Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

Bình - TIẾNG VỌNG THỜI GIAN -Minh Hien


TIẾNG VỌNG THỜI GIAN

Chiếc bình cổ em nâng niu gìn giữ
Dù thời gian bụi phủ dáng u hoài
Nó cũ quá, không chịu được lâu dài
Hoa héo úa nhuỵ đài đang gục xuống

Cất chiếc bình quý, nghìn năm đã luống
Để ngắm nhìn viễn tưởng bóng hình qua
Tháng năm nào nét mực đã phôi pha
Dòng chữ viết cũng nhoà trong ký ức

Mùa xuân đến muôn hoa đang rạo rực
Người bán mua đông đúc chợ hoa xuân
Ngắm hoa xinh, lòng dạ cứ tần ngần
Bình đã cất, nên chần chừ quay gót

Thay bình mới, mà nghe lòng xa xót
Cánh hoa rơi vẫn đọng giọt sương mềm
Ngày cuối đông, giá lạnh đã nhiều thêm
Mưa đổ ướt bên thềm... ai có biết?

Minh Hien
…………………………………………………
*
Thời gian là một khái niệm tưởng chừng rất vô hình giữa cuộc sống trần gian, nào mấy ai thấy được hình thù của nó như nào. Nó đến rồi đi, chẳng biết đến từ đâu và đi về chốn nào. Thời gian cứ thế, lẵng lặng và vô tình lướt qua đời người, lướt qua muôn ngàn sự vật, không chào hỏi khi đến và cũng chẳng tạm biệt khi đi. Thế còn TIẾNG VỌNG THỜI GIAN qua những âm vang con chữ của Nàng thơ MINH HIEN thì như nào?

Chiếc bình cổ em nâng niu gìn giữ
Dù thời gian bụi phủ dáng u hoài

Thời gian có thể vô hình, nhưng dấu tích thời gian đi qua được lưu lại rất rõ ràng trên mọi sự vật. Một lớp bụi nhuốm màu hoang phế dẫu chỉ phủ rất mỏng trên chiếc bình cắm hoa cũng có thể giúp ta nhận diện được tiếng thời gian đã đi qua trên sự vật này. Nhưng nào chỉ có thế, lớp bụi thời gian còn hòa quyện vào cả cái nền cổ của chiếc bình xưa khiến dường như ta đang được đánh thức bởi những âm vọng xa xôi của một thời quá vãng, để mù sương kỷ niệm chợt dần dà sáng tỏ hiện về.

Nó cũ quá, không chịu được lâu dài
Hoa héo úa nhuỵ đài đang gục xuống
 
Sức nặng của thời gian quả thật khủng khiếp! Nó làm hao mòn đi tất cả những gì ngày nao lộng lẫy, ngọt ngào… Ngay một chiếc bình được xem là rất cổ cũng phải đoạn đành còng lưng xuống dưới lớp bụi thời gian. Mà nào chỉ có nó, những cánh hoa được cắm trong bình cũng lâu rồi không được thay mới nên cũng ủ rũ gục đầu buồn cho số phận. Như một kỷ vật quý giá và thiết thân còn sót lại sau một vòng đời cay nghiệt giữa cát bụi trần ai, cánh hoa đài các hôm nào từng theo nó như hình với bóng cũng cùng chung số phận đủi đen, buồn thảm…

Cất chiếc bình quý, nghìn năm đã luống
Để ngắm nhìn viễn tưởng bóng hình qua
Tháng năm nào nét mực đã phôi pha
Dòng chữ viết cũng nhoà trong ký ức

Cái quá vãng một thời bừng hoan như lửa trại bỗng điêu tàn theo nắng gió thời gian. Thì thôi, hãy cất đi kỷ niệm hôm nào vào vòng tim ký ức, để khâm liệm một ân tình tưởng chừng vĩnh cữu, có dè đâu nắng quái chiều hôm điên đảo làm nhưng nhức suốt cả một quãng thơ buồn. Lòng dặn lòng, tất cả chỉ là mơ, bừng tỉnh dậy thấy đời đầy gai góc. Thì xin tình hãy lui về dĩ vãng, nép tận đáy lòng và chìm nghỉm giữa hư vô…

Mùa xuân đến muôn hoa đang rạo rực
Người bán mua đông đúc chợ hoa xuân
Ngắm hoa xinh, lòng dạ cứ tần ngần
Bình đã cất, nên chần chừ quay gót

Thời gian là liều thuốc nhiệm mầu mà Thượng đế đã trao cho loài người giúp tẩy xóa đi những vết thương lòng mà độ nào râm ran rỉ máu. Rồi cuộc sống vẫn lững lờ tuôn chảy, rồi thời gian vẫn lặng lẽ thay chiều, phố phường vẫn hối hả nhịp bước nhân sinh, trái đất vẫn quay và muôn ngàn tinh tú vẫn thế…

Ta vẫn phải tiếp tục cuộc sống dù muốn hay không. Vẫn phải cùng thời gian sóng đôi dù lắm khi không cảm nhân có nó hiện diện trong cuộc đời mình. Trước mắt là ánh hồng của bình minh, là rạng ngời của hoa xuân nở thắm. Ta làm gì đây? Đứng lại để thiếp cả linh hồn vào vườn hoang đã rụi tàn kỷ niệm hay bước tiếp về hướng ánh mặt trời của khoảng nắng tương lai?  

Thay bình mới, mà nghe lòng xa xót

Cuối cùng, thực tế cuộc sống không cho phép ta chôn mình mãi trong vũng lầy quá vãng. Giã từ nhé những tháng ngày mơ mộng của tình yêu, những đêm say sưa trong mật ngọt ân nguyền như lạc vào bồng lai tiên cảnh, những vần thơ chải chuốt nóng bỏng ái ân, những vũ khúc nghê thường tưởng chừng đang đắm chìm trong cung vàng điện ngọc của trời thương dấu ái.

Cánh hoa rơi vẫn đọng giọt sương mềm 

Thì vẫn cố ngoái lại một lần sau chót, bởi:

Áo nào phai mà chẳng xót chút màu xưa
[Quang Dũng]

Thơ Minh Hien thường nhẹ nhàng, bàng bạc nhưng ẩn chứa bên trong những lớp con chữ với nhiều tầng nghĩa khiến càng đọc nhiều lần càng cảm thấy thấm thía cho cái tình ẩn náu sâu kín như lớp sóng ngầm dưới đáy hồ tình cảm, khiến cho ta có cảm giác dường đang thưởng thức âm ba man mác của Tiếng vọng thời gian làm xao xuyến cả tâm hồn và bất chợt nao lòng khi dõi mắt về cuối phương trời xa thẳm…

HANSY

SAO LẠI GỌI CẦU BỐ, RỪNG THÔNG?


SAO LẠI GỌI CẦU BỐ, RỪNG THÔNG?

                  Người Thanh Hóa đi học tập, công tác hoặc làm ăn xa, có lẽ chẳng mấy ai không từng được nghe một vài câu ca, bài vè về quê hương mình. Đại loại như "Ăn rau má phá đường tàu" hay "Dân xà lách dây" (ám chỉ rau má) ! "Khu Bốn đẩy ra, Khu Ba đẩy vào..." Ngày còn đi học, bạn bè Hà Nội cũng hay ngâm nga mấy câu trên để trêu tôi. Tôi chỉ cười, không giận. Xem như bạn quý mình mà đùa vậy thôi.

          Năm 1993, tình cờ tôi đọc bài viết "Thư từ Thanh Hóa" trên một tờ báo Trung ương(1). Bài báo nói đến cách đặt tên ngược đời Cầu Bố và Rừng Thông, suy luận, cho đó là thể hiện "khẩu khí trạng" của người Thanh Hóa. Sau đó không lâu, trong một tập thơ do Nhà xuất bản Văn học(2) ấn hành lại đem cái ý chiếc cầu nhỏ gọi là Cầu Bố, trái núi lơ thơ mấy cây gọi là Rừng Thông, diễn đạt thành lời thơ ! Tác giả xem đó như một phát hiện mới độc đáo về tính hay ba hoa, khoác lác biểu hiện cả trong cách đặt địa danh của người Thanh Hóa. Chưa hết ! Năm 1994, Đài Truyền hình Việt Nam chiếu cuốn phim tài liệu về Thanh Hóa(3), địa danh Cầu Bố, Rừng Thông một lần nữa lại bị đem ra giễu cợt, mỉa mai, bằng cách đưa ra hai câu vần vè "Cái cầu con con thì gọi cầu Bố, Mấy cây lố nhố lại gọi Rừng Thông" như lời đề từ cho nội dung cuốn phim với ý khái quát tính cách người Thanh Hóa đã kém cỏi lại thích khoa trương, đại ngôn, nhưng không che đậy nổi cái thực lực của mình. Hóa ra chẳng phải chỉ một cá biệt do thiếu hiểu biết hoặc không thiện ý, nghĩ "oan" cho địa danh Cầu Bố, Rừng Thông, "oan" cho cả người Thanh Hóa !

          Vậy cầu Bố là cầu gì ? Rừng Thông là rừng thế nào ?

         1.
Cầu Bố gọi cho thật đúng là cầu Bố Vệ, bắc qua sông (kênh) Bố Vệ ở xã Bố Vệ (có tài liệu chép hương Bố Vệ) thuộc địa phận huyện Đông Sơn trước kia. Trong sử nhà Trần đã thấy ghi địa danh Bố Vệ. Cầu Bố Vệ đời Lê đã có. Cầu làm theo kiểu thượng gia hạ Kiều, sau bị hư hỏng, gẫy nát, đến đời Nguyễn được bắc lại. Trong các văn bản giấy tờ đều ghi rõ cầu Bố Vệ. Cầu Bố là cách gọi tắt phổ biến đối với nhiều địa danh khác, không riêng gì trường hợp cầu Bố Vệ. Cầu Bố bởi vậy không có dụng ý nói lên mức độ to nhỏ của chiếc cầu mà do địa danh xã Bố Vệ hay kênh Bố Vệ mà có. Ngoài cách đặt tên cầu dựa vào tên đất, tên làng xã sẵn có như cầu Bố Vệ, cầu Lai Thành, cầu Hạc, cầu Voi, cầu Tào...ta còn thấy tên cầu gắn với tên sông ngòi, kênh rạch mà cầu bắc qua như cầu Ghép bắc qua sông Ghép, cầu Lý bắc qua sông Lý, cầu Lèn bắc qua sông Lèn,v.v...Hoặc tên cầu căn cứ vào chính kiểu dáng, chất liệu của chiếc cầu như: cầu Treo, cầu Sắt, cầu Đá, cầu Kè, cầu Tre,v.v...thường thấy ở nhiều vùng thông quê.

          2.
Rừng Thông là một quần sơn. Xưa kia có tên chữ Phượng Sơn hoặc Ngũ Phượng Sơn (núi có hình chim Phượng đang xòe cánh). Thời Pháp thuộc, nơi đây được trồng nhiều thông lấy nhựa. Thông mọc thành rừng bạt ngàn xanh tốt. Địa danh Phượng Sơn dần dần bị quên lãng và người ta gọi tên theo đặc điểm dễ nhận biết nhất của vùng đất là núi Rừng Thông-nơi có nhiều thông mọc thành rừng ở Thanh Hóa đương thời. Mấy thập kỷ gần đây, rừng thông bị tàn phá đến độ chỉ còn lưa thưa. Song địa danh Rừng Thông vẫn tồn tại theo cách gọi đã thành quen thuộc của dân chúng. Và bây giờ địa danh Rừng Thông chính thức được công nhận trên văn bản giấy tờ: Thị trấn Rừng Thông (thuộc huyện Đông Sơn). Hiện tượng này khá phổ biến trong nhiều địa danh ở làng quê. Ví như đình làng bị dỡ từ lâu, song khoảng đất ấy vẫn được gọi là Đình; chùa đã tàn phá không còn dấu tích nhưng giếng gần chùa xưa vẫn giữ tên Giếng Chùa. Đó là tính bền vững, lâu dài của địa danh mà khoa địa danh học đã khẳng định.

                Nếu cứ suy diễn như một số người trên thì nhiều địa danh của Thanh Hóa còn bị lôi ra phê phán như: cầu lành thì gọi Cầu Ghép, cầu thẳng lại gọi Cầu Vạy (Cơn mưa Cầu Vạy đừng chạy mất công), cầu bé tí sao bảo Cầu Voi, chẳng thấy thành sao gọi Hồ Thành, núi không còn rừng sao gọi Ngàn Nưa ? Và không chỉ riêng gì Thanh Hóa. Ở Hà Nội cầu cũ đã lâu sao gọi Cầu Mới, cầu đen sì sao gọi Cầu Trắng (Hà Đông),v.v...Xin hỏi dân chúng ở những địa danh trên cũng khoác lác, ba hoa, cũng "nói trạng" cả hay sao ?

          Cầu Bố và Rừng Thông là những địa danh lịch sử và cách mạng nổi tiếng. Thời Trần chống Nguyên Mông, một trận chiến ác liệt xảy ra tại kênh Bố Vệ. Xã Bố Vệ là quê hương của Tuyên Từ Thái hậu 10 năm nhiếp chính và vua Lê Anh tông đời Trung hưng. Nơi đây cũng có một số di tích, danh thắng cỡ Quốc gia: Chùa Đại Bi-Mật Sơn, đền Lê...Rừng Thông thời kháng chiến chống Pháp là tụ điểm thương mại phục vụ kháng chiến của đồng bào nhiều nơi tản cư đến. Cũng tại núi Rừng Thông này, Hồ Chủ tịch đã nói chuyện với cán bộ và nhân dân trong dịp về thăm Thanh Hóa. Đó là những địa danh lấp lánh trang sử dân tộc, niềm tự hào của không riêng nhân dân Thanh Hóa. Mọi sự hiểu lầm hay xuyên tạc đều cần phải được đính chính.

     Hoàng Tuấn Công
 
(1)  (2) (3) Bài này từng đăng trên Báo Văn Hóa thông tin Thanh Hóa năm1994. Bấy giờ, vì ngại "đụng chạm", tên các bài viết, phim ảnh liên quan cụ thể đã được Ban biên tập "ẩn đi". Nay HTC cũng không còn nhớ.

THẦM ĐAU


THẦM ĐAU
[Thuận Nghịch độc]

Mây trắng phả đầu bạc lóe sương
Ái ân sầu lệ xót xa trường
Đầy vơi rộn cũ mùa chan chứa
Lịm ngát đâu nào thuở vấn vương
Cay đắng héo tình dang dở mộng
Khổ đau khờ ái chọng chao đường
Ngày qua tháng lại buồn dai dẵng
Say khướt dội về vọng viễn phương

Phương viễn vọng về dội khướt say
Dẵng dai buồn lại tháng qua ngày
Đường chao chọng ái khờ đau khổ
Mộng dở dang tình héo đắng cay
Vương vấn thuở nào đâu ngát lịm
Chứa chan mùa cũ rộn vơi đầy
Trường xa xót lệ sầu ân ái
Sương lóe bạc đầu phả trắng mây

HANSY

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

VỀ LOẠI THƠ “BỎ DẤU XUỐNG CHỮ” CỦA CHÍNH TÔI


VỀ LOẠI THƠ “BỎ DẤU XUỐNG CHỮ”
CỦA CHÍNH TÔI

Sau những cơn stress nặng về cơm áo gạo tiền công danh địa vị phù phiếm hư ảo, con người ta luôn cần có sự thư giãn. Nối tiếp tiền nhân, tôi tự thể nghiệm mình qua kiểu thơ chơi chữ đời mới cho thanh thản tâm hồn. Cụ thể tôi bỏ các dấu gồm “dấu huyền, dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng” xuống các mẫu tự của 24 chữ cái hoặc các từ để chúng thành thơ.

Xin giới thiệu cùng các bạn một số bài thơ về chữ A, B, C, các từ bão, quậy, thớ như sau:

A
Con gái ta thường kêu bằng: ả
Ðôi khi đụng “xẩm” đổi thành: a
Các em xinh đẹp thì ta: á
Giống Chung Vô Diệm thì ta: ạ
Á ạ gặp ta cũng phải: à

B
Nhìn em, ta muốn: bế
Muốn bế thì phải: bê
Bê em như bê: bệ
Bê bệ dễ rớt: bể
Ðặt xuống giường, ta: bề

C
Trong tình yêu không xài: xể
Làm như thế hai đứa: xệ
Thà rằng giận nhau, ta: xê
Ta đi bộ, em đạp: xế
Lúc gối chăn, bụng sẽ: xề

BÃO
Giữa cuộc đời giông: bão
Ta ruột xé gan: bào
Văn miếu nuôi cường: bạo
Triều đình nuôi hổ: báo
Mình ta nuôi chiêm: bao

QUẬY
Ở biển ta là cá: quẫy
Sao ngươi đem bỏ mặt: quầy
Giang hồ có câu phải: quấy
Lẽ nào ta chịu lăn: quay
Lẽ nào ta không dám: quậy

THỚ
Có con ong: thợ
Không thèm hít: thở
Khí hậu đền: thờ
Cho nên có: thớ
Mật thành ra: thơ

BÙI CHÍ VINH


THẾ SAO MÀ...


133
THẾ SAO MÀ...
[Tiệt hạ]

Giấc mơ đẹp đẽ thế sao mà
Bão gió cuồng quay bỗng chốc đà
Gừng muối dứt nguyền ôi cứ tưởng
Khang tào bỏ nghĩa té thì ra
Yêu thương trầm lặng thầm đau với
Quá vãng trào dâng hận ghét và
Quyết dẹp bóng hình ngày ấy đã
Tình yêu huyễn ảo tựa như là

Tình yêu huyễn ảo tựa như là
Chỉ khiến sầu đau phẩn uất và
Giả dối lọc lừa ngao ngán trở
Phỉnh phờ khuất tất ỡm ờ ra
Đổi thay ước thệ nên nguyền đã
Tráo trộn vàng thau khiến mộng đà
Thôi nhé biệt từ câu ảo tưởng
Giấc mơ đẹp đẽ thế sao mà

HANSY

VẪN MÀ...

Hứa bảo rằng yêu xoắn mãi mà
Vừa hôm lại dỗi giận như đà
Làm môi trở úa sầu tơi tả
Để mắt trơ buồn héo rữa ra
Dạ xoắn cào lên từng phút lả
Lòng chao cuộn xối những cơn và
Kìa sao cứ quẳng hờn tim hả
Mỗi đợt quằn co quặn giống là

Mỗi đợt quằn co quặn giống là
Rồi đêm nhớ chợt kéo cơn và
Chèn lên khóm mộng lăn rời rã
Đổ xuống nương tình ngã vật ra
Quẵng gió choàng hiên lầm họ đã
Kìa sương xoảng ngõ tưởng ai đà
Này ơi bỏ giận cho lòng thỏa
Hứa bảo rằng yêu xoắn mãi mà

Hà Thu

EM…


EM…

Em hoài đỏ thắm nồng xinh
Hương yêu ngào ngạt trỗi bình minh lên
Là công chúa giữa bao miền
Mắt cười lúng liếng giữa miên viễn đời.

Là mưa thẫm ướt môi lời
Của chàng thi sỹ khát vời vợi duyên
Em - Ta cùng một con thuyền
Nhờ mây gió hiệp tới uyên ương nồng..

Lả tình giữa gió hoài mong
Cho ngàn năm vẫn ngọt trong trẻo hoài
Câu ca, giọng nói, trong ngoài
Vàng son quyến rũ khiến thoai thoải hồn.

Ân tình như một nụ hôn
Mà nghe sáng rỡ giữa dồn dập mơ
Quyện vào óng ả vần thơ
Cho tim dậy khúc rộn bờ bến nao…

HANSY

XÁP LÁ CÀ


XÁP LÁ CÀ
[têu tếu]

Woánh xáp la cà bịch cái xong
Lên đời nhảy ngựa vẫn hằng mong
Nhào ra chốt bắn chàng lâng quẩy
Xấn lại xe hoành nữ quyết xông
Rạo rực mải mê trào vạn nẻo
Triền miên hấp dẫn rạng loan phòng
Quân cờ tiến thoái mơ màng lịm
Giăng pháo hai đầu đón nguyệt phong

Giăng pháo hai đầu đón nguyệt phong
Xôn xao sĩ tốt  áp biên phòng
Mã uy dũng mãnh bình tâm ngóng
Xa chiến oai hùng quyết chí xông
Đâm thọc chiêu vàng luôn mãi tống
Thương hồi ngọn hiểm vẫn hoài mong
Tướng hai bên nép sau rèm lọng
Woánh xáp la cà bịch cái xong

HANSY 

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

Kỳ 105 -ÂM MƯU THÂM HIỂM CỦA NHÀ MINH SAU KHI TIÊU DIỆT NHÀ HẬU TRẦN


Kỳ 105
ÂM MƯU THÂM HIỂM CỦA NHÀ MINH
SAU KHI TIÊU DIỆT NHÀ HẬU TRẦN

Sau nhà Hậu Trần bị diệt, Chu Đệ lại ra chiếu chỉ đôn đốc Trương Phụ phải thi hành đầy đủ các biện pháp nhằm biến người Việt trở thành một sắc dân bị hòa tan vào trong khối Hán hóa. Mục đích cuối cùng của việc này, suy cho cùng là để người Việt về lâu dài không còn khát vọng độc lập, tự chủ nữa. Vua Minh đã hiểu ra sức mạnh đến từ cội nguồn văn hóa Việt và tìm cách tiêu diệt. Thế nhưng điều này không hề dễ dàng đối với quân giặc.

Năm 1414, nhà Hậu Trần diệt vong, một trong những chương đen tối nhất lịch sử Việt Nam đã mở ra. Những chính sách hủy diệt văn hóa, bóc lột tài nguyên, của cải, nhân lực vốn đã rất tàn bạo ngay từ khi quân Minh mới vào chiếm đóng nước ta, bấy giờ lại càng được giặc đẩy mạnh một cách tàn bạo hơn hòng gỡ gạc cho những tổn thất trong chiến tranh, và một phần cũng là để trả thù nhân dân ta đã tích cực hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa.

Tất nhiên, quân Minh không thể nào chống lại tất cả người Việt, mà thực hiện chính sách chia để trị rất nham hiểm. Đối với các tầng lớp đại địa chủ, trí thức tinh hoa, những người thế gia, hào trưởng nếu chấp nhận quy phục quân đô hộ sẽ được đảm bảo sinh mạng, tài sản. Quan tướng nước Minh còn bỏ công chiêu dụ những người thuộc tầng lớp trên ra làm quan cho chúng để dễ bề kiểm soát và ru ngủ, khiến cho những người này vì danh lợi mà mất đi lòng ái quốc. Những ngụy quan có công lao giúp quân Minh đàn áp các phong trào khởi nghĩa được đối đãi rất hậu hĩnh bằng tiền tài, chức tước và ruộng đất. Nhưng có một điều chắc chắn là giặc Minh không cho đi nhiều hơn thứ chúng nhận lại từ dân tộc Việt, thậm chí quân giặc còn phải lấy đi gấp nhiều lần những lợi ích mà chúng đã ban phát.

Tất cả những gánh nặng được quân Minh triệt để đổ lên đầu những người bình dân, cũng là đại đa số người Việt. Ruộng đất của bình dân bị cướp không để cấp cho bọn tay sai làm bổng lộc. Kể từ năm 1414 trở đi, các sắc thuế ruộng lúa, ruộng dâu, thuế tơ lụa, thuế muối vốn đã rất nặng nề từ trước lại tăng dần đều từng năm. Giặc Minh siết chặt việc quản lý bằng sổ hộ tịch để theo đó mà thực hiện một chế độ lao dịch bắt buộc cực kỳ hà khắc. Bất cứ người dân nào từ 16 đến 60 tuổi đều nằm trong diện phải đi lao dịch không công cho giặc khi chúng cần. Chẳng những làm việc không được trả công, những người đi lao dịch lại toàn phải làm những công việc nặng nhọc và nguy hiểm như lên núi khai mỏ, săn voi lấy ngà, săn tê giác lấy sừng, lặn biển mò ngọc trai…

Những nông sản, lâm sản quý như hồ tiêu, trầm hương, đàn hương tất cả đều bị tận thu đem sang nước Minh. Giặc Minh thành lập một hệ thống đồn điền quy mô cực lớn để có thể cung cấp lương thực cho đạo quân chiếm đóng khổng lồ thường xuyên hiện diện trên nước ta, chực chờ bóp nát bất kỳ sự chống đối nào. Trong các đồn điền này, vẫn là những người dân phu lao dịch ngày ngày đổ mồ hôi và máu một cách tủi nhục, đau đớn. Ngoài dân lao dịch, người Minh còn sử dụng các ngụy binh để làm đồn điền. Ngụy binh vừa phải bán mạng, bán sức cho ngoại bang, vừa phải chịu sự khinh bỉ và nghi kỵ của quân tướng người nước Minh. Chỉ có những tên tay sai đầu sỏ, những kẻ chăn dắt là thực sự được hưởng lợi từ giặc ngoại bang.

Bên cạnh việc vơ vét, bóc lột thì việc hủy diệt văn minh, đồng hóa dân tộc cũng là một tội ác lớn mà giặc Minh đã gây ra. Chu Đệ từ khi xua quân xâm lược đã chủ tâm xóa bỏ văn minh Đại Việt bằng các biện pháp đập phá văn bia, đốt sách vở, hủy hoại công trình, di sản văn hóa, bắt nhân dân thay đổi phong tục tập quán… Đến khi nhà Hậu Trần nổi lên, việc phá hoại của quân Minh phần nào bị gián đoạn. Sau nhà Hậu Trần bị diệt, Chu Đệ lại ra chiếu chỉ đôn đốc Trương Phụ phải thi hành đầy đủ các biện pháp nhằm biến người Việt trở thành một sắc dân bị hòa tan vào trong khối Hán hóa. Mục đích cuối cùng của việc này, suy cho cùng là để người Việt về lâu dài không còn khát vọng độc lập, tự chủ nữa. Vua Minh đã hiểu ra sức mạnh đến từ cội nguồn văn hóa Việt và tìm cách tiêu diệt. Thế nhưng điều này không hề dễ dàng đối với quân giặc.

Ở nước Minh những năm này đang bước vào giai đoạn hùng mạnh nhất dựa vào chính sách cai trị cứng rắn và quân đội đông đảo, tinh nhuệ. Mặc dù ở phía bắc các bộ tộc Mông Cổ vẫn là mối đe dọa thường trực với nước Minh, nhưng Minh Thành Tổ Chu Đệ luôn dành lợi thế trong các cuộc chiến chống lại người Mông Cổ. Những hệ lụy từ các chính sách mang tính chất tạm bợ trước mắt của bạo chúa Chu Đệ chưa thực sự bộc lộ ra trong giai đoạn này. Về đối nội, cơ quan giám sát, thanh trừng nội bộ của vua Minh là Cẩm Y Vệ vẫn còn sợ oai của nhà vua mà chưa biến tướng thành một thế lực ngầm trong triều chính nước Minh.

Về đối ngoại, Chu Đệ vẫn triệt để dùng binh mà cư xử với láng giềng. Vì có quân đội mạnh, Chu Đệ vẫn kiểm soát được tình hình. Nhưng về lâu dài, đối ngoại thừa cương, thiếu nhu đã khiến nước Minh tự đặt mình vào thế lưỡng đầu thọ địch. Phía đông, các cướp biển đến từ Nhật Bản gọi là các Oa Khấu vẫn luôn cướp bóc, quấy nhiễu nước Minh.Phía bắc, bộ tộc Ngõa Lạt Mông Cổ sau khi nhận diện sự gian trá của Minh Thành Tổ đã từ đồng minh chuyển thành kẻ thù, cùng với đó là sự chống đối ngày càng tăng của các bộ tộc Mông Cổ khác nhằm vào nước Minh.

Bấy giờ tại nước ta, nhân dân không chịu nổi sự áp bức cũng lần lượt nổi lên. Những sự phản kháng trong giai đoạn từ sau khi nhà Hậu Trần mất (năm 1414) đến trước khởi nghĩa Lam Sơn (năm 1418) đa phần manh mún, tự phát không được biên chép rõ ràng trong sử sách. Tiêu biểu trong giai đoạn này là một cuộc khởi nghĩa tại Thanh Hóa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Chích.Từ năm 1413 Nguyễn Chích đã dựng cờ khởi nghĩa, xây dựng căn cứ Hoàng Nghiêu (thuộc huyện Đông Sơn, Thanh Hóa ngày nay) chống quân Minh.

Sau khi nhà Hậu Trần mất, quân của Nguyễn Chích đã kiểm soát được ba huyện Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn (Triệu Sơn ngày nay), gây cho quân giặc nhiều thiệt hại. Quân Minh đem quân đến đánh, Nguyễn Chích thu quân vào núi Hoàng, núi Nghiêu cố thủ, giặc không đánh nổi. Ngụy quan Lương Nhữ Hốt theo lệnh giặc đến dụ hàng, Nguyễn Chích không theo, kiên quyết dựa vào núi rừng hiểm trở mà chiến đấu đến cùng với quân Minh. Khắp nơi nhiều hào kiệt, sĩ phu cũng ẩn dật nơi rừng núi, trông chờ một vị minh chủ nổi lên để cùng góp sức đánh đuổi giặc Minh.

Quốc Huy


LÊ LỢI


ĐỢI NHÉ NGƯỜI


ĐỢI  NHÉ NGƯỜI

Đợi Ta nhé, dù đường xa vạn diệu
Dù mưa giăng, bão tố
chặn lối về
Tình
thuở nào vẫn đướm đắm si mê
Th
a thiết mãi giữa vành tim bất diệt.

Đợi Ta nhé, dẫu núi đồi cách biệt
Dẫu trăm sông nghin suối, khó khăn gì
Ta vẫn hoài thắm thiết, chẳng sầu bi
Chờ tương hiệp cho dậy nồng hương lửa. 

Đợi Ta nhé, hãy xích gần hơn nữa
Trái tim lòng hâm nóng khối tình sâu
Tay trong tay, ao ước sóng nhiệm mầu
Cho tình ướp muôn kỳ hoa dị thảo.

Đợi Ta nhé, nàng tiên hồng diễm ảo
Vẫn mặn mà hương sắc buổi đầu tiên.
Lấy thủy chung xóa bỏ những ưu phiền
Chờ sum hiệp về khơi niềm hạnh phúc…

HANSY 

TRĂN TRỞ


TRĂN TRỞ
[Tập Con vật ẩn]

CÒ kè lên xuống riết người ôi
Rốt cuộc BÒ lê khuỵu mấy hồi
Can GIÁN chi nà đang thế vội
LA cà mấy nữa vẫn còn thôi
Tình ơi HỔ thẹn nào danh trỗi
Ái hỡi CÒNG queo chẳng lợi bồi
Những khúc CUA đời sao lắm lỗi
CÓC khô số mạng quá ư tồi

HEO hút làm cho kiếp sống tồi
Còn đâu KIẾN thức để tu bồi
Ỏng ONG lưỡi miệng thêm mờ rối
NGAO ngán tâm hồn riết lặng thôi
Đành phải SẺ chia hầu mộng trỗi
Thành luôn coi SÓC để mơ hồi
Tim lòng THỎ thẻ nào mang tội
Sao nỡ bông đùa NHÁI giọng ôi

HANSY

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2018

TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN [8] MƯU GIẢI CỨU CỦA CHẾ MÂN


TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN
8.
MƯU GIẢI CỨU CỦA CHẾ MÂN

Dọc cũng dở. mà ngang cũng tệ
Khắc Chung sầu chẳng thể làm chi
Bỗng nghe trước trướng rẩm rì
Một đoàn người ngựa thoắt di động vào.

Vừa thấy mặt bỗng gào to tiếng
Kìa Huyền Trân! hiển hiện thịt xương
Oanh vàng, dáng ngọc đế vương
Đích là người thật, dậy thương cảm lòng.

Bèn hỏi chuyện, sao không tử hỏa
Nhờ Chế Mân chẳng đọa giàn thiêu
Tráo người, giống kiểu Chung mà
Chờ khi vắng vẻ vượt qua mặt thành.

Ôi, tình yêu lá cành diễm tuyệt
Cả hai chàng tuấn kiệt chở che
Dùng mưu thoát cảnh tan bè
Người nay đọc lại thấy hê hả cùng.

HANSY
Ghi chú:
Huyền Trân công chúa [
玄珍公主] sinh năm 1288, con của vua Trần Nhân Tông.
Năm 1306, Huyền Trân công chúa được gả cho Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân [Jaya Sinhavarman III] để đổi lấy hai châu Ô [từ đèo Hải VânThừa Thiên - Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay].
Một năm sau, Chế Mân chết, Huyền Trân công chúa được vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung cướp về, sau đó xuất gia.
Bà mất ngày Mồng 9 tháng Giêng năm 1340


ĐỘC TIỂU THANH KÝ BỊ THẤT NIÊM


ĐỘC TIỂU THANH KÝ
BỊ THẤT NIÊM

Trường hợp bài thơ Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du với lỗi thất niêm ở câu thứ 7, đúng là Vũ Hoàng Chương có đề xuất một cách sắp xếp lại thứ tự các câu để toàn bài giữ đúng luật thơ thất ngôn bát cú. Ý kiến này từng được công bố vào năm 1968, trên tạp chí Tân Văn. Lập luận của Vũ Hoàng Chương dựa trên cơ sở: nguyên bản bài thơ của Nguyễn Du không còn tìm thấy, các truyền bản hiện có đều là sao chép lại, nên khả năng “tam sao thất bản” là rất cao, ở đây là có thể ai đó đã chép thơ Nguyễn Du lẫn lộn giữa các câu: phá, thừa, thực, luận. Một cơ sở nữa là Vũ Hoàng Chương tin rằng Nguyễn Du rất cẩn trọng, không thể sơ suất đến nỗi làm thơ luật mà để thất niêm. Từ cơ sở đó, Vũ Hoàng Chương đề xuất sắp xếp lại các câu trong bài Độc Tiểu Thanh ký, để bảo đảm cả bài đều tuân thủ niêm luật, như sau:

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

Tự nhận xét về đề xuất này, Vũ Hoàng Chương đã viết: “Ai cũng nhận thấy câu 7 không còn phạm lỗi thất niêm nữa. Ý thơ cũng chặt chẽ lắm, có phần hơn cả bài mà tôi nghi là đã chép sai thứ tự đi. Thật thế, câu Phá (Độc điếu...) mạnh biết bao! Có vẻ “Khai môn kiến sơn”, như cổ nhân từng nói. Vì lẽ nhan đề bài thơ là Độc Tiểu Thanh ký: nhân “tụng độc” mà nảy ra ý “bằng điếu bên song”. Câu Thừa (Tây Hồ...) chuyển xuống và dẫn tới cặp Thực (Cổ kim...) cũng gắn liền nhau không một khe hở. Chữ “Cổ kim” đặt trông lên cảnh Tây Hồ xưa và nay, nghĩa là thuở sinh thời Tiểu Thanh và lúc Nguyễn Du xúc động hạ bút.

Huống hồ nhan đề là Độc Tiểu Thanh ký, tức là “Đọc cuốn sách ghi chép về cuộc đời nàng Tiểu Thanh”. Những chữ “hận sự”, và “kỳ oan” phải là những chữ đặt vào cặp Thực. Đến như hai câu “Chi phấn...” ta thấy cũng đáng là cặp Luận, và chan chứa u hoài...”.

Nhưng theo chúng tôi, đóng góp lớn của Vũ Hoàng Chương trong cách đề xuất này là ông đã tự dịch bài thơ Độc Tiểu Thanh ký sau khi ông đã sắp xếp lại ra thể thơ lục bát, như sau:

Trước song giấy mực viếng nàng
Hồ Tây vườn cũ: gò hoang bây giờ
Xưa nay trời vẫn làm ngơ
Mối oan thêm một người thơ buộc mình
Hoa tàn lệ rỏ hương thanh
Văn chương phận mỏng chưa đành tro bay!
Rồi ba trăm năm sau đây
Còn ai khóc Tố Như này nữa chăng?

Theo ÁO TRẮNG