Thứ Ba, 31 tháng 1, 2017

ĐI THĂM CÁC ĐỊA DANH CON GÀ

ĐI THĂM CÁC ĐỊA DANH
CON GÀ

Núi Mào Gà, Lào Cai

Trong tiếng Mông, Sàng Ma Sáo có nghĩa là dãy núi Mào Gà, thuộc huyện Bát Xát. Nơi đây nổi tiếng với các ruộng bậc thang thoải bên sườn núi. Bạn sẽ cảm thấy như được hòa mình vào thiên nhiên và bầu không khí trong lành. Một trong những thời điểm đẹp nhất là vào tháng 9, 10 khi những thửa ruộng rực vàng. Ảnh: Nam Chấy.


Hòn Trống Mái, Quảng Ninh

Thuộc vịnh Hạ Long, nằm về phía tây nam, cách Bãi Cháy khoảng 5 km, đây chính là biểu tượng du lịch của Hạ Long và Việt Nam. Núi có hình thù giống đôi gà trống, mái với chiều cao hơn 10 m, chân thóp lại tưởng chừng rất chênh vênh nhưng lại hùng vĩ giữa biển. Du khách thăm vịnh Hạ Long thường không thể bỏ qua cơ hội chiêm ngưỡng tuyệt tác thiên nhiên này. Ảnh: Thanh Sơn- Hải Cọp.


Kênh Gà, Ninh Bình

Khu nghỉ dưỡng suối nước khoáng thuộc thôn Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đến đây, du khách sẽ được hòa mình vào dòng nước nóng Kênh Gà, vừa giúp xua tan mệt mỏi vừa chữa được nhiều bệnh. Ngoài ra, du khách còn có thể tham quan động Vân Trình - một trong những hang động đẹp nhất Ninh Bình. Ảnh: Sarahfsslr.


Đảo Gà, Khánh Hòa

Đảo Gà là tên gọi khác của khu dã ngoại Làng Cát - Hòn Thơm, thuộc thôn Xuân Ngọc, xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang, được đưa vào hoạt động năm 2012 và thu hút rất nhiều khách du lịch. Đây là một làng quê yên tĩnh với bầu không khí trong lành. Du khách sẽ được chơi những trò chơi đầy thú vị như câu cá, chèo thuyền, lướt ván,... và thưởng thức những món ăn dân dã, đậm chất miền quê với giá cả hợp lý. Ảnh: Phượt Nha Trang.


Mũi Kê Gà, Bình Thuận

Điểm đến nổi tiếng này thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Nét đặc biệt của Mũi Kê Gà là những phiến đá độc đáo nằm nhấp nhô ra phía biển, có hình thù giống đầu con gà. Đến đây, du khách có thể lên ngọn hải đăng cổ và cao nhất Việt Nam (giá vé 30.000 một người) để phóng tầm mắt ngắm nhìn toàn cảnh nơi đây. Ngoài ra, bạn còn có thể hòa mình vào những phiên chợ cá đầy sôi động của dân vùng biển. Ảnh: Kim Anh.




Theo Tuyết Mai / VNE

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN CHỮ NGHĨA

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN CHỮ NGHĨA

Có nhiều bạn trẻ ngày nay thắc mắc: Tại sao người ta lại nói ngày tư ngày tết và tết nhất là gì, ý nghĩa ra sao? Và còn nhiều câu Hán - Việt liên quan đến ngày tết mà giới trẻ ngày nay không hiểu. Chữ tết là do chữ “tiết” mà ra. Ngày xưa một năm chia ra làm 24 tiết: Lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tiết, đại tiết, đông chí, tiểu hàn và đại hàn. Kể từ năm 1911, người Trung Quốc quy định âm lịch chia ra làm 4 tiết. Người nông dân cũng nương vào đấy để làm ruộng theo từng mùa: lấy tết Nguyên Đán làm xuân tiết, tết Đoan Ngọ làm hạ tiết, tết Trung Thu làm thu tiết và lấy ngày đông chí làm đông tiết. Một năm cứ tuần tự như vậy mà trôi qua nên người ta gọi là tự tiết. Chữ “tự tiết” là chữ Hán sau được gọi nôm na là ngày tư ngày tết hoặc tư tết và vắn tắt là tết.

Ngày tết còn gọi là chánh đán, xuân nhật hoặc tiết nhật. Hai chữ “tiết nhật” sau nói lại thành tết nhất và đặc biệt tết nhất còn có thêm ngụ ý than thở đối với việc lo toan vất vả ngày chuẩn bị tết hoặc ngụ ý châm biếm. Trần Tế Xương đã dùng hai chữ này trong bài Sắm tết như sau:

Tết nhất năm nay khéo thật là!/ Một mâm mứt rận mới bày ra/ Xanh đồng thắng lại đen rưng rức/ Áo đẹp bò ra béo thực thà/ Kẹo chú Sìu (Triều) Châu đâu đọ được/ Bánh bà Hanh Tụ cũng thua xa/ Sang năm quyết mở ngôi hàng mứt/ Lại rưới thêm vào tí nước hoa.

Nói đến ngày tết thì phải nói đến ngày ba mươi tết mà tên chữ gọi là trừ nhật, tức là cái ngày trừ hết cái cũ để thay bằng cái mới. Nguyên tục bên Trung Quốc xưa, cứ về chiều tối hôm ấy người ta dùng 120 đứa trẻ độ 9, 10 tuổi mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống vừa đi vừa đánh để trừ đuổi ma quỷ nên gọi là trừ tịch. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có câu đối như sau:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới/ Sáng mùng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào.
Còn ở nước ta mỗi phường 10 em, 15 em hoặc 5, 3 em kết hợp lại với nhau thành “Phường xúc xắc xúc xẻ”. Từ Nghệ Tĩnh vào miền Nam người ta gọi là “phường sắc bùa”. Em đi đầu cầm một ống nứa hay tre dài, trong đựng mấy đồng xu, vừa đi vừa xóc thành tiếng “xúc xắc”. Một em đi sau cầm mấy nén hương. Các em đi chúc tết các gia đình, đến trước cửa nhà em đi đầu gõ ống nứa xuống đất rồi đồng ca những câu vè:

Súc sắc súc sẻ/ Nhà nào còn đèn còn lửa/ Mở cửa cho anh em chúng tôi vào/ Bước lên giường cao thấy con rồng ấp/ Bước xuống giường thấp thấy con rồng chầu/ Bước ra đằng sau thấy nhà ngói lợp/ Voi ông còn buộc, ngựa ông còn cầm/ Ông sống một trăm thêm năm tuổi lẻ/ Vợ ông sanh đẻ những con tốt lành/ Những con như tranh, những con như rối

Đến đúng nửa đêm hôm ba mươi, sang ngày mồng một là lễ đón giao thừa.
Tục ngày xưa tin rằng có 12 vị hành khiển luân phiên coi việc nhân gian: hết năm cũ, sang năm mới thì ông thần nọ bàn giao công việc cho ông thần khác nhận việc ấy. Vị hành khiển nào cũng có tên riêng với vương hiệu hay còn gọi là “Đương niên chi thần”  và mỗi vị có một vị phán quan làm phụ tá, hành khiển có ông thiện, có ông ác dâng sớ trên giáng họa cho dân: hạn hán, lụt lội, mất mùa... cho nên lễ cúng lúc nửa đêm giao thừa, cúng để tiễn ông cũ và đón ông mới (tống cựu nghinh tân). Cũng trong tục xưa, người ta làm lễ cúng đốt pháo tre để trừ ma:

Bộc trúc nhất thanh trừ cựu tuế/ Phù đào vạn hộ cánh tân xuân/ (Pháo trúc nổ ran, năm cũ chạy/ Đào đem xuân mới đến muôn nhà)

Trước ngày tết, người ta cũng trang hoàng nhà cửa, dán câu đối đỏ và tranh hai vị thần (thần Đồ và thần Uất Lũy) để trị quỷ dữ. Các cụ ngày xưa cho rằng gọi là “Thần Đồ” thì không được thanh nhã nên đổi thành “Thần Trà”. Còn những câu đối chúc đơn giản hơn như: Ngũ phúc lâm môn, tam dương khai thái hoặc là đông thành Tây Tựu.

Ngũ phúc lâm môn (năm phúc tới nhà) là lời chúc cho nhà được “phú, quý, thọ, khang, ninh” tức giàu sang, sống lâu khỏe mạnh và đất bình yên.
Tam dương khai thái là lời chúc đầu năm xin cho tháng giêng, tháng đầu xuân mở khí thái hòa. Tam dương là chỉ tháng giêng. Người biết trong năm có 6 âm và 6 dương, từ đông chí đến tháng 11 là nhất dương sinh, tháng 12 là nhị dương sinh, tháng giêng là tam dương sinh...

Đông thành tây tựu là lời chúc cho được mùa màng, xuân làm được nên, thu cho được mùa. Đông chỉ mùa xuân vì đông thuộc mộc mà mộc thì chỉ có hoa, cỏ xanh tốt. Tây chỉ mùa thu vì mùa thu thuộc kim mà kim thì có sắc bạch (màu trắng). Câu đối trên còn có ý chúc cho cả kẻ tới lui mua bán dù ở phương Đông hay Tây cũng đều thành tựu cả.

Sang đến sáng mồng một Nguyên đán (Nguyên là đầu tiên, đán là buổi sáng). Người ta cũng gọi là nguyên nhật tức là ngày đầu tiên trong năm. Các nhà nho thường khai bút cho giờ linh thiêng ấy.

Về truyện 7, 8 ngày tết, truyện của Đông Phương Sóc chép về tuế thời viết rằng: “Trời đất lúc sơ khai, ngày thứ nhất thì có gà, ngày thứ nhì thì có chó, ngày thứ ba thì có lợn, ngày thứ tư có dê, ngày thứ sáu có Ngựa và ngày thứ tám thì có lúa. Trong 8 ngày đó ngày thứ bảy là ngày linh, người ta còn gọi là nhân nhật. Sau ngày nhân nhật người ta hạ cây nêu, hết tết. Cuộc sống trở lại bình thường theo thứ tự của từng thời tiết. Trước cảnh hoa mai xinh đẹp, rực rỡ giờ đang tan tác rụng, vương nhai tức cảnh sinh tình làm thơ:

TỐNG XUÂN TỪ
Nhật nhật nhân không lão/ Niên niên xuân cánh quy/ Tương hoan hữu tôn tửu/ Bất dụng tích hoa phi.

Dịch:
LỜI TIỄN XUÂN
Mỗi ngày mỗi một thêm già/ Năm này năm khác xuân qua lại về/ Vui cùng chén rượu hả hê/ Cần chi luyến tiếc hoa kia rơi tàn.


Theo báo Bình Phước

XUÂN LÒNG

76A.

XUÂN LÒNG
(Ngũ độ-Giao cổ)

Thoảng tiếng mơ về giữa quyện hơi 
Mà nghe vọng luyến những tâm lời 
Đàn thơ trỗi chập chùng ngan ngát
Kỷ niệm êm đềm quãng phú rơi 
Mộng ước cung tình luôn diễm ảo
Thầm chan phím nguyệt mãi trong ngời 
Này em lịm nhé trầu cau huyễn 
Mãi thắm xuân bồng thỏa cuộc chơi 

Mãi thắm xuân bồng thỏa cuộc chơi 
Vàng trăng mãn kiếp diệu loang ngời 
Ngàn xưa lựng ảo huyền chăn gối
Miết mải duyên tình vạn thuở rơi 
Vẫn nguyện hương đời thơm thảo phú
Và mong sắc dạ chứa chan lời 
Chiều thương phả bóng thềm nhung lụa
Thoảng tiếng mơ về giữa quyện hơi 

HANSY


PHỐ XUÂN

PHỐ XUÂN

Đông qua xuân đến rộn ràng
Sáng nay Phố nhuộm nắng vàng hân hoan
Trái tim bỗng thấy dịu dàng
Mùa xuân gởi đến nhân gian nụ cười.

Thắp lên hy vọng cho người
Mắt Em cũng lấp lánh ngôi sao trời
Lộng tràn hạnh phúc chơi vơi
Cùng Ta sánh bước về nơi chốn nào.


Mơ màng với trái tim trao...

HANSY

MỪNG XUÂN CỘNG ĐỒNG THƠ VĂN

MỪNG XUÂN
CỘNG ĐỒNG THƠ VĂN

MỪNG Xuân năm mới thỏa tình mong
TÂN hội bao la chép hóa rồng
NIÊN tưởng Hằng Nga tràn ánh mộng
QUÝ chờ Hậu Nghệ dậy vầng đông
HIỂN tài chuyên góp thơm đầy cổng
PHƯỚC đức nài gom ngát tận lòng
LỘC tụ lưu truyền gia phú lộng
THỌ cùng Bành Tổ diệu ngần trong

CHÚC Xuân thắng hội vạn điều trong
CỘNG biến hòa vui sực nức lòng
ĐỒNG rạng tình tang rền tứ mộng
THƠ ngời réo rắt vượt hừng đông
VĂN chương tải đạo lừng danh cổng
HẢO khúc lừng tâm phỉ sức rồng
HỶ phú muôn đời thơ thới vọng
TRƯỜNG tồn thi hữu mãi cầu mong

HANSY


Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017

27. TRÌNH LINH TỐ MỘT MẢNH TÌNH - MỘT CÁNH HOA RƠI

27.
TRÌNH LINH TỐ
MỘT MẢNH TÌNH - MỘT CÁNH HOA RƠI

Tôi kể ngày xưa một mối tình
Một người con gái tuổi còn xanh
Ngậm ngùi một kiếp hoa rơi lạc
Một mảnh hương tình luống mong manh


Người con gái ấy họ Trình, tên Linh Tố, chữ "Linh" trong "Linh khu", chữ "Tố" trong "Tố vấn". Cái tên thanh nhã, sâu sắc gợi lên những ấn tượng đầu tiên về một con người. Nàng xuất hiện trong bộ dạng một cô thôn nữ đang tưới hoa trên con đường đi tìm Độc thủ Dược Vương của Hồ Phỉ. Kim Dung tiên sinh đã không dành cho người con gái này vẻ trầm ngư lạc nhạn, thoát tục thanh cao như những cô gái khác. Nàng gầy gò ốm yếu, mặt mày xanh xao, thân hình bé nhỏ như đứa trẻ 14, 15 tuổi. Nhưng đặc biệt, nổi bật lên tất cả là một đôi mắt sáng trong lạ kỳ, lấp lánh tinh quang. Trong đôi mắt ấy thẳm sâu một tâm hồn thuần khiết, cao thượng, một tấm lòng đẹp đẽ tinh khôi như giấy trắng, ấm áp và êm dịu như ánh ban mai:">.

Nàng chính là đệ tử chân truyền của Độc thủ Dược Vương lừng danh thiên hạ. Gặp được người con gái này, Hồ Phỉ xem như vô cùng may mắn, không những đạt được mục đích của chuyến đi muôn vàn khó khăn, tìm thần y cứu chữa đôi mắt cho Miêu Nhân Phụng mà còn khám phá bao điều bí ẩn lạ kỳ đằng sau huyền thoại về Độc thủ Dược Vương. Còn Trình Linh Tố, nàng đã gặp tiểu anh hùng Hồ Phỉ, gặp được mối tình của mình, oan gia của mình, và ý nghĩa cuộc đời mình. Tự lúc nào, người con gái sắc sảo thông minh ấy đã đem lòng yêu thương chàng trai nghĩa hiệp, và từ đó, nàng bỏ lại cuộc sống bình yên chốn thôn quê, ra đi cùng Hồ Phỉ, ở bên chàng và bảo vệ cho chàng đến cuối cuộc đời.

Nhưng mối tình thơ ngây của Trình Linh Tố cuối cùng cũng chỉ là mối tình đơn phương vô vọng. Hồ Phỉ từ lâu đã có trong tim hình bóng người nữ nhi khác. Trình Linh Tố hiểu rõ điều đó, nàng biết Viên Tử Y xinh đẹp hơn mình, và hơn cả, nàng biết rằng con người trọng tình trọng nghĩa như Hồ Phỉ sẽ mãi chân thành với tình yêu dành cho cô nương áo tím thanh tú diễm lệ kia. Nàng xót xa nhận lời kết nghĩa huynh muội cùng Hồ Phỉ, lắng nghe từng lời chàng tâm sự, tỏ bày tình cảm của mình dành cho Viên Tử Y mà nuốt thầm nước mắt. Một người nhi nữ ngày ngày nhìn ý trung nhân lo lắng, tương tư người con gái khác thì còn nỗi đau nào chua xót hơn! Nhưng Hồ Phỉ dường như không nhận ra điều đó, chàng không hiểu hay cố tình không hiểu, cứ vô tâm đối xử với Trình Linh Tố như một người tiểu muội, lo lắng, che chở cho nàng chung quy chỉ vì hai chữ "chi lan". Hoa trôi hữu ý, nước chảy vô tình, Trình Linh Tố vẫn ngậm ngùi ôm mối tình thơ, chôn chặt trong lòng nỗi niềm thầm kín. Từng ánh mắt, nụ cười, từng cử chỉ, lời nói chan chứa thâm tình của nàng ẩn chứa một niềm đau xót vô bờ. Nàng vẫn dành một vị trí quan trọng trong lòng Hồ Phỉ - một người em gái tâm tư tinh tế, hiểu rõ tâm ý người khác, thông minh, chu đáo, toàn vẹn trước sau, đã bao lần cứu chàng thoát khỏi nguy biến, một người bạn tri âm để chàng dốc bầu tâm sự - nhưng mãi mãi nàng không bao giờ đến được chỗ đứng cao nhất, thiêng liêng nhất mà Hồ Phỉ dành cho người trong mộng. Đó là bi kịch của cuộc đời nàng, bi kịch về một tình yêu mãi mãi không bao giờ được đáp lại.

Vì lẽ gì Trình Linh Tố lại theo Hồ Phỉ từ bỏ chốn thôn quê - nơi nàng đã bao năm sống cuộc đời bình yên lặng lẽ? Tại sao nàng không nuôi ước mộng trở thành Độc thủ Dược Vương thứ hai tiếng tăm lừng lẫy, quyền uy và danh vọng? Tại sao nàng bỏ lại tất cả, suốt đời theo đuổi một mối tình đơn phương vô vọng, hy sinh quá nhiều, thậm chí cả sinh mạng nhỏ bé của mình vì nó?

Vấn thế gian, tình thị hà vật?
Trực giáo sinh tử tương hứa


Chữ "tình" thật lắm nỗi éo le. Nhân loại muôn đời không bao giờ hiểu hết được bản chất và cội nguồn của tình yêu. Tình yêu làm cho con người hạnh phúc, đắm say đến mức nào? Khổ đau, oan trái biết là bao? Sao con người cứ mãi vì một chữ "tình" mà quên đi tất cả?

Chỉ biết rằng Trình Linh Tố đã vì nó mà dâng tặng cả mạng sống của mình. Trong cơn hiểm nguy một còn một mất, nàng đã cúi xuống hút máu độc từ bàn tay Hồ Phỉ, để rồi chính mình trúng phải chất kịch độc vô phương cứu chữa: "Bích tàm độc cổ", "Khổng tước đảm", "Hạt đỉnh hồng". Chất độc này vốn dĩ không gì có thể giải được, chỉ duy nhất Trình Linh Tố nàng biết cách hoá giải. 

"Gia sư nói ba thứ chất kịch độc này không có thuốc nào chữa được. Vì trên đời này chẳng có thầy thuốc nào chịu vì bệnh nhân mà hy sinh tính mạng. Đại ca ơi! Lão nhân gia đâu biết có tiểu muội...tiểu muội đối với đại ca..." 

Chỉ có nàng mới dám vì tình yêu, từ bỏ sinh mạng của mình, không hối tiếc.

Cho đến cuối cuộc đời, nàng mới nói rõ lòng mình cho Hồ Phỉ. Mãi đến phút giây tử biệt sinh li, Hồ Phỉ mới nhận ra tấm chân tình của nhị muội bấy lâu dành cho mình. Chàng đã hiểu ra, mỗi lời nói, nét mặt, mỗi nụ cười của Trình Linh Tố mà trước đây chàng không hề để ý, ẩn chứa biết bao nhu tình, bao nhiêu là tình cảm thiết tha. Lúc nào nàng cũng nghĩ đến chàng, lúc nào nàng cũng có mặt khi chàng cần đến, lúc nào nàng cũng lắng nghe chàng, còn chàng, dường như chưa bao giờ chàng hiểu được Linh muội.

Tiểu muội tử đãi tình lang
Ân tình thâm
Nễ mạc phụ liễu muội tử
Nhất ban tình
Nễ kiến liễu tha diện thời
Yếu đãi tha hảo
Nễ bất kiến tha diện thời
Thiên thiên yếu thập thất bát biến quải tại tâm!

(Tiểu muội tử chờ tình lang
Tấm lòng chờ đợi chứa chan ân tình
Chàng ơi, chớ phụ cô mình
Gặp nhau hãy giữ ân tình cho nhau
Rủi mai nước chảy xuôi cầu
Tấm lòng canh cánh, nỗi sầu khôn khuây)


Chúng ta đọc tiểu thuyết Kim Dung & đã yêu những mối tình trong những bộ tiểu thuyết. Chúng ta khóc cho A Châu ngày cô rơi xuống bên cầu đá. Lại một lần nữa chúng ta khóc Trình Linh Tố. Cả cuộc đời ngắn ngủi mười mấy năm, dường như nàng chỉ thực sự sống những ngày tháng cuối cùng, bên người mình yêu dấu. Nàng chỉ có tuổi xuân, mãi mãi chỉ có tuổi thanh xuân, chỉ có một tấm lòng, một tình yêu thiết tha, trọn vẹn. Nàng chỉ sống vì tình yêu, và chỉ chết vì nó. Còn cái chết nào đẹp hơn cái chết hiến dâng cho ái tình? Cũng nhẹ nhàng và cao cả như cái chết của người dũng tướng nơi chiến trận. Ở một nơi xa xôi nào đó, Trình Linh Tố sẽ nở nụ cười mãn nguyện, rằng nàng đã hy sinh xứng đáng cho tình yêu. Người con gái đáng thương ấy sẽ còn mãi tuổi xuân với tình yêu bất diệt, hạnh phúc sẽ mỉm cười với con người cao thượng đã lấy máu mình tô thắm con đường muôn thuở của tình yêu.

CỘI NGUỒN TẾT VIỆT NAM

CỘI NGUỒN TẾT VIỆT NAM

Có lẽ trong nhiều năm tới, câu hỏi này sẽ còn là đề tài nóng mỗi dịp Tết của người Việt Nam.

Mỗi người đều biết là khi tham gia vào cuộc tranh luận này, dù là đứng về phía nào, họ có thể bị nghĩ là mất gốc, là chưa trọn hiếu với tổ tiên, hoặc ngược lại là thủ cựu, u mê v.v. và v.v…

Cũng như trong rất nhiều vấn đề khác, như không ít người nhận xét, một bộ phận người Việt có lẽ hơi quá dễ dãi trong việc chấp nhận ngay một thái độ cực đoan và thường gặp khó khăn để lắng nghe những ý kiến khác biệt.

Ý kiến của tôi có thể còn những điều chưa chính xác, nhưng chỉ cần bạn kiên nhẫn đọc đến hết là tôi đã rất biết ơn.

Nguồn gốc ba chữ "Tết Nguyên Đán"

Đa số người Việt hiện nay, kể cả trên báo chí chính thống, đều nói và viết "Tết Nguyên Đán" mà có thể chưa hiểu nguồn gốc của mấy chữ này. 

Nhiều người giải thích chữ Tết trong tiếng Việt bắt nguồn từ chữ Tiết trong âm lịch; Tiết   trong tiếng Hán trung cổ phát âm là "Tset". Nguyên Đán cũng là từ gốc Hán: "nguyên" =  sơ khai, "đán" = ngày. 

Nói như vậy, cụm từ "Tết Nguyên Đán" đang củng cố sự hiểu lầm rằng người Việt đang sao chép một nét của văn minh phương Bắc. 

Tại sao lại là hiểu lầm thì tôi sẽ phân tích trong phần kế tiếp. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu bằng lời đề nghị rằng người Việt muốn tìm về nguồn cội của mình thì không thể không tìm hiểu lịch sử Trung Quốc (China).

Điều thú vị là trong khi người Trung Quốc gọi đất nước của họ là "Zhong Guo" (中国, Trung Quốc) thì hầu hết thế giới không chấp nhận phiên âm từ tiếng Hoa, mà gọi nước này là "China" (Anh, Đức, Mỹ, Australia…), "la Chine" (Pháp) , "Kitai" (Nga) v.v… China/Chine/Sino có gốc từ Qin (đọc là Chin, dịch sang Hán-Việt là Tần): Vương triều nhà Tần khét tiếng với Tần Thủy Hoàng.

Người China từ cổ tự gọi mình là quốc gia ở giữa, xung quanh là người Man, Di, Rợ, Khương…

Thời cổ đại trên vùng đất bây giờ là China có nhiều quốc gia nhỏ, có thể gồm hai chủng tộc chủ yếu, là người Hán, và các tộc Bách Việt. Người Hán ở phía Bắc, Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử (Trường Giang).

Hán Khẩu là một địa danh cổ bây giờ đã nhập vào thành phố Vũ Hán, vốn ở nơi sông Hán Giang nhập vào sông Dương Tử.

Cư dân Bách Việt vốn gốc trồng lúa, không giỏi kiếm cung cưỡi ngựa như người Hán gốc du mục/săn bắn, nên dần dần đã bị người Hán chinh phục gần hết và đồng hóa thành ra người China bây giờ.

Trong sự đồng hóa ấy thì rất nhiều nét văn hóa của Bách Việt, kể cả Việt Nam, đã hòa lẫn vào văn hóa China, kể cả âm lịch và Tết cổ truyền nguồn gốc văn minh lúa nước.
Năm Âm lịch gồm các tháng Dần (Giêng), Mão (Hai), Thìn (Ba), Tỵ (Tư), Ngọ (Năm), Mùi (Sáu), Thân (Bảy), Dậu (Tám), Tuất (Chín), Hợi (Mười), Tý (Một), Sửu (Chạp). Một ngày cũng được chia thành 12 giờ theo tên gọi các con giáp như vậy.

Sử China chép rằng việc chọn ngày bắt đầu của một năm đã từng thay đổi nhiều lần qua các triều đại: Triều Hạ thì chọn vào tháng Dần, triều Thương thì chọn tháng Sửu, triều Chu thì chọn tháng Tý, triều Tần thì chọn tháng Thìn, triều Hán đổi lại về tháng Dần [Wiki tiếng Việt, mục từ "Tết Nguyên Đán"].

Kể từ triều Hán, Tết Nguyên Đán, nghĩa là tiết đầu năm mới âm lịch, trở nên cố định vào ngày đầu tiên của tháng Dần (tháng Giêng).

Nước Việt bắt đầu bị China đô hộ từ đời nhà Hán. Có thể là trước đó tổ tiên chúng ta ăn Tết vào đầu tháng Tý chứ không phải tháng Dần, nhưng rồi trải qua suốt một nghìn năm bị cưỡng bức đồng hóa, ký ức về Tết nguồn cội cũng như nhiều nét văn hóa khác đã bị kẻ đô hộ tìm cách gột bỏ.

Tết âm lịch Việt Nam trong sử sách China

Sách Kinh Lễ (禮記) trong bộ Ngũ Kinh chép rằng lời Khổng Tử rằng: "Ta không biết Tết là gì. Nghe đâu đó là tên của một lễ hội lớn của người Man (cách người Hán gọi người Bách Việt, TBH).

Họ nhảy múa như điên uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó. Họ gọi ngày đó là: Tế Sạ. Tế Sạ rất có thể là phát âm Hán Việt từ chữ "Thêts", tên lễ hội năm mới của người Thái đất Phong Châu.

Sách "Giao Chỉ Chí" (发布分配) thì chép rằng: "Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới.

Họ gọi ngày đó là Nèn- Thêts, không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này. Chỉ có bọn man di mới có ngày hội mà người trên kẻ dưới cùng nhau nhảy múa như cuồng vậy. Bên ta không có sự quân thần điên đảo như thế".

Ngay cả lịch sử China còn chép như vậy về Tết của người Việt cổ. Vậy đến lượt mình, phải chăng các nhà sử học Việt Nam còn nợ đất nước một câu hỏi lớn về cội nguồn Tết?

Tết Bách Việt cổ đại là vào lúc nào, và tại sao?

Theo một số nguồn nghiên cứu gần đây, người Bách Việt cổ đã từng ăn Tết (Thêts) vào khoảng thời gian tương đương với đầu năm mới dương lịch bây giờ. [Nguyễn Ngọc Thơ: "Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong quan hệ với văn hóa truyền thống Việt Nam", Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, 2011].

Ngày tôi còn nhỏ, ông nội tôi là thầy lang biết chữ nho, dậy tôi học tên các con giáp là Tý-Sửu-Dần-Mão-Thìn-Tỵ-Ngọ-Mùi-Thân-Dậu-Tuất-Hợi. Tôi chỉ biết thuộc lòng thứ tự 12 con giáp, nhưng chưa bao giờ tự đặt câu hỏi tại sao chúng lại bắt đầu từ con chuột (Tý).

Giờ Tý, tức là nửa đêm, là bắt đầu của ngày mới, đó là khi âm khí đạt tới cực tận và dương khí thì đến lúc sinh ra. Tháng Tý là tháng có ngày Đông Chí (giữa Đông), sau khi trời đạt đến lạnh nhất thì trời hẳn sẽ phải ấm lên. Cái cũ đã đến tận cùng thì hẳn phải là bắt đầu của cái mới.

Có lẽ do vậy mà người Bách Việt cổ đã chọn tháng Tý là tháng đầu năm. Và có lẽ cũng không phải là ngẫu nhiên mà tháng Tý lại có tên gọi là tháng Một, nhưng tiếc thay bây giờ nhiều người Việt vẫn vô tư gọi tháng Tý là tháng Mười Một!

Như vậy, có thể Tết Âm lịch ở Bách Việt cổ cũng gần trùng với Tết Dương lịch bây giờ, sang đến đời Hán bị đô hộ, Tết của người Bách Việt mới bị chuyển sang tháng Dần?

Tết âm lịch ở Australia

Tết của người Hoa là Tết âm lịch, nhưng ở Australia mà nói ngược lại rằng Tết âm lịch là Tết Trung Quốc thì rất sai.

Trong một đất nước dân chủ và đa sắc tộc như Australia, các chính khách muốn giành được phiếu của các cử tri và các nhà kinh doanh không muốn mất khách hàng thì sẽ không được lầm lẫn và phải biết phân biệt rằng "Lunar New Year" thì bao gồm Chinese New Year của người Hoa, Tết của người Việt, Losar của người Tây Tạng, Bhutan, Nepal…, Chaul Chnam Thmey của người Campuchia…

Cho dù "Chinese New Year" bao giờ cũng là quan trọng nhất!

Người Việt sống ở Australia hay các nước ngoài khác chắc đều thấm thía cái sự vắng Tết. Mặc dù bạn hoàn toàn vẫn có thể "ăn Tết" tại nhà mình, hoặc ra chợ Tết ở khu phố Tàu hay khu phố Việt.

Năm ngoái vào dịp nghỉ Giáng sinh và Tết Dương lịch chúng tôi lên Melbourne thăm con trai và cũng đi chợ Tết Việt ở khu Richmond gần nơi con ở.

Khu Richmond có một cái cổng chào mang hình cách điệu chim Lạc và nón Việt, như lời giới thiệu về mình một cách tự hào của cộng đồng người Việt ở đây. Nhưng chẳng ở đâu có Tết thực sự như là Tết ở Việt Nam!

Chúng tôi cũng muốn ăn Tết lắm chứ, về quê ăn Tết thì khỏi nói. Nhưng mà phần lớn các ngày Mùng Một Tết Việt đều rơi vào ngày còn phải đi làm bên này, không thể vô duyên xin nghỉ việc giữa chừng.

Tết con Gà năm nay còn khá, rơi vào 28/1 dương lịch, là Thứ Bảy, lại có thêm 26/1 là Quốc khánh Australia cũng là ngày nghỉ. Nhờ vậy mà con trai mới thu xếp được về ăn Tết với gia đình, để rồi sáng Mồng Hai lại tất tả ra đi.

Giả sử, vâng, chỉ là giả sử thôi, nước mình không bị một nghìn năm Bắc thuộc, thì Tết Việt vẫn như thời tổ tiên Bách Việt là vào tháng Tý. Nếu vậy thì hàng triệu người Việt đang là công dân toàn cầu có thể dùng kỳ nghỉ Giáng sinh và Năm Mới dương lịch mà về quê ăn Tết Việt.

Liệu mơ ước ấy có thể trở thành hiện thực theo một cách khác, khi người Việt được chủ động trở lại với Tết Bách Việt cội nguồn của mình?

TRÍ THỨC TRẺ


XUÂN – TẾT

106.
XUÂN – TẾT
(Ngũ độ-Độc vận)

Diệu nắng ươm đầy giữa nẻo XUÂN
Vươn chồi  khỏa mộng sáng đầu XUÂN
Kìa mai trẩy nụ chờ khoe TẾT
Ấy thọ xao lòng trỗi nở XUÂN
Mẹ trẻ tươi hồng thơm giữa TẾT
Cha già lịm ngát phả choàng XUÂN
Lưng trời thỏa liệng mây đùa TẾT
Phước Hỷ thêm dày nũng nịu XUÂN

Phước Hỷ thêm dày nũng nịu XUÂN
Thơ tình ngát lộng tỏa màu XUÂN
Mừng đôi mộng trẻ ran cười TẾT
Chúc kẻ mơ huyển đẫm lộng XUÂN
Rực rỡ thêu thùa thơm buổi TẾT
Mơ màng Xướng-Họa bổng trời XUÂN
Thi đàn thỏa mộng vang lời TẾT
Diệu nắng ươm đầy giữa nẻo XUÂN

HANSY

TẾT –  XUÂN

Nghe lòng giục giã khúc vào Xuân
Lễ hội tưng bừng mở đón Xuân
Thoả nguyện sum vầy mâm cỗ Tết
Vui mừng hạnh phúc cảnh đời Xuân
Đầu năm gặp gỡ chan hoà Tết
Cả tháng chơi bời rộn rã Xuân
Mỗi buổi mong chờ say mộng Tết
Trông trời chỉ ước hẹn hò Xuân

Trông trời chỉ ước hẹn hò Xuân
Bởi đã yêu người đợi đến Xuân
Vũ điệu nghê thường lơi lả Tết
Dương trần nữ tú dập dìu Xuân
Mừng anh trẻ mãi vui ngày Tết
Chúc chị xinh hoài ngập cõi Xuân
Liễn đỏ từng đôi trào lộng Tết
Nghe lòng giục giã khúc vào Xuân

Minh Hien




DUYÊN XUÂN

DUYÊN XUÂN

Gió hây hây sắc thắm
Lóa sáng cả chân trời
Tầng mây bồng sắc đẫm
Xuân đang đi dạo chơi

Lộc xanh vừa mới nhú
Duyên cả chỗ xù xì
Nụ cười tươi như ngọc
Cuốn hút khách tình si

Ơi xuân, em bao tuổi
Mỏng mảnh vẻ ngoan hiền
Ngập ngừng như còn náu
Ta yêu lắm xuân duyên

HANSY

MIỀN NAM NGỜI XUÂN

MIỀN NAM NGỜI XUÂN
(Ngũ độ thanh)

Nắng giữa miền Nam tỏa rợp trời 
Xuân về cúc liễu thọ đào khơi 
Rình rang phố thị lời thưa gởi 
Hớn hở làng quê cỗ gọi mời 
Lũ mọn môi cười chân sáo khởi
Ông già miệng nhoẻn dáng thần lơi 
Tình tang hội lễ trầm hương mới
Phú-Hỷ-Tài-Danh rạng rỡ ngời

Phú-Hỷ-Tài-Danh rạng rỡ ngời 
Thiên đường mỹ cảnh rợp ràng lơi 
Chào cô Hạnh Phúc triền miên xởi
Thỏa bác Bình An rộn rã mời 
Nhấp tửu ngâm làn mơ nhạc trỗi
Pha trà vẫy bút mộng tình khơi
Mùa thơm phả mượt ngào ngon tới
Nắng giữa miền Nam tỏa rợp trời


HANSY






Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017

CHÀO ĐINH DẬU - 2017

105.
CHÀO ĐINH DẬU - 2017

ĐƯA n
hiều sức trẻ dập dìu nơi
TIỄN chút hàn sương 
thắm giọng lời
B
ÍNH trải tình duyên tràn khúc ngợi
THÂN 
choàng ái mộng phả nguyền lơi
BỪNG 
loang ngõ hạnh mừng Xuân mới
T
HỎA vịnh ngàn hoa hưởng Tết  ngời
CỘI phước hồng ân dào dạt khởi
ĐÓN 
CHÀO ĐINH DẬU NGÁT LỪNG KHƠI

CHÀO nước non 
mình rạng biển khơi
XUÂN 
hương diễm sắc tỏa lâng ngời
HẠNH 
ân ước nguyện loang nhiều tới
PHÚC 
thiện mong cầu ngọt đẫm lơi

THƠM quyến hoa tình vương vấn sợi
NỒNG thương nụ ái xuyến xao lời
CÕI duyên 
hòa điệu tưng bừng hỡi
ĐÓN TẾT THANH BÌNH 
BIẾC LỘNG NƠI

HANSY


MỪNG XUÂN MỚI

BÍNH tiễn đưa dần khắp mọi nơi
THÂN theo nhắn nhủ có đôi lời
TẠM xa lưu luyến ngày đông vợi
BIỆT cách mơ màng tháng hạ lơi
THÀNH quả một năm vừa đổi mới
CÔNG dân mỗi phút sẽ thêm ngời
NHỚ ơn thế hệ cha ông khởi
ĐINH DẬU ĐÓN CHÀO HẠNH PHÚC KHƠI

NẮNG còn vội vã ở trùng khơi
DẬY thắm muôn hoa nở sắc ngời
THANH thoát cung đàn êm ái ngợi
BÌNH thường cuộc sống dịu dàng lơi
TRÊN đường phố thị vui vầy cõi
MỌI ánh bình minh sáng rực lời
LỐI dẫn tình yêu ngây ngất đợi
XUÂN VỀ LỘNG LẪY KHẮP MUÔN NƠI

Minh Hien