, nàng thành cánh bèo bơ vơ. Nguyên nhân chỉ tại cha nàng có mang theo một thanh bảo đao, tính lên kinh đô hối lộ quan viên, đổi lấy công danh, cho nên có một bọn trong võ lâm thèm muốn thanh bảo đao ấy, tìm cách cướp đoạt khiến cha nàng bỏ mạng. May có Miêu Nhân Phụng ngẫu nhiên lưu ý, kịp thời ra tay cứu mạng, nếu không thì bảo đao và mỹ nữ đều đã được chia phần cho mấy tên cường đạo, số phận của Nam Lan sẽ thảm thương hết chỗ nói. Thực tế, tuy được Miêu Nhân Phụng cứu sống, nhưng số phận một đời của Nam Lan cũng đã thay đổi tận gốc. Hơn nữa, tất cả đều không thể cứu vãn được nữa. Nam Lan nhanh chóng trở thành vợ của Miêu Nhân Phụng, trước tiên là nàng muốn báo hiếu, cảm tạ ơn cứu mạng của đối phương; thứ hai là tình huống cấp bách, nàng giúp Miêu Nhân Phụng hút chất độc, đã có sự "đụng chạm thể xác", không thể không lấy chàng ta. "Chàng ta dẫu có là tướng cướp, ác tặc, nàng cũng không còn đường nào khác". (Xem Phi hồ ngoại truyện) . Thứ ba là vì cha nàng đã chết, nàng không còn ai thân thích trên thế gian, không biết dựa vào đâu, thôi đành làm vợ Miêu Nhân Phụng. Một số người cho rằng Nam Lan được Miêu Nhân Phụng cứu sống, thành hôn với chàng ta, phải coi là may mắn nhất đời. Miêu Nhân Phụng không chỉ là vị anh hùng khắp thiên hạ không có đối thủ, mà còn nổi tiếng là "Kim diện Phật" đại hiệp trên giang hồ. Càng trọng yếu là Miêu Nhân Phụng đối với nàng không chỉ có ơn cứu mạng, mà sau khi thành hôn, còn nhất mực yêu thương nàng. Nhưng Nam Lan khi quyết định lấy Miêu Nhân Phụng chỉ là bất đắc dĩ, bởi nguyên nhân quan trọng nhất: tiểu thư Nam Lan không phải là người trong thế giới võ lâm của Miêu Nhân Phụng.

Trong sách viết : "Nếu Nam tiểu thư biết võ công, hoặc biết thán phục bản sự của chồng, thì nàng sẽ hiểu vì sao chàng là một đấng nam từ kỳ nhân đội trời đạp đất; nhưng nàng lại chẳng coi trọng võ công chút nào, thậm chí trong đáy lòng còn căm ghét võ công. Bởi lẽ cha nàng đã bị người trong võ lâm giết hại để cướp thanh đao, nàng phải lấy một người không hiểu gì tâm sự của nàng, vì người ấy đã dùng võ công cứu nàng". (Xem Phi hồ ngoại truyện). Giữa Nam Lan và Miêu Nhân Phụng có sự khác biệt rất lớn về văn hóa, bao gồm địa vị xã hội, thói quen sinh hoạt, hứng thú quan điểm giá trị, mục đích sống v...v... Tóm lại là hai người không cùng một thế giới, đến với nhau chỉ do trời xui đất khiến mà thôi. Trong sách có một tình tiết rất quan trọng. Hôm ấy, khi Miêu Nhân Phụng đã bị thương, có bảo Nam Lan hãy dùng đao chém tên tướng cướp Tưởng Điều Hầu đã bị thương cho hắn chết đi, thì tiểu thư Nam Lan nói nàng không dám giết người, Miêu Nhân Phụng bèn quát to : "Cô nương không giết hắn, thì hãy giết ta đi!" (Xem Phi hồ ngoại truyện). Kết quả tiểu thư Nam Lan giật mình, run rẩy, thanh đao rơi khỏi tay, vừa hay bổ xuống vỡ sọ Tưởng Điều Hầu. Tưởng Điều Hầu chết, Nam Lan cũng ngất đi luôn. Đó là sự khác biệt văn hóa giữa hai người, đối với Miêu Nhân Phụng, giết người là chuyện cơm bữa; còn đối với Nam Lan, thì giết người, dù là giết kẻ đã giết cha mình, thậm chí giết người để tự cứu, nàng cũng không thể hạ thủ, không dám hạ thủ, không nỡ hạ thủ. Thực tế, từ khi hai người bắt đầu sống với nhau, sự khác biệt văn hóa hiện diện trong mọi chuyện. Sau tai họa kinh tâm động phách nọ, Nam Lan như mang tâm bệnh, "hễ nhắm mắt nàng lại nhìn thấy thảm kịch xảy ra trên tuyết, thấy cha nàng bị giặc giết hại, thanh đao trong tay mình rơi xuống, chém chết một người. Nàng thường thường khóc trong lúc nằm mơ". (Xem Phi hồ ngoại truyện).

Mấy chuyện đó, Miêu Nhân Phụng không hề biết, dẫu có biết, chàng ta cũng không thể hiểu, tại sao cảnh tượng quá quen thuộc với chàng, lại trở thành ác mộng đối với Nam Lan, nên cũng không thể an ủi nàng. Ngược lại, khi huynh đệ họ Chung đến trả thù, trong khi Miêu Nhân Phụng bị thương chưa khỏi, Nam Lan định cưỡi ngựa chạy đi, thì Miêu Nhân Phụng lắc đầu không nói. Chàng biết tiểu thư Nam Lan sẽ không hiểu được rằng người "khắp thiên hạ không có đối thử' thì không thể bỏ chạy. Theo cách viết trong sách, thì rạn nứt trong quan hệ vợ chồng Miêu Nhân Phụng bắt đầu từ lúc Miêu Nhân Phụng đứng trước mộ phần vợ chồng Hồ Nhất Đao đã vô tình ca ngợi phu nhân Hồ Nhất Đao : "Một nữ kiệt như phu nhân, dẫu trượng phu ở trong lửa, cũng sẽ nhảy vào lửa, dẫu trượng phu ở trong nước, cũng sẽ nhảy vào nước ..." Câu nói ấy vô tình khiến Nam Lan động lòng, bởi vì có một lần nhà cháy, Nam Lan đã bỏ Miêu Nhân Phụng mà chạy ra trước. Rõ ràng cuộc sống của Nam Lan sau khi lấy chồng là không sung sướng. Hứng thú và yêu cầu của nàng không được chồng thông cảm và tôn trọng. Ở bên cạnh người chồng anh hùng mà nàng vẫn bị ác mộng giày vò, mà tâm sự thầm kín của nàng vẫn không được người chồng chia xẻ. Tóm lại, sinh hoạt hôn nhân của nàng không thể đem lại hạnh phúc cho Miêu Nhân Phụng, và hoàn toàn không như nàng mong mỏi.

II Nam Lan rời bỏ chồng và đứa con gái, sở dĩ gà theo gà, lấy chó theo chó, lấy cái đòn gánh thì phải làm quang" cố hữu trong đầu óc mọi người, còn có một nguyên nhân quan trọng nữa, là do họ không hiểu sự khác nhau giữa hai vợ chồng Miêu Nhân Phụng và hứng thú cuộc sống và quan điểm giá trị. Họ không hiểu rằng một tiểu thư như Nam Lan lấy một anh hùng như Miêu Nhân Phụng, tuy không thề nói là tai họa, song rõ ràng cũng không phải là chuyện hay ho. Võ công cái thế, "khắp thiên hạ không có đối thủ”, giới võ lâm đều kính ngưỡng "Kim diện Phật" Miêu Nhân Phụng. Nhưng người phương Tây có câu ngạn ngữ "Dưới mắt tôi tớ không có vĩ nhân", ngụ ý "Bụt chùa nhà không thiêng”. Đầy tớ ngày ngày chứng kiến sinh hoạt của vĩ nhân, thấy phương diện phàm tục mà những người khác không thể biết, thấy vĩ nhân cũng chẳng khác gì thường nhân cả. Từ đó suy ra, vợ của vĩ nhân còn gần gũi hơn nhiều, còn thấy rõ nhiều chuyện của vĩ nhân hơn. Nói cách khác, trước mặt vợ mình, vĩ nhân anh hùng tất nhiên ứng xử thoải mái, không phải lên gân, làm điệu làm bộ gì cả, như đứng trước mọi người. Tóm lại, làm vợ Miêu Nhân Phụng có sung sướng hay không, chỉ có Nam Lan hay biết. "Miêu Nhân Phụng bản tính trầm lặng ít nói, suốt ngày lầm lì, người vợ thì muốn chồng vui vẻ nói cười, phong nhã nhẹ nhàng, hiểu tâm ý phụ nữ. Miêu Nhân Phụng đầy mình võ công, khắp thiên hạ không có đối thử, song những gì người vợ cần thì chàng lại hoàn toàn không có (Xem Phi hồ ngoại truyện).

Tuy không thể nói Miêu Nhân Phụng không có hứng thú, chí ít chàng cũng có một vài hứng thú, tiếc rằng lại không phù hợp với mong muốn của Nam Lan. Như đã nói, giữa hai người có sự cách biệt về văn hóa. Điền Qui Nông tới, hay nói theo ngôn ngữ bây giờ, là Điền Qui Nông tán tỉnh, làm cho Nam Lan như bông hoa bừng nở, vươn ra ngoài bờ tường, tiếp đến cảnh bỏ chạy theo Điền Qui Nông. Nhưng chúng ta cần thấy, bất kể là Điền Qui Nông dụ dỗ, hay lòng xuân của Nam Lan loạn động, thì đó cũng chỉ là kết quả chứ không phải là nguyên nhân đích thực. Nguyên nhân đích thực dĩ nhiên là sự bất hòa trong cuộc sống giữa hai vợ chồng Miêu Nhân Phụng. Trong suy nghĩ của Nam Lan, Miêu Nhân Phụng chẳng phải là phụng hoàng gì hết, mà chỉ là một gã nông phu; ngược lại, Điền Qui Nông tuy tên là về với nhà nông, song thực chất lại phong lưu tuấn nhã như phượng hoàng. Câu nói nào của Điền Qui Nông cũng khiến người ta thích thú, cái nhìn nào của Điền Qui Nông cũng khiến trái tim phụ nữ thổn thức, các phẩm chất của Điền Qui Nông chính là những thứ Nam Lan mong đợi, những thứ mà Miêu Nhân Phụng chồng nàng không có. Điều này khiến nàng nhận ra, vấn đề không phải ở chỗ nàng không được Miêu Nhân Phụng quan tâm, mà là ở chỗ nàng hoàn toàn không yêu Miêu Nhân Phụng. Hiện tại, chúng ta đối diện trực tiếp với câu hỏi : hành vi của Nam Lan bỏ đi theo Điền Qui Nông có sai hay không? Nam Lan hạ quyết tâm bỏ chồng, bỏ con gái, bất chấp danh dự và gia đình, theo đuổi tình yêu, sự dịu dàng ấm áp, khoái lạc và hạnh phúc cho mình; hạ quyết tâm "Chỉ cần được ở bên cạnh Qui Nông, ngắn ngủi vài hôm cũng được, chỉ cần được ở bên cạnh Qui Nông, rồi chồng nàng Miêu Nhân Phụng có giết hay làm gì nàng cũng được", vậy nàng sai ở chỗ nào? Nàng không yêu Miêu Nhân Phụng, mà yêu Điền Qui Nông, "Nàng rất yêu con gái, nhưng nó là con của Miêu Nhân Phụng, chứ không phải đứa con do nàng và Điền Qui Nông sinh ra". (Xem Phi hồ ngoại truyện).

Nên cuối cùng nàng dứt áo bỏ đi. Đấy là một sự lựa chọn của nàng, sự lựa chọn này đáng được con người hiện đại thông cảm và tôn trọng, giống như ta tôn trọng sự lựa chọn của nhân vật Anna Karenina trong tác phẩm cùng tên của Lev Tolstoi vậy. III Nam Lan giống như Anna Karenina, vì sự lựa chọn của mình mà phải trả giá cực đắt, cuối cùng hoàn toàn không nhận được những gì mình kỳ vọng. Nguyên nhân gồm có, thứ nhất, sống lâu ngày với Điền Qui Nông, sinh hoạt đi vào nếp thông thường, nhiệt tình của Điền Qui Nông từ từ giảm đi, mà cảm giác mới lạ của Nam Lan cũng giảm dần. Thứ hai, Điền Qui Nông trước sau chỉ lo Miêu Nhân Phụng đến trả thù, nên phải tăng cường luyện công, hết sức đề phòng, điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến hứng thú cuộc sống, đến mức Nam Lan phát hiện Điền Qui Nông cũng giống như Miêu Nhân Phụng, thậm chí có chỗ còn không bằng chồng cũ. Thứ ba, việc Nam Lan bỏ đi theo trai, không chỉ bỏ chồng bỏ con, mà còn vứt bỏ danh dự, thậm chí gây rủi ro cho sinh mạng. Cái khoản "đầu tư” rủi ro quá lớn này đương nhiên chỉ mong nhận được "lợi tức", nếu không nhận đủ "lợi tức”, sự thất vọng sẽ rất lớn. Thứ tư, rời bỏ Miêu Nhân Phụng coi như xong, nhưng việc rời bỏ đứa con gái để lại trong lòng Nam Lan nỗi day dứt khôn nguôi, bởi vì nó không chỉ là con của Miêu Nhân Phụng, mà còn là con đẻ rứt ruột của nàng. Thứ năm, tuy không có ai trong cuộc sống hàng ngày moi móc “lai lịch" của Nam Lan, áp lực thanh danh đạo đức cũng là một thứ sức ép tâm lý. Tất cả những thứ trên là nguyên nhân khiến Nam Lan "bất hạnh", tiều tụy, cơ thể sinh bệnh, tâm hồn đau khổ, cuối cùng chết yểu. Đối với Miêu Nhân Phụng, Nam Lan đương nhiên cũng có sự ray rứt, dẫu sao Miêu Nhân Phụng cũng là ân nhân cứu mạng, là chồng nàng. Nam Lan trốn đi theo Điền Qui Nông, song Miêu Nhân Phụng không hề truy cứu, càng không truy cứu, thì Nam Lan càng bị ray rứt. Nhưng sự ray rứt này trong sách có tả sao đó để nó phát triển thành sự hối hận về mặt đạo đức hay không, thì không nói rõ. Nam Lan có nói với Hồ Phỉ :"Nói ra ngươi có thể không tin, nhưng mấy năm qua, ta vẫn ngày đêm nghĩ tới hai người đó" (tức Miêu Nhân Phụng và đứa con gái). (Xem Phi hồ ngoại truyện).

Giả sử Nam Lan phát hiện Điền Qui Nông không thật sự yêu nàng, liệu nàng có hối hận hay chăng? Điều đó còn là một nghi vấn. Bởi vì nàng không yêu Miêu Nhân Phụng, mà chỉ yêu Điền Qui Nông, đấy là sự thật hiển nhiên. Nếu Nam Lan vì thế mà lại hối hận về mặt đạo đức, thì sẽ phủ định toàn bộ lập trường tình cảm và sự lựa chọn cuộc sống tự chủ của nàng. Nếu thế, Nam Lan sẽ thành người gì? Chẳng hóa ra biến thành công cụ để tác giả rao giảng đạo đức ư? Thực ra, bi kịch của Nam Lan, cũng giống như Anna Karenina, là do không có ý chí sống và năng lực sống thật sự độc lập, lại coi tình yêu là nội dung của toàn bộ cuộc sống, gửi gắm cả sinh mạng mình vào đó, cho nên một khi phát hiện nội dung ấy, chỗ gửi gắm ấy không vững vàng, thì sẽ rơi vào vực sâu tuyệt vọng.

KHÚC CUỒNG QUAY

KHÚC CUỒNG QUAY

Đẫm ái cho đời mải miết say
Tình ơi dậy sóng suốt đêm ngày
Men nồng lạc thú mơ màng dậy
Lửa đượm hoan nguyền rạng rỡ quay
Hãy chuốc ngọt ngào loang gió lựng
Và đan thơm thảo phả trăng đầy
Mùa vui vẫn mãi tròn câu nguyện
Cho cả tim lòng cuộn sắc mây

Cho cả tim lòng cuộn sắc mây
Bừng hoan trỗi lạc đẫm mơ đầy
Thầm nghe nghĩa mộng lèn thơm khắp
Lặng nhớ ân tình ướp ngọt quay
Vẫn mãi cung đàn xiêu tản cội
Và hoài khúc điệu lả mơn ngày
Ta-Mình quyện chặt miền mơ diệu
Đẫm ái cho đời mải miết say

HANSY


MEN TÌNH

Nâng bầu tửu nhạt thả hồn say
Lả lướt cùng em suốt những ngày
Cảnh huyễn mơn tình hoang lạc dậy
Môi hồng ái thẫm ngọt ngào quay
Bừng cơn mộng dã thuyền hoa lộng
Dậy khúc chiều hoang ánh nguyệt đầy
Yểu điệu đêm huyền mê mẩn đắm
Cung vàng lịm giấc khỏa trời mây

Cung vàng lịm giấc khoả trời mây
Hớn hở cùng ai thỏa mộng đầy
Buổi lộng ân nồng thơm thảo trỗi
Canh ngời ái mặn đượm đà quay
Choàng chăn trải gót vờn tiên cảnh
Phủ gối luồn duyên kết mật ngày
Ảo diệu mê huyền ngan ngát dậy
Nâng bầu tửu nhạt thả hồn say

HCQ

ĐOẠN ĐÀNH

ĐOẠN ĐÀNH

Mà sao quay ngoắt hững hờ 
Trăm thương ngày cũ chợt bơ vơ lòng
Đâu rồi những khúc ước mong
Nồng nàn môi miệng, thỏa ong bướm rồi.

Sao đành cay nghiệt dập dồi
Để hương ngày cũ chợt bồi hồi tim
Tình yêu qua lắm nổi chìm
Lờ thương kỷ niệm khiến im bặt thề.

Cảnh buồn sao lắm  ủ ê
Gió trăng thuở ấy cũng lê thê sầu 
Tình hờ chẳng bám vào đâu
Thôi đành bái biệt mặc xâu xé hoài.


Ta về chốn cũ ngô khoai
Người sang thuyền mộng chúc thoài thoải tình
Nực cười một chữ nguyền trinh
Mà đem dối gạt để khinh khỉnh người...

HANSY

NGÁN NGAO

NGÁN NGAO
(Thuận Nghịch độc)

Sầu ân ái biệt xót xa lòng
Lặng vắng hương người mải miết trông
Đâu mộng lỡ nguyền đau đớn dạ
Hẫng mơ lìa phụng tái tê hồn
Lầu thê thảm nuộc nhàu duyên ước
Kiếp dở dang tình rã cuộc mong
Ngâu đổ ngập đời hoen phận bạc
Mầu ngao ngán dậy lửng lơ nồng

Nồng lơ lững dậy ngán ngao mầu
Bạc phận hoen đời ngập đổ ngâu
Mong cuộc rã tình dang dở kiếp
Ước duyên nhàu nuộc thảm thê lầu
Hồn tê tái phụng lìa mơ hẫng
Dạ đớn đau nguyền lỡ mộng đâu
Trông miết mải người hương vắng lặng
Lòng xa xót biệt ái ân sầu

HANSY

Thứ Ba, 27 tháng 6, 2017

TRANH LUẬN VỀ TỪ “THẤU CẢM” TRONG ĐỀ THI NGỮ VĂN

TRANH LUẬN VỀ TỪ “THẤU CẢM”
TRONG ĐỀ THI NGỮ VĂN

Sau ngày thi đầu tiên, nhiều ý kiến tranh luận trên mạng xã hội về câu hỏi trong phần Đọc hiểu của đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn.

Từ “thấu cảm” trong câu Đọc hiểu, trích từ văn bản Thiện, Ác và Smartphone của tác giả Đặng Hoàng Giang (NXB Hội nhà văn, 2017, tr.275).

Tại sao lại bắt học sinh lý giải từ ngữ... lạ?

Thầy Lê Văn, giáo viên Ngữ văn tại Hà Nội, cho rằng hơn 20 năm công tác trong nghề, ông chưa từng nghe thấy từ “thấu cảm” như trong đề thi đã đưa.

Trong câu đọc hiểu, tác giả đưa ra 3 định nghĩa. Thứ nhất, thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ.

Thứ hai, thấu cảm là sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ và tất cả xảy ra mà không có sự phán xét.

Thứ ba, thấu cảm khiến ta hồi hộp khi quan sát một người đang đi trên dây ở trên cao, làm chúng ta cùng vui buồn với một nhân vật trong truyện.

Câu hỏi của đề thi Ngữ văn gây tranh cãi.
"Việc giải thích này khiến người nghe càng đọc càng... khó hiểu. Nếu thấu cảm như tác giả hiểu tường tận đến cùng và trọn vẹn suy nghĩ, cảm xúc của người khác thì hoàn toàn sai lầm vì đó là điều không thể. Vậy thấu cảm chỉ có thể là... nhà ngoại cảm mà thôi", thầy Lê Văn lý giải. 

TS Trịnh Thu Tuyết - giáo viên dạy Ngữ văn tại trường THPT Chu Văn An, Hà Nội, nêu quan điểm: "Thấu cảm" chỉ là cách ghép từ khá chủ quan thường gặp trong ngôn ngữ giao tiếp. Vì là cách cắt - ghép chủ quan nên cách hiểu nhiều khi phải mặc định, cũng khá chủ quan. Chỉ trở về khởi thuỷ, tạm hiểu theo cách chiết tự với hai yếu tố là hiểu và cảm.

Đoạn văn của tác giả Đặng Hoàng Giang khiến người đọc khó "thấu cảm" được bởi không thể "nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ" được. Mỗi con người hãy cứ là chính mình với những quan sát, thấu hiểu, cảm thông.

Thứ hai, càng không thể "hiểu thấu đáo, trọn vẹn một ai đó", thậm chí đó là điều không tưởng với chính mình.

Thêm nữa, theo TS Trịnh Thu Tuyết, đây là đoạn văn thiếu logic, không chặt chẽ và chủ quan. 

Trên Facebook, một nhà thơ có tiếng cũng cho rằng thấu cảm là từ không có trong mọi cuốn từ điển tiếng Việt, càng không phải là từ Hán Việt. Vậy tại sao lại bắt học sinh giải nghĩa từ này?

'Thấu cảm' ít được dùng nhưng có trong từ điển

Trao đổi với Zing.vn, PGS.TS Phạm Văn Tình - Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - cho biết Thiện, Ác và Smartphone của tác giả Đặng Hoàng Giang (NXB Hội nhà văn, 2017, tr.275) là văn bản chấp nhận được.

Theo TS Tình, một số ý kiến cho rằng văn bản đưa một số từ Hán Việt là "thấu cảm", "trắc ẩn" ảnh hưởng sự trong sáng của tiếng Việt, khó hiểu, lạ lẫm.

Từ Hán Việt (chiếm một tỷ lệ lớn trong từ vựng tiếng Việt) là một bộ phận của tiếng Việt. Mặc dù có xuất xứ từ nguyên là tiếng Hán, các từ này đã được Việt hóa cả về cách đọc và cách dùng (về ngữ nghĩa, theo cách của người Việt). Giới Việt ngữ học cho từ Hán Việt đã là tài sản của tiếng Việt.

TS Tình giải thích: Trắc là sự thâm sâu có thể đo được, thấy được; ẩn là kín đáo, có nghĩa "thương xót một cách kín đáo trong lòng".

Thấu là xuyên qua; cảm là cảm nhận, cảm thụ, cảm thấy, có nghĩa "thấu hiểu và cảm thông một cách sâu sắc". Đây là hai từ thể hiện chủ đề và góp phần làm nên thần thái đoạn trích này.

Hơn nữa, các từ thấu cảm, trắc ẩn đã có trong Từ điển tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng 2015, 2017).  

Riêng từ thấu cảm (thấu hiểu và cảm thông sâu sắc) có thể còn hơi lạ. Nhưng đó là cái mới cần lưu ý, học sinh hoàn toàn có thể suy luận và hiểu (vì các em đều hiểu 2 từ thấu hiểu và cảm thông để từ đó suy luận ra từ ghép thấu cảm). Nếu học sinh nào có cảm quan ngôn ngữ tốt, đây chính là cơ hội để các em "ghi điểm" bằng sự thể hiện riêng mình (sẽ giúp cho việc phân loại).

Theo TS Phạm Văn Tình, việc sử dụng những từ mượn này vào văn bản không ảnh hưởng nhiều tới thông điệp trong đoạn văn. Cái quan trọng là cách viết câu, cách diễn giải trong văn bản rõ ràng, mạch lạc và có lý lẽ. Văn bản được chọn cho đề thi trên cơ bản đáp ứng được điều đó.

Về đề thi THPT quốc gia, TS Phạm Văn Tình góp ý: Nội dung của câu 4 của bài Đọc hiểu: "Anh/chị có đồng tình với ý kiến 'Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm' không? Vì sao?" khá trùng với nội dung của câu 1, phần Làm văn: "Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống.

Đề thi nên hỏi ý khác thì hay hơn.

Theo Zing

THƠ – BẠN

150
THƠ – BẠN
(Ngũ độ thanh)

Nguồn thơ tựa nước vỗ theo thuyền
Cảm xúc lâng hồn rộn rã xuyên
Lục Bát êm đềm mơ quãng luyến
Đường Thi rạng rỡ tỏa cung nguyền
Ngon ngào Vạn Chữ trong tình chuyến
Lả lướt Trăm Vần giữa mộng duyên
Xướng họa tâm đầu mê mẩn huyễn
Cầm thư tửu nhạc sáng đêm huyền

Cầm thư tửu nhạc sáng đêm huyền
Lộng lẫy cho đời thỏa sắc duyên
Khỏa ý ươm từ chan điệu huyễn
Thùa tâm dệt tứ mở trang nguyền
Niềm mơ trỗi phả thầm câu luyến
Vọng tỏa tim lèn nỗi nhớ xuyên
Mãi ước kim bằng tơ bủa quyện
Nguồn thơ tựa nước vỗ theo thuyền

HANSY

VỌNG XƯA

VỌNG XƯA

Môi chẳng hồng khi ái đà tím thẩm
Tình yêu ơi, lẩm chẩm bước mong chờ
Đâu có còn ngày ấy những vần thơ
Mặt trời lặn và  tim khờ rẩy chết.

Mắt chẳng ngời khi tình vào đoạn kết
Ngoái đường xưa suy kiệt ước mơ rồi
Hồn còn gì lúc nói tiếng chia phôi
Lòng dạ đắng một trời loang ảo ảnh.


Nào những khi bướm vờn bay tiên cảnh
Hoặc bao lần ta hiệp mảnh nồng hoan
Cứ tưởng đâu thương nhớ sẽ vẹn toàn
Đâu biết được mưu toan làm lạc lối.

Ta mờ mịt như rớt vào đêm tồi

Cố nhân ơi, sao làm tội nhân tình
Để bây giờ hỏng cả bức tranh xinh
Chiều quá vãng sao nặng nề khắc khoải...

HANSY 

MÊ MỆT

MÊ MỆT
(Ngũ độ thanh)

Xúc cảm mê bừng giữa lạc hoan
Buồng tim tuyệt diễm kết thơm choàng
Cho nguồn diệu khúc hoài lâng noãn
Để mộng nghê thường mãi đắm loan
Thỏa thích chăn màn chao hỗn loạn
Triền miên phím nhạc khỏa chu toàn
Nồng dâng hạnh phúc nào chi hoãn
Thắm cõi ân tình thỏa lịm loang

Thắm cõi ân tình thỏa lịm loang
Ngàn yêu tỏa đượm sắc hương toàn
Đường mơ phảng phất lèn cung Quãng
Nẻo mộng tưng bừng xõa gối loan
Nhễ nhại mơ mòng tim thở quáng
Ngù ngây rã rượi ái ôm choàng
Bồng lai quấn quyện lem mờ khoảng
Xúc cảm mê bừng giữa lạc hoan

HANSY

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

32. MÃ XUÂN HOA

32.
MÃ XUÂN HOA 
Mê muội đường tình

Thương lão thái chết rồi, Mã Xuân Hoa cuối cùng cũng chết. Thương lão thái chết bởi thù hận, Mã Xuân Hoa chết vì ái tình, cơ duyên vận số của đời người thường khiến cho người ta khó lòng tưởng tượng. Có lúc cứ nghĩ giả dụ Thương lão thái nghe theo nguyện vọng của con trai là Thương Bảo Chấn mà cầu hôn với phụ thân của Mã Xuân Hoa, có phải hai nhà đã hóa thù thành thân, mọi người cùng sống đầm ấm bên nhau, thì Mã Hành Không chẳng bị tai họa, Mã Xuân Hoa không đến nỗi tình mê tử lộ, Thương lão thái cũng sẽ không phải tự thiêu. Có điều nếu thế, trong sách đã chẳng có chuyện để viết. Hơn nữa, tính cách quyết định số phận, cuộc sống làm gì có chuyện giả dụ? Thực ra, chính vì Thương lão thái phát hiện con trai mình là Thương Bảo Chấn say mê Mã Xuân Hoa, mới bày ra một diệu kế để hành hạ con gái của kẻ thù, vừa hay bị Mã Hành Không nghe lén được, Mã Hành Không bèn đột nhiên quyết định để Mã Xuân Hoa đính hôn với đồ đệ là Từ Tranh, hơn nữa, còn cố tình mời Thương lão thái làm bà mối. Mã Hành Không cho rằng đấy là thượng sách, căn bản không buồn bàn với con gái, nên mới dẫn đến hậu quả bất hạnh cho Từ Tranh và Thương Bảo Chấn.

I

Mã Xuân Hoa đính hôn với Từ Tranh hôm trước, thì hôm sau nàng lại ngả vào lòng một kẻ không quen biết, mê mẩn kẻ đó không còn biết trời đất gì nữa. Đây rõ ràng là cảnh ngoài sức tưởng tượng, đáng kinh ngạc nhất trong sách. Đừng nói người ngoài, e rằng ngay cả Mã Xuân Hoa cũng không ngờ tới. Nếu là trường hợp của người khác, Mã Xuân Hoa cũng quyết không thể tin có chuyện như vậy. Xong việc rồi, có bảo nàng lý giải, nàng cũng chịu, quá nữa, chỉ có thể nói đây là oan nghiệt trong định mệnh của nàng : nếu không thì tại sao một cô nương hai mươi tuổi lại hồ đồ cả gan, giữa ban ngày ban mặt, làm một việc mà chỉ mới nghĩ thôi cũng đã đỏ mặt? Thực ra, cái gọi là oan nghiệt trong định mệnhcó nguyên do của nó. Trước hết nói về Phúc Khang An, đó là một vị quan trong triều, không chỉ có thân phận quí hiển, mà còn anh tuấn phóng khoáng, thủ đoạn cao minh, tài trăng gió quyến rũ thì khỏi cần nói. Ở vùng quê hẻo lánh này, đột nhiên gặp "một thiếu nữ mười tám, mười chín tuổi, mặt trái soạn, mắt đen láy, má ửng hồng, toàn thân rạo rực tuổi xuân", (Xem Phi hồ ngoại truyện ) cô gái vừa trẻ trung khỏe mạnh, vừa là bông hoa lạ, Phúc Khang An tội gì không "hái"? Lại nói về Mã Xuân Hoa, ta biết là một cô gái đang rạo rực tuổi xuân, đầu óc đơn giản, ngây thơ đáng yêu. Nàng rõ ràng không biết Phúc Khang An tới Thương gia bảo là nhắm nàng mà đến, nàng thậm chí còn không để ý tới vị quí công tử đó nữa. Điều này không phải vì nam nữ hữu biệt, mà là vì nàng đang rất vội, hơn nữa đang ngổn ngang tâm sự. Tâm sự ấy là nàng bất mãn với Từ Tranh, vị hôn phu mới đính hôn hôm qua, nàng chẳng qua chỉ đến xin Thương Bảo Chấn thả cậu bé Hồ Phỉ đáng thương, sau đó chẳng qua cũng chỉ muốn cứu Thương Bảo Chấn khỏi tay Hồ Phỉ, đâu có làm việc gì xấu xa, mà Từ Tranh lại hầm hầm ghen tuông tức giận? Như thế là cố ý làm cho nàng bị oan ức chứ gì? Mà Mã Xuân Hoa thì ghét nhất là bị oan ức; bị oan ức tất nhiên sẽ đau khổ, càng đau khổ, lại càng tủi thân: “Chẳng lẽ suốt đời ta sẽ phải sống với vị sư huynh ngang ngược vô lý này ư” Có cha ta ở bên cạnh, y còn hung dữ như thế, sau này không biết y sẽ đối xử với ta thế nào không biết?" (Xem Phi hồ ngoại truyện). Sau khi bị oan ức, tủi thân, Mã Xuân Hoa bất tri bất giác chui vào cái lưới đã chăng sẵn đón nàng ở vườn hoa sau nhà. Khung cảnh thiên nhiên, chàng công tử Phúc Khang An đa tình, đã khiến Mã Xuân Hoa không cầm lòng được nữa. Có lẽ chính Mã Xuân Hoa cũng không biết, đây thực ra là một xung động chống đối từ trong tiềm thức. Không chỉ chống đối vị hôn phu sư huynh Từ Tranh vô lý, mà còn chống đối người cha đột nhiên hứa hôn, không thèm hỏi nàng một câu. Nếu trong tình huống bình thường, Mã Xuân Hoa tuy ngây thơ, thậm chí tùy hứng, nhưng chắc chắn cũng không đám chống đối.Trong tình huống bình thường, cha nàng có hứa gả nàng cho sư huynh Từ Tranh, nàng cũng sẽ cảm thấy hợp lý mà vâng theo. Đằng này trong tình huống bất thường, nàng cũng đã vâng theo ý muốn của cha, đồng ý làm vị hôn thê của sư huynh; nhưng trong thâm tâm, thật ra Mã Xuân Hoa vốn không ưa vị sư huynh tướng mạo tầm thường, tính cách thô lỗ, đầu óc quá giản đơn. Chẳng nói đâu xa, Thiếu bảo chủ Thương Bảo Chấn còn hơn Từ Tranh rất nhiều, lại nhất mực si mê nàng. Nàng cảm thấy tủi thân oan ức, vì Từ Tranh mọi khi không hề to tiếng với nàng, thế mà vừa mới trở thành vị hôn phu được một ngày, đã hóa thành người khác hẳn, khiến nàng càng bất mãn về việc đính hôn. Giả sử Từ Tranh không đột nhiên thay đổi như thế, thì nàng cũng sẽ không đau lòng, tủi thân mà đi tới chống đối. Từ sự chống đối trong tiềm thức, hành động của Mã Xuân Hoa đương nhiên còn bị sự chi phối của tình dục. Trước hết, Mã Xuân Hoa đang rạo rực tuổi xuân, ở thời kỳ tình dục hoạt động mạnh mẽ. Thứ nữa, sau cơn bị oan ức tủi thân, tâm trạng hoang mang, không làm chủ được lý trí, cảnh vật ở vườn hoa sau nhà lại thơm ngát hương hoa, tiếng tiêu dìu dặt uyển chuyển, công tử Phúc Khang An có thủ đoạn quyến rũ cực kỳ khôn khéo, làm cho Mã Xuân Hoa tình dục manh động, mới khiến hai người lạ, gặp nhau lần đầu mà đã ăn nằm với nhau.

II

Nếu nói sự thất thân đột ngột của Mã Xuân Hoa khiến người ta không thể lý giải, hoặc rất khó tha thứ, thì việc Mã Xuân Hoa đối với Phúc Khang An nhất mực yêu thương tha thiết, đến chết vẫn không thay đổi, thật làm cho ai nấy vô cùng kinh ngạc. Thế nhưng Mã Xuân Hoa si mê như vậy không chỉ hoàn toàn phù hợp với tính cách của nàng, mà còn hoàn toàn phù hợp lẽ thường tình. Trước hết, Phúc Khang An là mối tình đầu thật sự của Mã Xuân Hoa, mà mối tình đầu thì bao giờ cũng đẹp, làm cho người ta ghi nhớ suốt đời. Hơn thế, Phúc Khang An còn là người đàn ông đầu tiên đem lại ham mê nhục dục cho nàng. Bất kể nam hay nữ, đối tượng quan hệ tình dục đầu tiên cũng sẽ được ghi nhớ suốt đời, vĩnh viễn không phai nhòa. Như vậy là cả về phương diện tình cảm hay thể xác, Phúc Khang An đều là người số một, Mã Xuân Hoa không thể nào quên. Điều quan trọng là khi đó, Mã Xuân Hoa không hề thất thân do bị lừa, mà là nàng hoàn toàn tự nguyện, sau đó không bao giờ hối hận. Thứ hai, mối tình đầu của Mã Xuân Hoa khác người ở chỗ, nó không chỉ là nam nữ yêu thích nhau, mà là tình yêu của con gái một tiêu sư, hiệp sĩ với một đối tượng hoàn toàn khác nàng về giai tầng văn hóa, xã hội! Cái tiếng tiêu dìu dặt uyển chuyển, cái cử chỉ dịu dàng mê li thật là ngoài sức tưởng tượng của Mã Xuân Hoa. Sự khác biệt về giai tầng xã hội và lối sống đối với một thiếu nữ sinh trưởng trong gia đình một tiêu sư như Mã Xuân Hoa, hiển nhiên là một cảnh sắc đầy sức hấp dẫn nên thơ. Rồi sự xa cách lâu dài sau vài buổi gặp gỡ ngắn ngủi, sự cách trở không gian lại chính là động lực khêu gợi óc thẩm mỹ và tưởng tượng. Không một ai cho nàng biết Phúc Khang An là người như thế nào, Mã Xuân Hoa chưa kịp hiểu về y, thì hai người đã biệt ly, nàng liền dùng hồi ức, nỗi thương nhớ vào ảo tưởng để bổ sung, vẽ ra trong óc bức tranh tươi đẹp nhất trên đời về người đàn ông ấy và tình yêu giữa hai người. Thứ ba, cái giây phút sung sướng nhất đời kia đã đem lại cho Mã Xuân Hoa hai đứa con sinh đôi hết sức đáng yêu. Nói theo cách bây giờ, đó là kết tinh của tình yêu. Đối với Mã Xuân Hoa, đó không chỉ là giọt máu của Phúc Khang An, mà quá nửa còn là sứ giả của số phận. Ngày ngày nhìn hai đứa con đáng yêu làm sao nàng có thể không nhớ đến cha đẻ của chúng, mối tình đầu của nàng, kia chứ? Nàng bị gả cho Từ Tranh, rõ ràng là vạn bất đắc dĩ, không chỉ là vì người cha quá cố đã hứa hôn, mà còn vì hai đứa bé kia không thể không có người cha danh nghĩa. Từ Tranh biết hai đứa bé kia không phải là con đẻ của mình, với tính cách như y, dĩ nhiên không nhịn được, thế là hai vợ chồng luôn xảy ra cãi cọ, ngăn cách. Mà hai vợ chồng càng hay cãi cọ, ngăn cách, thì Mã Xuân Hoa càng nhớ đến cha đẻ của hai đứa bé kia. Thứ tư, nếu Phúc Khang An mãi mãi biệt vô âm tín, mỗi người một phương trời, thì đành một nhẽ. Mã Xuân Hoa dẫu có bất mãn đến mấy về hôn nhân của mình, dẫu có nhớ nhung người tình đến mấy, cũng đành phải chịu. Đằng này, Phúc Khang An nhiều năm sau lại cho người đến hỏi thăm nàng, điều đó không chỉ có nghĩa muốn biết tin về đối phương, mà còn có nghĩa đối phương thủy chung vẫn chưa quên mình, như thế bảo Mã Xuân Hoa làm sao không xúc động? Thứ năm, giả sử anh chồng Từ Tranh của Mã Xuân Hoa đối xử tử tế một chút, thì Mã Xuân Hoa dẫu có xúc động, cuối cùng cũng chẳng đến mức bỏ hẳn chồng, lao đến với Phúc Khang An, báo thù Thương Bảo Chấn và giết Từ Tranh. Mã Xuân Hoa tuy không yêu chồng, song vẫn vì chồng mà giết Thương Bảo Chấn, triệt để chấm dứt một phen ân oán tình cừu. Bây giờ nàng được tự do một mình, không vướng víu, nếu không chạy đến với người tình của mình, thì mới là lạ, là trái thường tình. Mã Xuân Hoa làm như thế không phải vì nàng bạc tình vô nghĩa, mà chỉ vì trước sau nàng không hề yêu sư huynh Từ Tranh; tình cảm của con người thật không thể miễn cưỡng ép buộc. Cuối cùng, khi đến ở nhà Phúc Khang An, cuộc sống khác hẳn trí tưởng tượng và hi vọng của Mã Xuân Hoa, bấy giờ Mã Xuân Hoa đã không còn chỗ để lùi. Tuy bà mẹ chồng mới của nàng không chỉ coi nàng như kẻ xa lạ, thậm chí còn buộc Phúc Khang An đuổi nàng đi, thậm chí hạ độc, nhưng chỉ cần Phúc Khang An vẫn còn quan tâm đến nàng, thì nàng đều chịu đựng được hết. Song cuối cùng Phúc Khang An thấy nguy không cứu, lại còn nghi ngờ nàng; vậy mà đến chết nàng vẫn không tin Phúc Khang An lại có thể vô tình, tàn nhẫn đến thế với nàng. Lý do chỉ là vì nàng quá yêu Phúc Khang An, tưởng rằng hắn cũng yêu nàng như vậy. Giả dụ nàng có biết hắn không yêu nàng, chỉ cần hắn không chính miệng nói rằng hắn không cần nàng, hoặc hắn không đích thân giết nàng, thì tình yêu của nàng dành cho hắn vẫn không thay đổi Cho nên, khi sinh mệnh nàng cực kỳ nguy cấp, khát vọng cuối cùng của nàng vẫn là được gặp mặt Phúc Khang An lần cuối.

III

Hồ Phỉ không tìm được Phúc Khang An đến vĩnh biệt Mã Xuân Hoa, mà dù có tìm được hắn, Phúc Khang An cũng chưa chắc đã chịu theo Hồ Phỉ đi gặp. Thế là Hồ Phỉ thông minh nghĩ ra một cách để cho Trần Gia Lạc đóng giả Phúc Khang An, đến cho Mã Xuân Hoa gặp "chàng" lần cuối. Cuộc gặp ấy như thế nào, trong sách không nói rõ, chỉ tả Hồ Phỉ ở bên ngoài "bỗng nghe Mã Xuân Hoa kêu "a" một tiếng đầy sung sướng, tràn ngập tình yêu”. (Xem Phi hồ ngoại truyện). Đối với Mã Xuân Hoa, đó là kết cục trọn vẹn của cuộc đời. Kết cục này do lòng hiệp nghĩa và nhân từ của Hồ Phỉ và Trần Gia Lạc đem lại. Tác giả tả đoạn này, ngoài việc nói về thiện ý, rõ ràng còn có thâm ý khác, ấy là ngụ ý về tình yêu hư vọng của Mã Xuân Hoa. Người được nàng yêu không đến thăm nàng, đến thăm nàng hoàn toàn không phải là người nàng yêu, vậy mà nàng không phát hiện được, cứ ngỡ nàng đã được gặp người nàng yêu, như thế chẳng phải là hư vọng hay sao? Từ điểm này nhìn lại, tình yêu tha thiết thủy chung của Mã Xuân Hoa đối với Phúc Khang An không chỉ dẫn đến kết cục hư vọng, mà ngay từ đầu đã là hư vọng. Nói thẳng ra, Mã Xuân Hoa từ đầu đến cuối không biết bộ mặt thật của Phúc Khang An , không hề biết hắn là người như thế nào. Nàng chỉ là yêu cái cử chỉ biểu diễn yêu đương của hắn. Nàng yêu chân tình, sâu xa, nhưng tình yêu ấy lại dành cho hư không, chứ đối tượng yêu của nàng thực ra chỉ là ảo ảnh mà nàng tạo ra trong tâm trí. Ảo ảnh ấy chẳng qua do sự cách biệt về địa vị xã hội và không gian xa cách tạo nên. Chính vì cứ nghĩ đến cảnh sắc xa xôi ấy, nên càng ngày nàng càng không thể chấp nhận Từ Tranh ở bên cạnh, thậm chí sinh hoạt vợ chồng hàng ngày trở thành khổ sở, ngăn cách, lạnh nhạt, đầy mâu thuẫn. Giá như Mã Xuân Hoa cũng có thể như Tuyết điêu Quan Minh Mai trong Thư kiếm ân cừu lục, cuối cùng nhận ra người chồng đang sống bên mình quí giá hơn nhiều cái cầu vồng trên trời, thì tình yêu và cuộcsống của Mã Xuân Hoa nhất định đã khá hơn nhiều. Nhưng người trong cuộc thì mê muội, người ngoài cuộc mới sáng suốt, Mã Xuân Hoa từng được yêu say đắm một lần, sau đó thấy còn lại đều nhạt nhẽo. Cuối cùng, lúc nhắm mắt, người tình lại còn đến tiễn, đối với Mã Xuân Hoa, thế là đủ. Đời người như một giấc mộng, Mã Xuân Hoa không phân biệt được thật giả, điều đó chẳng quan trọng. Đối với nàng, "kiếp này sống cũng đáng rồi. Viết lan man đến đây, không chừng Mã Xuân Hoa sẽ trách tôi đa sự. Nghĩ thế, bất giác trong lòng tôi thấy trống trải vô cùng.