Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

NHỚ ANH


59.
NHỚ ANH

Thoảng trong gió hạ như đông
Nhớ anh quay quăt phòng không buồn buồn
Bỗng dưng trời đổ mưa tuôn
Chiếu chăn nó khóc lệ buông ướt mền

So le chiếu gối buồn tênh
Chàng ơi thiếp nhớ…cái mền…chàng cho
Trời đêm trăng nước ngủ khò
Nhìn lên chiếc áo…cũ xò vẫn yêu

Mỗi đêm trời thắp lửa riu
Tim em vụt cháy thương nhiều anh ơi
Vén màn thắp đuốc cùng trời
Đợi anh đợi mãi hết thời xuân xanh

Hoa cau thắm với mộng lành
Con chim nó hát trống canh…hỡi chàng
Môi hôn luyến nhớ tình lang
Hòa nhau như một… tiếng đàn ru êm

Hoatim

*
BIẾT ĐẾN BAO GIỜ

Đêm dài lòng nhớ dài thêm
Mưa nay có với tới miền em không
Thoảng trong tiếng gió bập bùng
Nghe môi mằn mặn, yêu thương cháy hồn…

Em ơi, cách núi trở giang
Làm cho tim ấy nát tan vì người
Lặng thinh tịnh không một lời
Biết ai có thức thương đời quạnh hiu.

Em ơi, anh nhớ thật nhiều
Nhớ đôi đũa gác mâm cơm thân tình
Nhớ em nở nụ cười xinh
Miệng môi chúm chím, giọng lành dễ yêu…

Thế mà cũng có những chiều
Đầu sông nhớ kẻ yêu kiều cuối sông
Biết bào giờ mới tương phùng
Để hai ta được ấm lòng phu thê…

HANSY

GỞI EM

 
GỞI EM

Gởi Em một chút hương cau
Nghiêng về phía ấy cho nhau được gần.

Chớ làm gió giật mưa dồn
Chim kia mất tổ, người thương phải lìa
Xa ngần buổi ấy cách chia
Mơ trời sum hiệp lia thia lại về…

Chuyện lòng chân chất tình quê
Hương nồng mãi đượm, ngời thê thiết nhiều
Dốc tình viết trọn chữ yêu
Yêu thơ, yêu nhạc rồi yêu… luôn người

Trăm năm là mấy ở đời
Dùng dằng chi phí mật đời, hở Em…

HANSY

GIAI NGẪU SẮT CẦM


58.
GIAI NGẪU SẮT CẦM

Rối bâng cuộn chỉ tơ lòng
Anh yêu chỉ để cuộn dòng trắng tinh
Phòng loan em khép đợi mình
Lang quân ơi hỡi mộng trinh lữ hành

Bước đi vui tựa hồn anh
Bước về chân nhón nó hành đạp gai
Vào nhà cửa đóng then gài
Anh ơi hãy mở dậy lay xuân tình

Bát cháo em bưng cho mình
Dậy ăn đỡ dạ lỗi tình đâu em
Hạ qua thu đến kéo rèm
Bao nhiêu thương nhớ…anh đem mời trầu

Dứt buồn hết giọt mưa ngâu
Tình anh với bậu miếng trầu nên duyên
Hương em phảng phất anh ghiền
Cau xanh mộng trái non tiên lạc hồn

Hoatim

*
VỌNG VỀ EM

Tình nương ơi, hỡi tình nương
Sao khuya mờ nhạt mà thương vẫn đầy
Ta xuôi chân đến chốn này
Hoang vu lạnh lẽo, bông may trắng đèo.

Đêm nay tê lạnh gieo neo
Ngóng về cố quận lắm chiều xót xa
Khuya nay em có nhớ ta
Có hong kỷ niệm để mà thương thêm?

Có còn trông ngóng bên thềm
Có mơ một khúc loan phòng ái ân?
Chiều mưa có bấm phím đàn
Lòng yêu có thổn thức chăng, hỡi người?

Phương xa gởi em mấy lời
Nặng tình trong ấy gọi mời nhớ thương
Ngày nao ủ ấp phấn hương
Cho nay thêm đượm giọt nồng, nhé em…

HANSY

TRỞ ĐÔNG


TRỞ ĐÔNG

Quay quắt mùa đi thẫm úa vàng 
Đông buồn rã cánh giá lồng sang 
Đơm choàng cõi nhớ đơm hồn dậy
Ướp trọn buồng thương ướp lệ tràn 
Lặng lẽ bên đời muôn khổ phả
Âm thâm giữa thế vạn sầu mang 
Tình xưa rã rượi mùa hoang phế
Lạc phím chùng dây thảm thiết đàn 

Lạc phím chùng dây thảm thiết đàn 
Ai vầy hoan lạc kẻ buồn mang 
Mùa trăng bạc phếch đau lòng khỏa
Cõi ái chênh chao buốt lệ tràn 
Cứ ngỡ ân tình thơm sắc trải 
Đâu dè kỷ niệm nhạt màu sang
Chiều đông quạnh quẽ sầu tê tái
Quay quắt mùa đi thẫm úa vàng 

HANSY

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

8- CHÂU BÁ THÔNG


8
CHÂU BÁ THÔNG
Trăm năm còn vị thành niên!

Bảy mươi mới bước vào đời
Tám mươi ta mới sang chơi láng giềng
Tuổi mình còn vị thành niên
Há cớ gì phải buồn phiền như ri?

(Trần Văn Chánh)

Mỗi khi đọc câu thơ tự trào dí dỏm của người bạn gởi tặng từ vùng Bắc Ninh xa lắc, lại nhớ đến Lão ngoan đồng Châu Bá Thông.

Ở vào lứa tuổi mà Khổng Tử bảo là “tri thiên mệnh”, đã đủ dày dặn kinh nghiệm để hiểu được mệnh trời, ấy vậy mà vẫn thấy mình là kẻ “vị thành niên”! Cuộc sống vẫn luôn mênh mông đối với những người hồn nhiên lạc quan, luôn mang trong mình cái “xích tử chi tâm” của Lão ngoan đồng.

Khổng Tử bảo: “Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ” (Ba muơi tuổi thì ý chí đã kiên định, bốn mươi tuổi thì không còn ngờ, năm mươi tuổi thì hiểu mệnh trời, sáu mươi tuổi thì tai thuận, bảy mươi tuổi thì có thể làm theo lòng ham thích mà không còn sợ vượt quá khuôn phép nữa – Luận ngữ - Vi chính II, 4).

Cho nên, “bảy mươi mới bước vào đời”! Lúc này đã có quyền “tòng tâm sở dục, bất du củ” rồi.

Ở cái tuổi “sang chơi láng giềng” thì người hàng xóm lọm khọm là láng giềng đã đành, thậm chí cái chết cũng là kẻ láng giềng. Lúc đó thì làm kẻ “sang chơi láng giềng” theo thể điệu “Être-pour-la-mort” (hữu thể hướng tử) của Heidegger!

Đối với nhà thơ Nguyễn Công Trứ, cái chơi “Tân nương dục vấn tân lang kỷ. Ngũ thập niên tiền nhị thập tam” (tạm dịch: Người đẹp muốn hỏi tuổi ta. Năm mươi năm trước mới hăm ba chứ gì!), ở cái tuổi bảy mươi ba, nghĩa là mới “vào đời” được ba năm, thì dĩ nhiên những đào nương xuân xanh hơ hớ trong tiếng ca và sênh phách luôn là kẻ láng giềng của vị Doanh điền sứ tài ba và “chịu chơi” nhất trong nền văn học Việt Nam này.

Cụ Nguyễn Công Trứ tựa như nhân vật Alexis Zorba của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazanzaki, luôn thấy mình ở lứa tuổi đôi mươi, yêu mê đắm, sống say sưa, làm việc hết mình để tận hưởng hết cái thanh sắc của trần gian cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt. Cái tố chất “chịu chơi” của Alexis Zorba hoặc của Uy Viễn tướng công dù hiếm, nhưng vẫn còn có thể tìm thấy ở một đôi người, chứ cái tố chất hồn nhiên như đứa trẻ con chơi đùa giữa đời của Châu Bá Thông thì chỉ có thể tìm thấy trong chính Lão ngoan đồng!

Nếu chọn trong tất cả tác phẩn Kim Dung một nhân vật được mọi tầng lớp độc giả yêu thích, kể cả trẻ con, thì có lẽ đó chính là Châu Bá Thông. Một nhân vật suốt đời chỉ biết chơi đùa, luôn tìm cách trốn tránh mọi trách nhiệm trong đời mà lại được mọi độc giả yêu mến, điều đó mới là lạ lùng.

Người ta nói Lên ba thì cười, lên mười thì mắng, có nghĩa cùng một câu nói, nếu ở miệng đứa bé lên ba nói ra thì thấy ngộ nghĩnh đáng yêu, còn ở miệng đứa bé lên mười thì lại thấy hỗn xược vô lễ. Cái “thực” không đổi khác mà lại sinh ra hai tâm trạng yêu ghét, bởi vì câu nói của đứa bé lên ba hoàn toàn xuất phát từ trạng thái hồn nhiên vô tâm. Mà ở trên đời, những gì xuất phát từ cái tâm hồn nhiên đều dễ dàng tiếp cận và làm cảm động được lòng người một cách đằm thắm sâu xa.

Châu Bá Thông được độc giả yêu mến bởi ông luôn là “đứa bé lên ba” đó.

Sau khi vô tình gây nên mối tình oan nghiệt tại cung điện Đoàn Nam đế, Châu Bá Thông lại suốt đời chạy trốn Anh Cô, không phải vì ông là kẻ bội bạc vô tình, mà chỉ vì không muốn mang trách nhiệm với cõi đời, nghĩa là không có khái niệm “làm người lớn”. 

Thân ở trong cõi đời, nhưng tâm lại hoàn toàn không muốn vướng bận lụy phiền của cõi nhân gian.

Con người khi sinh ra là một đứa bé hồn nhiên, rồi lớn lên, vượt qua giai đoạn ấu thơ để vào đời, và từng bước khám phá ra những điều huyền ẩn. Nhưng chính trong quá trính khám phá để “trưởng thành” ấy, con người dần đánh mất tính hồn nhiên mà Thượng đế đã phú bẫm cho từ thuở ban sơ. Cái “xích tử chi tâm” dần bị chai sạn bởi những nghiệt ngã của cuộc sống.

Con người, để tồn tại và để cạnh tranh vượt lên cao hơn người khác bằng mọi thủ đoạn mưu ma chước quỷ, cứ ngày càng xa dần vườn địa đàng của tuổi thơ. Cái tâm hồn nhiên kia bị tập nhiễm quá nhiều điều thô bỉ, đê tiện cùng những thói quen dối trá lọc lừa mà chỉ khi có cơ duyên thoát khỏi những hệ lụy ấy, con người mới có thể sực tỉnh để chợt hiểu ra những trò nhảm nhí mà mình cứ mê mải múa may trên sân khấu đời.

Bộ sách Mạnh Tử gồm mấy vạn lời, suy cho cùng cũng chỉ là nỗ lực giúp con người khôi phục lại cái tâm hồn nhiên đó mà thôi. “Đại nhân giả bất thất kỳ xích tử chi tâm” (Bậc đại nhân không đánh mất đi tấm lòng con trẻ - Mạnh Tử, Ly Lâu hạ). Châu Bá Thông chính là bậc đại nhân “bất thất kỳ xích tử chi tâm” đó.

Hầu hết những cao thủ võ lâm đều xem võ học là phương tiện để thỏa mãn tham vọng bành trướng uy quyền và khoáng trương cái tôi. Chỉ có Châu Bá Thông xem võ học là mục đích tự thân. Thích học võ, vui học võ, say mê học võ. Hễ gặp ai có những tuyệt kỹ lạ lùng, như Dương Qua hay Kim luân Pháp vương là Châu Bá Thông sẵn sàng bái làm sư phụ để xin học. Như một đứa trẻ ham mê đồ chơi lạ.

Và chỉ có cái tâm hồn nhiên của trẻ thơ mới có thể sáng tạo ra những điều kỳ diệu từ những cái tưởng chừng rất đỗi tầm thường.


Cậu hoàng tử bé trong tác phẩm Le petit prince của Saint-Exupéry luôn ngạc nhiên trước những trò bận rộn của người lớn. Mà chỉ có những đứa bé hồn nhiên mới thấy hết được cái vẻ trịnh trọng điên đảo của người lớn.

Ông Bùi Giáng có lẽ cũng đã dùng cái tâm trẻ thơ để chuyển ngữ tác phẩm trên thành Hoàng tử bé bằng một ngôn ngữ vô cùng hồn nhiên thơ mộng, khác hẳn những cuốn sách dịch cà rỡn khác của ông. 
Châu Bá Thông cũng chính là cậu Hoàng tử bé đáng yêu kia.

Tô Đông Pha hỏi Tạo vật hà như đồng tử hý! (tạo vật sao lại giống như đứa bé chơi đùa đến vậy!). Tạo hóa với đại lực lượng, đại ý chí mà lại biết chơi đùa cũng chỉ vì có cái tâm hồn nhiên của trẻ thơ. 
Châu Bá Thông suốt đời chỉ biết chơi đùa chỉ vì cái tâm đó.

Chỉ vì một lời thách thức vớ vẩn mà Châu Bá Thông phải vượt mấy ngàn dặm từ Trung nguyên cho đến vùng hoang mạc xa xôi để tìm một lá cờ, giống như đứa trẻ chơi trò cút bắt, Châu Bá Thông chính là “đồng tử hý” vậy.

Nhờ cái tâm hài nhi ưa đùa bỡn mà Châu Bá Thông không hề thù hận ai, kể cả Hoàng Dược Sư là người đã đánh gãy chân ông và bắt giam ông trên đảo hàng chục năm. Ngồi trong thạch động, không có bạn chơi thì tự mình chơi với mình bằng cách dùng hai tay đánh với nhau. Kết quả là ông sáng tạo ra môn tuyệt kỹ độc đáo nhất võ lâm: “Song thủ hỗ bác”. Hai tay vừa hỗ tương vừa công kích lẫn nhau, tạo thành uy lực vô lượng, như hai đối cực âm và dương cùng vận hành trong vòng tròn thái cực.

Để học được môn võ công kỳ diệu này thì bài học vỡ lòng là phải dùng hai tay để vẽ cùng lúc một vòng tròn và một hình vuông. Mới nghe thì tưởng chừng như đơn giản, nhưng không ai học được. Cái công phu “phân tâm nhị dụng” (chia lòng ra làm hai để ứng dụng vào hai việc khác nhau) đó chỉ có hai người là Quách Tĩnh và Tiểu Long Nữ tiếp thu nổi.

Quách Tĩnh học được là nhờ cái tâm đôn hậu chân chất, Tiểu Long Nữ học được là nhờ cái tâm hư tĩnh như mặt nước hồ thu, không hề vướng bụi trần.

Châu Bá Thông vai vế ngang với Hồng Thất Công, Hoàng Dược Sư lại nài nỉ kết giao tình huynh đệ với Quách Tĩnh, là kẻ lẽ ra phải kêu mình bằng sư thúc tổ. Về sau, ông lại kết giao với Dương Quá, hạng con cháu của Quách Tĩnh nữa.

Chỉ tiếc một điều, có lẽ tại Lão ngoan đồng “kỵ” phái nữ sau “sự cố Anh Cô”, nếu không có lẽ ông đã kết nghĩa huynh với cô bé Quách Tương rồi. Hai tâm hồn khoáng đạt như vậy mà không có cơ duyên để kết nghĩa thì quả là điều uổng phí của trần gian.

Phật giáo chủ trương tất cả chúng sinh đều bình đẳng trước Tam bảo, thì mọi khách giang hồ đều bình đẳng trước cái tâm của Châu Bá Thông.

Cuối cùng thì cuộc trốn chạy Anh Cô cũng phải chấm dứt, cùng với cái chết trong cơn sám hối của Cừu Thiên Nhận. Châu Bá Thông và Anh Cô về sống chung, làm người láng giềng của Đoàn Nam đế. “Tám mươi ta mới sang chơi láng giềng”. Nhưng dẫu cho đến lúc đó, vẫn cho rằng Châu Bá Thông vẫn là kẻ “vị thành niên”.

Mọi người chúng ta ai cũng đã có lần có được cái tâm Châu Bá Thông, rồi lại đánh mất đi. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là dường như không ai muốn tìm lại cái tâm đó, có lẽ sợ bị mang tiếng là “trẻ con”! Chúng ta say sưa xác lập những giá trị, rồi luôn tìm mọi cách để chiếm đoạt những giá trị do chính chúng ta dựng nên, trong cái “thế giới người lớn” đầy những lễ nghi phiền toái cùng những dối trá lọc lừa.

Chính trong tiến trình xây dựng và chiếm đoạt các giá trị đã làm nảy sinh biết bao xung đột, hận thù. Rồi chúng ta lại vắt óc tìm mọi cách hòa giải, cũng bằng kiểu cách khệnh khạng của “người lớn”, mà có khi nào chịu hiểu rằng, chính cái kiểu cách khệnh khạng đó lại là mầm mống đẻ ra thêm các xung đột khác.

Thiên Sơn mộc trong Nam hoa kinh của Trang Tử chép: “Thuyền lớn vượt sông, có con đò nhỏ không người trôi đến chạm vào, thì dù là người có bụng hẹp hòi cũng không giận. Nhưng nếu trên đò có người, tất thuyền lớn sẽ hô hoán lên. Nếu gọi một hai lần mà không nghe ắt sẽ gọi lần thứ ba, rồi buông lời thóa mạ theo ngay. Lúc trước không giận mà bây giờ giận, vì lúc trước là chiếc đò không (hư) mà bây giờ là đò có người (thực). Người ta nếu biết làm mình trở thành chiếc đò không để trôi giữa đời, thì ai mà hại được? (Nhân năng hư kỷ dĩ du thế, kỳ thục năng hại chi?)”.

Châu Bá Thông chính là “con đò không” đó để rong chơi trong cõi giang hồ, đã biết “hư kỷ dĩ du giang hồ”. Cái tâm “hư kỷ” của Châu Bá Thông là cái tâm tự nhiên, vượt trên cả chữ “năng”. Ông không cần tập “năng hư kỷ” mà tự nhiên đã là “hư kỷ’ rồi.

Có người hỏi thiền sư Triệu Châu: “Con chó có Phật tính không?”. Ông đáp “Vô!”. Tâm Châu Bá Thông cũng chính là chữ “Vô” đó.

Cái tâm hài nhi của Châu Bá Thông là điều mà mọi tôn giáo và triết học chân chính đều nỗ lực muốn tìm lại. Hình ảnh ngây thơ của Chúa Hài Đồng hay nụ cười hồn nhiên của đức Phật Di Lặc luôn nhắc nhở ta về cái tâm Châu Bá Thông mà ta vô tình đánh mất.

Và sẽ vô cùng hạnh phúc cho ai, ở những năm tháng cuối đời tìm được cái tâm Châu Bá Thông ngay giây phút cận kề của cõi không hư.

HUỲNH NGỌC CHIẾN



TÌNH


TÌNH 

Tình nồng, gió hương bay 
Yêu nhau, yêu cuồng say 
Em ơi, tình vạn dặm 
Đâu sánh được lúc này. 

Ta trao nhau nụ hôn 
Lòng hẹn thề yêu thương 
Ngàn năm chỉ có một: 
Em và anh cuốn tròn... 

Tình say nhưng tâm tĩnh 
Biết yêu thương ngọn ngành 
Thề cùng với cao xanh 
Tình này luôn chân thật. 

Tình say lòng không mê 
Nên lời, gió không bay 
Em ơi, nghe anh nhé: 
Trao cho em tim này. 

HANSY

AI BIỂU ANH PHONG LƯU


57.
AI BIỂU ANH PHONG LƯU

Giận anh em có giận đâu
Ngồi buồn lấy bút vẽ sầu mắt yêu
Giả vờ ghen cho nhiều nhiều
Để anh lúng túng hồn xiêu với hồn

Em là gái giữa nông thôn
Thành thị anh đó hoa thơm sắc màu
Thương anh ngồi vẽ trăng sao
Bức tranh tuyệt đẹp hồng hào má yêu

Chiều buồn chim vịt kêu chiều
Hào hoa anh đó mĩ miều đón đưa
Phong lưu trăng gió chưa chừa
Em ngồi em khóc lệ đưa tím trời

Yêu anh em giận mình ơi
Cái ghen nó nổi tơi bời trong tim
Hào hoa phong nhã tỵ hiềm
Giận anh em viết nỗi niềm ghen ghen…hihi

Hoatim

*
SỢ LẮM “PHONG LƯU”

Cũng là tạo hóa dựng nên
Phong lưu một tính mà duyên bẻ bàng
Cũng vì nó, rước trái ngang
Tình nồng cũng có, đau thương cũng nhiều.

Tưởng rằng sẽ trọn đường yêu
Té ra đứt gãy còn nhiều hơn ai
Dung dăng dung dẻ vài ngày
Bóng chim tăm cá lặn dài mất tăm.

Phong lưu bẻ gió thưởng trăng
Hào hoa một túi, lặng thầm ai hay
Đơn côi cũng chịu nhiều ngày
Nửa đường đứt bóng đắng cay lắm người.

Phong lưu mà thế thì thôi
Làm người bình dị một đời ổn an
Trăng thanh gió mát cùng nàng
Thi thơ xướng họa, nồng nàn yêu thương…

HANSY

SƠN HÀ NGUY BIẾN


SƠN HÀ NGUY BIẾN
(Thuận Nghịch độc)

Đông hải chiến trường Việt quốc vương
Thoái lui nào nữa có đâu đường
Lòng sôi sục uất lèn tâm hận
Trí thiết tha nguyền trỗi  dạ thương
Trông ngút lóa tràn khơi súng giặc
Dõi mù loang dậy biển trùng sương
Dòng thơ giục gọi rền xương máu
Đông hải chiến trường Việt quốc vương

Vương quốc Việt trường chiến hải Đông
Máu xương rền gọi giục thơ dòng
Sương trùng biển dậy loang mù dõi
Giặc súng khơi tràn lóa ngút trông
Thương dạ trỗi nguyền tha thiết trí
Hận tâm lèn uất sục sôi lòng
Đường đâu có nữa nào lui thoái
Vương quốc Việt trường chiến hải Đông

HANSY


Thứ Ba, 29 tháng 12, 2015

NGHI ÁN “ĐẠO THƠ” VÀ THÓI QUEN CẦM NHẦM – Nguyễn Đăng Tấn



NGHI ÁN “ĐẠO THƠ” 
VÀ THÓI QUEN CẦM NHẦM 

Dạo này tự dưng lại rộ lên chuyện đạo thơ. Mà có phải những người mới tập viết cho cam, toàn nhà thơ đã có tên tuổi.

Vụ lùm xùm quanh bản quyền bài thơ “Tổ quốc gọi tên mình” thành ca khúc hùng tráng về biển đảo vẫn còn nóng trên mặt báo thì nghi án Phan Huyền Thư “đạo thơ” lại nổi lên. Không phải một bài mà có đến hai bài, trong cùng một tập được Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội trao giải mới là điều dư luận quan tâm.

Khó thay đổi tình thế

Chuyện ông Ngô Xuân Phúc ở Nghệ An nhận là tác giả bài thơ “Tổ quốc gọi tên mình” lúc đầu nghe ngồ ngộ, tưởng anh bộ đội chuyển ngành làm thế cho “oai” cho có tiếng vì chẳng có bằng chứng gì chứng minh là thơ ông mà lại dám nhận, trong khi nhà thơ Phan Quế Mai có đầy đủ bằng chứng, có đầy đủ bút tích.

Thế nhưng câu chuyện tưởng như không cân sức lại xuất hiện nhiều tình tiết bất ngờ. Cho đến nay có đến hai người đã thừa nhận đọc thơ ông Phúc. Một người là nữ nhà thơ, nhạc sỹ, một là một người làm công tác ở một trường ĐH có tiếng. Cả hai đều thừa nhận đã đọc thơ ông Phúc. Bà nhà thơ, nhạc sỹ còn có ý định sáng tác nhạc, còn ông cán bộ nọ đã đọc cho hàng trăm sinh viên nghe. Tuy nhiên buồn nhất là chả ai… nhớ câu nào…

Về trường hợp của Phan Huyền Thư thiết nghĩ cũng chả có gì là khó nhận ra. Nghi vấn việc nhà thơ “đạo” câu “Nếu tôi chết hãy đen tôi ra biển” lấy của Du Tử Lê là hơi gượng vì có thể tìm được đến hơn 80 bài đều có liên quan đến câu đó.

Ví như tác giả Hồng Dương: Nếu tôi chết xin cho ngọn gió/ Thả xác tro mặc nó cuốn đi. Hay Trương Văn Tú với bài Xin chôn tôi: Nếu tôi chết, xin chôn tôi với cây đàn cũ kỹ/ Phủ bụi trần nơi góc xó âm u. Còn Yên Sơn: Tôi tự hỏi nếu một mai tôi chết/ Cây có buồn đứng lặng chờ thu. Và Dư Thị Diễm trong Buồn: Khi tôi chết đừng liệm tôi dưới mộ/ Xác thân này xin thiêu đồt lửa hồng. Và tro cốt xin gởi về cố thổ. Rải lên ruộng vườn, khe, rạch, kinh, sông. Lại còn có cả bài hát: Nếu tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta của Thanh Tùng…

Dẫn chứng như thế đủ thấy câu đó đã trở thành rất chung của nhiều người chứ đâu phải chỉ một Du Tử Lê. Mà có thể Du Tử Lê cũng lấy ý từ những ý tưởng đó mà ra?

Nhưng bài sau thì không thể như vậy. Phan Huyền Thư dù có biện luận gì đi chăng nữa cũng khó thay đổi được tình thế. Và số phận tập thơ có được trao giải hay không lại là quyền của cái Hội ấy. Tin mới nhất cho biết Hội Nhà văn HN đã thu hồi giải thưởng của Phan Huyền Thư. Tuy nhiên giải đã… rút nhưng rốt cuộc ai là người đạo thơ thì vẫn chưa rõ vì người trong cuộc vẫn chưa chấp nhận.



Nhìn xa hơn trong lịch sử, chuyện “đạo” trong làng báo làng văn cũng không thiếu. Một dạo dư luận xôn xao xung quanh chuyện thơ “nhập đồng”, thơ “thiền” của nhà thơ nọ. Rồi còn rất nhiều chuyện “cầm nhầm” thơ người khác làm thơ mình như chuyện nhà thơ Nguyễn Thị Mai với bài “Thăm nhà Nguyễn Bính”  đăng trên VNQĐ từ năm 2003 thì gần 10 năm sau nó có mặt trong tập “Nỗi niềm” của Vương Chất với tít là “Thăm nhà”. Tập đó không chỉ có 01 bài mà là hai bài “đạo” chỉ có khác là thay tít bài…

Văn hóa cầm bút

Còn rất nhiều, rất nhiều nhà thơ tự dưng một ngày đẹp trời thấy thơ của mình được đăng, được in trên báo hay sách nhưng nhìn kỹ  thì không phải là tên mình mà lại một tên lạ hoắc. Một dạo nhiều bài thơ của Trần Đăng Khoa được in mà không phải tên của nhà thơ mà là của những cậu bé khác, hay nhà thơ Vương Trọng cũng có trường hợp như thế… Những lúc như thế, các tác giả bị “đạo thơ” không biết nên khóc hay nên cười. Khóc vì đứa con tinh thần của mình lưu lạc khắp chốn giờ không phải là con mình, và cười vào mặt những người danh xưng là nhà văn nhà thơ không có lòng tự trọng, không có một chút nào liêm sỉ.

Trong văn học nói chung và thơ nói riêng không hiếm những trường hợp lấy nguyên xi câu của người khác, ý của người khác làm câu, làm ý trong thơ của mình. Cái khác nhau giữa người “đạo” và người trung thực chính là ở sự ghi chú câu thơ ấy, ý thơ ấy từ đâu. Làm như vậy không thể nói là giảm sự hay ho, hay hạ thấp mình. Có câu “Người ta lớn bởi vì người ta quỳ xuống”.

Nhìn sang các lĩnh vực khác, nhất là trong khoa học chúng ta còn phải đứng trên vai những người không lồ kia mà. Tư duy nhân loại là dòng chảy và thế hệ sau đi tiếp cái dòng chảy ấy. Cái mới của người đi sau là dựa trên cái nền tảng đã có để tìm ra cái mới. Trong văn học và nhất là trong thơ khác hơn ở chỗ anh tiếp thu tri thức ấy để sáng tạo cái mới cái độc đáo chứ không bao giờ lặp lại, từ đó hình thành nên cái riêng của từng cá nhân. Có thể dựa trên ý thơ ấy mà khai phá, sáng tạo ra những chân trời mới.

Viết về mẹ chẳng hạn, thế giới và cả Việt Nam có bao nhiêu người đã viết. Viết về tình yêu cũng vậy nhưng không phải nhiều người đã thành công.

Puskin viết về tình yêu không chỉ là những lời ngợi ca tình yêu mà cái độc đáo là ở chỗ mặc dù yêu đến cháy lòng nhưng ông vẫn “Cầu mong em được người tình như tôi đã yêu em”. Còn Việt Phương thì “Ta đi yêu người ta yêu nhau” để cuối cùng thành “Nâng cuộc đời ta lên tình yêu”..

Thật ra các nhà văn nhà thơ là người phản ảnh cái hiện thực khách quan thông qua tri thức và văn hóa của từng cá nhân. Cái hiện thực đó được sáng tạo lại trong mỗi nhà văn nhà thơ. Những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác cho rằng chính người nông dân mới là người khai phá để lộ ra những cục vàng còn người trí thức là biết phát hiện và nhặt lấy. Chế Lan Viên có 04 câu thơ rất hay: Bài thơ của anh anh làm một nửa thôi/ Còn một nửa cho mùa thu làm lấy/ Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá/ Nó không là anh, nhưng nó là mùa.

Như vậy văn hóa cầm bút của nhà văn nhà thơ chính là sự trung thực, thiếu đi điều đó thì sẽ chỉ là một anh đi nhặt lại ý của người khác. Phải là những người  sáng tạo, đột phá trên cái nền nền văn hóa tri thức của dân tộc của các thế hệ đi trước. Không phải là ăn cắp ý tưởng, không phải là diễn giải người khác nói mà đẩy ý tưởng đó lên tầm cao mới.

Biết tự trọng, và trung thực, đó mới chính là văn hóa của những người cầm bút- ở bất cứ thời cuộc nào.

NGUYỄN ĐĂNG TẤN



LẠC EM

LẠC EM

Mười năm rồi mình lạc nhau em nhỉ
Giông gió cuộc đời mãi đẩy xa nhau
Mười năm rồi mà tim vẫn nhói đau
Bởi thương yêu dành cho nhau quá nặng.

Mười năm qua trói lòng trong câm lặng
Trái tim thương hóa đá độ em đi
Dòng thời gian xé nát tuổi xuân thì
Nhưng niềm yêu vẫn mãi hoài đồng vọng.

Mười năm dài ngõ xưa nhiều mong ngóng
Biết ai kia còn nhớ nẻo đi về
Hay sớm quên lối cũ đẫm trăng thề
Nên hoang vắng ắp đầy tim băng giá.

Mười năm ngút ngàn sao mà nhớ quá
Kỷ niệm cháy hoài tim nhỏ đơn côi
Xin một lần này, mai nữa là thôi
Để quá vãng từng đêm đừng trở giấc…

HANSY

DỖI HỜN


56.
DỖI HỜN

Những tưởng mưa buồn!!
Đem cau đổ lấp…
Người thương cười xòa
Giận hờn nhé em !!

Ừ em giận đó
Nhưng hổng nói đâu
Đổ trầu xuống nớ…
Đem vôi lấp đầy…

Chiều thu lắc đầu
Càu nhàu mắt liếc
Con cái nhà ai
Thiệt chẳng dễ thương

Người ta nhớ anh…
Hổng thèm cho giận
Đẹp như vậy nà
Lại bảo khó thương

Hoatim

*
TRẺ CON

Tuổi thì nhiều nhiều rồi
Mà sao còn con nít
Không bao giờ chịu thiệt
Lại còn hay vùng vằng…

Hồn đong đầy yêu thương
Nên đường tình lận đận
Cứ đến rồi mất dạng
Chẳng ai ở cùng mình…

Dỗi hờn là chuyên môn
Nên cô nào cũng gặp
Giống như là áp thấp
Ầm ì đến thấy ghê… (hehe)

Thôi, chúng mình làm huề
Chứ giận hoài khổ lắm
Yêu nhau rất nồng mặn
Cớ gì cứ giận hờn???

HANSY

NGOÁI VỌNG



NGOÁI VỌNG
(NDT-Giao cổ)

Chỉ muốn cuồng mê giữa nguyệt này 
Cho tình mải miết lộng đường say 
Chiều thương muộn thoảng nguyền chao nuối
Thoáng dạ ngùi tơi nỗi nhớ dày 
Dẫu biết duyên chùng chan lệ khỏa
Nên rồi ái bạc quẳng lòng bay 
Thành ra nghiệp chướng hoài vương não
Để quãng triền côi loạn tháng ngày

Để quãng triền côi loạn tháng ngày  
Nghe chừng kỷ niệm muốn rời bay 
Êm đềm hoảng lạnh lùng trăng khuyết  
Khắc khoải trời chau lặng lẽ dày 
Dỗ tửu mua vài cơn mộng luyến
Van lòng chuốc nửa cuộc huyền say 
Trầm hương thệ hỡi nguyền xao xác
Chỉ muốn cuồng mê giữa nguyệt này 

HANSY


Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

7- DIỆT TUYỆT SƯ THÁI


7
DIỆT TUYỆT SƯ THÁI
Quái tượng chốn Thiền môn


Không ít người, do không hiểu được những yếu tố sơ đẳng trong Phật học, cho rằng đạo Phật chỉ đưa con người đến chỗ bế tắc. Họ quên rằng có quá nhiều kẻ trốn vào thiền môn chỉ vì một lý do đơn giản là bị bế tắc khi đối diện với cõi thế. Bế tắc trong tư tưởng, trong tình cảm, thậm chí trong cơm áo. 

Thuở đức Phật còn tại thế, ngài đã từng cảnh báo có những kẻ quy y theo Phật chỉ để kiếm cơm! Thuở đó còn vậy, huống gì đến thời mạt pháp. Đối với những kẻ bế tắc đó thì Phật pháp, dù có quảng đại và nhiệm mầu đến mấy, cũng chỉ là một loại “cần câu cơm” giúp họ tạm thời làm ổn định những cơn quậy phá của cái bao tử rỗng, hoặc một loại “xi rô an thần” giúp họ làm dịu đi những cơn khủng hoảng thần kinh!

Hàng mấy ngàn năm qua, tinh thần bao dung của Phật giáo luôn mở rộng vòng tay đón nhận bao nhiêu bậc lợi căn pháp khí, xả thân cầu pháp, thì đồng thời cũng đón nhận không ít rác bẩn bay theo làm ô uế chốn Thiền môn.

Trong tác phẩm Kim Dung, bên cạnh môn phái Thiếu Lâm được xem như biểu tượng cho cái nôi võ học Trung nguyên và võ học Phật môn, còn có các môn phái của ni cô như Nga My, Hằng Sơn, hay phái Lạt Ma Tây Tạng hoặc Huyết Đao môn. Và trong những môn phái thờ Phật đó cũng có đủ dạng chúng sinh, đủ loại môn đồ. Bên cạnh những cao tăng đắc đạo cũng không thiếu những người muốn chạy trốn cõi nhân sinh hay những kẻ lưu manh thủ đoạn, vào cửa chùa để lợi dụng tấm áo cà sa.

Có người đến với cửa Thiền vì khát khao tìm cầu diệu pháp trong cõi thanh tĩnh Như Lai, cho nên ta có những bậc giác ngộ như Độ Nạn, Độ Kiếp, Độ Ách, hay những vị cao tăng xả thân vì đời như Không Kiến, bao dung như Phương Sinh, Phương Chứng, khoáng đạt như Vô Sắc, từ hòa như Định Nhàn, thần thông như vị vô danh tăng trong Tàng kinh các. Có kẻ đại trí đại dũng do “buông đao mà thành Phật” vì cơ duyên chín muồi để họ ngộ ra điều nhiệm mầu trong hai chữ “sắc không” mà quy y cửa Phật, như Tiêu Viễn Sơn, Mộ Dung Bác, Tạ Tốn.

Có kẻ tìm đến cửa chùa chỉ vì muốn lợi dụng của Thiền để thực hiện những thủ đoạn thâm độc như Viên Chân. Có kẻ gian hùng tìm đến cửa chùa để tạm trốn qua ngày đói rét, và theo đuổi giấc mơ trục lợi như Chu Nguyên Chương. Có kẻ tìm đến cửa chùa để chạy trốn quá khứ như Mục Niệm Từ. Có kẻ tìm đến cửa chùa chỉ vì muốn cưới ni cô (!) như Bất Giới hòa thượng. Có kẻ “bị đi tu”như Điền Bá Quang. Có người từ tấm bé do hoàn cảnh đưa đến với cửa Phật, nên đành phải âm thầm chấp nhận tấm áo nâu sồng mà gạt lệ làm ngơ trước cõi đời xuân sắc, như Nghi Lâm và Viên Tính.

Do có hàng ngàn lý do đưa đẩy con người đi tu, cho nên chốn cửa Phật cũng có vô vàn nhân cách. Có kẻ làm bậc quốc sư của một nước, hàng năm vào Đại tuyết sơn để đăng đàn thuyết pháp, nhưng tâm lại đắm chìm trong cõi tham sân si một cách bệnh hoạn như Cưu Ma Trí. Bên cạnh những bậc đại trí đại bi cũng có những đại sư gàn dỡ như Giác Viễn, ngớ ngẫn như Hối Thông, hậu đậu như Hư Trúc, hồ đồ như Viên Ẫm, ác độc như Hỏa Công đầu đà, dâm đãng như đám thầy trò Huyết Đao môn, cố chấp như các đại sư Đạt Ma đường…

Nhưng có lẽ chỉ có một con người quái dị đến với cửa Thiền bằng cả tấm lòng thành nhưng sát tâm còn nặng hơn cả những ma đầu ngoài đời. Đó là Diệt Tuyệt sư thái.

Không rõ Kim Dung khi xây dựng nhân vật Diệt Tuyệt sư thái, có dựa vào một nguyên mẫu nào ngoài đời hay không. Nếu có thì đó quả là một thảm họa cho Phật giáo.

Diệt Tuyệt sư thái là chưởng môn đời thứ ba của phái Nga Mi. Chỉ vì người yêu là Cô Hồng Tử chết về tay Dương Tiêu mà bà đem cả lòng phẫn hận đổ hết lên giáo đồ Minh giáo. Đối với giáo đồ Minh giáo, bà chỉ có một lập trường duy nhất là giết sạch. Diệt Tuyệt sư thái sáng tạo hai pho kiếm pháp “Diệt kiếm” và “Tuyệt kiếm” để thực hiện ý đồ của mình. 

Cái sát tâm kinh dị đó hoàn toàn đi ngược lại nền đạo lý thông thường, chứ chưa nói đến việc làm tổn thương một tôn giáo lấy từ bi làm gốc như Phật giáo. Nếu kinh điển chép rằng đức Phật, qua vô số những tiền thân, từng hân hoan xả thân để cứu độ con người hay cứu những sinh vật bé nhỏ theo tinh thần bố thí Ba la mật, thì môn đồ ngài là Diệt Tuyệt sư thái lại có thể ung dung giết sạch những người mà bà tự xem là phe đối nghịch.

Cảnh tượng một ni cô cầm Ỷ Thiên kiếm lạnh lùng chém những giáo đồ Minh giáo giữa sa mạc mà không một chút băn khoăn, khi những người này không còn khả năng chống cự và thản nhiên ngồi tụng kinh siêu độ nói về cõi thế vô thường. Cảnh tượng đó nói lên toàn bộ sự bất lực của bạo lực trước đức tin.

Là môn đồ của Phật, lẽ ra chính Diệt Tuyệt sư thái phải hiểu điều đó hơn ai hết. Nhưng bà vẫn làm điều đó có lẽ vì tự trong thâm tâm bà hiểu rằng bà chỉ tiêu diệt “tà ma ngoại đạo” trên danh nghĩa, nhưng thực ra là để báo thù riêng. Thậm chí bà còn biến mối thù của mình thành tôn chỉ của môn đệ.

Thân nương nhờ cửa Phật mà tâm chỉ toan tính chuyện báo thù, đó quả là điều gây kinh hãi suốt cổ kim.


Khi bà biết Kỷ Hiểu Phù có con với Dương Tiêu, bà vẫn không ngần ngại bỏ qua tất cả để truyền chức chưởng môn cho Kỷ Hiểu Phù. Và chỉ yêu cầu một điều là nàng phải tìm cách giết Dương Tiêu. Buộc đệ tử giết chồng để được truyền y bát, vị sư thái kia đã hành xử bá đạo hơn cả những kẻ đại ma đầu, nhưng bà vẫn ngang nhiên giơ cao lá cờ “tiêu diệt tà ma”. Khi tâm con người đã bám sâu vào định kiến thì họ vẫn thường có những sự cố chấp kỳ lạ đến mức ngu xuẩn. Khi Kỷ Hiểu Phù, vì tiếng nói chân chính của con tim, lắc đầu từ chối thì bà thản nhiên vung chưởng đập vỡ sọ môn đồ.

Bà vì muốn Nga My hiển danh trên chốn giang hồ mà không từ một thủ đoạn nào. Khi bị giam cầm tại chùa Vạn An, bà truyền chức chưởng môn đời thứ tư cho Chu Chỉ Nhược, chỉ để Chu Chỉ Nhược sẽ tiếp tục ý định của mình. Ngôi chưởng môn tôn quý từ khi sư tổ Quách Tường sáng lập, đến tay Diệt Tuyệt sư thái đã biến thành món mồi đem ra để nhử môn đồ. 

Bà là người duy nhất biết được bí ẩn trong thanh đao Đồ Long và thanh kiếm Ỷ Thiên, nên căn dặn Chu Chỉ Nhược bằng mọi cách phải chiếm đoạt cho được. Bà biết giữa Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược có mối tình thanh mai trúc mã nên đề nghị Chu Chỉ Nhược nếu cần thì dùng “mỹ nhân kế” dụ dỗ Trương Vô Kỵ để chiếm đoạt được đao Đồ long.

Bà mong muốn Chu Chỉ Nhược, sau khi học được hai bí kíp võ công trong đao lẫn kiếm, sẽ trở nên nhân vật vô địch trong thiên hạ, và do đó, Nga My sẽ là Thái sơn Bắc đẩu của võ lâm…

Dùng thủ đoạn “mỹ nhân kế” đã là hạ sách, mà đối với môn đệ Nga My thì việc đó lại càng hạ lưu thô bỉ, nhưng người đọc cũng có thế tạm cảm thông với bà, xem như đó là chuyện quyền biến tạm thời để thực hiện tâm nguyện muốn hoằng dương môn phái của một vị chưởng môn.

Điều kinh khủng nhất là bà bắt Chu Chỉ Nhược phải thề độc với bà là, nếu nàng lấy Trương Vô Kỵ thì cha mẹ chết dưới mồ sẽ không được yên, bà sẽ biến thành quỷ ám ảnh suốt đời. Nếu nàng sinh con trai thì con trai sẽ làm tôi tớ, sinh con gái thì con gái sẽ làm đĩ chốn thanh lâu.

Lòng thù hận thâm độc một cách quái dị và tàn nhẫn đến vậy, có lẽ cả đức Phật cũng phải không rét mà run!

Khi Trương Vô Kỵ dùng Càn khôn đại na di cứu mọi người nhảy ra khỏi tháp lửa thì bà là người duy nhất chịu chết để khỏi mang ơn tên “tiểu dâm tặc ma giáo” đó. Sự căm thù vô lý của bà khiến người đọc cũng không hiểu được bà nhận ra điểm xấu gì ở Trương Vô Kỵ. Có lẽ bà căm thù Trương Vô Kỵ chỉ vì anh ta là giáo chủ Minh giáo. Dưới mắt bà, giáo đồ phe Minh giáo đã toàn một loại xấu xa dâm đãng, huống gì giáo chủ còn sa đọa ghê tởm đến độ nào? Kết cục của chúng chỉ đáng kết thúc dưới thanh kiếm Ỷ Thiên của bà mà thôi.

Đó có thể là lý do, nhưng chắc gì trong thâm tâm bà lại không ganh tỵ với thân phận của Trương Vô Kỵ và phe Minh giáo, mà theo bà, lẽ ra là của Chu Chỉ Nhược với phái Nga My?

Là kẻ tu hành đứng đầu một môn phái lớn như Nga My, lẽ ra Diệt Tuyệt sư thái phải có được những sở đắc nhất định về Phật pháp để hiểu rằng chữ “ma” trong đạo Phật chỉ là khái niệm “ma chướng” che mờ Phật tính và ngăn cản con đường tu đạo, chứ nào phải là con người hay giáo phái cụ thể bị gán cho cái nhãn hiệu “tà ma”!

Chính cái sát tâm bệnh hoạn của Diệt Tuyệt sư thái mới thực là cái “tà ma” cần diệt tuyệt. Kinh Niết Bàn chủ trương đến cả hạng người chuyên phỉ báng Phật pháp vẫn có thể thành Phật, thì những người phe Minh giáo bị cho là “tà ma ngoại đạo” đó há chẳng phải là những hạt giống của Như Lai sao? Với một tôn giáo lấy từ bi làm gốc như Phật giáo thì làm gì có khái niệm “tà ma ngoại đạo”.

Chúng ta luôn bị lẫn lộn trong khái niệm và sự ngộ nhận đó đã gây ra biết bao thảm kịch trong suốt dòng lịch sự của nhân loại.

Chư Phật dùng vô lượng phương tiện thiện xảo để hiện ra vô lượng hóa thân, tùy căn cơ mà hóa độ vô lượng chúng sinh trong khắp tam thiên đại thiên thế giới.

Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp Hoa bảo:

“Người đáng dùng thân Duyên giác để độ giải thoát, liền hiện thân Duyên giác vì người đó mà thuyết pháp…
“Người đáng dùng thân cư sĩ để độ giải thoát, liền hiện thân cư sĩ vì người đó mà thuyết pháp…
“Người đáng dùng thân tỳ khưu ni để độ giải thoát, liền hiện thân tỳ khưu ni vì người đó mà thuyết pháp…”

Nếu đức Phật xâm nhập vào chốn giang hồ thì, để hóa độ các nhân vật võ lâm, ắt hẳn ngài cũng sẽ có vô lượng hiện thân mà tùy nghi thuyết pháp.

Với Lệnh Hồ Xung sẽ hiện thân lãng tử, với Tả Lãnh Thiền sẽ hiện thân Đại lực sĩ, với Hoàng Dược Sư sẽ hiện thân trưởng giả, với Nghi Lâm sẽ hiện thân đồng nữ, với Cưu Ma Trí sẽ hiện thân Năng đoạn kim cương Bồ Tát, với Tạ Tốn, Tiêu Viễn Sơn hay Mộ Dung Bác sẽ hiện thân Đại Tuệ Bồ Tát…

Nhưng không hiểu đối với loại ni cô quái dị như Diệt Tuyệt sư thái, muốn thuyết pháp hóa độ thì đức Phật sẽ hiện thân gì?

HUỲNH NGỌC CHIẾN



GIẬN


55.
GIẬN

Một mình mình với mình thôi
Ôm thơ để ngủ nẩy chồi truyện xưa
Để dành một chút duyên thừa
Viết cho hết đặng ghét ưa thơ tình

Người giận mình người làm thinh
Bao nhiêu cái buồn rập rình đeo mang
Lời thơ đứng ngõ xếp hàng
Cho ta cảm xúc tình tang với đời

Cúi đầu cảm tạ người ơi
Chỉ một cái giận mà mời nhiều thơ
Tung tăng nét bút tình cờ
Viết nên cảm ngẫu bâng quơ với đời

Giận rồi thì đã hết lời
Ai xui gặp gỡ bây giờ rối beng
Người ta đã giận mình hen
Thôi thì cứ giận lên men cho rồi.

Hoatim

*
MÃI VẪN CÒN THƯƠNG

Thương em thơ biết bao lời
Cũng gom lại một cuộc đời gởi anh
Giận nhau trầu cũng hết xanh
Cau khô quay quắt, đau tình lắm em.

Thơ em thả mướt êm đềm
Len vào tim nhớ càng thêm ý tình
Khuya nay anh họa một mình
Trong mơ em có thấy hình bóng anh?

Người ơi, trăng đã xế nghiêng
Mà anh hong mãi yêu thương đến người
Cùng em tâm sự đôi lời
Nên duyên bèo nước thì thời đến nhau…

Gà đà gáy thức canh sau
Lòng anh không ngủ, ước cầu cho em
Một mai đón gió trước thềm
Cho lòng hợp lại, triền miên là tình…

Gởi người con gái xinh xinh
Chút tình tri ngộ giữa mình với ta
Đất trời rộng mở bao la
Thơ hay một bức, hòa ca chung tình…

HANSY

NUỐI TIẾC



NUỐI TIẾC

Tháng năm hoa mộng cũng tan rồi
Khô cạn tim lòng héo quắt môi
Đã hết tình xao cùng ái dậy
Còn đâu thủy nguyện với trăng bồi
Thương lòng chung thủy thương lòng lỡ
Nuối dạ ân tình nuối dạ đôi
Nhạt sắc hồng xưa buồn khổ đoạn
Tiễn người nhấp chén biệt đời thôi 

Tiễn người nhấp chén biệt đời thôi 
Gối hạnh bây giờ chẳng có đôi
Thôi rã thệ nguyền thôi rã vụn
Chẳng vun kỷ niệm chẳng vun bồi
Màu xưa trả lại trời vương mắt
Sắc cũ gởi về nẻo ngoái môi
Nhớ mấy chỉ là cơn ảo vọng
Tháng năm hoa mộng cũng tan rồi

HANSY

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2015

THƠ LÀ GÌ


THƠ LÀ GÌ
1.
Thơ xuất hiện trước Văn

    Ở Trung Hoa, những bài thơ đầu tiên trong Kinh Thi có mặt vào khoảng thế kỷ 12 Trước Tây Lịch (TTL).  Bộ văn xuôi đầu tiên là bộ Thượng Thư có mặt vào khoảng thế kỷ thứ tám hoặc bẩy TTL.  Có hai khuynh hướng trong thi văn là “tải đạo” tức nghệ thuật vị nhân sinh, và “duy mỹ” tức nghệ thuật vị nghệ thuật. Chủ trương duy mỹ xuất hiện trong thể “phú”, một thể (ca) ở giữa văn xuôi và thơ, xuất phát từ nước Sở. Đó là thể văn ngắn với những từ ngữ hoa mỹ đầy âm điệu du dương, thường dùng tả tâm sự, cảnh vật, và ca tụng công đức. Sở trường về thể phú là Tống Ngọc (Chiến Quốc) và Tư Mã Tương Như (Hán).

   Hiện nay, có nhiều khái niệm về Thơ. Thơ thường được quan niệm là một bài văn có vần và điệu cấu trúc theo quy luật hay tự do. Ngôn ngữ của Thơ là những từ ngữ trong sáng, súc tích, và cô đọng, nên tác động của Thơ rất mãnh liệt và sâu xa, có thể tạo những chuyển biến toàn diện trong tâm tư con người. Nói chung, Thơ ra đời nhằm phục vụ nhu cầu của tâm linh con người muốn vươn tới Chân-Thiện-Mỹ, hoặc Đạo [Xem Thơ của Hàn Sơn (Đường); Vương Duy (Đường); Tô Thức (Tống)] và vì thế Thơ còn được coi như là tiếng nói của tâm linh.

   Thơ xuất hiện ở khắp các nẻo đường của cuộc sống, phản ánh mọi khía cạnh đời sống của con người: vui, buồn, đau, khổ, yêu, thương, giận, ghét, ước mơ, và khát vọng, v.v. Thơ thường được coi như là cái gì đẹp -“đẹp như Thơ”.  Nhưng muốn đúng là đẹp, từ và ý của Thơ phải không tầm thường, nghĩa là phải được chọn lọc. Vì vậy, có thể nói: Thơ là bức họa bằng những màu sắc chọn lọc; Thơ là bản nhạc dệt bằng những âm thanh tinh tế. Thơ giúp trí tưởng tượng người yêu Thơ bay bổng tuyệt vời tới những miền xa, đất lạ đầy kỳ hương, dị thảo, tạo bởi những lời, ý, vần, và điệu thơ được đan kết tài tình, và mang tính chất sáng tạo.

   Thi Sĩ Hoa Kỳ James Russell Lowel (1819-1891) định nghĩa Thơ như là “ Một điều gì đó làm cho chúng ta tốt hơn và khôn ngoan hơn bằng cách liên tục biểu lộ những cái đẹp và sự thật mà Thương Đế đặt để trong linh hồn mọi con người.” (Something to make us better and wiser by continually revealing those types of beauty and truth which God has set in all men’s souls).

   Maththew Arnold (1822-1888) viết trong Essays: “ Thơ giản dị là cách đẹp nhất, tạo ấn tượng nhất, và tác dụng rộng rãi nhất để nói mọi điều, và vì thế mà có tầm quan trọng của Thơ ”. (Poetry is simply the most beautiful, impressive and widely effective mode of saying things, and hence its importance).

   T. S. Elinot (1888-1965) viết trong Tradition and the Individual Talent: “Thơ không phải là sự buông thả của cảm xúc, mà là một sự trốn thoát khỏi cảm xúc; thơ không phải là sự biểu lộ của nhân cách, mà là sự trốn thoát khỏi nhân cách. Nhưng, dĩ nhiên, chỉ những ai có nhân cách và cảm xúc mới biết ý nghĩa của trốn thoát những cảm xúc và nhân cách là cái gì.” (Poetry is not a turning loose of emotion, but an escape from emotion; it is not the expression of personality, but an escape from personality. But, of course, only those who have personality and emotion know what it means to escape from these things).

   Samuel Taylor Coleridge (1772-1834) cho biết: “Thơ đối với tôi là một phần thưởng hết sức to lớn; thơ đã xoa dịu những nỗi sầu não; thơ đã làm tăng gấp bội và thanh lọc những niềm vui của tôi; thơ đã nâng niu nỗi cô đơn của tôi; và thơ đã cho tôi thói quen ao ước khám phá ra Thiện và Mỹ trong mọi điều hội ngộ và ở xung quanh tôi.“ (Poetry has been to me an exceeding great reward; it has soothed my affliction; it has multiplied and refined my enjoyments; it has endeared my solitude; and it has given me the habit of wishing to discover the Good and the Beautiful in all that meets and surrounds me).

  Robert Frost (1875-1963, Address) nhận định: “ Viết câu thơ tự do thì giống như là chơi quần vợt trên sân không có lưới.” (Writing free verse is like playing tennis with the net down).

   Jonathan Swift (1667-1745, Advice to a Young Poet) viết: “Câu thơ không có vần là một cơ thể không có hồn.” (Verse without rhyme is a body without a soul).

   Như vậy, thơ không phải là dễ làm nếu không có hồn thơ, không biết cách gieo vần và sử dụng các loại từ. Thời xưa, Thơ đã từng được coi như là một trong bốn thú tiêu khiển “cầm, kỳ, thi, họa” dành riêng cho những lớp người phong lưu, quý phái.

   Tuy nhiên, gần đây tại Hoa Kỳ, đã nổi lên khuynh hướng đại chúng hóa thi ca nhằm mục đích gieo những hạt giống thơ và nâng cấp thơ trong tâm hồn đại chúng vì thơ là một trong những phương cách hữu hiệu nhất để nâng cấp tâm hồn nhân loại cho một cuộc sống vị tha hơn. Hội Quốc Tế của các Thi Sĩ hàng năm có tổ chức đại hội vào khoảng đầu tháng Chín tại Washington, D.C. Năm 1998, có khoảng một ngàn hội viên từ khắp các nước trên thế giới đổ về họp mặt. Có đủ mọi lứa tuổi và từng lớp xã hội đã đăng đàn trình đọc và trao đổi những cảm nghĩ về thơ trong một bầu không khí thân mât, cởi mơ, bổ ích và đầy hứng thú. Điều này cho thấy Thơ là một cách giao cảm hữu hiêu nhất giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên, và giữa con người với thế giới tâm linh nhằm tạo môt hài hòa hoàn hảo nhất trong cuộc sống. .Chính trong những chiều hướng ấy, tôi muôn chia xẻ cùng quý bạn đọc vấn đề bản chất tinh thần sáng tạo trong thơ và cũng là quan điểm của tôi về Thơ.
2.
Bản Chất Của Thơ

Bản chất của Thơ là vần và thể điệu để thơ có hình thức khác với văn xuôi và có thể ngâm nga được. Không ngâm nga được, sao gọi được là thơ?  Cũng như, không ca hát được, sao gọi được là nhạc? Ngâm nga vốn là một thú vui tao nhã của người Việt. Đặc biệt tiếng Việt có năm dấu giọng: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, giúp âm điệu (tone) tiếng Việt có nhiều âm sắc (timbre), phô diễn trọn vẹn những sắc thái đa dạng của tình cảm với những tần số rung động khác nhau. Nhờ đó, Thơ Việt đã có sức truyền cảm thật mãnh liệt. Rất nhiều người dân ở thôn quê đã thuộc lòng và thường ngâm nga thơ Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Lục Vân Tiên, v.v.

   Văn xuôi (prose) không đòi hỏi vần và điệu. Tuy nhiên, cũng có những bài văn viết rất khéo, khiến cho người đọc cảm thấy như có chất thơ trong đó như:

Than ôi! Một kiếp phong trần; mấy phen chìm nổi! Trời tình mù mịt; bể hận mênh mông; sợi tơ lòng theo gió bay đi; cánh hoa rụng, chọn gì đất sạch! Ta vốn nòi tình, thương người đồng điệu.
(Chu Mạnh Trinh viết về Kiều)
 
Cũng chính vì thiếu bản chất của Thơ, nên một số thơ như loại thơ tự do trước đây trong thập niên 1950 và 1960 ít được ưa chuộng.

   Mặt khác, bản chất của Thơ còn thể hiện qua cái gọi là hồn thơ và khí thơ. Hồn thơ là sinh khí (vitality) của Thơ. Đó là một tinh tố (spiritual element) chứa đựng một chương trình (program) để con người có khả năng cảm nhận và làm Thơ. Khí thơ với mức tinh luyện của hồn thơ tạo ra một sức truyền cảm mãnh liệt phô diễn qua lời thơ, ý thơ, vần điệu thơ, và được toát ra qua giọng và điệu ngâm. Môi nhà thơ có một hồn thơ khác nhau, do đó có khí thơ khác nhau. Thật không lạ gì khi đọc những bài thơ của Nguyễn Khuyến, Dương Khue, Nguyễn Công Trứ,  Cao Bá Quát, Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm,  Nguyễn Du,  Nguyễn Đình Chiểu, v.v và tuy chung một đề tài nhưng khí thơ rất khác nhau.

   Trong các loại thơ cổ như lục bát, song thất lục bát, thãt ngôn bát cú, tứ tuyệt, và ngũ ngôn v.và, khí thơ thường bị gò bó, khó phô diễn vì niêm luật và số chữ giới hạn. Trong khi đó, khi hồn thơ bừng tỉnh thì nhà thơ cần phải chụp bắt ngay những hình ảnh hoặc ý tưởng trước khi chúng tan biến đi, do đó cần phải những khung cảnh mới cho tình ý thơ được phô diễn trọn vẹn và chính xác. Chính trong chiều hướng này mà Thơ Mới đã ra đời để giải quyết nhu cầu đổi mới tư duy trong địa hạt thơ với những Nhà Thơ Mới tiên phong như Lưu Trọng Lư (1911-1991), Huy Thông (1926-1988), Nguyễn Bính (1918-1966), Hàn Mạc Tử (1912-1940), Xuân Diệu (1916-1985), Thế Lữ (1907- 1989), Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938), Hữu Loan (1916- ), Tế Hanh (1921- ), Chế Lan Viên (1920-1989), Huy Cận (1919 -) và Vũ Đình Liên ( - ) v.v.  Sau cùng là Thơ Tự Do: không bị quy luật cổ điển nào gò bó về vần, điệu, và số chữ .

   Thế hệ hôm nay đang rất cần có những thay đổi về hình thức lẫn nội dung của Thơ, Văn, và Nhạc sao cho phù hợp với những tần số rung động cao độ trong những cảm quan của họ.Trải qua thời gian, cấu trúc các thể thơ và cách gieo vần đã có nhiều thay đổi để thích ứng với các chính lưu văn hóa của thời đại, trong đó, mỗi nhà thơ đã có những sáng tạo cho những cấu trúc thơ, cách gieo vần, và đặc biệt là tìm những nguồn cảm hứng mới trong bối cảnh mới đang diễn ra trong cuộc sống. Không lạ gì tại sao lớp trẻ hôm nay không mấy thích thú khi phải nghe những bài thơ, những khúc “nhạc vàng” của ngày hôm qua. Xã hội luôn luôn đổi mới. Mỗi thời đại có những “ước mơ” riêng của thời đại đó. Thơ cũng như văn và nhạc, thiếu tinh thân sáng tạo để đáp ứng những nhu cầu tinh thần của thời đại, sẽ trở thành những món ăn nhàm chán, buồn tẻ, và người đọc sẽ đành phải xa Thơ, dù rất yêu Thơ.
3.
Tinh Thần Sáng Tạo Trong Thơ
 
    Sự sống là một chuỗi không ngừng của sáng tạo. Như vậy, con người nghệ sĩ thực sự đã chêt khi không còn sáng tạo. Cho nên, với tinh thần sáng tạo trong thơ, tôi muốn nói tới những nỗ lực làm cho Thơ sống bằng cách luôn luôn tìm tòi những cái mới, lạ, phù hợp với trào lưu văn hóa tiến bộ của thời đại. Tinh thần sáng tạo thể hiện ở những nỗ lực:

(1) Đi tìm và khai thác những nguồn đề tài mới để thích nghi với môi trường sống mới. Thường mỗi một thời, một không gian, đều có những sự kiện, những hình ảnh, hoặc những khao khát để làm đề tài. Việt Nam trước đây đã có những khung cảnh đẹp của một cuộc sống thanh bình “gạo trắng, trăng thanh”; những hình ảnh cao quý của những bà mẹ hiền “sớm hôm tần tảo nuôi con”; những hình ảnh hồn nhiên, trong trắng của “Ao Lụa Hà Đông”; những mảnh tình thơ ngây của “Tuổi Ngọc”; những nhớ nhung tha thiết của “Tung cánh chim tìm về tổ ấm”, vân vân và vân vân. Những đề tài đó đã có những chỗ đứng. Muốn tiếp tục có chỗ đứng, các đề tài như vậy cần phải đổi mới. Chẳng hạn, hình ảnh của những người mẹ “một nắng, hai sương” có thể thay bằng hình ảnh của những người mẹ cố gắng lái xe nhiều buổi vất vả “làm hai việc hoặc làm quá giờ” để nuôi con tiếp tục đại học. Đó là môt trong những hình ảnh mới cho Thơ. Nguồn đề tài phong phú nhất vẫn là Tình Yêu. Nhưng, những thể hiện của tình yêu ngày nay hẳn phải là khác với ngày trước. Nhà thơ, do đo cần phải cố gắng lục lạo trong tâm trí để tìm ra những nét đặc thù để mô tả tình yêu của lối sống hôm nay.

   Hiện nay, con người đang có những nỗ lực phải thực hiện để nâng cao mức tiên bộ chung của nhân loại. Mục tiêu này đòi hỏi một sự cộng lực toàn thế giới phát xuất từ sự nâng cao trí tuệ và tâm linh của con người. Những nỗ lực đó là: bảo vệ môi sinh; bảo vệ loại người; bảo vệ nhân quyền; tự do và dân chủ; bảo vệ tính đa nguyên; bảo đảm an sinh xã hội; giải quyêt các tệ nạn xã hội, giải trừ vũ khí; chinh phục không gian, và tìm hiểu môi trường tâm linh. Tóm lại, đó là những bức xúc của thời kỳ văn hóa cao kỹ này cần được khai thác.

(2) Sáng tạo những cấu trúc mới cho phù hợp với mức nhậy cảm nhanh lẹ của thời đại mới. Người đọc hôm nay, nhất là giới trẻ, nếu không mấy thích thú gì đối với loại “nhạc vàng” ngày trước, thì với thơ, họ cũng không thấy hấp dẫn gì đối với loại “thơ xưa”. Họ đang trông chờ có những thay đổi mới trong địa hạt thơ, văn, và nhạc sao cho thích hợp tâm hồn của họ đang chịu ảnh hưởng sâu xa của cuộc sống văn minh điện toán. Văn học và nghệ thuật tây phương đã chuẩn bị cho sự thay đổi này từ lâu qua ca nhạc, phim ảnh, thi văn, và họa phẩm, và có những đường nét đăc biệt mới lạ.
(3) Sáng tạo trong kỹ thuật gieo vần và sử dụng từ để có những âm điệu mới lạ cho phù hợp với những cảm quan mới của người đọc. Sáng tạo những âm điệu mới tương tự như biến chế những món ăn mới của một nhà đầu bếp khéo tay để tạo cho mình môt tiếng tăm riêng biệt. Điều này nói lên biệt tài hoặc nỗ lực cao trong sự vận dụng tư duy hay là “động não” của nhà thơ, và kết quả là người đọc thưởng thức được đúng “thi vị” của Thơ.

    Tóm lại, sáng tạo bài văn vần tuyệt vời trong cấu trúc có giới hạn của một thể thơ là một trong những công việc khó khăn của một nhà thơ. Viết bài văn xuôi hay thật đã là khó; làm chủ bài văn vần lại đặc biệt khó hơn. Vung bút thảo ra những chữ trong một hình thức có trật tự, điệu, và vần, thật sự đòi hỏi nhà thơ phải có một trình độ nghệ thuật được tôi luyện lâu dài.

(Sưu tầm)



TẠM BIỆT DẤU YÊU

 
TẠM BIỆT DẤU YÊU

Một lần thôi
Rồi vĩnh viễn xa nhau
Là không nhau mãi mãi.
……
Sao Em chọn một hướng đi đầy nhọc nhằn, gai góc
Ở đó không Ta
Và không có cả cái tình nồng mặn
Thiết tha
Của chúng mình?
……
Mưa vẫn cứ rơi rơi hoài đó Em
Mưa đưa Ta lang thang trên muôn chiều phố vắng
Mưa đẫm ướt lạnh cả hồn
Xa xót biết chừng nào
Em hỡi, có biết cho chăng?
……….
Kỷ niệm ùa về
Đánh đau tim nhớ
Yêu Em một thuở
Để thương mãi cả đời.
……
Sao chúng mình yêu thương thế đó
Mà trời không giúp trọn hở em?
Sao ngày đó Em yêu Ta nhiều như thế
Mà tình yêu không có được chữ “chung tình”?

Để ngày ngày Em thổn thức điệu nhớ mong
Để tháng tháng Ta mãi hong sầu quá vãng
Sao hai đứa trong nhau như một
Mà vẫn lìa tan…

Sao thế hở Em yêu???

HANSY

GỠ RỐI TƠ


54.
GỠ RỐI TƠ

Em không hỏi vì sao anh giận
Để giận hoài cho dạ thương thương
Ghét thật nhiều trăm mối tơ vương
Yêu cho lắm đôi đường cách biệt

Giận đi anh giận thiệt nhiều vào
Em mỉm cười áo mới vừa may
Đường chỉ ngắn nối dài hai lối
Cột bên này lại rối bên kia

Mai ra chợ mua về cuộn chỉ
Cột cho rồi thủ thỉ đường tơ
Cái rối ren em ngồi em gỡ
Giận em rồi giờ thấy thương thương

Anh mỉm cười lược gương mừng quá
Đừng giận nhé héo lá trầu non
Ghét cho nhiều môi son hồng má
Bắt tay hòa đừng giận nhá anh.

Hoatim

*
HẾT GIẬN RỒI

Lược gương ơi, hãy sóng sánh môi cười
Vì chủ người đã mở lòng tha thứ
Người thương ơi, anh mềm lòng biết mấy
Khi tình em cao vút tựa non xanh…

Thôi thì thôi, bỏ qua hết cho anh
Mình nối lại khúc tình ca dang dỡ
Hãy quên nhé những tháng ngày đau khổ
Để tình mình lại sáng tựa ban mai…

Được gì đâu mà cứ giận nhau hoài
Chỉ gieo khổ trong tâm hồn hai đứa
Hứa với em, không lần nào thế nữa
Bởi lòng đau khi anh phải xa em.

Điểm phấn tô son thật đẹp nghe em
Tay trong tay múa khúc ca hạnh ngộ
Cho niềm vui thấm dần từng ngách ngõ
Để bồng lai cũng đến với nồng say…

HANSY

THỎA THƠ ĐƯỜNG


THỎA THƠ ĐƯỜNG

Kết tình giữa thế thỏa thơ Đường
Mong mỏi bạn hiền dậy tứ phương
Kề cận đổi trao vài ý lạ
Bên nhau qua lại chút cơ thường
Lánh xa nhơ dạ miền dao búa
Ao ước sáng lòng chốn sách chương*
Thủ thỉ vuông tròn câu nghĩa khí
Ngẫm đời dâu bể để làm gương

Ngẫm đời dâu bể để làm gương
Nghiên bút trau bồi nắn nót chương
Trước tác thâm sâu trong thế sự
Lập ngôn ẩn mật giữa đời thường
Trong bùn vẫn rạng ngời sen khiết
Giữa cõi luôn nồng đượm thảo phương
Mượn cánh vô thường giao nối bạn
Kết tình giữa thế thỏa thơ Đường

HANSY
*Khôn nghề cờ bạc là khôn dại
Dại chốn văn chương ấy dại khôn