Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019

BAO GIỜ MỚI HẾT CÚP ĐIỆN


BAO GIỜ MỚI HẾT 
CÚP ĐIỆN

TTCT - Đó là một câu hỏi khó, rất khó. Bởi ngay với những người “có tóc” cũng không dám hứa liều, nhất là trong bối cảnh thiếu điện triền miên, năm sau cao hơn năm trước của nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để xảy ra (và kéo dài) tình trạng bi đát này, Tập đoàn Điện lực VN (EVN) không thể rũ bỏ trách nhiệm của mình được.

Chỉ riêng năm 2007, việc cúp điện luân phiên trên diện rộng đã xảy ra ba lần: cuối tháng ba, cuối tháng sáu và bắt đầu giữa tháng mười hai. Nguy cơ đợt cúp điện lần này có thể “vắt” qua những tháng đầu năm sau là quá rõ, bởi đây là mùa thiếu điện cao điểm hằng năm. Có khá nhiều nguyên nhân gây thiếu điện. Trong đó, nổi cộm hai nguyên nhân chính: thiếu nước ở các hồ thủy điện và không dự báo hết các nhu cầu về điện của đất nước.

EVN đã dự báo sai nhu cầu sử dụng điện nên giờ phải “chạy vắt giò lên cổ” mà cũng không kịp. Theo nguyên tắc, để đáp ứng đủ điện cho các nhu cầu của nền kinh tế thì sản lượng điện phải tăng gấp đôi so với tốc độ tăng GDP. Thực tế, trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ nền kinh tế tăng trung bình 7,5%/năm nhưng sản lượng điện chỉ tăng ở mức 11-13%/năm (bằng 1,47-1,73 lần so với mức tăng GDP/năm).

Nhưng trong chiến lược phát triển của EVN đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, có vẻ vẫn “ngựa quen đường cũ” khi căn cứ vào xuất phát điểm tổng sản lượng điện 53 tỉ kWh năm 2005 và sẽ đạt khoảng 88-93 tỉ kWh vào năm 2010, tức tốc độ tăng sẽ chỉ là 10,75-11,90%/năm, trung bình 11,30%/năm; so với mục tiêu tăng GDP trung bình gần 8%/năm, hệ số này sẽ chỉ là 1,50 lần. Trong điều kiện đất nước hội nhập mạnh mẽ vào thế giới, nền kinh tế phát triển ngày càng cao, một dự báo tốc độ tăng sản lượng điện thiếu tầm như thế cho thấy nguy cơ cúp điện trong những năm tới là rất lớn.

Giá điện cứ đều đều tăng, điện ngày càng cúp “bạo”, trong khi đó EVN cứ mải lo những việc đâu đâu như “đẻ” ra EVN Telecom, xây dựng cơ ngơi hoành tráng... Đã thế mới đây EVN còn ngúng nguẩy cho rằng việc thiếu điện không phải là việc của... ngành điện!

TRẦN QUANG THẮNG

NGƯỜI CHẾT VÌ TIỀN CHIM CHẾT VÌ ĂN


NGƯỜI CHẾT VÌ TIỀN
CHIM CHẾT VÌ ĂN

Nhân vị tài tử, điểu vị thực vọng” (Người chết vì tiền tài, chim chết vì miếng ăn) là câu thành ngữ có thể rất nhiều người đã từng nghe đến. Nhưng để biết được nguồn gốc của câu chuyện này thì không phải ai cũng biết. 

Trong văn hóa truyền thống mấy ngàn năm của nhân loại, truyền lưu rất nhiều những thành ngữ, ngạn ngữ vốn là những lời cảnh tỉnh, giáo huấn của cổ nhân cho người đời sau.

Nhưng thuận theo sự trượt dốc của đạo đức xã hội, hay vì những mưu đồ cho cá nhân, có rất nhiều câu thành ngữ đã bị bóp méo. Ví dụ như, “Vô độ bất trượng phu” (người vô độ, buông thả, không có chừng mực thì không phải bậc trượng phu) bị bóp méo thành “Vô độc bất trượng phu” (không độc thì không phải trượng phu) hay “Ma cao một thước, Đạo cao một trượng” bị bóp méo thành “Đạo cao một thước, ma cao một trượng”.

Có một số câu tuy rằng mặt chữ không bị cải biến nhưng bổn ý của cổ nhân thì đã bị bẻ cong, đi ngược lại với ước nguyện ban đầu khi truyền lưu những câu thành ngữ này. Ví dụ như, “Nhân vị tài tử, điểu vị thực vong”, rất nhiều người không biết nguồn gốc của câu nói này.

Thậm chí có người còn cho rằng, câu thành ngữ là cổ nhân đề xướng hậu nhân phải xem đây là tiêu chuẩn sinh tồn, cứ thế nó trở thành lời răn của không ít người. Bởi vậy, việc quay lại lịch sử tìm hiểu lại chân tướng, trở về với những giá trị thực sự của văn hóa truyền thống là điều vô cùng quan trọng.

“Nhân vị tài tử, điểu vị thực vong” (người chết vì tiền tài, chim chết vì miếng ăn) có nguồn gốc từ câu chuyện sau:

Vào thời cổ đại, trong thôn làng nằm bên cạnh bờ sông có một tên vô lại là A Tam. Anh ta hết ăn lại nằm, luôn muốn “không phải làm mà được hưởng thụ”. Anh ta đến khắp nơi tìm kiếm xem có chỗ nào có thể không cần làm mà được phát tài, giàu có.
Vừa hay, ở nơi A Tam sinh sống cũng có một con chim to lớn, rất tham lam và cũng rất hung ác. Mỗi ngày nó đều ăn thịt những con dê mà người dân trong vùng nuôi. Thời gian lâu sau, những người dân trong vùng vì thế mà chuyển đến nơi khác sinh sống. Bắt đầu từ đó, đồ ăn đối với con chim trở thành một vấn đề lớn.

Một hôm, A Tam nằm trong sân vừa phơi nắng vừa mộng tưởng được giàu có thì con chim từ trên trời sà xuống. A Tam sợ hãi vội vã trốn vào trong nhà. Con chim nói với A Tam: “Chẳng phải ngươi muốn giàu có sao? Ta có thể giúp được ngươi!”

A Tam vừa nghe thấy từ “giàu có” thì lập tức quên hết sợ hãi, từ trong phòng ló đầu ra hỏi: “Làm thế nào để được giàu có?”

Con chim trả lời: “Ở sâu trong biển Đông có một hòn đảo nhỏ, khắp cả hòn đảo nhỏ này đều là vàng. Ta sẽ đưa ngươi đến đảo để nhặt vàng. Sau khi trở về, ngươi trả cho ta mỗi ngày một con dê là được!”

A Tam suy ngẫm thấy vụ thương lượng này có lợi cho mình liền gật đầu đồng ý. Con chim to nói bổ sung thêm: “Nhưng trước khi trời sáng chúng ta phải nhanh chóng rời khỏi đảo. Nếu không, chúng ta sẽ bị ánh sáng mặt trời cao ngàn trượng thiêu cháy.”
A Tam không chờ đợi thêm được nữa. Anh ta sốt ruột nói: “Biết rồi! Biết rồi!”
Con chim liền cõng A Tam trên lưng, bay qua núi cao, lướt qua biển rộng, cuối cùng cũng đến được hòn đảo nhỏ ấy. A Tam mở to mắt nhìn, chỉ thấy trải dài trên hòn đảo đều là vàng óng ánh. Anh ta bắt đầu nhặt một cách vội vã. Anh ta một mực tập trung nhặt vàng và không còn nhớ đến lời cảnh báo của con chim “phải rời khỏi đảo trước khi mặt trời mọc”.

Chẳng mấy chốc trời đã sáng. Con chim to liên tục thúc giục A Tam mau rời khỏi đảo, nhưng anh ta luôn miệng nói: “Chờ một chút!” Cuối cùng, con chim thấy tình hình không ổn, nó liền bỏ lại A Tam mà bay lên không trung. Ngay tại thời khắc ấy, mặt trời nhô lên, A Tam vì mải nhặt vàng đã bị lửa thiêu cháy.

Con chim to càng nghĩ càng tức giận. Nó nghĩ mình đã cõng A Tam đi xa như vậy, kết quả lại không được thứ gì cả. Nó càng nghĩ càng bực mình, dê cũng không được ăn mà ngay cả thi thể A Tam cũng không được miếng nào. Vì thế, cuối cùng nó quyết định bay trở lại hòn đảo, lấy A Tam làm bữa tiệc lớn. Nhưng nó chỉ mải ăn mà quên mất thời gian. Mặt trời lại một lần nữa mọc lên và con chim tham lam ấy cuối cùng cũng phải chịu kết cục giống như A Tam.

Người có đạo đức cao xưa nay đều tuân thủ nguyên tắc: “Vô công bất thụ lộc”(không có công, không nhận lộc) hay “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo” (Người quân tử coi trọng của cải nhưng lấy của cải phải đúng đạo lý). Từ xưa đến nay, trong mọi tầng lớp xã hội, trình độ học vấn khác nhau, gia cảnh khác nhau đều có những người giữ đúng nguyên tắc này. Bởi vì họ không cầu gì ngoài việc giữ tâm mình được thanh thản, bình yên, không tham lam, ham muốn lợi ích vô độ.

Người xưa vẫn cho rằng, làm chuyện thất đức, dù không ai biết thì vẫn còn có Trời biết, Đất biết, bản thân mình biết. Hay nói cách khác, mình có thể lừa mình, nhưng không lừa được Thần linh, Thượng đế.

Suy ngẫm một chút về xã hội ngày nay, chẳng phải cũng có rất nhiều người “không muốn trả giá” nhưng lại tham lam, mong muốn giàu có, tìm mọi cách để được hưởng thụ cuộc sống vật chất đầy đủ sao? Cuối cùng, họ đã bị lòng tham làm mê mờ và kết cục mà họ nhận được chẳng phải cũng giống A Tam và con chim tham lam kia?

An Hòa


TÌNH TỪ TIỀN KIẾP


TÌNH TỪ TIỀN KIẾP

Rồi cũng đến phút giây mình tương ngộ
Nhạc mơ tình trỗi dậy sáng niềm vui
Ngoái đường xưa, cay đắng lẫn thơm bùi
Có nhiều lúc ngỡ như rồi tay trắng.

Em nhớ không, bão mưa nào chịu lặng
Thê thảm tình hứng chịu những đòn đau
Thế mà mình phút cuối vẫn còn nhau
Sau giông gió trời tươi hồng sắc nắng.

Ai mà biết, mà tính toan cho đặng
Trời đang xuân lại trở rét vào đông
Tưởng gió mưa – chợt ửng má Em hồng
Cái chớp mắt lệ e lùa băng tuyết.

Tình chúng mình, sao mà… ôi! quá tuyệt
Lãng đãng lòng, huyền ảo mộng liêu trai
Lâng lâng tim, dệt cánh bướm mê hoài
Men rượu ngọt ươm nguyền say chất ngất.

Mình trao nhau cái chân tình rất thật
Đâu chỉ bằng khóe mắt với làn môi
Tự thẳm sâu thương nhớ nảy đâm chồi
Qua năm tháng vững bền hơn cổ tích.
Mà nè Em, hay là trong tiền kiếp
Lỡ hẹn rồi nên kéo mãi đến đời nay?

HANSY

11-ANH ĐÀO GHÉ VIỆT


11
ANH ĐÀO GHÉ VIỆT
[Ngũ độ]

Nhật Bản anh đào giữa nắng sang
Chừng nghe ước vọng khởi mơ vàng
Kìa hoa xứ lạ tưng bừng trổ
Ấy nẻo hiên ngời rộn rã vang
Rạng rỡ đôi tình vui bấy buổi
Triền miên những sắc đỏ bao hàng
Từ xa ghé lại cùng hương tỏa
Kỷ niệm kim bằng nhã ý mang

Kỷ niệm kim bằng nhã ý mang
Bừng lên diễm mộng phả thơm hàng
Chiều vui vẻ phố ngoài thương dậy
Sáng mải mê đường giữa lộng vang
Nũng nịu tình nhân hòa sắc bổng
Trầm ngâm mặc khách trẩy thơ vàng
Nồng khơi phảng phất quanh Hà Nội
Nhật Bản anh đào xõa nắng sang


HANSY
*
HOA ANH ĐÀO

Anh Đào Nhật Bản mới vừa sang
Triển lãm vài hôm nắng đẹp tràn
Dạo phố người đông nhìn chả kỹ
Thăm vườn cảnh rực hát hò vang
Đằng kia mấy chị, dường say ảnh
Phía cận nhiều em cũng mở hàng
Giữa thủ đô lòng thương nhớ bạn
Đôi vần gửi đến ngậm ngùi mang

Gửi đến đôi dòng trộm nghĩ sang
Người xa nỗi nhớ ngập dâng tràn
Bao giờ cánh nhạn tươi hồng thả
Thuở ấy câu tình lãng mạn vang
Rạng rỡ khung trời mơ ước buổi
Bình yên cảnh vật nối theo hàng
Nhiều năm cách trở làm sao gặp
Viễn xứ Anh Đào dạ cảm mang./.

Minh Hien

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2019

70-GIỮA CẢNH BÂNG KHUÂNG


CHẴNG LẼ CHỈ BIẾT KHẮC PHỤC, CỨU TRỢ?


CHẴNG LẼ CHỈ BIẾT
KHẮC PHỤC, CỨU TRỢ?

TTCT - “Tại sao lượng mưa trong mấy ngày xảy ra cơn lũ lớn vừa qua ít hơn cơn lũ lịch sử năm 1999, nhưng mực nước lại cao hơn đỉnh lũ năm 1999 gần 0,5m?“. Câu hỏi của Tuổi Trẻ Cuối Tuần làm nhức nhối lòng người. Và có lẽ ai cũng biết nguyên nhân vì đâu.

Những người có trách nhiệm cho biết việc lũ xuất hiện với tần suất dày và cường suất lũ lớn, lại chảy xiết dù lượng

mưa đo được không nhiều, đã diễn ra ít nhất suốt tám năm trở lại đây.
Đáng buồn là với sự xuất hiện ngày càng bất thường, dồn dập của thiên tai và lặp lại trong một thời gian dài, nhưng chúng ta lại không có một tiến bộ nào trong việc phòng chống ngoài phương án “xưa cũ” khắc phục và cứu trợ! Thực chất đó chỉ là công việc “giải quyết hậu quả”. Mà công việc này không phải lúc nào cũng suôn sẻ.

Hằng năm, VN thường xuyên đón nhận 7-10 cơn bão, đi kèm là lũ lụt, lốc xoáy... Và thật ngạc nhiên, phương tiện chạy lũ của người dân hiện nay vẫn rất “truyền thống”: bè được kết bằng cây chuối hoặc “phá cách” bằng những tấm xốp thay chuối. Tính mạng người dân vùng lũ không mong manh mới là lạ!

Chịu trách nhiệm về thiên tai có khá nhiều cơ quan chung lo: Bộ Tài nguyên - môi trường, Ủy ban Phòng chống lụt bão, Ủy ban quốc gia Tìm kiếm cứu nạn, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn...

Tuy đông nhưng các cơ quan này chỉ tập trung xử lý phần ngọn là cứu hộ, cứu nạn. Nếu có thì thêm việc phòng chống trước mắt mà mục đích cũng chỉ là hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra. Làm như thế không những hiệu quả phòng chống thiên tai đã thấp mà còn rất bị động.

Hậu quả của bão lũ thật thảm khốc. Hàng trăm người chết và bị thương. Hàng ngàn gia đình sống cảnh màn trời chiếu đất. Bao nhiêu công trình xây dựng bị sụp đổ, đường sá, cầu cống tan hoang. Rồi dịch bệnh sau lũ.

Và nguy nhất là bão lũ sẽ xua biết bao người dân vào cảnh trắng tay, đói nghèo. Uổng công trước đây Nhà nước đã đổ rất nhiều tiền của để giúp họ thoát nghèo. Và chắc chắn điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự tăng trưởng của quốc gia.

Chiến lược là tầm nhìn xa, tính đến lâu dài. Nếu chỉ đơn thuần lo việc cứu hộ, cứu nạn và thả tiền, hàng cứu trợ trong từng trận bão lũ riêng lẻ thì đó không phải là chiến lược phòng chống thiên tai. Phải định được một kế sách để người dân có thể “sống chung” khi có bão lũ, để giảm thiệt hại cho họ đến mức thấp nhất có thể. Bởi nếu người dân thường xuyên bị tái nghèo vì thiên tai thì đất nước cũng khó lòng giàu lên được.

TRẦN QUANG THẮNG


SÀI GÒN CÓ MẤY ÔNG?


SÀI GÒN CÓ MẤY ÔNG?

1.
Ông Thượng
là tên dân gian để gọi Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt thập niên 20, của thế kỷ 19. Vì hồi đó, Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt lập tại đây một vườn kiểng để thưởng lãm và xem hát bội, từ đó dân gian quen gọi Vườn Tao Đàn là Vườn Ông Thượng.
2 .
Ông Tố
Giồng là một phương ngữ Nam Bộ, để chỉ dải đất phù sa nổi cao lên, thường là ở ven sông. Có tài liệu cho rằng ông Tố ở đây là Trương Vĩnh Tố, một trong những tướng lĩnh của tổ chức “Phản Thanh phục Minh” bị triều đình nhà Thanh truy sát chạy sang nước ta được chúa Nguyễn cho tỵ nạn vào năm 1679 cùng thời với Mạc Cửu ở Hà Tiên. Ông đã tổ chức cho những cư dân lúc bấy giờ ở đây gồm: người Hoa, người Việt và người gốc Khơ-me của vùng thủy Chân Lạp cũ khai hoang, lập ấp, lập chợ. Từ đó tên Ông Tố gắn liền với địa danh ở đây.
3.
Ông Tạ
vốn nổi tiếng vì từng tồn tại phòng khám của lương y Nguyễn Văn Bi (thường được người dân gọi là ông Tạ). Chợ Ông Tạ nổi tiếng của người Bắc di cư với món …chả chìa !
4.
Ông Lãnh
là Lãnh Binh Thăng , người cho xây cầu bằng gỗ nối Quận Nhất với Quận Tư
5.
Ông Cộ
tên một cánh đồng này ngày xưa thuộc vùng sát cận trung tâm tỉnh Gia Định. Nó ăn từ chợ (ngã ba trong) dài tới cầu Hang; vòng ra đường Nguyễn Văn Học, phía bên này cầu Bình Lợi nó ăn sâu luôn phía trong có hơn 10 cây số, rồi vòng ra khu Hàng Xanh phía lò heo cũ Gia Định chạy dài tới ngã năm Bình Hoà.

Toàn thể khu vực rộng lớn như vậy,thuở xưa không có lấy một con lộ cái quan nào để dân chúng xê dịch. Dân cư trong vùng, sinh sống về nghề ruộng nương, rẫy bái, làm nghề hạ bạc (đánh cá) dọc theo sông cầu Bình Lợi, cầy Băng Ky bây giờ. Những khoảng đất không được khai phá thì toàn là rừng chồi cây lùm mọc rậm rạp. Ông “Cộ” đây có nghĩa là ông Ba Phú Hộ”Cộ” người và hàng hoá.Dần dần, hàng trăm năm sau vùng này được mở mang, nhưng là một vùng rộng lớn, dân chúng quy tụ về càng ngày càng đông lại không có địa danh, nên người ta nhớ ơn ông Ba “Cộ” lập thành vùng này thành địa danh gọi là “Đồng ông Cộ” cho đến ngày nay.

Còn một loạt địa danh mang tên các ông khác như: Cầu Ông Đồn ,chùa Ông (Thủ Đức), chùa Ông Bổn (quận 5), cầu Ông Buông (quận 6), rạch Ông Điền (Nhà Bè), rạch Ông Đội (quận 7),

Bạn biết “Ông ” nào nữa hông ?….

Theo DanSaiGonxua


BUỒN VÀ NHỚ


BUỒN VÀ NHỚ

Em đừng giận dỗi mà chi
Lòng Ta vằng vặc yêu vì bấy lâu.

Đừng làm tha thắt lòng nhau
Đừng cho trầu phải xa cau, nhé người
Dẫu mà có nói cạn lời
Cũng gom một chữ thương rồi khó phai.

Lặng buồn từ tối đến mai
Thức thao một nỗi chẳng ai hiểu mình
Nào đâu dám nghĩ phụ tình
Bởi lòng chỉ một bóng hình Em thôi.

Còn thương xin nói một lời
Để Ta được sống vui đời với Em…

HANSY

10-HỒ TÂY DIỄM TÌNH


10
HỒ TÂY DIỄM TÌNH
[Xa luân-Ngũ độ]

Huyễn ảo Tây Hồ lịm cánh sương
Vừa qua giấc điệp giữa đêm trường
Hồn say thả nguyện ùa thơm hướng
Ái phả đưa tình dệt diễm phương
Vẫn ước êm đềm du mộng tưởng
Và mong rộn rã níu vô thường
Bình an đón nhận niềm vui hưởng
Vũ điệu mơ nồng tỏa mến thương

Vừa qua giấc điệp giữa đêm trường
Rạng rỡ tia hồng trải biếc phương
Nẻo Phật chày kinh gầy pháp dưỡng
Quỳnh Hoa cổ tích vọng dân thường
Mà nghe trí não đầy cao thượng
Cũng thấy tâm hồn đượm cảm thương
Rộn rã tim lòng say ngất ngưởng
Ơ kìa nắng duỗi lặng mù sương

Ái phả đưa tình dệt diễm phương
Thầm xin cuộc sống mãi an thường
Đầm hoa vị ngát ngày vui thưởng
Bãi nước sen vàng dạo tỏ thương
Lãng tử lòng yêu bừng sắc phượng
Giai kiều dạ khởi nép màn sương
Người ơi giữ nguyện vào tâm tưởng
Thỏa ước ngàn năm dỗ mộng trường

Và mong rộn rã biếc vô thường
Cả cuộc đời này đẫm nhớ thương
Thánh Mẫu lời xưa làm biểu tượng
Dâm Đàm chuyện cũ thoáng làn sương
Cầu xin ái cảm hoài hưng vượng
Nguyện ước tình mơ mãi cửu trường
Chớ thả câu nguyền lâm ngõ sượng
Cho hồn lả lướt tận ngàn phương

Vũ điệu mơ nồng tỏa mến thương
Nghiêng chiều nhạt nắng lững lờ sương
Bằng lăng ngả ngớn vời muôn trượng
Dáng liễu trầm ngâm phả dặm trường
Cảnh vật mê hồn loang tới ngưỡng
Ân tình đẫm dạ lướt cùng phương
Trời xanh trẩy gió ngời vô lượng
Diễm sắc Hồ Tây quả dị thường


HANSY
*
CẢNH TÂY HỒ

Tây Hồ mặt nước phủ tràn sương
Sóng vỗ từng cơn một dải trường
Thoảng gió du hồn mây dỗ mộng
Say trời sải cánh nhạn về phương
Chùa Quan tĩnh tại như trầm lắng
Phủ Chúa bình yên ngỡ lạ thường
Giữa cảnh giao hoà tim khát vọng
Mơ tình hạnh phúc gửi lời thương

Sóng vỗ từng cơn một dải trường
Sen ngào ngạt toả lá dồn phương
Trầm ngư ngỡ đó huyền mê thiệt
Bế nguyệt là đây diễm ảo thường
Lãng Bạc năm nào theo cảm nhớ
Dâm Đàm thuở ấy nợ tình thương
Chiều ngơ ngẩn gió bàn chân lạc
Một cõi thâm trầm phủ kín sương

Say trời sải cánh nhạn về phương
Đã ủ ngàn năm giấc mộng thường
Lịch sử ghi hoài trong sáng ngẫm
Cơ đồ khắc mãi rạng ngời thương
Hoàng hôn lịm cảnh chao đầy gió
Bóng liễu u chiều trải ngợp sương
Chậm rãi chuông chùa da diết thả
Ngoài xa sóng nhỏ vỗ miên trường

Phủ Chúa bình yên ngỡ lạ thường
Theo làn khói toả sẽ sàng thương
Mơ hồ thực ảo quanh thần Thánh
Lãng mạn hư mờ khoả ánh sương
Vọng tiếng chày khua  niềm tử sỹ
Thầm câu phú vịnh nẻo sa trường
Dương tà chậm xuống hàng si đỏ
Vỗ cánh Sâm Cầm trở lại phương

Mơ tình hạnh phúc gửi lời thương
Gió lạnh mây trời phủ đẫm sương
Phượng vỹ hồng tươi ngày ngỏ ái
Bằng lăng tím rực  buổi ra trường
Mong người viễn xứ chưa tìm nẻo
Nhớ bạn quê nhà vẫn hỏi phương
Trấn Vũ Nghi Tàm tha thẩn mộng
Hồ Tây sắc đẹp cõi nghê thường.

Minh Hien

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2019

69-NGẪM LÒNG


“KÊ” MÀ KHÔNG “KHAI”


“KÊ” MÀ KHÔNG “KHAI”

TTCT - Trong cuộc “Đối thoại về phòng chống tham nhũng năm 2007” giữa Chính phủ và đại diện các nhà tài trợ quốc tế lớn, Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền đã nói: “Càng công khai, minh bạch càng kiểm soát được tham nhũng”.

Đó cũng là khẳng định của Đảng, Nhà nước trước đây, hiện nay và cả trong tương lai đối với vấn đề hết sức nhạy cảm này. Tuy nhiên, để thực hiện thành công việc công khai, minh bạch trong lĩnh vực quản lý nhà nước sẽ mất khá nhiều thời gian, công sức và chắc chắn không dễ dàng gì.

Chỉ riêng việc công khai các bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức cho đến nay vẫn bị “đắp mô”. Có người viện lẽ tài sản của mỗi người ít nhiều mang tính riêng tư và có quyền được tôn trọng. Điều này có thể đúng với người dân thường, nhưng với cán bộ công quyền khi đã tự nguyện tham gia guồng máy nhà nước thì phải chấp nhận từ bỏ một số quyền riêng tư. Cán bộ, công chức bắt buộc phải kê khai ngay khi mới bước chân vào cơ quan nhà nước và bắt buộc phải công khai bản kê khai này ở đơn vị, cơ quan mình làm việc; ai được dân bầu phải công khai với dân; vị nào được Quốc hội (QH), HĐND bầu phải công khai với QH, HĐND... Đó là điều hợp lý và cần thiết!

Một đại diện của nhà tài trợ đã nói rằng: “Luật pháp VN chưa có cơ chế đủ mạnh để xác minh tính trung thực của bản kê khai tài sản, thu nhập. Mà bản kê khai không xác minh được tính trung thực thì thực chất chỉ là... một tờ giấy”. Nhận xét này không phải không có một phần sự thật. Luật phòng chống tham nhũng qui định bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức được quản lý theo qui định về quản lý hồ sơ cán bộ; việc tiết lộ thông tin của hồ sơ xác minh bị nghiêm cấm. Nghĩa là bản kê khai tài sản không khác gì một “bí mật quốc gia”, chỉ một số rất ít người có thẩm quyền được quyền tiếp cận.

Trong lần bầu cử QH khóa 12 qua, một vị lãnh đạo cấp cao của MTTQ VN đã than: “Đến MTTQ cũng không được biết bản kê khai tài sản của những người ứng cử thì làm sao có thể giới thiệu cho dân”. Như thế, chắc chắn người dân không bao giờ thấy được trắng đen của bản kê khai tài sản. Đã thế, luật còn buộc người dân trưng ra bằng chứng khi muốn tố cáo cán bộ, công chức kê khai gian dối. Điều này là vô cùng khó, vì làm sao biết được cán bộ, công chức đó đã kê khai như thế nào khi bản kê khai không được công khai?

TRẦN QUANG THẮNG

NẾU EM LÀ…


NẾU EM LÀ…

Nếu Em là mây chiều thu lả lướt
Ta bồng bềnh mượn gió chở Em đi
Giữa đất trời ngâm ngợi những vần thi
Dành hết cả cho Em từ yêu nhé!

Nếu Em là gió ngàn lâng hương khẽ
Ta sẽ là phong vũ biểu mùa thương
Gom niềm mơ trộn lẫn với dỗi hờn
Vào kỷ niệm để mãi hoài nhung nhớ.

Nếu Em là màu xanh tươi của lá
Ta làm mưa tiếp nước tưới cây đời
Dựa gốc thương thơ nồng ấm vạn lời
Rồi thủ thỉ ngàn năm tình vẫn lộng.

Nếu Em là dòng sông chiều phơi nắng
Ta trầm mình trong bát ngát yêu thương
Sẽ dâng Em mọi nỗi nhớ chao lòng
Ngụp lặn mãi trong thuyền tình bể ái.
Nếu Em là mật ngọt của tình yêu
Ta sẽ uống chẳng rơi ngoài nửa giọt…

HANSY

9-MƠ MÀNG-HỒ TRÚC BẠCH



9
MƠ MÀNG-HỒ TRÚC BẠCH
[KT chiết tự-Ngũ độ]

T ừng khoe lụa trúc* giữa muôn lòng
R ũ dáng bên hồ trải mượt trong
U ẩn ức chi nào ngư xoã lộn
C hùng chao mấy nữa điệp quay vòng
B ồng dâng nụ ái yêu kiều phả
Á nh tỏa môi tình rạng rỡ mong
C ảnh sắc êm đềm pha tĩnh lặng
H oàng hôn ngược nắng thảo thơm dòng

H oàng hôn ngược nắng thảo thơm dòng
C huyển lại tim người những ước mong
Á ng đẫm tình thơ hoài toả quyện
B ờ loang điệu vũ cứ xoay vòng
C hờ anh lãng tử lồng hương biếc
Ủ khúc nghê thường đợi quãng trong
R ộn rã mơ về vang cổ tích
T ừng khoe lụa trúc giữa muôn lòng

HANSY
*Lụa trúc=Trúc bạch
*
SOI BÓNG HỒ TRÚC BẠCH
(Khoán thủ chiết tự, nđt)

T rải phố đầy hoa phượng vỹ hồng
R u hồn Cố Ngự* cảnh hồ trong
U hoài thả bước đường quen rộng
C hậm rãi dừng chân quán nhỏ vòng
B uổi hạ nghe lòng chan nỗi nhớ
A nh vàng thoảng tiếng gợi niềm mong
C ầu con nối nhịp ra ngoài đảo
H ưởng gió bình yên lạc giữa dòng

H ưởng gió bình yên lạc giữa dòng
C on đường Trấn Vũ đợi người mong
A i từng đã hẹn hàng cây cuối
B ạn vẫn thường qua lối cỏ vòng
C ổ kính tường xây nhà gạch cũ
U sầu liễu rủ bóng trời trong
R ời xa kỉ niệm cùng năm tháng
T rải phố đầy hoa phượng vỹ hồng

Minh Hien
------------
*Cố Ngự: hay Cổ Ngư ngày nay là đường Thanh Niên