Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Kỳ 133 -ĐẠI PHÁ XƯƠNG GIANG DIỆT 5 VẠN GIẶC, BẮT SỐNG 300 TƯỚNG MINH


Kỳ 133
ĐẠI PHÁ XƯƠNG GIANG
DIỆT 5 VẠN GIẶC, BẮT SỐNG 300 TƯỚNG MINH

Sở dĩ phải đánh mạnh khi quân Mộc Thạnh đã rút chạy như kể trong phần trước, là cốt phá đi những lực lượng tinh nhuệ của chúng, đề phòng hậu hoạn về sau và cũng chứng minh cho nước Minh thấy cái giá đắt như thế nào khi động đến nước Đại Việt. Qua trận truy kích không khoan nhượng này cũng cho thấy rằng, những lời chiêu dụ ân cần của Nguyễn Trãi chỉ là những đòn tâm lý chiến chứ không phải thực lòng. Quân Lam Sơn sẵn sàng đánh diệt quân Minh thẳng tay khi có cơ hội chứ không chỉ đơn giản là buộc chúng phải rút lui khỏi bờ cõi.

Sau đại thắng ở hướng tây bắc, nghĩa quân Lam Sơn càng có đủ điều kiện để dồn quân vây Đông Quan và dứt điểm bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở Xương Giang. Các lực lượng quân Lam Sơn rầm rộ hành quân dồn lại để xiết chặt vòng vây. Nguyễn Trãi vẫn tiếp tục dùng văn chương để lung lạc tinh thần của quân tướng nước Minh:

“… Ngày nay tôi đã răn bảo quân lính, dẹp mở dường về cho các ông từ Cần Trạm đến Khâu Ôn, nếu thấy đại quân qua lại không được xâm phạm mảy may. Các ông, trọng hạn ba ngày, nên thu nhặt mà đi. Quá hạn ấy mà còn chậm lại, thế là các ông thất tín, không phải lỗi ở tôi vậy. Kinh thi có câu nói: “Người khác có lòng, ta lường tính xem”. Chắc rằng các ông sở dĩ ở chậm lại, có ý trông mong vào quân ở thành Đông Quan sang tiếp ứng chăng? Hay là ở quân Vân-nam sang tiếp ứng chăng? Thì, từ Đông Quan đến đây chỉ có một ngày đường, không phải hẹn còn có thể tự đến cứu được, há lại nỡ lòng nào dửng dưng ngồi nhìn không đau lòng hộ ư? Thế thì các ông trông mong về quân thành Đông Quan đã tuyệt vọng rồi.

Còn như Kiềm quốc công ở Vân Nam trước đây cùng với các ông cũng vâng mệnh trên họp quân ở đấy. Nhưng Kiềm đại nhân tuổi cao đức cả, đã sớm biết lẽ phải, thấy việc làm rõ. vừa mới đến bờ cõi, lập tức sai người dò thăm hư thực, nghe tin trước đây thành trì các xứ Tam Giang đều đã hòa giải, bèn lui quân về Lâm An, làm bản tâu về triều. Tôi lại đem những quân nhân của các ông mà tôi đã bắt được đưa đến chỗ Kiềm đại nhân, nói rõ duyên do, bọn An viễn hầu, Bảo định bá, Lý thượng thư bị chét. Kiềm quốc đại nhân đã lui quân về Vân Nam rồi. Thế là bọn các ông trông mong về đạo quân ở Vân Nam lại tuyệt vọng nốt.
Hai mặt trông mong ấy đều đã tuyệt vọng, mà quân nhân mỗi ngày một bị chết, lương thực lại hết thì các ông còn đợi gì mà dùng dằng ở lại không đi chứ? Sao mà xét việc câu nệ, mưu việc không sớm thế? Than ôi, chén nước đã đổ khó mà vét lại được nữa, việc trước đã qua rồi, bỏ việc ngày nay không mưu tính đến, hối sao cho kịp. Thư nói chẳng hết lời.” (trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Với bức tối hậu thư này, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã mong rằng 7 vạn viện binh còn lại dưới sự chỉ huy của Thôi Tụ, Hoàng Phúc sẽ tự rút lui như quân Mộc Thạnh, rồi quân ta sẽ thuận thế đánh một trận “dằn mặt” như ở mặt trận tây bắc. Được như thế, thắng lợi sẽ dễ dàng hơn, trọn vẹn hơn mà sự đổ máu cũng ít hơn. Thế nhưng bọn Thôi Tụ không trúng kế, vẫn tổ chức tử thủ ở cánh đồng Xương Giang.

Bất đắc dĩ, Bình Định vương Lê Lợi phải quyết định mở cuộc quyết chiến tiêu diệt viện binh còn lại của quân Minh. Ngài sai các quân hội nhau bao vây quân Minh ở Xương Giang, đều thêm quân Thiết đột và voi chiến dưới sự thống lĩnh của các tướng Lê Khôi, Phạm Vấn, Nguyễn Xí, Lê Hối … lên tiếp ứng cho các quân.

Ngày 3.11.1427, nhân một đêm mưa gió, quân Lam Sơn mở cuộc tổng tấn công tại Xương Giang. Từ bốn phương tám hướng, quân ta bắn pháo vào khối quân Minh, rồi trùng điệp người ngựa, voi chiến đánh dồn lại. Các danh tướng như Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Hối, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An … đều tham chiến, thi nhau giết địch. Quân Minh dù vẫn còn hàng vạn, nhưng vũ khí đạn dược mất gần hết, lương thực không có, thế quân mệt mỏi cùng cực nên chẳng mấy chốc đã vỡ trận. Tai hại hơn cho giặc, lần này chúng đã không còn đường đào thoát nữa. Khắp nơi quân dân người Việt chia nhau chặn hết cả ngã đường thủy bộ, núi non, rừng rậm.

Gần 5 vạn quân Minh bỏ mạng trong trận quyết chiến, số còn lại hơn 2 vạn quân, 300 tướng cũng bị bắt sống hết cả. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép thêm: “Còn những kẻ chạy trốn thì trong khoảng không đến 5 ngày đều bị bọn chăn trâu kiếm củi bắt gấn hết, không sót tên nào.”Theo sử nước Minh, toàn bộ đạo viện binh của Liễu Thăng đều bị diệt và bị bắt, chỉ có duy nhất một viên chủ sự tên Phan Hậu là chạy thoát được về nước. Số chiến lợi phẩm khổng lồ thu được từ đạo quân Minh được sách Lam Sơn Thực Lục miêu tả lại: “Giáo mác, lừa ngựa, vàng bạc, lụa là, gấm, đoạn, từng hòm, từng đống, chứa chất như núi, không thể kể xiết!”

Chiến thắng Xương Giang khép lại chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang thành công tốt đẹp. Kể từ lúc Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên ở trận Bạch Đằng năm 1288, chưa từng có lần nào người nước ta được đắc thắng như thế đối với phương bắc. Không chỉ là một trận chiến định giang sơn, mà âm vang để lại của chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang còn vọng mãi đến ngày nay Hậu thế luôn nhắc đến chiến dịch này như một trong những chiến công hiển hách nhất trong suốt cả hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. 

Quốc Huy


KHÚC PHƯỢNG CẦU


KHÚC PHƯỢNG CẦU
[Thuận Nghịch độc]

Thương quyện quấn nồng đón tiết sang
Phượng loan ngời ánh tỏa thiên đàng
Hường ngơ ngẩn ý trùng yêu thoảng
Hưởng luyến lưu đời hiệp ước loang
Vương ngóng mãi lời tha thiết rạng
Tưởng mơ hoài mộng chứa chan vàng
Đường thơm thảo diệu huyền cung sáng
Hương ái diễm tình thỏa nguyện vang

Vang nguyện thỏa tình diễm ái hương
Sáng cung huyền diệu thảo thơm đường
Vàng chan chứa mộng hoài mơ tưởng
Rạng thiết tha lời mãi ngóng vương
Loang ước hiệp đời lưu luyến hưởng
Thoảng yêu trùng ý ngẩn ngơ hường
Đàng thiên tỏa ánh ngời loan phượng
Sang tiết đón nồng quấn quyện thương

HANSY

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

ĐỐI XỬ VỚI KẺ TIỂU NHÂN


ĐỐI XỬ VỚI
KẺ TIỂU NHÂN

Nơi nào cũng có tiểu nhân, thông thường kẻ tiểu nhân làm người xử thế không được hậu đạo cho lắm, họ thường dùng những thủ đoạn bất lương để đạt được mục đích của mình. Bậc quân tử tấm lòng rộng rãi, kẻ tiểu nhân thường hẹp hòi, u uất. Mỗi người đều sẽ gặp phải kẻ tiểu nhân. Khi ở chung với kẻ tiểu nhân, chỉ cần thiếu thận trọng một chút bạn sẽ phải chịu thiệt lớn, vậy nên học cách phân biệt kẻ tiểu nhân vô cùng quan trọng.

Ngôn ngữ, hành vi của kẻ tiểu nhân có những đặc điểm dưới đây:
1.
Thích đặt điều sinh chuyện
Thông thường họ có âm mưu hay mục đích khác, chứ không chỉ đơn thuần vì tìm kiếm niềm vui. Đôi khi vì muốn thăng quan phát tài, phô diễn sự ưu tú của bản thân, mà họ không tiếc lời bôi nhọ đối thủ. Họ chỉ e rằng thiên hạ không loạn, và quen dùng từ “nghe nói” để đặt câu, bẻ cong sự thực, hoá mù ra mưa.
2.
Thích bới móc ly gián
Họ rất giỏi chia rẽ tình cảm giữa đồng nghiệp, tạo ra tranh chấp và đa đoan, tranh giành lẫn nhau, kết quả là ngư ông đắc lợi. Họ có tài ăn nói, giỏi rũ bỏ trách nhiệm, sau khi xong việc lại thích diễn vai người hoà giải, âm mưu hai mặt, như thể “con dao hai lưỡi”.
3.
Thích a dua nịnh hót
“Khích lệ, tán dương” và “phỉnh nịnh, vuốt đuôi” là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Kẻ a dua miệng nói lời hay nhưng trong tâm lại ủ mưu tính kế. Họ có vẻ thân thiện, nhiệt tình, lại dẻo miệng, khiến con người ngây ngất mà lạc mất phương hướng. Họ cố tình gần gũi với cấp trên, thường thừa cơ ngấm ngầm bẩm báo lên trên để được ân sủng.
4.
Thích lá mặt lá trái
Về phương diện công việc, họ thường ngôn hành bất nhất, giỏi thể hiện công lao trên bề mặt và giỏi thừa cơ cướp công kể thưởng. Về phương diện đối nhân, họ là người hai mặt, trong ngoài bất nhất. Đôi khi trước mặt, họ khen ngợi để dò la bí mật của bạn, nhưng sau lưng lại sẵn sàng làm tổn hại và bán đứng bạn.
5.
Thích gió chiều này che chiều nấy
Ai có ưu thế thì gần gũi người đó, ai thất thế thì vứt bỏ người đó, họ lợi dụng quyền thế của người khác để nâng cao địa vị của bản thân. Những người không có giá trị lợi dụng, họ sẽ không muốn thân cận, đa phần chỉ ứng phó cho qua.
6.
Thích dẫm lên đầu lên cổ người khác
Bạn trồng cây, họ hưởng bóng mát. Họ lợi dụng bạn mở đường cho họ, nhưng khi thành công họ sẽ không báo đáp bạn. Thậm chí họ còn trở mặt vô tình tiêu diệt bạn. Họ coi việc chiếm lợi là việc đương nhiên, đâu có chuyện cảm kích người khác?
7.
Thích dậu đổ bìm leo
Hễ có người vấp ngã hay thất bại, họ sẽ đuổi theo giáng thêm một cú nữa, ví như tuyên truyền khắp nơi rằng ai đó “chịu khổ cũng đáng đời”… Họ cũng thường nói những lời châm chọc vui mừng trước tai hoạ của người khác.
8.
Thích tìm người thế mạng
Rõ ràng là lời nói hành vi của họ có sai sót, nhưng thà chết họ cũng không chịu thừa nhận, mà tự dối gạt lương tâm và chia rẽ người khác. Họ cũng tìm một người chịu hàm oan để gánh tội thay mình. Miệng lưỡi họ sắc bén, lại dám thề thốt, nên rất dễ khiến mọi người nhầm lẫn mà truyền tai nhau những điều bất chính. Lâu ngày nhờ dư luận họ có thể biến đúng thành sai, biến đen thành trắng. Đôi khi sự thực như đá chìm sâu dưới đáy biển, vĩnh viễn bị bẻ cong và che đậy.

Trên thực tế, đặc điểm của kẻ tiểu nhân không chỉ có những điều trên, phàm là người coi thường pháp luật, vứt bỏ đạo lý, hà khắc tuyệt tình, không tuân theo luân thường đạo lý, chỉ biết chiếm lợi về mình, mà làm tổn hại người khác… đều có tính cách của kẻ tiểu nhân.

Cổ nhân có câu: “Vẽ hổ vẽ da, khó vẽ xương; biết người biết mặt, chẳng biết lòng”, lại có câu “Gặp người chỉ nói đôi câu, đừng dốc hết ruột gan với họ”, hay như câu “Người chẳng thể nhìn tướng mạo, biển chẳng thể dò nông sâu”… Đây đều là những câu răn dạy con cháu nhìn rõ thật giả, biết phân biệt thiện ác, từ đó bảo vệ bản thân mình.

Sau khi đã nhìn rõ ai là kẻ tiểu nhân, cũng cần biết cách nên chung sống với họ như thế nào.
1.
Đừng đắc tội với kẻ tiểu nhân
Nhất thiết không nên công khai vạch trần họ chỉ vì chút cảm giác chính nghĩa của bản thân mà không suy trước tính sau. Kẻ tiểu nhân xưa nay không hề cho rằng bản thân mình gian trá, không có hậu đức. Độ mẫn cảm của họ rất cao, mắt sắc như chim ưng, lưỡi bén như gươm đao. Bạn tuyệt đối không phải là đối thủ của họ.
2.
Kính nhi viễn chi, giữ khoảng cách nhất định với họ
Trên bề mặt bạn hãy giữ một mối quan hệ bình thường, nhất thiết không nên thân thiết quá mức với họ. Bởi lẽ kẻ tiểu nhân sẵn sàng trở mặt vô tình, khiến bạn trở tay không kịp.
3.
Nói năng cẩn trọng, khách khí xã giao là được
Nếu bạn phê bình hay nói về những chuyện riêng tư của người khác, thì chắc chắn sẽ trở thành cái cớ để họ gây sóng gió, hoặc trù tính báo thù bạn ngày sau. Nếu họ phê bình hay nói những chuyện riêng tư của người khác, bạn hãy lập tức ngăn lại, một lời cũng không nên nghe. Bởi lẽ dẫu thế nào thì họ cũng sẽ không thể vu oan giáng hoạ cho bạn.
4.
Không nên có lợi ích dây mơ rễ má với họ
Họ rất giỏi tạo nên một vòng giao tiếp nhỏ, có vẻ như nơi ấy rất náo nhiệt và có nhiều lợi ích. Nhưng bạn nhất thiết không được trông cậy vào họ để có được lợi ích. Bởi lẽ, họ nhất định sẽ yêu cầu bạn phải báo đáp gấp bội, chắc chắn bạn sẽ lợi ít mà hại nhiều, cái được chẳng thể bù cho cái mất.
5.
Chịu thiệt một chút cũng không sao
Bởi lẽ bạn không chỉ rất khó tìm được sự công bằng , mà ngược lại còn gây thù kết oán với họ lớn hơn. Họ thường gian xảo, gian trá, và sẵn sàng sinh sự với bạn mãi không thôi, bạn sẽ chỉ cảm thấy mệt mỏi hơn mà thôi.

Cổ nhân có câu: “Nhẫn một lúc sóng yên biển lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”. Bạn hãy coi đây như một bài học cho sự tu dưỡng của bản thân, giúp bạn trưởng thành, và giành được nhiều sự tôn kính hơn. Huống hồ sự công bằng nằm ở nơi lòng người, ai dám kết bạn với kẻ tiểu nhân đây.

Thiên Cầm

TỪ VỤ HÀNH HUNG NỮ SINH Ở HƯNG YÊN

TỪ VỤ HÀNH HUNG NỮ SINH Ở HƯNG YÊN 
NGHĨ VỀ "BẪY KHỈ" TRONG NỀN GIÁO DỤC

Trong thời gian gần đây, clip thỏi vàng ở Dubai được lan khá rộng trên thế giới còn ở Việt Nam thì clip được nhiều người quan tâm là những vụ clip đánh người xé đồ.

Về clip ở Dubai, đó là cảnh thách thức cho ai đó lấy được thỏi vàng đặt trong hộp kính với 1 lỗ nhỏ. Việc tìm cách lấy vàng ra thành công chỉ tồn tại trên lý thuyết và gần như bất khả thi trong thực tế. Dù vậy, nhiều người lóa mắt vì vàng vẫn lao vào thử và nhận cái kết không như ý.

Thực ra trò này có cảm hứng từ “monkey trap” (bẫy khỉ). Người Anh chứng kiến cảnh thổ dân Nam Ấn Độ bẫy khỉ một cách kỳ lạ là đục quả dừa một lỗ nhỏ và để ở trong một số thứ khỉ khoái khẩu như vài củ lạc chẳng hạn. Các chú khỉ thò tay vào trong để moi đồ ăn nhưng không thể rút ra được vì tay nắm chặt mấy củ lạc, mà lỗ thì nhỏ. Quả dừa được buộc vào một sợi dây và người thổ dân chỉ cần lại gần trái dừa là tóm được khỉ. Con khỉ bị bắt vì nó chỉ tham lam nghĩ đến miếng ăn trước mắt mà không lường được hậu quả vì miếng ăn đó nó mất luôn cái lợi to lớn lâu dài là sự tự do, thậm chí sinh mạng. Nếu con khỉ thông minh thì có thể đã biết buông bỏ chút lợi ích tầm thường trước mắt, rút tay khỏi trái dừa và leo lên cây sống đời tự do. “Bẫy khỉ” sau này là thuật ngữ chỉ những người vì mắc kẹt trong cái lợi nhỏ mà đánh mất lợi lớn.

Nhiều người khi đọc đến đây sẽ chê những con khỉ là kém thông minh. Đương nhiên, vì nó là khỉ chứ không phải người. Thế nhưng, lại có không ít người trong xã hội hiện giờ mắc vào bẫy khỉ. Chúng ta chỉ nói về chuyện trong ngành giáo dục.

Dư luận đang rất bất bình về chuyện một nhóm 5 nữ sinh lớp 9 ở Hưng Yên tham gia đánh một bạn nữ có hoàn cảnh đáng thương (thiếu sự chăm sóc do cha mẹ đều có thần kinh không bình thường) ngay tại lớp học, làm em này phải nhập viện điều trị. Nhóm nữ sinh đã lột quần áo, đấm đá liên tiếp vào mặt mũi thân thể bạn học và quay clip. Điều đáng nói sự việc xảy ra ngay trên lớp học và kéo dài trong thời gian dài mà không có sự can ngăn của các bạn cùng lớp. Các học sinh khác cho biết đây không phải lần đầu nạn nhân bị bắt nạt, mà xảy ra rất nhiều lần. Sau khi sự việc trên clip xảy ra cách đây 1 tuần, giáo viên chủ nhiệm yêu cầu học sinh không được thông tin cho bất cứ ai nên đến nay mọi người mới biết.

Liệu có quá khi nghĩ rằng tư duy của giáo viên chủ nhiệm không khác gì tư duy của con khỉ ôm quả dừa? Con khỉ bị bẫy vì chỉ nghĩ đến mấy củ lạc trong quả dừa chứ không nghĩ rằng mình đang ngu ngốc chui vào bẫy. Còn mấy giáo viên như vậy trong đầu chỉ có tư duy làm sao giữ lớp mình quản không có điều tiếng, không bị tụt thi đua chứ không nghĩ gì đến điều to lớn là tương lai của học sinh gặp nạn, về môi trường giáo dục mà thế hệ tương lai gồm có con cháu họ sẽ phải tiếp xúc. Họ vì cái lợi nhỏ bé của bản thân mà vứt luôn cái lớn hơn là sứ mệnh một người thầy vào sọt rác.

Những con khỉ thì không thể có tư duy về những giá trị nhân văn, nhân đạo như con người nhưng phải thừa nhận khỉ là loài giỏi bắt chước. Chúng ta có thể tin là nếu các giáo viên có một vị hiệu trưởng không chú trọng thành tích thì họ cũng sẽ không chạy đua theo thành tích. Và nếu những người quản lý vị hiệu trưởng không chạy đua theo thành tích thì sẽ không đẻ ra các hiệu trưởng chạy theo thành tích.

Khi chạy đua theo thành tích cho bản thân bằng mọi giá thì sẽ trở nên lạnh lùng vô cảm với xung quanh. Điều đáng sợ nhất là sự vô cảm trong ngành giáo dục, trong đội ngũ giáo viên sẽ tác động lên học sinh. Một vụ việc bạo hành như kể trên diễn ra trong một thời gian dài mà không có học sinh nào dám đứng ra bảo vệ lẽ phải thì chứng tỏ suy nghĩ của các em học sinh cũng vô cảm. Và chúng ta biết bạo lực trường học và sự vô cảm không chỉ có ở Hưng Yên. Đó là thất bại của nền giáo dục.

Và vì thế chúng ta đừng cảm thấy khó hiểu chuyện 3 phụ nữ đánh ghen, hành hung, xé áo 1 cô gái gần đường Bà Triệu vốn thuộc loại sầm uất bậc nhất Hà Nội mà không ai đứng ra can ngăn. Dù ngồi ghế nhà trường 12 năm hoặc có thể hơn, nhưng nhiều người trong chúng ta đã quen vô cảm với sự sai trái từ lâu mất rồi. Tại sao?

Anh Tú


LẠI CHUYỆN ĐẠO VĂN


LẠI CHUYỆN ĐẠO VĂN

Báo "Tiền Phong" mấy bữa trước khui ra vụ bà T đạo thơ của ông K. Đạo nhiều ít thế nào, ở đây mình không bàn. Chỉ nhân chuyện đạo văn, nói vài ý:
1.
 Đạo văn là chuyện muôn thuở trong đời sống chữ nghĩa. Xưa đạo, nay đạo, mai còn tiếp tục đạo. Đạo ở Tây, đạo ở ta. Thời nào, nơi nào còn viết lách, còn văn chương… là còn đạo. Đạo vì tham (ở đây chủ yếu là tham danh, háo danh – từ danh có thể ngoém thêm tiền, quyền, gái). Thử hỏi: tham có bao giờ bị tuyệt diệt không? Không! Nhân loại còn tồn tại thì lòng tham còn sống nhăn. Con vi rút đạo văn là con vi rút bất tử. Nó gây ra bất bình, phẫn nộ, khó chịu, nhức nhối. Nhưng dường như sau bao nhiêu bầm dập vì bị trừng phạt, nó vẫn… cười vào mũi các đạo luật nghiêm khắc nhất. Sống dai đến nỗi, buộc phải nghĩ: nó chính là một phần của đời sống – đời sống văn chương, nhất là ở những nền văn chương làng nhàng. Ở những nơi văn chương làng nhàng, chưa biết chừng thiếu nó lại buồn chết đi được!
2.
 Mình ngẫm ra ở những nơi văn chương làng nhàng, người ta rất hay giật mình vì đạo văn. Điều này không khó giải thích. Vì văn chương làng nhàng là mớ sản phẩm của những kẻ thiếu bản lĩnh - thiếu bản lĩnh mới giật mình.

Với những nhà văn có bản lĩnh, cá tính, văn họ thường đặc sắc, không giống ai. Thử đi đạo, đi thuổng văn của các ông ấy xem? Lộ tẩy ngay. Cho nên thường thấy kẻ gian đạo của ông A bà B nào đó, chứ bố đứa nào dám đạo Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử…? Ảnh hưởng cách nghĩ, cách viết có thể có. Nhưng đạo nguyên con thì không.

 Mình, quả thật, cũng không ít phen giật mình. Nhưng không phải vì trộm đạo, mà vì tiếng tri hô của láng giềng. Mắt nhắm mắt mở chạy ra, định thần cả tiếng, chả thấy bóng dáng tên trộm nào cả.
3.
Đạo văn có làm cho văn chương mất giá, khiến bạn đọc quay lưng lại hay không? Theo mình, nếu có, chỉ là tác động rất nhỏ, như “muỗi chí gỗ lim”. Văn chương mất giá, đổ tại đạo văn - quá dễ quá nông cạn! Nếu được hỏi: vậy theo ông, tại sao? Mình sẽ không ngần ngại mà thẳng thừng: tại kém.

Còn nguyên nhân nào đích đáng hơn thế nữa?

TRẦN ĐỨC TIẾN


CÓ BAO GIỜ


CÓ BAO GIỜ

Người đi cuối nẻo xa mù
Để sầu vương lại tình u uẩn nào
Hẹn cùng đẹp mộng trầu cau
Ngờ đâu phụ bạc khiến đau đớn lòng.

Xa rồi héo cả chờ mong
Xót tình cho kẻ mãi trông ngóng hoài
Quên rồi cái thuở sắn khoai
Nên giờ khổ hận vì ai oán tình.

Có bao giờ nắng bình minh
Chiếu về tim lạnh dậy thình thịch tim
Để thôi mỏi mắt trong tìm
Để mùa hạnh ngộ được chìm đắm thương.

Người ơi, dẫu lạc trăm đường
Thì xin về lại nẻo vương vấn nào…

HANSY 

LẴNG NHẴNG


LẴNG NHẴNG
[Song thanh]

Mây đen ngăn lối đến cùng Hằng
Sợ lậm lình xình bể cả trăng
Ái rớt tim tan tê ruột lặng
Mơ im mộng vuột lọt thề chằng
Tình ngày tháng đó nay lơ vẳng
Ước tối khuya nao đã loãng giằng
Bực bội tâm tư luôn lẵng nhẵng
Xa xa chim muộn vọng về rằng

Xa xa chim muộn vọng về rằng
Hỡi những quãng nguyền có biết chăng
Dấu ái nát mờ tàn dạ lặng
Đêm mơ loang buốt xót hồn giằng
Mùa tình vàng vọt lam nham nắng 
Khúc hát xám mờ liểng xiểng trăng
Ngẫm nghĩ giữa lòng buồn héo hắt
Mây đen ngăn lối đến cùng Hằng

HANSY

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2019

ĐOẢN VĂN CỦA BÙI GIÁNG


ĐOẢN VĂN CỦA BÙI GIÁNG

Mới đây, chúng tôi được tiếp cận một số bản thảo viết tay của thi sĩ Bùi Giáng chưa xuất bản, trong đó có hai đoản văn ngồ ngộ. Xin giới thiệu với độc giả nhân dịp kỷ niệm 14 năm ngày thi sĩ mất.

Bài Ông Trời chất vấn ông điên - rằng: “Tại sao chú mày đánh đấm con vợ của chú mày như thế?”. “Tại vì nó có lỗi”. “Có lỗi như thế nào?”. “Tôi thì hằng năm tôi tắm rửa một lần để ăn tết. Còn nó thì mỗi ngày nó mỗi tắm… tức không chịu nổi!”. “Ủa, nó tắm rửa cho sạch sẽ thơm tho có gì đâu mà gọi là tội lỗi?”. “Nhưng mà nó càng sạch sẽ thơm tho bao nhiêu, thì thiên hạ càng thấy rõ cái dơ dáy thối tha của tôi bấy nhiêu. Có phải rằng nó có ý muốn vạch rõ cái thối tha bẩn thỉu của tôi? Tôi mang mặc cảm bấy lâu nay. Còn đâu hài hòa vợ chồng tâm đầu ý hiệp chứ”. Rồi “ông điên” muốn bỏ vợ để lấy “gái sa mạc” vì “sa mạc khô khan quanh năm, đâu có nước giếng nước biển nước sông để tắm cho nhiều”. Ông Trời gật gù: “À ra thế ấy, lọ là thế kia!”…

Bài thứ hai Mẹ ôi!, kể về cô gái 16 tuổi chửa hoang, bà mẹ thay vì phiền trách đã hân hoan reo lên: “Ồ, thế thì vạn phước đấy con ạ. Kiếp xưa có lẽ con khéo léo tu hành lắm đó, nên kiếp này mới gặp gỡ được thằng Mít (…) đến như con là đứa nghiêm trang nghiêm túc như thế mà nó chỉ la cà cày bừa trên bụng con đôi lần mà kết quả huy hoàng rực rỡ chói lòa thì đủ biết tài năng cày sâu cuốc bẫm của nó… Ha ha ha! Mẹ giao luôn cho nó cái khu vườn tược ba mẫu này để nó chăm sóc trồng dâu, trồng dừa: Ùn lên ngọn nước bốn mùa. Núi phơ phất tuyết, cổng chùa tịch liêu. Hai hàng phượng đỏ giấn liều. Đứa con gay cấn một chiều chửa hoang. Ha ha ha!!! Mẹ sắp có cháu ngoại để o bế o bồng rất mực bồng bế o o !!!”.

Đọc hai đoản văn trên hẳn có người sẽ nghĩ Bùi Giáng viết chỉ để “cà rỡn” chơi. Thật ra trong cái “cà rỡn” ấy vẫn ẩn chứa một điều gì khang khác là lạ so với những chuyện cười suông. Riêng chúng tôi, đọc hai bài trên, nghĩ mấy chữ “cổng chùa tịch liêu”, “đứa con gay cấn” và “sa mạc” là cái “chĩa ba” của một cây cổ thụ trong rừng ngôn ngữ mà Bùi Giáng trên đường ngao du đã đặt lên đó “một cách nhìn” để kể về: 1. Những “ông điên” quay cuồng theo các cặp đối trị: tốt - xấu, sạch - nhớp, khen - chê, vinh - nhục… 2. Những “đứa con gay cấn” đã rời “cổng chùa tịch liêu” để kết hôn với bọt nước, với nắng tàn, với sương mai và ánh chớp vội vàng vào mỗi chiều giông. Và thê thảm nhất là đã tự nhốt mình trong sách vở tư biện như ông từng viết: “tự nghìn năm triết học luận lý trường trại đã bóp ngột tư tưởng con người (…) nó khiến tư tưởng không thể nào bước đi thong dong trên ngã ba (…) không còn nghe ra ngôn ngữ Nguyễn Du, Shakespeare…”. (Đường đi trong rừng).

Ông ca ngợi “sa mạc” - muốn tìm về “sự tĩnh lặng mênh mông, trong đó mọi năng lực, hùng tâm, dũng khí, thảy thảy tương hệ tương giao cùng rì rào hoạt động” và “im lặng vì xao xuyến dị thường” (Lời cố quận). Đó là “niềm im lặng” lên đường, tìm về nguồn cội sẵn có trong chính mình. Khi lạc lối, ông lại phải “chăn  trâu” hoặc “lùa dê” để lần về lối cũ: “Trăm năm trong cõi người ta - Chăn dê bò tại ngã ba đường rừng”. Và đây nữa: “Anh lùa dê vào núi rừng mây tím. Cho dê nhảy cỡn giữa mây ngàn (…) Dê lùa anh vào đồi sim trái chín. Anh lạc đường nghe dê gọi kêu vang”.

Lúc đầu ông “nghe dê gọi”. Đến sau ông quên cả dê, quên cả trâu, quên cả bò đang gặm cỏ, mà “chỉ nghe tiếng cọ rì rào”, rồi tự hỏi: “Có hay không bò đương gặm đó? Hay là đây tiếng gió thì thào? Hay là đây tiếng suối lao xao? Không biết nữa mà cần chi biết nữa”. Ông chả cần “biết” âm thanh tiếng động xung quanh mà đã quay “cái nghe” vào sâu nơi mình. Để từ trong cái “nghe tự tánh” ấy, đã tuôn chảy ra ngoài dòng sữa của thi ca…  

Giao Hưởng



TỪ NGỮ SÀI GÒN XƯA


TỪ NGỮ SÀI GÒN XƯA

Hồi còn nhỏ ờ Saigon tôi nhớ chuyện gì xảy ra đã lâu hay nghe người ta nói “Từ thời bà Cố Hỷ”, hoặc “Từ thời Bảo Đại còn… ở truồng”. Bảo Đại là ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của Việt Nam thì ai cũng biết, còn “bà Cố Hỷ” là ai thì hỏi chẳng ai rõ. Tình cờ vừa rồi rảnh rỗi đọc quyển “Tự vị tiếng nói miền Nam” của học giả Vương Hồng Sển mới rõ “bà Cố Hỷ” là ai.

MỖI KHI TRÒ CHUYỆN NẾU AI ĐÓ CỐ NHẮC MÃI NHỮNG CHUYỆN CŨ KHÔNG CÒN HỢP THỜI, NGƯỜI DÂN LỚP TRƯỚC VÙNG SÔNG NƯỚC NAM BỘ ĐÃ GỌI TRẠI “BÀ THIÊN Y” THÀNH “BÀ CỐ HỈ”
Cụ Vương cho biết bà Cố Hỷ là tên một nữ thần ở vùng Bà Rịa, trước đây dân rất kiêng sợ, không dám gọi đến tên, nhưng từ ngày khoa học tiến bộ, đã lui vào dĩ vãng. “Từ thời bà Cố Hỷ”, thành ngữ để tỏ rằng việc xảy ra từ quá lâu đến lu mờ không rõ ắt xảy ra từ bao giờ, cũng như “Từ thời ông Nhạc ỉa cứt su”. Cụ Vương cũng cho biết đây là một thành ngữ của miền Nam có ý nghĩa như “Từ rhời bà Cố Hỷ”. Cụ Vương viết:

“Xét ra Nhạc đây là ông Nguyễn Nhạc, chúa Tây Sơn, cả ba ông không có chữ lót “Văn” như trong Nam thường lầm, và tích “ỉa cứt su” là tiếng nói trong Nam thuở ông Hoành, ông Trắm, đời Ngụy Khôi đây thôi, không nên kéo ông tướng của Tàu vào”, tướng của Tàu đây là nhân vật Nhạc Phi đời Tống.

Cũng có một vài từ khác bây giờ tôi ít nghe ai nói đến là “thả cửa, thả giàn”. Trong sách cụ Vương có nói đến. “Cửa” là “cửa rạp hát”, “giàn” là “giàn hát”. Thả cửa là mở cửa rạp hát cho ra vô thong thả, thả giàn là hát gần vãn cho vào xem không thâu tiền vô cửa nữa, có ý làm quảng cáo mời mọc đến xem diễn tuồng hôm sau: trẻ nít thường chờ thả giàn thả cửa thì ào vô xem hát cọp không tiền.

Nghĩa bóng: thả cửa, thả giàn là làm hoặc nói luông tuồng tự do, không nương tay cũng không kềm hãm nữa” ăn xài thả cửa, ăn nói thả giàn. Đồng nghĩa với làm líb, nói líb: làm líp, nói líp.

Như cụ Vương nói bên trên thì từ líp (líb) là từ tiếng Pháp libre có nghĩa là tha hồ, thỏa thích. Người miền Bắc cũng có câu nói tương tự như câu thả cửa, thả giàn của miền Nam là líp ba ga, mà có người khôi hài vẽ tranh hài hước mâm trái cây cúng ngày tết của quan tham gồm: trái mãng cầu, trái chôm chôm, trái xoái, cái líp và cái ba ga của xe đạp (cầu chôm xài líp ba ga).

Theo học giả Vương Hồng Sển – Líp ba ga – có nguồn gốc từ “giới xe đò”….. Khi họ chở dư hành khách và chất trên mui dư quá nhiều hàng hóa, lính Tây nhắm mắt cho qua, không tra xét, không xử phạt nên người lơ xe mừng quá bèn la lớn : “Líp ba ga” !, Cũng theo cụ Vương, người Pháp không nói “libre bagage” ( tự do hành lý ), đây chỉ là kiểu nói tiếng Tây bồi……xuất hiện từ khi Saigon có xe đò chạy miền tây, Lục tỉnh.!

Ngochieppham

THÌ THẦM


THÌ THẦM

Chuyện dẫu cũ nhưng tình thì luôn mới
Nhớ thuở nào hai đứa thẹn nhìn nhau
Rồi tháng ngày lại ước chuyện trầu cau
Bao mong ước ngày xưa còn nhớ rõ...

Bài thơ em, trách tình không sáng tỏ
Đọc bao lần để mà lộng thầm thương
Người Ta yêu thao thức giữa canh trường
Khi cách trở tình yêu dằng đặc mãi... 

Dẫu mình xa nhưng sẽ mau gần lại
Vì lối tình vẫn mở ngõ thênh thang
Vẫn trái tim hòa cùng mộng thiên đàng
Một tình yêu son sắt chung khát vọng.

Ta sẽ gởi đến Em nhiều diễm mộng
Qua  lời thơ nhung nhớ phả loang đầy
Hãy tin nhé, bởi ái cảm đà xây
Luôn thắm đỏ trong niềm mơ hạnh phúc… 

HANSY

HY VỌNG HOÀI MƠ


HY VỌNG HOÀI MƠ
[Toán ẩn-Ngũ độ]

Đâu nề cưỡng BÁCH bởi hàn đông
NHẤT định vầy duyên thỏa mãn nồng
Vỗ khúc THIÊN đường vui nẻo mộng
Vào hiên thượng giới phả MUÔN lòng
BA đào quyết vẫn tìm nơi lộng
BỐN biển theo hoài đạt ngõ mong
Giữ vẹn trăng NGÀN treo trước cổng
MƯỜI mươi phối ngẫu ngọt chung phòng

MƯỜI mươi phối ngẫu ngọt chung phòng
Dẫu THẤT thu thời ủ đợi mong
TÁM hoảnh ân thề theo dõi mộng
Vài BA kỷ niệm thoáng qua lòng
Dù câu LỤC vấn hoài bay bổng
Chẳng đoạn TAM bành dễ ngoái trông
Cõi mới TƯ tình pha vẻ lộng
Đâu nề cưỡng BÁCH bởi hàn đông

HANSY

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2019

TỪ THỨC GẶP TIÊN [2] CỨU NẠN GIÁNG HƯƠNG


TỪ THỨC GẶP TIÊN
2.
CỨU NẠN GIÁNG HƯƠNG

Cạnh huyện đường có ngôi chùa nọ
Trồng mẫu đơn hoa nở tuyệt trần
Tháng Hai-Bính Tý mùa xuân
Người đi trẫy hội hưởng tuần du chơi.

Một kiều nữ thảnh thơi dạo gót
Thấy hoa nồng đã trót vịn xem
Nào hay lỡ nặng tay kèm
Khiến cành hoa gãy, họa đem phức phiền.

Vì không có bạc tiền trả chuộc
Người coi hoa đành buộc giữ thân
Tội thay vóc hạc trong ngần
Sa đường hiểm lụy chịu ân oán này.

May Từ Thức rõ hay sự việc
Cởi áo cừu đặc biệt đền cho
Khiến nàng thoát cảnh đôi co
Cám ơn nồng nhiệt chàng lo liệu giùm.

HANSY
Chú thích:
Từ Thức là một nhân vật huyền thoại vào đời nhà Trần trong truyện dã sử Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Ông quê ở Tống Sơn - Hòa Châu - Thanh Hóa và được hư cấu là một người gặp được tiên và ở cùng tiên nữ trong chốn tiên cảnh. Tương truyền nơi ông gặp tiên chính là động Từ Thức

KỸ NỮ


KỸ NỮ
NỖI OAN NGÀN NĂM CỦA CON CHỮ

Ngày nay nói đến từ kỹ nữ thì già trẻ trai gái đều nghĩ ngay đến những người làm nghề bán thân, sống bằng nghề bán dâm. Về nguồn gốc nguyên lai và quá trình biến đổi đến kỹ nữ như chúng ta thấy ngày nay, đằng sau có rất nhiều bí mật ẩn chứa mà ít người biết tới.

Kỹ nữ thời cổ đại

Từ kỹ nữ gốc Hán là 妓女, trong đó chữ Kỹ gồm chữ Nữ và chữ Chi, chỉ người phụ nữ phường hát, con hát, sống bằng bán nghệ và bán thân. Nhưng ban đầu chữ Kỹ nữ được viết 伎女, trong đó chữ Kỹ gồm chữ Nhân và chữ Chi, nghĩa là người có kỹ năng, tài năng (nghệ thuật), do đó Kỹ nữ có nghĩa là nữ nghệ nhân, từ Kỹ nữ ban đầu chỉ nữ nghệ nhân ca múa. Hậu Hán Thư có chép: “Khôi tự sát, phi thiếp 11 người, con gái con trai 70 người, kỹ nữ 24 người, tất cả đều chết trong ngục”.

Thời cổ đại, Hoàng Đế sáng tạo ra Nhạc vũ để tế Thần. Đến thời vua Nghiêu đặt ra chức Nhạc quan. Đến thời nhà Hạ Kiệt, đạo đức, lễ nhạc suy thoái, vua Kiệt nuôi 3 vạn nữ nhạc trong cung, ca múa phóng túng. Tuy vậy những nữ nhạc này vẫn là biểu diễn ca múa các bản nhạc điệu múa phóng túng.

Đến thời nhà Chu, Chu Văn Vương hưng thịnh lại lễ nhạc thì không nuôi bọn nữ nhạc, mà tất cả con em quý tộc đều phải học, luyện 6 điệu nhạc vũ lớn, được ghi trong Chu lễ, là những bản nhạc vũ dùng để tế lễ, tế Thần.

Đến thời Đông Chu, lễ băng nhạc hoại, chính trị suy vi, đạo đức suy đồi, thì nữ nhạc lại rất thịnh hành, rồi lan xuống tất cả các nước chư hầu. Vương tôn quý tộc đều có nuôi các đội nữ nhạc của riêng để hưởng lạc, gọi họ là các nhạc công nữ kỹ (vẫn dùng chữ Kỹ với nghĩa nghệ nhân).

Đến thời Hán, các nữ nhạc được gọi là nhạc vũ kỹ nhân, mà người nổi tiếng nhất thời đó là Triệu Phi Yến, vốn là nữ kỹ của nhà công chúa Dương A, sau được Hán Thành Đế đưa vào cung làm chức nữ quan gọi là Tiệp Dư, rồi cuối cùng được Hán Thành Đế đưa lên làm hoàng hậu.


Đến thời Đường Tống, vũ đạo phát triển rộng rãi, kỹ nhạc vũ đạo lên đến thời cực thịnh, đến khắp các giai tầng xã hội. Cung đình có cung kỹ, quân đội có doanh kỹ, quan phủ có quan kỹ, tư gia có gia kỹ. Nuôi các đội kỹ nhạc vũ đạo đã thành trào lưu thịnh hành, nhiều có thể lên hàng ngàn, ít cũng vài người, vài chục người. Như Bạch Cư Dị khi về già từ quan về vui thú điền viên cũng nuôi gia kỹ mấy người.

Hiện nay còn lưu truyền lại bức tranh “Hàn Hy Tái dạ yến đồ” thời Nam Đường, cho thấy trong yến tiệc, các mệnh quan triều đình, còn có cả các văn nhân nhã sỹ, và hòa thượng nghiêm trang, tường hòa, thư thái thưởng thức các nữ nhạc chơi nhạc, múa. Có lúc Hàn Hy Tái còn đánh trống, quan khách khác chơi nhạc để các nữ nhạc múa thướt tha.

Bức tranh “Hàn Hy Tái dạ yến đồ” thời Nam Đường.
Thời Tống, danh kỹ Lý Sư Sư, tài nghệ và dung mạo đều tuyệt trần, được Tống Huy Tông sủng ái, phong làm Doanh quốc phu nhân.

Ở Nhật Bản có loại hình sân khấu truyền thống ca múa nhạc, gọi là Kabuki (tiếng Nhật: 歌舞伎, Hán-Việt: ca vũ kỹ) là một loại hình sân khấu truyền thống của Nhật Bản. Nhà hát Kabuki được biết đến với sự cách điệu hóa trong kịch nghệ và sự phức tạp trong việc trang điểm cho người biểu diễn.

Chữ kanji (ca) nghĩa hát, (vũ) nghĩa là múa, và (kỹ) nghĩa là kỹ năng. Do đó, Kabuki đôi khi được dịch là “nghệ thuật hát múa”.

Ngoài ra, Nhật Bản cũng có các Geisha tức “nghệ giả” được hình thành từ hai chữ gei ( nghệ) và sha ( giả) xuất phát từ phương ngữ Tokyo. Tiếng Nhật chuẩn gọi là “nghệ kĩ”, Geigi (藝伎, “nữ nghệ sĩ”). Tầng lớp quý tộc Nhật, các samurai sống rất có văn hoá, lấy thi ca, nhã nhạc, thư pháp làm trò giải trí. Họ ưa được hưởng sự phục vụ từ phía nữ giới dưới hình thức văn hoá lành mạnh hợp với tâm hồn võ sĩ, chứ không phải hình thức phục vụ tình dục. Nhu cầu giải trí tao nhã ấy dẫn tới sự ra đời của Geisha.

Hai Geisha biểu diễn, chụp vào thế kỷ 19 (Ảnh: Burns Collection)
Ở Việt Nam, ca kỹ được gọi là cô đầu, ả đào hay đào nương. Vào thời nhà Lý, có ca kỹ họ Đào, rất vừa ý Lý Thái Tổ nên thường ban thưởng, từ đó các con hát hay được gọi là Đào nương. Tuy nhiên theo Công dư tiệp kí, “Cuối đời nhà Hồ (1400 – 1407), có người con hát họ Đào quê ở làng Đào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết, dân nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng ở là thôn Ả Đào. Từ đấy những người đi hát được gọi là ả đào”.

Sang thời nhà Lê, nghề con hát trở thành một dạng nghề hèn mạt, đánh đồng với nô lệ, ai xuất thân từ nhà con hát đều không thể làm quan (như Đào Duy Từ). Cứ theo Việt sử tiêu án, khi ấy các con hát ngoài gọi là Ả đào, còn được gọi là Náo nương (鬧娘) hay Cô Náo (姑鬧), Náo Hát (鬧歌)… các danh xưng. Các con hát không biểu diễn ở cung đình vì thân phận thấp hèn, họ chỉ quanh quẩn ở các đình làng hay ca quán tại địa phương.

Vào thời nhà Nguyễn, những ghi chép chi tiết về thú chơi cô đầu là vào những năm Pháp thuộc và ở phía Bắc, với địa danh nổi nhất là phố Khâm Thiên. Cô đầu sống thành từng nhóm, trong các giáo phường, khách đến đó hát ả đào được gọi là quan viên. Đây là thú chơi tao nhã của các quan lại, nho sinh xưa. Các cô đầu đàn hát, múa, còn các khách thưởng thức cũng chơi nhạc hòa nhịp, hoặc đặt lời cho các cô đầu hát.

Kỹ nữ biến tướng

Từ cuối thời Nam Tống trở đi, xã hội loạn lạc, đạo đức suy đồi, con người phóng túng, bắt đầu xuất hiện mua bán con gái nhà nghèo, hoặc do kế sinh nhai, đã có các kỹ nữ vừa bán nghệ vừa bán thân. Lúc này dùng từ Kỹ nữ 妓女, trong đó chữ Kỹ gồm chữ Nữ và chữ Chi, chỉ người phụ nữ phường hát, con hát, sống bằng bán nghệ và bán thân.

Đến thời Minh, xuất hiện hàng loạt các kỹ viện với kỹ nữ chuyên bán thân. Các đô thị lớn có hàng ngàn kỹ nữ, ở các “Giáo phường”. Các châu ấp nhỏ cũng có kỹ nữ, ở các “Lạc hộ”, cũng có người. Quan phủ bắt đầu đặt ra thuế khóa thu thuế, gọi là “Tiền phấn son”.

Tạ Triệu Chiết, tiến sỹ năm Vạn Lịch đời Minh có viết lại phong khí xã hội bại hoại thời đó trong “Ngũ tạp trở” rằng: “Thời nay kỹ nữ khắp thiên hạ, các đô hội lớn có hàng trăm hàng nghìn người, các châu, ấp hẻo lánh cũng có, cả ngày dựa cửa bán nụ cười, bán dâm để sống. Kế sinh nhai đến mức thế này, cũng thật đáng thương thay”.
Từ đời Minh trở đi, những người mượn nghề ca hát hành nghề mại dâm dần thịnh hành, từ đó, từ kỹ nữ gắn liền với nghĩa gái bán dâm.
Ở Việt Nam cũng vậy, triều Lê (cùng thời vời triều Minh Trung Quốc), cũng xuất hiện những người mượn nghề ca hát để bán dâm, gọi là Hoa nương hoặc Hoa mại nương.

Kỹ nữ thời xưa chỉ nói về nghề đàn hát, bán nghệ nuôi thân, cho tới sau thời Lê thì biến tướng.

Vua Lê Thánh Tông có viết trong bài thơ “Thập giới cô hồn ngữ văn”, phần “Giới hoa nương”:

Say mây mưa bàn tán mấy cơn, đón nhân tình bằng mèo thấy mỡ,
Đắm trăng gió lân la đòi đoạn, mệt thế sự tựa kiến sa dầu.
Chốc mòng quán Sở lầu Tần,
Chấp chới ả Diêu nàng Ngụy.
Quấn quýt sự anh sự ả.
Dập dìu tin bướm tin ong.
Làm bạn gửi, lấy chồng quyền, sụt sịt rằng tôi thương tôi thảm,
Đưa người lâu, rước khách mới, bẻo lẻo chào anh ngược anh xuôi.

Cuối thời Lê, Đan Sơn viết trong sách “Sơn cư tạp thuật” rằng:

“Nước ta trước đây đĩ điếm phần nhiều tụ tập ở kinh thành và quân doanh, chỗ nào cũng có, riêng phố Hàng Chĩnh, Hàng Cau đông nhất. Đĩ phần nhiều bị giang mai, tục gọi là mụn Tiêm La. Tương truyền khi chinh phạt Tiêm La, tướng sĩ mắc chứng này, về lây cho nhau, đứa phóng đãng trăng hoa hay mắc phải, có khi chết người. Sau năm Mậu Thân (1788), tướng sĩ trấn Bắc Thành phần đông lây bệnh này, nguy cấp khôn cứu, cấm cũng không dứt được. Bèn lùng bắt đĩ khắp các phố phường, cạo đầu, phạt trượng rồi đuổi đi. Đó cũng là một cách làm hay!”.

Như vậy khi đạo đức xã hội suy đồi, con người buông thả, phóng túng dục vọng, thì kỹ nữ bán dâm phát triển. Đàn bà thì muốn an nhàn hưởng lạc lại có tiền, cũng có người do hoàn cảnh kinh tế nên đã bán thân. Đàn ông thì buông thả, không có chí hướng học Đạo, lập thân, lập danh, lập ngôn, như cổ nhân, cũng không còn lý tưởng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ theo bậc Thánh hiền xưa.

Đàn bà vì thích nhàn hạ, đàn ông lại buông thả không có chí hướng mới sinh ra nghề bán thân cho tới ngày nay.

Còn về văn hóa nghệ thuật, đời sống tinh thần thì họ cũng không biết gì về các thú chơi tao nhã của giới quý tộc, quan lại, Nho sinh thời xưa, đối với Cầm, kỳ, thư, họa, hoàn toàn không hiểu, cũng không có hứng thú, nên chỉ có vùi đầu vào rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện và gái. Để thỏa mãn những ham muốn dục vọng, họ tìm mọi cách kiếm tiền, bất chấp đạo lý, pháp luật, để rồi lại nướng vào mấy thú chơi hạ lưu, thứ mà người xưa ghê tởm khinh bỉ.

Nam Phương

BUỒN VÀ NHỚ


BUỒN VÀ NHỚ

Em đừng giận dỗi mà chi
Lòng ta vằng vặc yêu vì bấy lâu.

Đừng làm tha thắt lòng nhau
Đừng cho trầu phải xa cau, nhé người
Dẫu mà có nói cạn lời
Cũng gom một chữ thương rồi khó phai.

Lặng buồn từ tối đến mai
Thức thao một nỗi không ai hiểu mình
Nào đâu dám nghĩ phụ tình
Bởi lòng chỉ một bóng hình em thôi.

Còn thương xin nói một lời
Để ta được sống vui đời với em…

HANSY 

BUỒN LẶNG TÀN ĐÊM


BUỒN LẶNG TÀN ĐÊM
[Ngũ độ-Láy]

Âm thầm gọi nhớ quãng nồng ơi
Nẻo biệt tèm lem những rối bời
Quạnh quẽ hương lòng xa xót phủ
Bơ phờ vẻ ái mịt mù rơi
Còn chi thuở mật tình chan chứa
Khiến chạnh buồng tim buổi rã rời
Bỗng thấy hoang tàn bao mịt cảnh
Mơ hồ thất thểu giữa sầu khơi

Mơ hồ thất thểu giữa sầu khơi
Ái cảm ngày nao lặng lẽ rời
Khiến dở dang đời trong ngõ cụt
Thêm đày đọa ái giữa tình rơi
Mà nghe khúc khuỷu hồn tê rụng
Lại thấy mù mê dạ ám bời
Lạnh cả đêm trường ngao ngán nhẽ
Âm thầm gọi nhớ quãng nồng ơi

HANSY