Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016


NỖI ÔNG VẬT VÃ, NỖI BÀ THỞ THAN – Vương Trọng

NỖI ÔNG VẬT VÃ
NỖI BÀ THỞ THAN 

Chúng ta biết rằng những nhà thơ, nhà văn lớn thường làm giàu thêm ngôn ngữ của dân tộc mình. Nêu vai trò của Goethe trong ngôn ngữ nước Đức, có người nói rằng Goethe đã tạo ra một nửa thành ngữ của Đức.

Còn đối với đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta, không những cụ đã sử dụng các thành ngữ, tục ngữ... một cách tài tình mà còn sáng tạo ra nhiều thành ngữ mới. Bên cạnh đó, nhiều từ trong tiếng Việt được mở rộng thêm nghĩa khi qua bàn tay cụ. Không thể thống kê hết những từ như vậy, chúng ta chỉ nêu một vài ví dụ để minh chứng điều đó.

Mới mẻ chữ “nỗi” của Nguyễn Du

Theo Từ điển tiếng Việt, chữ NỖI có hai ý. Thứ nhất là chỉ sự tình, sự thể không hay xảy ra, nói về mặt tác động đến tình cảm của con người như “nỗi bất công”, “nỗi oan ức”. Thứ hai là từ dùng để chỉ tâm trạng, tình cảm cụ thể (thường vào loại không được như ý muốn) mà con người phải trả qua, Ví dụ như “nỗi buồn, nỗi nhớ”...

Ðể xem đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng chữ NỖI như thế nào, trước hết thử điểm danh những câu thơ có chữ NỖI trong Truyện Kiều:

Câu 109: Nỗi niềmtưởng đến mà đau/Câu 178:Rộn đường gần với nỗi xa bời bời/Câu 221: Nỗi riênglớp lớp sóng dồi/Câu 246: Nỗi nàngcanh cánh bên lòng biếng khuây/Câu 535: Mảng tin xiếtnỗi kinh hoàng/Câu 537: Gót đầumọi nỗiđinh ninh/Câu 538: Nỗi nhàtang tócnỗi mìnhxa xôi/Câu 777: Xiết bao kểnỗi thảm sầu/Câu 852: Phần căm nỗi kháchphần nhơnỗi mình/Câu 987: Nỗi oanvỡ lở xa gần/Câu 1.015: Kề tai mấy nỗinằn nì/Câu 1.082: Nỗi nhàbáo đápnỗi thânlạc loài/Câu 1.208: Nỗi đêmkhép mở,nỗi ngàyriêng chung/Câu 1.220: Nước đờilắm nỗilạ lùng khắt khe/Câu 1.250:Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân/Câu 1.251: Nỗi lòngđòi đoạn xa gần/Câu 1.318: Nỗi quêcòn một hai điều ngang ngang/Câu 1.444: Ðể nàng cho đếnnỗi này vì tôi/Câu 1.464: Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong/Câu 1.527: Kể chi nhữngnỗi dọc đường/Câu 1.528: Buồng trong nàynỗi chủ trương ở nhà/Câu 1.635: Thân sao lắmnỗi bất bằng/Câu 1.790: Nỗi gầnnào biết đường xa thế nào/Câu 1.870: Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng/Câu 1.888: Phải chi mình lại xót xanỗi mình/Câu 1.904: Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời/Câu 1.943: Sụt sùi giởnỗi đoạn trường/Câu 2.000: Nỗi ôngvật vãnỗi nàngthở than/Câu 2.006: Nghĩ mà thêmnỗi sởn gairụng rời/Câu 2.069: Nghĩ rằng khônnỗi giấu mình/Câu 2.246: Ðường kianỗi nọngổn ngang bời bời/Câu 2.739: Nỗi nàngtai nạn đã đầy/Câu 2.740: Nỗi chàngKim Trọng bấy chầy càng thương/Câu 2.754: Nỗi niềmtâm sự bây giờ hỏi ai/Câu 2.770: Càngngao ngán nỗicàng ngơ ngẩn dường/Câu 2.776: Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa?/Câu 2.782: Cực trăm ngàn nỗi, dặn ba bốn lần/Câu 2.799: Thấy chàng đau nỗi biệt ly/Câu 2.812: Ðể cho đến nỗi trôi hoa, giạt bèo/Câu 2.819: Nỗi thương nói chẳng hết lời/Câu 3.027: Nỗi mừng biết lấy gì cân/Câu 3.102: Ðã xong thân thế còn toan nỗi nào/Câu 3.140: Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao...

Có thể thống kê được 56 câu thơ trong Truyện Kiều có chữ “nỗi”. Trừ hai lần “nỗi” kết hợp với “niềm” để thành danh từ “nỗi niềm”, còn ở 54 câu còn lại, ta xem đại thi hào đã sử dụng chữ này như thế nào.

Như Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa ở trên cũng như theo thói quen thông thường của chúng ta, chữ “nỗi” thường được kết hợp với một tính từ để tạo thành danh từ như “nỗi đau”, “nỗi khổ”, “nỗi buồn”, “nỗi oan ức”, “nỗi bất công”... Trong Truyện Kiều, sự kết hợp này khá phổ biến, đó là “nỗi kinh hoàng”, “nỗi thảm sầu”, “nỗi oan”, “nỗi bất bình”, “nỗi bất bằng”, “nỗi biệt ly”... Bên cạnh đó là sự kết hợp khá quen thuộc với chúng ta hôm nay như “nỗi lòng”... Còn phần lớn trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng chữ “nỗi” thật mới mẻ, mới mẻ đến nỗi cho đến ngày nay, sau khi Truyện Kiều đã được sáng tác trên 200 năm, chúng ta vẫn chưa mấy ai dám sử dụng chữ này như cụ.

“Nỗi dọc đường” của Thúc Sinh

Trước hết là chữ “nỗi” đứng độc lập, không kết hợp với một tính từ hay danh từ nào để có một ý nghĩa cụ thể, mà cụ dành phần đó cho người đọc suy nghĩ mà hiểu lấy. Ðó là “gót đầu mọi nỗi đinh ninh”, là khi chàng Kim nghe tin chú mất, tìm tới để than vãn với nàng Kiều. Tác giả không nói cụ thể Kim Trọng tâm sự những gì, mà chỉ dùng hai chữ “mọi nỗi”, chữ “nỗi” ở đây hàm ý những “chuyện” của nỗi lòng. Khi mụ Tú Bà khuyên giải nàng Kiều sau khi nàng toan tự tử ở lầu xanh, Nguyễn Du viết: “Kề tai mấy nỗi nằn nì” thì không ai hiểu đây là “nỗi nằn nì”, mà tác giả muốn nói mụ Tú ra vẻ nói thật lòng, đưa ra bao nhiêu chuyện để nằn nì, khuyên giải Thúy Kiều. Rồi “nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe”, và “Cực trăm ngàn nỗi dặn ba bốn lần”... thì chữ “nỗi” cũng theo nghĩa “tổng quát” này.

Không biết thời cụ Nguyễn Du về trước đã ai đem kết hợp chữ “nỗi” với một đại từ nhân xưng như trong Truyện Kiều hay chưa, điều mà ngày nay chúng ta ít thấy trên thi đàn. Ðó là “nỗi nàng”, “nỗi chàng”, “nỗi ông”, “nỗi mình”... Cách dùng này hiệu quả và mới mẻ ngay cả thế kỷ 21 này.

Nguyễn Du mạnh dạn kết hợp chữ “nỗi” với một danh từ chỉ thời gian như “nỗi đêm”, “nỗi ngày” làm cho ý nghĩa chữ “nỗi” được mở rộng ra, gợi người đọc suy nghĩ, liên tưởng. Rồi “nỗi riêng”, “nỗi gần” và bao nhiêu “nỗi” khác nữa.

Trong Truyện Kiều có hai câu thơ tác giả dùng chữ “nỗi”, theo tôi, là “táo bạo” nhất:

Kể chi nhữngnỗi dọc đường (1.527)/Buồng trong này nỗi chủ trương ở nhà(1.528)

Ðây là hai câu thơ chuyển đoạn từ việc nói Thúy Kiều để bắt đầu nói về Hoạn Thư. “Nỗi chủ trương ở nhà” là nói Thúc Sinh đã có người vợ chính thức ở nhà thì ai cũng hiểu, còn “nỗi dọc đường” là gì? Trong một chuyến đi công tác, ngồi trên xe có nhiều nhà thơ, khi nhắc hai câu thơ này thì nhiều người hiểu rằng “nỗi dọc đường” đây là nói chuyện đi đường của Thúc Sinh. Tôi lại không hiểu như thế. Nếu chỉ nói chuyện đi đường thì Nguyễn Du sẽ không dùng chữ “nỗi” mà dùng chữ “chuyện”: chuyện dọc đường. Trong Truyện Kiều, chữ “nỗi” thường ẩn chứa ý nghĩa sâu xa hơn là “chuyện”. Vậy “nỗi dọc đường” là gì? Theo tôi, “nỗi dọc đường” của Thúc Sinh chính là Thúy Kiều, dù có hôn nhân nhưng khác xa sự hôn nhân với Hoạn Thư. Câu chuyển đoạn này nói theo ý nghĩ của Thúc Sinh, coi Hoạn Thư là quan trọng. Như thế mới có sự cân xứng giữa “nỗi dọc đường” và “nỗi chủ trương ở nhà”. Nếu vậy, chính Nguyễn Du đã sáng tạo ba chữ “nỗi dọc đường” để nói chuyện tình tang ngoài vợ của các đấng nam nhi. Hiện đại biết chừng nào!

Bên cạnh chữ “nỗi” tôi đã trình bày, các bạn có thể khảo sát chữ “khuôn” và bao chữ khác trong Truyện Kiều để thấy Nguyễn Du - đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới - đã làm ngôn ngữ chúng ta giàu thêm biết bao!

VƯƠNG TRỌNG




ĐƯỜNG YÊU LẬN ĐẬN

ĐƯỜNG YÊU LẬN ĐẬN

Một lần đi, thật khó lòng Ta trở lại 
Để nong buồn vương khóe mắt đời ai 
Có những đêm thao thức suốt canh dài 
Sao cứ muốn lạc về chăn chiếu cũ...

Một lần đi khiến khơi dòng ủ rũ 
Biết về đâu có dáng của người yêu 
Này Em ơi, nghe sương lạnh buốt chiều 
Xa xót mãi vườn yêu gầy thuở đó...

Ta tìm Em giữa miền hoa mộng vỡ 
Tháng năm buồn chầm chậm áng liêu trai 
Gió rên kìa, nằng nặng khúc bi ai 
Khóc tình lỡ ngàn năm sầu vĩnh quyết. 

Ta mất Em giữa mùa thu tàn biệt 
Khép tim lòng địa huyệt não nề chôn 
Có còn đâu kỷ niệm thắm trăng luồn 
Thôi từ giã, một đường yêu lận đận. 

HANSY

NHẮC ANH

196
NHẮC ANH

Nàng xuân báo hiệu sẽ về
Từng đàn chim én phu thê đón chào
Đã thương hãy tặng ngọt ngào
Đã yêu thì giữ đừng trao cho người

Xuân về dậu đổ ngoài khơi
Tìm đường chặn lối chàng ơi vững lòng
Lạc tay phím chạy lông ngông
Lạc vần chữ nhảy múa rồng rắn chơi

Ngẫm hoài cái lối tình đời
Ngồi ăn thì chán của người ngứa mi
Ghét xuân nên gió sân si
Giận mình không ấm tâm lì đi hoang

Chân tình là cả mâm vàng
Thủy chung thiếp tặng cho chàng đón xuân
Nụ cười đẹp tựa trai tân
Bờ môi lóng lánh khách trần ghét ghen

Giấu vào một nửa đi nghen
Hương tình đượm mật kẻ khen người hờn
Nhẹ tay lướt phím cung đờn
Mới hay xuân muộn đẹp hơn bao giờ.

Hoa Tím

LỬA TÌNH NỒNG MẶN


Tình theo mỗi bước Xuân về 
Lắng trong tâm khảm phu thê hẹn chào 
Trao nhau chút mộng ngọt ngào 
Để trăm năm mãi nôn nao nhé người.

Xuân về gió lộng ngàn khơi 
Mang tin sum hiệp chơi vơi cả lòng 
Cau tình bén giọt trầu không 
Mãn đời trăng gió vợ chồng vầy chơi.

Xuân tình em hứa trao đời 
Mộng mơ ủ ấp, điệu lời cong mi 
Tặng người một khối tình si 
Cho bao mật ngọt xuân thì tràn lan.

Trăng mơ thơm mộng ngàn vàng 
Cho ta lạc cõi non bồng cỏ xuân 
Cho xa cũng phải xích gần 
Hoa quay hờn tủi, nhạc đờn hờn ghen.

Giữ lòng cho chặt người nghen 
Vẫn vui bướm mộng, hãy quên dỗi hờn 
Tình tang tích tịch phím đờn 
Phòng loan nồng lửa, dậy thơm ái tình.

Em thương nơi nào cũng xinh
Đồi sương lún phún giọt tình tháng nằm…

HANSY


NGÓNG NÀO

NGÓNG NÀO
(Thuận Nghịch độc)

Hoa nguyệt nuối lòng quạnh vắng thưa
Phả ngào ngon khúc vẫy vòm trưa
Sa trầm mắt lệ chao triền cũ
Rớt lặng môi thề quạnh nẻo xưa
Xa xót dạ nguyền tan tác mộng
Thẫn thờ tim ái nhạt nhòa mưa
Nga hằng dỗi phận đau tình vỡ
Ta ngóng trông người thuở đón đưa

Đưa đón thuở người trông ngóng ta
Vỡ tình đau phận dỗi hằng nga
Mưa nhòa nhạt ái tim thờ thẫn
Mộng tác tan nguyền dạ xót xa
Xưa nẻo quạnh thề môi lặng rớt
Cũ triền chao lệ mắt trầm sa
Trưa vòm vẫy khúc ngon ngào phả
Thưa vắng chạnh lòng nuối nguyệt hoa

HANSY

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

♥♥


39. THANH KIẾM VÀ CÂY ĐÀN

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI

39.
THANH KIẾM VÀ CÂY ĐÀN

Thanh kiếm và cây đàn là hai hình ảnh mà ta thường gặp trong thế giới tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung. Từ Ỷ thiên Đồ long ký, Thiên Long bát bộ đến Tiếu ngạo giang hồ. Trong những giai đoạn lịch sử mà các chế độ phong kiến cầm quyền nhân danh một thứ “vương pháp” tràn đầy bất công và bạo lực áp dụng để cai trị hàng triệu triệu con người, những kẻ có tiền, có quyền, có thế lực ra sức hà hiếp, hãm hại dân đen thì thanh kiếm của người hiệp sĩ trở thành biểu tượng của công lý, một thứ công lý của nhân dân. Thanh kiếm là một vũ khí trừ gian, diệt bạo, tế khổn, phò nguy. Ngược lại cây đàn là một dụng cụ nhằm thể hiện tình cảm, cảm xúc, thể hiện những khát vọng hoà bình, trung chính trước cuộc sống… Nhìn một cách nào đó thì thanh kiếm và cây đàn khó có thể gặp gỡ nhau, khó có thể dung hoà với nhau. Nhưng trong các tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đã tạo ra sự gặp gỡ dung hoà và tương tác giữa hai hình ảnh đó một cách kỳ thú lạ lùng.

Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Côn Lôn Tam Thánh Hà Túc Đạo từ dãy Thiên Sơn đi về tỉnh Hồ Nam, đem theo một cây thất huyền cầm và một thanh trường kiếm. “Hỡi ơi, nước xanh và đá trắng sao rời rạc nhau đến như vậy” - lời than thở của Hà Túc Đạo giữa rừng sâu là lời than chưa tìm được một người tri kỷ hồng nhan, như nước xanh cứ mãi trôi mà đá trắng vẫn trơ vơ đứng lại bên đời. Cho đến khi gặp được cô gái Quách Tương, Hà Túc Đạo đã cảm hứng sáng tác ra được một nhạc khúc để chờ có dịp là đàn cho cô nghe. Và trong một trận chiến với 3 cao thủ Thiếu Lâm Tây Vực, Hà Túc Đạo đã ngồi tại chỗ, sử dụng một tay kiếm đánh với đối thủ, tay kia vẫn tiếp tục đánh đàn. Nghe tiếng đàn phơi phới xuân tình, tràn đầy niềm nhớ thương u ẩn, Quách Tương đỏ mặt lên, biết Hà Túc Đạo muốn tỏ tình với mình. Năm ấy cô mới 16 tuổi. Tiếc thay tuy thắng trong trận này nhưng sau đó Hà Túc Đạo đánh thua sư Giác Viễn và Trương Quân Bảo (chính là Trương Tam Phong sau này) ở chùa Thiếu Lâm nên lặng lẽ bỏ Trung Nguyên trở về Thiên Sơn, khiến khát vọng phối hợp thanh kiếm và cây đàn của chàng không thực hiện được.

Kim Dung đã để cho Cầm điên Khang Quảng Lăng, nhân vật trong Thiên Long bát bộ thực hiện khát vọng ấy. Khang Quảng Lăng có ngoại hiệu là Cầm điên, một nhân vật chơi hồ cầm rất tài hoa. Lão dùng tiếng đàn làm vũ khí, đấu nhau với kiếm kích đao thương của người khác. Nghe tiếng đàn của lão, trái tim người ta dội ngược, kinh mạch loạn lên, người không có nội công thâm hậu khó chống chọi được điệu đàn của lão, tiếng đàn thoạt đông thoạt tây, thoạt trên thoạt dưới, thoạt gần thoạt xa. Khang Quảng Lăng thuộc phái Tiêu Dao tức là tu theo Lão - Trang. Thế nhưng lão vẫn chưa thoát tục được, giai điệu vẫn chưa đạt đến mức thượng thừa của âm nhạc hoà bình trung chính.

Có lẽ điều chưa đạt được đó đã được tác giả Kim Dung thử nghiệm lại trong Tiếu ngạo giang hồ.Trong tác phẩm này, tác giả xây dựng một nhân vật cổ quái là Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn. Mạc Đại tiên sinh cất một thanh kiếm ngắn, lưỡi mềm và mỏng như lá lúa trong đáy cây hồ cầm. Tiên sinh được ca ngợi với 8 chữ “cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm” (trong đàn giấu kiếm, kiếm phát tiếng đàn). Kiếm pháp “Bách biến thiên ảo, Hành Sơn vân vụ thập tam thức “ của lão nhằm cứu người trong cơn hoạn nạn, tế khốn phò nguy. Nhưng tiếng hồ cầm của lão chưa thoát tục, cứ đi mãi trên con đường bi ai sầu thảm; lại thêm lời ca của bài Tiêu Tương dạ vũ (mưa đêm trên sông Tiêu Tương) nghe ra đau xót như những giọt mưa rơi xuống lá cây. Mạc Đại tiên sinh là hình ảnh của một trích tiên bị đoạ.

Một nhân vật khác của Tiếu ngạo giang hồ là Khúc Dương đã nhận ra chỗ thiếu sót đó của Mạc Đại. Khúc Dương là trưởng lão của Triêu Dương thần giáo (Ma giáo). Khúc Dương là 1 nhạc sĩ tài ba, do không phục một câu nói của Kê Khang, 1 nhạc sĩ đời Tây Tấn đã đàn khúc Quảng lăng tán trước khi bị Tư Mã Chiêu giết, rằng: “ta chết đi từ nay trên đời không còn khúc Quảng lăng tán nữa”. Khúc Dương đã bỏ công ra đi đào 29 ngôi mộ của các vua chúa và đại thần thời Đông Hán và Tây Hán và đến ngôi mộ thứ 29 ở đất Thái Ung thì lão tìm ra khúc phổ Quảng lăng tán, Khúc Dương đã cải biên thành nhạc khúc dành cho đàn thất huyền cầm và gọi tên khúc đó là Tiếu ngạo giang hồ. Lão chơi thân với Lưu Chính Phong, nhạc sĩ thổi sáo của phái Hành Sơn. Lưu Chính Phong dựa vào cung đàn của Khúc Dương để viết 1 phần tiêu phổ cho ống sáo. Cầm tiêu song tấu, họ có được nhạc khúc Tiếu ngạo giang hồ hoà bình, trung chính; thể hiện được khát vọng được sống tự tại tiêu dao của một kiếp người.

Nhưng cả Lưu Chính Phong và Khúc Dương đều bị lên án bởi phái Tung Sơn. Với tham vọng lên ngôi minh chủ Ngũ Nhạc kiếm phái, chưởng môn phái Tung Sơn là Tả Lãnh Thiền đã sai thủ hạ sát hại Lưu Chính Phong, định tiêu diệt phái Hành Sơn trước. Thế nhưng trên cả âm mưu của phái Tung Sơn, Nhạc Bất Quần, chưởng môn đã nuôi mộng lên ngôi Ngũ Nhạc phái (bỏ chữ kiếm) bằng chính một đường kiếm tàn ác - Tịch tà kiếm pháp - mà lão ăn cắp được. Cũng với thanh kiếm, Lệnh Hồ Xung đã học được Độc Cô cửu kiếm để trị Tịch tà. Tác giả Kim Dung đã để cho Độc Cô thắng Tịch tà, lấy cái ngay thẳng để chế ngự cái tà ma, lấy cái chính nhân để trị cái nguỵ quân tử. Và khi thanh kiếm chính nghĩa đã toàn thắng thì khúc hợp tấu cầm tiêu Tiếu ngạo giang hồ lại ung dung trổi lên, hoà bình trung chính làm say đắm lòng người nghe.

Lưỡi kiếm là bạo lực, có cái bạo lực phản động, có cái bạo lực để chống bạo lực phản động. Tiếng đàn là tiếng lòng, là âm điệu của hoà bình nhân ái. Lưỡi kiếm ngay thẳng chống bạo lực phản động, lập lại công lý cho cuộc sống để tiếng đàn hoà bình, nhân ái được cất lên. Toàn bộ khát vọng của Kim Dung được thể hiện qua Ỷ thiên Đồ long ký, Thiên Long bát bộ giữa sự giao thoa của kiếm và đàn chưa hoàn thành. Và ông viết tiếp Tiếu ngạo giang hồ để hoàn thành ước mơ đó. Chàng kiếm sĩ Lệnh Hồ Xung với đường Độc Cô cửu kiếm cuối cùng cũng buông lưỡi kiếm xuống, cầm lấy cây đàn cùng người yêu thổi tiêu hợp tấu Tiếu ngạo giang hồ. Vì vậy mà trên cuộc sống này vẫn tồn tại câu nói “Hoà bình là hiệu quả của chân lý”. Ở một chừng mực nào đó Kim Dung đã thể hiện tư tưởng có trước đây hơn 2000 năm của Socrate “Hoà bình chỉ thực sự có khi công lý được xác lập”.

XA NHAU THẬT RỒI!

 
XA NHAU THẬT RỒI!

Mình xa nhau thật rồi đó Em yêu
Thật như Ta đang liêu xiêu trống rỗng 
Như chúng mình đâu còn ngày mơ bổng 
Xa thật rồi, hoang vắng giữa miền thương 

Ái ân lặng ngắt, xa xót canh trường
Mây trở mình lang thang về vô định 
Không còn Em, ngõ hồn đành phong kín 
Thao thức chán chường tím rịm thời gian.

Bản nhạc nào Em hát mộng tình nhân 
Lời thơ nào ngân vang chiều tao ngộ 
Xa rồi Em, toàn khổ đau thương nhớ 
Thảng thốt nhìn quanh, thê thiết trong chiều.

Ta một mình lặng lẽ ngoái mùa yêu 
Hoàng hôn rụi, ráng chiều dâng tang tóc 
Xa nhau rồi, cúi đầu Ta bật khóc 
Em hỡi Em, lòng cô độc úa nhàu. 

Một lần này thôi, từ tạ đời nhau 
Để quá vãng vùi sâu vào địa mộ
Một lần yêu, bao lần tim nát vỡ 
Sao chân tình mãi lầm lỡ phong sương 

Một lần này thôi, trút giữa miên trường 
Rồi quên nhé, yêu thương ngày xưa cũ 
Hãy tìm quên dẫu mơ hoài khi ngủ 
Vẫn dặn lòng , thôi nhé một mùa yêu… 

HANSY

THƯƠNG TÍM THÔI

195
THƯƠNG TÍM THÔI

Em ngoan là bởi do chàng
Khéo thương nên thiếp sang trang đời mình
Thệ nguyền một dạ sắt đinh
Yêu em không đổi, chia tình cho ai

Sóng đời cá cược nằm dài
Cột chân anh vẫn miệt mài yêu em
Trêu hoa ghẹo nguyệt hổng thèm
Lông bông đã chán bên em trọn đời

Phong ba vầng vũ trùng khơi
Lưới giăng ụp xuống đất trời không lay
Người ta bưng đĩa trầu cay
Lắc đầu anh bảo thương hoài Tím thôi

Hoa Tím

GIAO ĐỜI

Diệu thay em cột được chàng 
Cái người lãng tử lan man giữa tình 
Đâu cần nguyệt thẹn hoa xinh 
Tấm lòng trung hậu chân tình là hơn.

Mặc ai mặt đẹp chân dài 
Cứ sắt son một trang đài nồng yêu 
Chuộng chiều, âu yếm là thèm 
Say sưa thế đó, chẳng xem của đời.

Thuyền tình buông lái ra khơi 
Gối giường xô lệch, đất trời lúng lay 
Đậm hương ân ái nồng cay 
Đêm vui Nguyệt lão, ngày say Tơ chùng.

Giao em một tấm thủy chung
Làm quà sính lễ nối vòng tử sinh…

HANSY

OÁN HỜN

OÁN HỜN

Ngát nồng đâu nữa bạn tình ơi
Cung phím tàn hoang vắng bặt lời
Dạ nát tím bầm đau xót lẹm
Lệ sầu đen xạm úa nhàu rơi
Tung hê để nghĩa tròn mơ lại
Thả tuột cho hồn trở mộng khơi
Cứ ngỡ niềm yêu hoài mãi ngọt
Đâu dè quãng ái lắm chùng vơi   

Đâu dè quãng ái lắm chùng vơi   
Phụ bạc nhau rồi tản mát khơi
Xếp cánh ân tình thôi vẫy biệt
Đóng hòm kỷ niệm luyến đành rơi
Từ hôm cõi ái đà tan mộng
Cuối nẻo đường yêu cũng quạnh lời
Trống rỗng ơi người nghe rạn vỡ
Ngát nồng đâu nữa bạn tình ơi

HANSY

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2016

♥♥


TRIẾT LÝ TIẾNG VIỆT TRONG VÀO NAM RA BẮC

TRIẾT LÝ TIẾNG VIỆT TRONG 
VÀO NAM RA BẮC 

Tại sao nói “vào Nam ra Bắc” nhưng không thể nói “vào Bắc ra Nam”? Tại sao một em bé mới sinh được gọi là “mới ra đời”, còn những sinh viên tốt nghiệp và rời trường thì được gọi là “bước vào đời”?

Những câu hỏi này liên quan tới hiện tượng chuyển nghĩa rất thú vị của các từ ra, vào.

“Người xấu duyên lặn vào trong...”

Ra, vào là những vận động định hướng trong không gian. Về ý nghĩa, chúng có liên hệ chặt chẽ với hai từ trỏ vị trí trong, ngoài: “Người xấu duyên lặn vào trong/Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài”. (ca dao)

Từ thời xa xưa tổ tiên chúng ta nhận ra trong hang thì hẹp và ngoài hang thì rộng. Nói “đi ra ngoài hang, đi vào trong hang” rồi khái quát thành: đi ra là đi từ một không gian hẹp tới một không gian rộng hơn, như em bé từ bụng mẹ ra đời; còn đi vào là đi từ một không gian rộng tới một không gian hẹp hơn. Từ trong ứng với không gian hẹp, từ ngoài ứng với không gian rộng. Nhưng không gian nào rộng, không gian nào hẹp? Quan hệ trong - ngoài, hẹp - rộng chỉ là tương đối có trong tâm thức người Việt và được sắp xếp theo quy ước. Chẳng hạn: buồng hẹp hơn nhà, nhà hẹp hơn sân, sân hẹp hơn vườn, vườn hẹp hơn ngõ...

Vậy nên chỉ cần nghe “đi ra sân” là chúng ta biết ai đó từ buồng, từ bếp, từ nhà đi ra sân. Còn khi nghe “đi vào sân” là hiểu ngay ai đó từ vườn, từ ngõ... đi vào sân.

“Vào” nơi chưa biết - “ra” chỗ biết rồi

Hàng loạt nghĩa mới của hai từ ra, vào được hình thành liên quan đến nhận thức: 

a) Trong - ngoài là quan hệ hẹp - rộng, khép - mở, chúng tạo ra những quan hệ về thuộc tính, và 

b) Hướng chuyển động chuyển thành thuộc tính. Đi vào là đi tới nơi hẹp, nơi bị khép lại, còn đi ra là đi tới nơi rộng mở.

Quan hệ hẹp - rộng chuyển thành quan hệ kín - rõ. Mà kín là bí mật, là không thấy được. Ấy vậy nên, từ vào để chỉ những sự việc hoặc hành động bí mật, không thấy được: Đảng rút vào hoạt động bí mật, tên gian đã lẩn vào đám đông, vấn đề đi vào ngõ cụt. Từ ra để chỉ những sự việc hoặc hành động thấy được, công khai: tiến ra sân khấu, cầu thủ A đã được đưa ra sân thay thế cho cầu thủ B.

Chuyển động “ra” là chuyển động từ không gian khép sang không gian mở, là chuyển động theo hướng ly tâm như: dang tay ra, duỗi chân ra, mở gói ra, cởi áo ra, bàn ra, tháo ra, thuyền ra khơi xa... Khái quát lên là từ thu hẹp sang phát triển. Khái quát nữa là sự vật chuyển thuộc tính từ tiêu cực (âm) sang tích cực (dương). Điều này được thấy trong các lối nói trắng ra, béo ra, trẻ ra, khỏe ra, đẹp ra, tươi ra, đỏ đắn ra, xinh ra, tỉnh ra, ăn nên làm ra...

Ngược lại, từ vào dùng cho những hoạt động hướng tâm: co tay vào, nhìn thẳng vào sự thật, nhảy vào cuộc, nói vun vào, lãnh đạo cần gương mẫu để cho quần chúng còn nhìn vào...

Quan hệ không thấy được - thấy được chuyển thành quan hệ chưa biết - biết, phát hiện; giữ kín - bộc lộ. Từ ra để chỉ những gì ta biết, ta phát hiện: tìm ra đáp số; tìm ra thủ phạm; chỉ ra những chỗ sai; nhận ra người quen; nổ ra cuộc tranh luận. Từ ra còn trỏ những gì được bộc lộ: hiện ra, bày ra, làm rõ ra...

Trong cờ tướng, “ra xe” là quân xe chuyển tới một vị trí mở (bộc lộ) rất rộng đường đi. Ý nghĩa “bộc lộ, phát hiện” của từ ra được xuất hiện trong hầu hết các quán ngữ, thành ngữ có từ ra: té ra, hóa ra, thì ra là, thế ra, ra bộ, ra mặt, ra tay, ra cái điều, ra đầu ra đũa, ra môn ra khoai... Từ vào để chỉ những gì chưa biết. Nói tên lửa bay lên vũ trụ vì vũ trụ là không gian cao trên đầu chúng ta; nhưng cũng nói tên lửa bay vào vũ trụ vì trước đây chúng ta hầu như chưa biết gì về vũ trụ. Chúng ta nói những sinh viên tốt nghiệp đại học và đi làm, nhưng chưa biết gì về cuộc sống, là những sinh viên mới vào đời.

Tới đây, chúng ta giải thích được lối nói ra Bắc vào Nam: Trong quá trình phát triển, dân tộc VN đi từ phía Bắc xuống phía Nam. Chúng ta sinh sống ở phía Bắc. Nơi ta sống là nơi ta biết. Đi tới phía Bắc trên đất nước ta là đi tới nơi ta biết nên mới nói ra Bắc. Ông cha ta đi khai khẩn, khám phá phía Nam là nơi chưa từng sinh sống nên chưa biết. Đi tới phía Nam là đi tới nơi ta chưa biết nên mới nói vào Nam. Mặt khác, tiến về phương Nam chủ yếu là tiến về nơi rừng núi rậm rạp cũng là chưa biết. Thế là hình thành lối nói “vào Nam ra Bắc”.

NGUYỄN ĐỨC DÂN

Cách nói theo “điểm nhìn”
Có một ông ngồi trong phòng khách. Tiếng Việt và tiếng Anh có cách nói giống nhau về vị trí của người này so với phòng khách: “Ông ấy đang đợi ở phòng khách” và “He is waiting in the living room”.

Người Việt còn có cách nói theo điểm nhìn rất đặc sắc. Đó là lấy vị trí của mình so với vị trí của người đàn ông để nói. Đang ở trên lầu cao thì nói: “Ông ấy đang đợi dưới phòng khách”. Nếu ở dưới bếp thì nói: “Ông ấy đang đợi trên phòng khách”. Còn như đang ở trong buồng thì phải nói: “Ông ấy đang đợi ngoài phòng khách”. Và: “Ông ấy đang đợi trong phòng khách” là cách nói của những ai đang ở ngoài sân, ngoài vườn.




GIÓ CŨNG THÈM YÊU

194
GIÓ CŨNG THÈM YÊU

Biển ơi con sóng vô tình
Nát bờ dậu nhớ cho mình hờn nhau
Gió ghen với những khát khao…
Chợt ùa phe phẩy ôi chao nụ hồng !

Hỏi cô em chữa có chồng?
Qua cho mượn đó ấp lòng ấm lên
Phải chăng so chiếu le mền?
Nết còn đỏng đảnh buồn tênh đêm dài?

Biển ơi gió cũng thèm say
Cho hương tỏa ngát trầu cay thềm nhà
Đừng hờn giận nữa phôi pha
Nét xuân rạng rỡ gió la đói thèm

Nửa đêm bật dậy vén rèm
Nhìn đôi đũa ngọc rồi xem lại mình
Cô đơn giữa chốn u minh
Gió bay ẻo lả gợi tình thế thôi.

Hoa Tím

RU TÌNH

Mối duyên đã nối dây tình 
Thì xin mãn kiếp chúng mình có nhau 
Để đời ngọt mãi trầu cau
Để cung tình ái dậy trao tim hồng.

Kiếp xưa thề hẹn vợ chồng 
Tình tang cho thỏa nỗi lòng triền miên 
Đã là mộng ước thành nên 
Thì xin nối tiếp hai tên mãi dài. 

Gió tình đơm mượt lòng say 
À ơi chỉ thắm với ai cùng nhà 
Giấc nồng ru nhé Em - Ta 
Chìm cơn luyến ái bao la nỗi thèm.

Sực lòng lay động cánh rèm 
Choàng mơ ta ngủ giữa lòng zdợ xinh 
Hoàng hôn cho tới bình minh 
Say men ngọc nữ chúng mình nào thôi.

Gió đưa hương ngọt thay lời
Ru ta mộng điệp giữa đồi cỏ em…

HANSY

VAN VỈ

VAN VỈ
(Thuận Nghịch độc)

Ta luyến nguyệt nào thuở ngóng trông
Trí tâm nhàu vỡ nát ân dòng
Xa tình hận khổ bao chờ đợi
Biệt ái đau phiền lắm tủi đong
Qua nẻo nhạt thề ran rát dạ
Đến nơi mờ nghĩa xót xa lòng
Là như huyễn mộng thời yêu dấu
Hoa lá tè buồn thẫm tím sông

Sông tím thẫm buồn tè lá hoa
Dấu yêu thời mộng huyễn như là
Lòng xa xót nghĩa mờ nơi đến
Dạ rát ran thề nhạt nẻo qua
Đong tủi lắm phiền đau ái biệt
Đợi chờ bao khổ hận tình xa
Dòng ân nát vỡ nhàu tâm trí
Trông ngóng thuở nào nguyệt luyến ta

HANSY

♥♫ -Thu Vàng


Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

♥♥


38. SỰ SUY TÀN CỦA CHỦ NGHĨA BẠO LỰC

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI

38.
SỰ SUY TÀN CỦA CHỦ NGHĨA BẠO LỰC

Bao giờ cũng như bao giờ, bạo lực luôn luôn có giữa cuộc sống loài người. Có thứ bạo lực chân chính nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ công lý, bảo vệ mạng sống và quyền lợi chính đáng của những con người lương thiện. Có thứ bạo lực phản động nhằm làm náo loạn cuộc sống, gây cảnh can qua cho trăm họ lầm than để thừa cơ hưởng lợi hoặc để cai trị, nô dịch người khác. Loại bạo lực phản động ấy không thiếu trong tác phẩm võ hiệp tiểu thuyết Kim Dung. Khi xử lý tác phẩm, tác giả thường để cho chủ nghĩa bạo lực tự nó suy tàn đúng như định đề "Gieo nhân nào, hưởng quả ấy" của phương Đông hay "Ai gieo gió phải gặt bão" của phương Tây.

Đoạn lung mở đầu cho Lộc Đỉnh ký có lẽ là đoạn triết luận hay nhất, tài hoa nhất trong sự nghiệp trước tác của Kim Dung. Ông luận về chủ nghĩa duy bạo lực của các thế lực quân chủ mấy ngàn năm ở Trung Quốc qua hai từ "Trục lộc" (đuổi hươu). Mượn lời nhà văn Lữ Lưu Lương dạy con trai, Kim Dung nhắc lại câu nói của Khương Thái Công với Chu Văn Vương: "Lấy thiên hạ như đuổi bắt con hươu để làm thịt chia nhau mà ăn. Con hươu dù có trốn chui trốn nhủi nhưng rốt cuộc vẫn bị bắt. Có khi nó bị nhiều người ăn thịt, có khi một người giành ăn hết". Con hươu (lộc) ở đây có nghĩa là thiên hạ, mà thiên hạ có nghĩa là đất Trung Hoa. Hán thư có câu: "Nhà Tần để sổng con hươu, thiên hạ tranh nhau đuổi bắt". Hán vương Lưu Bang và Tây Sở Bá vương Hạng Võ cùng đánh nhà Tần, sau cùng Hán vương diệt được Tây Sở Bá vương, chiếm được thiên hạ, bắt được cả con hươu béo mập.

Để có thể nấu thịt hươu lên ăn, người ta phải dùng đến cái vạc to, có ba chân, đốt lửa ở dưới. Cái vạc ấy đồng thời cũng là hình cụ tàn khốc để đốt, để nấu những người phạm trọng tội. Chữ "đỉnh" trong Hán văn tức là cái vạc lớn. Lộc đỉnh có nghĩa là cái vạc lớn để nấu thịt hươu. Tranh nhau "lộc đỉnh" có nghĩa là tranh nhau giành lấy thiên hạ. Các thế lực quân chủ là dao là thớt, muôn triêuh dân lành trở thành cá thành thịt. Để có thể giành lấy thiên hạ, đạt được quyền lực, người ta phải dùng đến bạo lực phi nhân tính nhất.

Các thế lực quân chủ dùng bạo lực phi nhân để trục lợi còn các thế lực giang hồ trong các tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung cũng dùng bạo lực phi nhân để đô hộ, chế ngự, nô dịch người khác. Trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, chủ nghĩa duy bạo lực luôn luôn gắn liền với các bọn tac đạo muôi tham vọng thống nhất giang hồ, đè đầu cưỡi cổ thiên hạ.

Trong Lộc Đỉnh ký, tà đạo Thần Long giáo ở biển Liêu Đông do Hồng An Thông làm giáo chủ nuôi một thứ tham vọng như vậy. Tà giáo này chủ trương xây dựng các hầm rắn để trừng trị những kẻ không trung thành, buộc bọn thuộc hạ uống loại độc dược Độc long dịch cân hoàn để họ phải trung thành với giáo chủ. Họ gọi con rắn (xà) là thần long. Họ cũng có một thứ "kinh điển" nhằm đầu độc trí óc bọn giáo chúng thanh niên, sùng bái cá nhân giáo chủ:

Hồng giáo chủ ra oai sấm sét
Chúng đồ nhi sức mạnh phi thường...
...Hồng giáo chủ thần kinh như điện
Chiếu nhãn quan ra khắp muôn phương...


Tà giáo này có tham vọng tranh đoạt tấm bản đồ chỉ dẫn đi tìm kho báu được giấu trong bộ Tứ thập nhị chương kinh của nhà Thanh. Họ cấy người vào nội cung triều Khang Hy nằm vùng, khuynh loát chính trị và dọ dẫm tìm bảo vật. Thực hiện không được âm mưu ấy, họ định liên minh với các thế lực biên phòng của Sa hoang Nga La Tư để chống lại Trung Quốc. Điều buồn cười là giáo chủ Hồng An Thông tuy danh vọng to lớn, võ công cao cường nhưng chỉ là một lão liệt dương. Khang Hy đã ra lệnh cho hải quân nhà Thanh bắn phá tan tành đảo Thần Long, cuối cùng bọn thuộc hạ quần công Hồng An Thông, giết giáo chủ. Thần Long giáo tự diệt, đơn giản chỉ vì nó là một tà đạo duy bạo lực.

Trong Thiên Long bát bộ lại có một tà phái khác là phái Tinh Tú, do Tinh Tú hải lão ma Đinh Xuân Thu làm chưởng môn. Đinh Xuân Thu là kẻ lừa thầy phản bạn, từng đánh lại thầy mình là Vô Nhai Tử rồi tự mình tách ra khỏi phái Tiêu Dao để lập thành phái Tinh Tú. Vì đã từng lừa thầy nên bản tâm vẫn sợ bọn đồ đệ đánh nổi lên làm loạn chống mình, Đinh Xuân Thu chủ trương dùng thuốc độc và đạn lân tinh để trừng phạt đệ tử. Lão cho phép các đệ tử đánh nhau thoải mái để giành chức đại đệ tử. Lão chiêu nạp một đám bàng môn tả đạo làm đệ tử và đặt ra những ca quyết để đệ tử tâng bốc mình:

Tinh Tú lão tiên
Danh lừng Trung thổ
Đức sánh cửu thiên
Đánh đâu thắng đó


Ngày Đinh Xuân Thu trở lại Trung Nguyên, gần như lão khống chế được toàn bộ phái Tiêu Dao. Thế nhưng, như một kịch bản hoàn hảo nhất của công lý trên đời, Đinh Xuân Thu đã bị Hư Trúc, Cung chủ cung Linh Thứu, trừng phạt. Bằng nội công Bắc minh chân khí chính tông, mượn giọt rượu của đệ tử tung lên không gian, Hư Trúc biến các giọt rượu trở thành băng và cấy vào trong các huyệt đạo trọng yếu của Đinh Xuân Thu. Miếng băng lạnh tiếp xúc với da thịt nóng, tan ngay vào các huyệt đạo, hoá thành một thứ bùa gọi là Sinh tử phù. Sinh tử phù chạy vào người Đinh Xuân Thu, trở thành một chất kháng nguyên, khiến lão có cảm giác ngứa ngáy như bị hàng vạn con kiến đốt. Đinh Xuân Thu phải chịu thua, đầu hàng, bị phái Thiếu Lâm nhốt lại. Toàn bộ phái Tinh Tú bị giải tán, bạo lực của Tinh Tú hải lão ma tự diệt vong.

Chủ nghĩa duy bạo lực nhìn vấn đề dưới một nhãn quan đơn giản: có sức mạnh là có thể cai trị, khống chế được người khác. Và để có một sức mạnh thì phải leo lên được đỉnh cao của quyền lực, phải nắm quyền lực trong tay. Khát vọng quyền lực khiến các loại nhân vật giang hồ rình mò nhau, ngấm ngầm hại nhau. Điều đáng xấu hổ là những âm mưu đó lại được nấp sau bộ mặt của người quân tử, kẻ chính nhân - tất nhiên là quân tử, chính nhân giả hiệu. Tiếu ngạo giang hồ xây dựng một bộ ba chưởng môn khả kính: Dư Thương Hải - chưởng môn phái Thanh Thành; Tả Lãnh Thiền - chưởng môn phái Tung Sơn; Nhạc Bất Quần - chưởng môn phái Hoa Sơn. Dư Thương Hải đánh Phước Oai tiêu cuc để tìm lấy kiếm pháp Tịch tà; Tả Lãnh Thiền định triệt hạ bốn phái để leo lên chức chưởng môn Ngũ Nhạc Phái; Nhạc Bất Quần vừa rình mò Dư Thương Hải để chiếm kiếm pháp Tịch tà, vừa tháu cáy Tả Lãnh Thiền để tranh đoạt chức chưởng môn Ngũ Nhạc phái. Họ là những người quân tử chính nhân giả hiện, mở miệng ra là nói đạo đức, lòng nhân, sự khiêm ái... Cuối cùng Dư Thương Hải bị giết; Tả Lãnh Thiền bị đui mắt; Nhạc Bất Quần cũng bi giết. Quy luật tự nhiên thật công bằng: những kẻ gian ác, nguỵ quân tử, duy bạo lực bị đền tội bở chính những mưu đồ và hành vi độc ác của họ đã gây ra. Sự trừng phạt của cuộc sống khá nghiêm minh: gieo nhân nào hưởng quả ấy, mức độ trừng phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi.

Tất nhiên, để có thể tiêu diệt chủ nghĩa duy bạo lực này, phải có một thứ bạo lực chính nghĩa đi tiên phong. Đó là bạo lực của những người anh hùng chân chính, trung thực. Tác phẩm của Kim Dung cũng đi theo con đường "có hậu" của nhiều tác phẩm văn học trên thế giới đã đi: chính nghĩa thắng gian tà. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Xạ điêu anh hùng truyện, Thần điêu hiệp lữ, bạo lực phi nghĩa của người Trung Quốc yêu nước đã chiến thắng bạo lực phi nhân nghĩa của các thứ giặc xâm lược Kim Quốc và Mông Cổ. Chủ nghĩa yêu nước lấp lánh phía sau những tình huống tiểu thuyết vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính thoại sử đem lại cho ngừơi đọc sự thú vị tuyệt vời.

Bạo lực phi nghĩa nào cũng có ngày tàn lụi; nếu người ta không sử dụng bạo lực chính nghĩa để tiêu diệt nó thì tự nó cũng có ngày tàn lụi. Đưa ra cái trắng, cái đen, cái thiện và cái ác, cái đúng là cái sai, cái tốt và cái xấu là Kim Dung đã khẳng định quy luật trên. Cho nên, đọc tiểu thuyết của ông, người ta có cảm giác thoả mãn khi thấy công lí thắng lợi, cái ác bị trừng phạt nặng nề. Điều này cũng chính là khát vọng ngàn đời của loài người!

Ngay đến những âm mưu sử dụng bạo lực để khuấy đảo thiên hạ, âm mưu "Toạ sơn quan hổ đấu" cũng tàn lụi từ trong trứng nước. Trong Thiên Long bát bộ, cha con Mộ Dung Bác - Mộ Dung Phục âm mưu phục hổi đế hiệu nước Đại Yên. Để có thể làm việc đó, Mộ Dung Bác phao ngôn rằng quân Khiết Đan sắp tấn công qua Nhạn Môn Quan. Bọn quần hùng Trung Quốc nóng lòng bảo vệ đất nước, ra ải Nhạn Môn Quan đánh giết lầm gia đình Tiêu Viễn Sơn. Không khuấy đảo được cho hai nước Tông - Liêu đánh nhau, Mộ Dung Bác khích cho quốc sư Cưu Ma Trí nước Thổ Phồn nhập Trung Nguyên - Trung Quốc. Làm xong mấy việc đó, Mộ Dung Bác giả chết, vào nằm cùng trong Tàng kinh các chùa Thiếu Lâm, học lén võ công Thiếu Lâm mơ làm anh hùng thiên hạ. Mộ Dung Phục lại là một tay cơ hội chủ nghĩa ghê gớm. Tưởng cha chết thật, Mộ Dung Phục vẫn âm thầm nuôi giấc mộng Đại Yên. Gã hoá thân thành một cao thủ nước Tây Hạ có cái tên lạ hoắc là Lý Diên Tông, đầu quân vào dưới trướng Hách Liên Thiết Thụ sang đánh Trung Quốc. Việc đánh đấm không thành sự, gã phụ rẫy mối tình của biểu muội Vương Ngữ Yên, sang Tây Hạ dự lễ tuyển phu với một hy vọng hết sức bệnh hoạn: được cưới công chúa Tây Hạ làm vợ, trở thành phò mã Tây Hạ, đem binh lực Tây Hạ về đánh Trung Quốc. Việc lại không thành, gã trở về Trung Quốc, lạy tôn thế tử Đoàn Diên Khánh của nước Đại Lý để hoàng gia nước Đại Lý không còn ai, Đoàn Diên Khánh sẽ lên ngôi, gã là Thái tử. Rồi gã sẽ phế người cha nuôi để lên làm vua nước Đại Lý, đem quân về đánh Trung Quốc.

Cha con Mộ Dung Bác - Mộ Dung Phục, mỗi người một âm mưu, muốn quay cho Trung Quốc đại loạn để phục hưng nước Đại Yên. Mộ Dung Bác còn khích Kiều Phong - Nam viện đại vương nắm giữ binh quyền nước Khiết Đan - rằng lão sẵn sàng tự tử để tạ tội phao ngôn, chỉ mong Kiều Phong đưa quân Khiết Đan qua Nhạn Môn Quan đánh Tống triều! Hai cha con này ăn chén cơm Trung Quốc mà kịch liệt chống đối lại trăm họ Trung Quốc.

Kim Dung giải quyết khá công bằng: ông để cho Mộ Dung Bác tự ngộ ra rằng âm mưu phục hồi nước Đại Yên chỉ là mây trắng, rằng không thể lấy thiên hạ để phục hồi đế vị cho một dòng tộc. Mộ Dung Bác xin ở lại chùa Thiếu Lâm đi tu. Mộ Dung Phục giết hết những bằng hữu trung thành của mình, bị Lục mạch thần kiếm của Đoàn Dự đánh cho tơi tả. Gã phát bệnh tâm thần, đi chằm mũ lá đội, mua kẹo bánh bỏ sẵn trong túi để ...làm vua với các trẻ em chăn trâu. Giấc mơ bạo lực tự nó suy tàn mà không cần đến một tác động ngoại lai.