Thứ Ba, 31 tháng 1, 2017

ĐI THĂM CÁC ĐỊA DANH CON GÀ

ĐI THĂM CÁC ĐỊA DANH
CON GÀ

Núi Mào Gà, Lào Cai

Trong tiếng Mông, Sàng Ma Sáo có nghĩa là dãy núi Mào Gà, thuộc huyện Bát Xát. Nơi đây nổi tiếng với các ruộng bậc thang thoải bên sườn núi. Bạn sẽ cảm thấy như được hòa mình vào thiên nhiên và bầu không khí trong lành. Một trong những thời điểm đẹp nhất là vào tháng 9, 10 khi những thửa ruộng rực vàng. Ảnh: Nam Chấy.


Hòn Trống Mái, Quảng Ninh

Thuộc vịnh Hạ Long, nằm về phía tây nam, cách Bãi Cháy khoảng 5 km, đây chính là biểu tượng du lịch của Hạ Long và Việt Nam. Núi có hình thù giống đôi gà trống, mái với chiều cao hơn 10 m, chân thóp lại tưởng chừng rất chênh vênh nhưng lại hùng vĩ giữa biển. Du khách thăm vịnh Hạ Long thường không thể bỏ qua cơ hội chiêm ngưỡng tuyệt tác thiên nhiên này. Ảnh: Thanh Sơn- Hải Cọp.


Kênh Gà, Ninh Bình

Khu nghỉ dưỡng suối nước khoáng thuộc thôn Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đến đây, du khách sẽ được hòa mình vào dòng nước nóng Kênh Gà, vừa giúp xua tan mệt mỏi vừa chữa được nhiều bệnh. Ngoài ra, du khách còn có thể tham quan động Vân Trình - một trong những hang động đẹp nhất Ninh Bình. Ảnh: Sarahfsslr.


Đảo Gà, Khánh Hòa

Đảo Gà là tên gọi khác của khu dã ngoại Làng Cát - Hòn Thơm, thuộc thôn Xuân Ngọc, xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang, được đưa vào hoạt động năm 2012 và thu hút rất nhiều khách du lịch. Đây là một làng quê yên tĩnh với bầu không khí trong lành. Du khách sẽ được chơi những trò chơi đầy thú vị như câu cá, chèo thuyền, lướt ván,... và thưởng thức những món ăn dân dã, đậm chất miền quê với giá cả hợp lý. Ảnh: Phượt Nha Trang.


Mũi Kê Gà, Bình Thuận

Điểm đến nổi tiếng này thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Nét đặc biệt của Mũi Kê Gà là những phiến đá độc đáo nằm nhấp nhô ra phía biển, có hình thù giống đầu con gà. Đến đây, du khách có thể lên ngọn hải đăng cổ và cao nhất Việt Nam (giá vé 30.000 một người) để phóng tầm mắt ngắm nhìn toàn cảnh nơi đây. Ngoài ra, bạn còn có thể hòa mình vào những phiên chợ cá đầy sôi động của dân vùng biển. Ảnh: Kim Anh.




Theo Tuyết Mai / VNE

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN CHỮ NGHĨA

ĐẦU NĂM NÓI CHUYỆN CHỮ NGHĨA

Có nhiều bạn trẻ ngày nay thắc mắc: Tại sao người ta lại nói ngày tư ngày tết và tết nhất là gì, ý nghĩa ra sao? Và còn nhiều câu Hán - Việt liên quan đến ngày tết mà giới trẻ ngày nay không hiểu. Chữ tết là do chữ “tiết” mà ra. Ngày xưa một năm chia ra làm 24 tiết: Lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tiết, đại tiết, đông chí, tiểu hàn và đại hàn. Kể từ năm 1911, người Trung Quốc quy định âm lịch chia ra làm 4 tiết. Người nông dân cũng nương vào đấy để làm ruộng theo từng mùa: lấy tết Nguyên Đán làm xuân tiết, tết Đoan Ngọ làm hạ tiết, tết Trung Thu làm thu tiết và lấy ngày đông chí làm đông tiết. Một năm cứ tuần tự như vậy mà trôi qua nên người ta gọi là tự tiết. Chữ “tự tiết” là chữ Hán sau được gọi nôm na là ngày tư ngày tết hoặc tư tết và vắn tắt là tết.

Ngày tết còn gọi là chánh đán, xuân nhật hoặc tiết nhật. Hai chữ “tiết nhật” sau nói lại thành tết nhất và đặc biệt tết nhất còn có thêm ngụ ý than thở đối với việc lo toan vất vả ngày chuẩn bị tết hoặc ngụ ý châm biếm. Trần Tế Xương đã dùng hai chữ này trong bài Sắm tết như sau:

Tết nhất năm nay khéo thật là!/ Một mâm mứt rận mới bày ra/ Xanh đồng thắng lại đen rưng rức/ Áo đẹp bò ra béo thực thà/ Kẹo chú Sìu (Triều) Châu đâu đọ được/ Bánh bà Hanh Tụ cũng thua xa/ Sang năm quyết mở ngôi hàng mứt/ Lại rưới thêm vào tí nước hoa.

Nói đến ngày tết thì phải nói đến ngày ba mươi tết mà tên chữ gọi là trừ nhật, tức là cái ngày trừ hết cái cũ để thay bằng cái mới. Nguyên tục bên Trung Quốc xưa, cứ về chiều tối hôm ấy người ta dùng 120 đứa trẻ độ 9, 10 tuổi mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống vừa đi vừa đánh để trừ đuổi ma quỷ nên gọi là trừ tịch. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có câu đối như sau:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới/ Sáng mùng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ đón xuân vào.
Còn ở nước ta mỗi phường 10 em, 15 em hoặc 5, 3 em kết hợp lại với nhau thành “Phường xúc xắc xúc xẻ”. Từ Nghệ Tĩnh vào miền Nam người ta gọi là “phường sắc bùa”. Em đi đầu cầm một ống nứa hay tre dài, trong đựng mấy đồng xu, vừa đi vừa xóc thành tiếng “xúc xắc”. Một em đi sau cầm mấy nén hương. Các em đi chúc tết các gia đình, đến trước cửa nhà em đi đầu gõ ống nứa xuống đất rồi đồng ca những câu vè:

Súc sắc súc sẻ/ Nhà nào còn đèn còn lửa/ Mở cửa cho anh em chúng tôi vào/ Bước lên giường cao thấy con rồng ấp/ Bước xuống giường thấp thấy con rồng chầu/ Bước ra đằng sau thấy nhà ngói lợp/ Voi ông còn buộc, ngựa ông còn cầm/ Ông sống một trăm thêm năm tuổi lẻ/ Vợ ông sanh đẻ những con tốt lành/ Những con như tranh, những con như rối

Đến đúng nửa đêm hôm ba mươi, sang ngày mồng một là lễ đón giao thừa.
Tục ngày xưa tin rằng có 12 vị hành khiển luân phiên coi việc nhân gian: hết năm cũ, sang năm mới thì ông thần nọ bàn giao công việc cho ông thần khác nhận việc ấy. Vị hành khiển nào cũng có tên riêng với vương hiệu hay còn gọi là “Đương niên chi thần”  và mỗi vị có một vị phán quan làm phụ tá, hành khiển có ông thiện, có ông ác dâng sớ trên giáng họa cho dân: hạn hán, lụt lội, mất mùa... cho nên lễ cúng lúc nửa đêm giao thừa, cúng để tiễn ông cũ và đón ông mới (tống cựu nghinh tân). Cũng trong tục xưa, người ta làm lễ cúng đốt pháo tre để trừ ma:

Bộc trúc nhất thanh trừ cựu tuế/ Phù đào vạn hộ cánh tân xuân/ (Pháo trúc nổ ran, năm cũ chạy/ Đào đem xuân mới đến muôn nhà)

Trước ngày tết, người ta cũng trang hoàng nhà cửa, dán câu đối đỏ và tranh hai vị thần (thần Đồ và thần Uất Lũy) để trị quỷ dữ. Các cụ ngày xưa cho rằng gọi là “Thần Đồ” thì không được thanh nhã nên đổi thành “Thần Trà”. Còn những câu đối chúc đơn giản hơn như: Ngũ phúc lâm môn, tam dương khai thái hoặc là đông thành Tây Tựu.

Ngũ phúc lâm môn (năm phúc tới nhà) là lời chúc cho nhà được “phú, quý, thọ, khang, ninh” tức giàu sang, sống lâu khỏe mạnh và đất bình yên.
Tam dương khai thái là lời chúc đầu năm xin cho tháng giêng, tháng đầu xuân mở khí thái hòa. Tam dương là chỉ tháng giêng. Người biết trong năm có 6 âm và 6 dương, từ đông chí đến tháng 11 là nhất dương sinh, tháng 12 là nhị dương sinh, tháng giêng là tam dương sinh...

Đông thành tây tựu là lời chúc cho được mùa màng, xuân làm được nên, thu cho được mùa. Đông chỉ mùa xuân vì đông thuộc mộc mà mộc thì chỉ có hoa, cỏ xanh tốt. Tây chỉ mùa thu vì mùa thu thuộc kim mà kim thì có sắc bạch (màu trắng). Câu đối trên còn có ý chúc cho cả kẻ tới lui mua bán dù ở phương Đông hay Tây cũng đều thành tựu cả.

Sang đến sáng mồng một Nguyên đán (Nguyên là đầu tiên, đán là buổi sáng). Người ta cũng gọi là nguyên nhật tức là ngày đầu tiên trong năm. Các nhà nho thường khai bút cho giờ linh thiêng ấy.

Về truyện 7, 8 ngày tết, truyện của Đông Phương Sóc chép về tuế thời viết rằng: “Trời đất lúc sơ khai, ngày thứ nhất thì có gà, ngày thứ nhì thì có chó, ngày thứ ba thì có lợn, ngày thứ tư có dê, ngày thứ sáu có Ngựa và ngày thứ tám thì có lúa. Trong 8 ngày đó ngày thứ bảy là ngày linh, người ta còn gọi là nhân nhật. Sau ngày nhân nhật người ta hạ cây nêu, hết tết. Cuộc sống trở lại bình thường theo thứ tự của từng thời tiết. Trước cảnh hoa mai xinh đẹp, rực rỡ giờ đang tan tác rụng, vương nhai tức cảnh sinh tình làm thơ:

TỐNG XUÂN TỪ
Nhật nhật nhân không lão/ Niên niên xuân cánh quy/ Tương hoan hữu tôn tửu/ Bất dụng tích hoa phi.

Dịch:
LỜI TIỄN XUÂN
Mỗi ngày mỗi một thêm già/ Năm này năm khác xuân qua lại về/ Vui cùng chén rượu hả hê/ Cần chi luyến tiếc hoa kia rơi tàn.


Theo báo Bình Phước

XUÂN LÒNG

76A.

XUÂN LÒNG
(Ngũ độ-Giao cổ)

Thoảng tiếng mơ về giữa quyện hơi 
Mà nghe vọng luyến những tâm lời 
Đàn thơ trỗi chập chùng ngan ngát
Kỷ niệm êm đềm quãng phú rơi 
Mộng ước cung tình luôn diễm ảo
Thầm chan phím nguyệt mãi trong ngời 
Này em lịm nhé trầu cau huyễn 
Mãi thắm xuân bồng thỏa cuộc chơi 

Mãi thắm xuân bồng thỏa cuộc chơi 
Vàng trăng mãn kiếp diệu loang ngời 
Ngàn xưa lựng ảo huyền chăn gối
Miết mải duyên tình vạn thuở rơi 
Vẫn nguyện hương đời thơm thảo phú
Và mong sắc dạ chứa chan lời 
Chiều thương phả bóng thềm nhung lụa
Thoảng tiếng mơ về giữa quyện hơi 

HANSY


PHỐ XUÂN

PHỐ XUÂN

Đông qua xuân đến rộn ràng
Sáng nay Phố nhuộm nắng vàng hân hoan
Trái tim bỗng thấy dịu dàng
Mùa xuân gởi đến nhân gian nụ cười.

Thắp lên hy vọng cho người
Mắt Em cũng lấp lánh ngôi sao trời
Lộng tràn hạnh phúc chơi vơi
Cùng Ta sánh bước về nơi chốn nào.


Mơ màng với trái tim trao...

HANSY

MỪNG XUÂN CỘNG ĐỒNG THƠ VĂN

MỪNG XUÂN
CỘNG ĐỒNG THƠ VĂN

MỪNG Xuân năm mới thỏa tình mong
TÂN hội bao la chép hóa rồng
NIÊN tưởng Hằng Nga tràn ánh mộng
QUÝ chờ Hậu Nghệ dậy vầng đông
HIỂN tài chuyên góp thơm đầy cổng
PHƯỚC đức nài gom ngát tận lòng
LỘC tụ lưu truyền gia phú lộng
THỌ cùng Bành Tổ diệu ngần trong

CHÚC Xuân thắng hội vạn điều trong
CỘNG biến hòa vui sực nức lòng
ĐỒNG rạng tình tang rền tứ mộng
THƠ ngời réo rắt vượt hừng đông
VĂN chương tải đạo lừng danh cổng
HẢO khúc lừng tâm phỉ sức rồng
HỶ phú muôn đời thơ thới vọng
TRƯỜNG tồn thi hữu mãi cầu mong

HANSY


Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017

27. TRÌNH LINH TỐ MỘT MẢNH TÌNH - MỘT CÁNH HOA RƠI

27.
TRÌNH LINH TỐ
MỘT MẢNH TÌNH - MỘT CÁNH HOA RƠI

Tôi kể ngày xưa một mối tình
Một người con gái tuổi còn xanh
Ngậm ngùi một kiếp hoa rơi lạc
Một mảnh hương tình luống mong manh


Người con gái ấy họ Trình, tên Linh Tố, chữ "Linh" trong "Linh khu", chữ "Tố" trong "Tố vấn". Cái tên thanh nhã, sâu sắc gợi lên những ấn tượng đầu tiên về một con người. Nàng xuất hiện trong bộ dạng một cô thôn nữ đang tưới hoa trên con đường đi tìm Độc thủ Dược Vương của Hồ Phỉ. Kim Dung tiên sinh đã không dành cho người con gái này vẻ trầm ngư lạc nhạn, thoát tục thanh cao như những cô gái khác. Nàng gầy gò ốm yếu, mặt mày xanh xao, thân hình bé nhỏ như đứa trẻ 14, 15 tuổi. Nhưng đặc biệt, nổi bật lên tất cả là một đôi mắt sáng trong lạ kỳ, lấp lánh tinh quang. Trong đôi mắt ấy thẳm sâu một tâm hồn thuần khiết, cao thượng, một tấm lòng đẹp đẽ tinh khôi như giấy trắng, ấm áp và êm dịu như ánh ban mai:">.

Nàng chính là đệ tử chân truyền của Độc thủ Dược Vương lừng danh thiên hạ. Gặp được người con gái này, Hồ Phỉ xem như vô cùng may mắn, không những đạt được mục đích của chuyến đi muôn vàn khó khăn, tìm thần y cứu chữa đôi mắt cho Miêu Nhân Phụng mà còn khám phá bao điều bí ẩn lạ kỳ đằng sau huyền thoại về Độc thủ Dược Vương. Còn Trình Linh Tố, nàng đã gặp tiểu anh hùng Hồ Phỉ, gặp được mối tình của mình, oan gia của mình, và ý nghĩa cuộc đời mình. Tự lúc nào, người con gái sắc sảo thông minh ấy đã đem lòng yêu thương chàng trai nghĩa hiệp, và từ đó, nàng bỏ lại cuộc sống bình yên chốn thôn quê, ra đi cùng Hồ Phỉ, ở bên chàng và bảo vệ cho chàng đến cuối cuộc đời.

Nhưng mối tình thơ ngây của Trình Linh Tố cuối cùng cũng chỉ là mối tình đơn phương vô vọng. Hồ Phỉ từ lâu đã có trong tim hình bóng người nữ nhi khác. Trình Linh Tố hiểu rõ điều đó, nàng biết Viên Tử Y xinh đẹp hơn mình, và hơn cả, nàng biết rằng con người trọng tình trọng nghĩa như Hồ Phỉ sẽ mãi chân thành với tình yêu dành cho cô nương áo tím thanh tú diễm lệ kia. Nàng xót xa nhận lời kết nghĩa huynh muội cùng Hồ Phỉ, lắng nghe từng lời chàng tâm sự, tỏ bày tình cảm của mình dành cho Viên Tử Y mà nuốt thầm nước mắt. Một người nhi nữ ngày ngày nhìn ý trung nhân lo lắng, tương tư người con gái khác thì còn nỗi đau nào chua xót hơn! Nhưng Hồ Phỉ dường như không nhận ra điều đó, chàng không hiểu hay cố tình không hiểu, cứ vô tâm đối xử với Trình Linh Tố như một người tiểu muội, lo lắng, che chở cho nàng chung quy chỉ vì hai chữ "chi lan". Hoa trôi hữu ý, nước chảy vô tình, Trình Linh Tố vẫn ngậm ngùi ôm mối tình thơ, chôn chặt trong lòng nỗi niềm thầm kín. Từng ánh mắt, nụ cười, từng cử chỉ, lời nói chan chứa thâm tình của nàng ẩn chứa một niềm đau xót vô bờ. Nàng vẫn dành một vị trí quan trọng trong lòng Hồ Phỉ - một người em gái tâm tư tinh tế, hiểu rõ tâm ý người khác, thông minh, chu đáo, toàn vẹn trước sau, đã bao lần cứu chàng thoát khỏi nguy biến, một người bạn tri âm để chàng dốc bầu tâm sự - nhưng mãi mãi nàng không bao giờ đến được chỗ đứng cao nhất, thiêng liêng nhất mà Hồ Phỉ dành cho người trong mộng. Đó là bi kịch của cuộc đời nàng, bi kịch về một tình yêu mãi mãi không bao giờ được đáp lại.

Vì lẽ gì Trình Linh Tố lại theo Hồ Phỉ từ bỏ chốn thôn quê - nơi nàng đã bao năm sống cuộc đời bình yên lặng lẽ? Tại sao nàng không nuôi ước mộng trở thành Độc thủ Dược Vương thứ hai tiếng tăm lừng lẫy, quyền uy và danh vọng? Tại sao nàng bỏ lại tất cả, suốt đời theo đuổi một mối tình đơn phương vô vọng, hy sinh quá nhiều, thậm chí cả sinh mạng nhỏ bé của mình vì nó?

Vấn thế gian, tình thị hà vật?
Trực giáo sinh tử tương hứa


Chữ "tình" thật lắm nỗi éo le. Nhân loại muôn đời không bao giờ hiểu hết được bản chất và cội nguồn của tình yêu. Tình yêu làm cho con người hạnh phúc, đắm say đến mức nào? Khổ đau, oan trái biết là bao? Sao con người cứ mãi vì một chữ "tình" mà quên đi tất cả?

Chỉ biết rằng Trình Linh Tố đã vì nó mà dâng tặng cả mạng sống của mình. Trong cơn hiểm nguy một còn một mất, nàng đã cúi xuống hút máu độc từ bàn tay Hồ Phỉ, để rồi chính mình trúng phải chất kịch độc vô phương cứu chữa: "Bích tàm độc cổ", "Khổng tước đảm", "Hạt đỉnh hồng". Chất độc này vốn dĩ không gì có thể giải được, chỉ duy nhất Trình Linh Tố nàng biết cách hoá giải. 

"Gia sư nói ba thứ chất kịch độc này không có thuốc nào chữa được. Vì trên đời này chẳng có thầy thuốc nào chịu vì bệnh nhân mà hy sinh tính mạng. Đại ca ơi! Lão nhân gia đâu biết có tiểu muội...tiểu muội đối với đại ca..." 

Chỉ có nàng mới dám vì tình yêu, từ bỏ sinh mạng của mình, không hối tiếc.

Cho đến cuối cuộc đời, nàng mới nói rõ lòng mình cho Hồ Phỉ. Mãi đến phút giây tử biệt sinh li, Hồ Phỉ mới nhận ra tấm chân tình của nhị muội bấy lâu dành cho mình. Chàng đã hiểu ra, mỗi lời nói, nét mặt, mỗi nụ cười của Trình Linh Tố mà trước đây chàng không hề để ý, ẩn chứa biết bao nhu tình, bao nhiêu là tình cảm thiết tha. Lúc nào nàng cũng nghĩ đến chàng, lúc nào nàng cũng có mặt khi chàng cần đến, lúc nào nàng cũng lắng nghe chàng, còn chàng, dường như chưa bao giờ chàng hiểu được Linh muội.

Tiểu muội tử đãi tình lang
Ân tình thâm
Nễ mạc phụ liễu muội tử
Nhất ban tình
Nễ kiến liễu tha diện thời
Yếu đãi tha hảo
Nễ bất kiến tha diện thời
Thiên thiên yếu thập thất bát biến quải tại tâm!

(Tiểu muội tử chờ tình lang
Tấm lòng chờ đợi chứa chan ân tình
Chàng ơi, chớ phụ cô mình
Gặp nhau hãy giữ ân tình cho nhau
Rủi mai nước chảy xuôi cầu
Tấm lòng canh cánh, nỗi sầu khôn khuây)


Chúng ta đọc tiểu thuyết Kim Dung & đã yêu những mối tình trong những bộ tiểu thuyết. Chúng ta khóc cho A Châu ngày cô rơi xuống bên cầu đá. Lại một lần nữa chúng ta khóc Trình Linh Tố. Cả cuộc đời ngắn ngủi mười mấy năm, dường như nàng chỉ thực sự sống những ngày tháng cuối cùng, bên người mình yêu dấu. Nàng chỉ có tuổi xuân, mãi mãi chỉ có tuổi thanh xuân, chỉ có một tấm lòng, một tình yêu thiết tha, trọn vẹn. Nàng chỉ sống vì tình yêu, và chỉ chết vì nó. Còn cái chết nào đẹp hơn cái chết hiến dâng cho ái tình? Cũng nhẹ nhàng và cao cả như cái chết của người dũng tướng nơi chiến trận. Ở một nơi xa xôi nào đó, Trình Linh Tố sẽ nở nụ cười mãn nguyện, rằng nàng đã hy sinh xứng đáng cho tình yêu. Người con gái đáng thương ấy sẽ còn mãi tuổi xuân với tình yêu bất diệt, hạnh phúc sẽ mỉm cười với con người cao thượng đã lấy máu mình tô thắm con đường muôn thuở của tình yêu.

CỘI NGUỒN TẾT VIỆT NAM

CỘI NGUỒN TẾT VIỆT NAM

Có lẽ trong nhiều năm tới, câu hỏi này sẽ còn là đề tài nóng mỗi dịp Tết của người Việt Nam.

Mỗi người đều biết là khi tham gia vào cuộc tranh luận này, dù là đứng về phía nào, họ có thể bị nghĩ là mất gốc, là chưa trọn hiếu với tổ tiên, hoặc ngược lại là thủ cựu, u mê v.v. và v.v…

Cũng như trong rất nhiều vấn đề khác, như không ít người nhận xét, một bộ phận người Việt có lẽ hơi quá dễ dãi trong việc chấp nhận ngay một thái độ cực đoan và thường gặp khó khăn để lắng nghe những ý kiến khác biệt.

Ý kiến của tôi có thể còn những điều chưa chính xác, nhưng chỉ cần bạn kiên nhẫn đọc đến hết là tôi đã rất biết ơn.

Nguồn gốc ba chữ "Tết Nguyên Đán"

Đa số người Việt hiện nay, kể cả trên báo chí chính thống, đều nói và viết "Tết Nguyên Đán" mà có thể chưa hiểu nguồn gốc của mấy chữ này. 

Nhiều người giải thích chữ Tết trong tiếng Việt bắt nguồn từ chữ Tiết trong âm lịch; Tiết   trong tiếng Hán trung cổ phát âm là "Tset". Nguyên Đán cũng là từ gốc Hán: "nguyên" =  sơ khai, "đán" = ngày. 

Nói như vậy, cụm từ "Tết Nguyên Đán" đang củng cố sự hiểu lầm rằng người Việt đang sao chép một nét của văn minh phương Bắc. 

Tại sao lại là hiểu lầm thì tôi sẽ phân tích trong phần kế tiếp. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu bằng lời đề nghị rằng người Việt muốn tìm về nguồn cội của mình thì không thể không tìm hiểu lịch sử Trung Quốc (China).

Điều thú vị là trong khi người Trung Quốc gọi đất nước của họ là "Zhong Guo" (中国, Trung Quốc) thì hầu hết thế giới không chấp nhận phiên âm từ tiếng Hoa, mà gọi nước này là "China" (Anh, Đức, Mỹ, Australia…), "la Chine" (Pháp) , "Kitai" (Nga) v.v… China/Chine/Sino có gốc từ Qin (đọc là Chin, dịch sang Hán-Việt là Tần): Vương triều nhà Tần khét tiếng với Tần Thủy Hoàng.

Người China từ cổ tự gọi mình là quốc gia ở giữa, xung quanh là người Man, Di, Rợ, Khương…

Thời cổ đại trên vùng đất bây giờ là China có nhiều quốc gia nhỏ, có thể gồm hai chủng tộc chủ yếu, là người Hán, và các tộc Bách Việt. Người Hán ở phía Bắc, Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử (Trường Giang).

Hán Khẩu là một địa danh cổ bây giờ đã nhập vào thành phố Vũ Hán, vốn ở nơi sông Hán Giang nhập vào sông Dương Tử.

Cư dân Bách Việt vốn gốc trồng lúa, không giỏi kiếm cung cưỡi ngựa như người Hán gốc du mục/săn bắn, nên dần dần đã bị người Hán chinh phục gần hết và đồng hóa thành ra người China bây giờ.

Trong sự đồng hóa ấy thì rất nhiều nét văn hóa của Bách Việt, kể cả Việt Nam, đã hòa lẫn vào văn hóa China, kể cả âm lịch và Tết cổ truyền nguồn gốc văn minh lúa nước.
Năm Âm lịch gồm các tháng Dần (Giêng), Mão (Hai), Thìn (Ba), Tỵ (Tư), Ngọ (Năm), Mùi (Sáu), Thân (Bảy), Dậu (Tám), Tuất (Chín), Hợi (Mười), Tý (Một), Sửu (Chạp). Một ngày cũng được chia thành 12 giờ theo tên gọi các con giáp như vậy.

Sử China chép rằng việc chọn ngày bắt đầu của một năm đã từng thay đổi nhiều lần qua các triều đại: Triều Hạ thì chọn vào tháng Dần, triều Thương thì chọn tháng Sửu, triều Chu thì chọn tháng Tý, triều Tần thì chọn tháng Thìn, triều Hán đổi lại về tháng Dần [Wiki tiếng Việt, mục từ "Tết Nguyên Đán"].

Kể từ triều Hán, Tết Nguyên Đán, nghĩa là tiết đầu năm mới âm lịch, trở nên cố định vào ngày đầu tiên của tháng Dần (tháng Giêng).

Nước Việt bắt đầu bị China đô hộ từ đời nhà Hán. Có thể là trước đó tổ tiên chúng ta ăn Tết vào đầu tháng Tý chứ không phải tháng Dần, nhưng rồi trải qua suốt một nghìn năm bị cưỡng bức đồng hóa, ký ức về Tết nguồn cội cũng như nhiều nét văn hóa khác đã bị kẻ đô hộ tìm cách gột bỏ.

Tết âm lịch Việt Nam trong sử sách China

Sách Kinh Lễ (禮記) trong bộ Ngũ Kinh chép rằng lời Khổng Tử rằng: "Ta không biết Tết là gì. Nghe đâu đó là tên của một lễ hội lớn của người Man (cách người Hán gọi người Bách Việt, TBH).

Họ nhảy múa như điên uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó. Họ gọi ngày đó là: Tế Sạ. Tế Sạ rất có thể là phát âm Hán Việt từ chữ "Thêts", tên lễ hội năm mới của người Thái đất Phong Châu.

Sách "Giao Chỉ Chí" (发布分配) thì chép rằng: "Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới.

Họ gọi ngày đó là Nèn- Thêts, không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này. Chỉ có bọn man di mới có ngày hội mà người trên kẻ dưới cùng nhau nhảy múa như cuồng vậy. Bên ta không có sự quân thần điên đảo như thế".

Ngay cả lịch sử China còn chép như vậy về Tết của người Việt cổ. Vậy đến lượt mình, phải chăng các nhà sử học Việt Nam còn nợ đất nước một câu hỏi lớn về cội nguồn Tết?

Tết Bách Việt cổ đại là vào lúc nào, và tại sao?

Theo một số nguồn nghiên cứu gần đây, người Bách Việt cổ đã từng ăn Tết (Thêts) vào khoảng thời gian tương đương với đầu năm mới dương lịch bây giờ. [Nguyễn Ngọc Thơ: "Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong quan hệ với văn hóa truyền thống Việt Nam", Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, 2011].

Ngày tôi còn nhỏ, ông nội tôi là thầy lang biết chữ nho, dậy tôi học tên các con giáp là Tý-Sửu-Dần-Mão-Thìn-Tỵ-Ngọ-Mùi-Thân-Dậu-Tuất-Hợi. Tôi chỉ biết thuộc lòng thứ tự 12 con giáp, nhưng chưa bao giờ tự đặt câu hỏi tại sao chúng lại bắt đầu từ con chuột (Tý).

Giờ Tý, tức là nửa đêm, là bắt đầu của ngày mới, đó là khi âm khí đạt tới cực tận và dương khí thì đến lúc sinh ra. Tháng Tý là tháng có ngày Đông Chí (giữa Đông), sau khi trời đạt đến lạnh nhất thì trời hẳn sẽ phải ấm lên. Cái cũ đã đến tận cùng thì hẳn phải là bắt đầu của cái mới.

Có lẽ do vậy mà người Bách Việt cổ đã chọn tháng Tý là tháng đầu năm. Và có lẽ cũng không phải là ngẫu nhiên mà tháng Tý lại có tên gọi là tháng Một, nhưng tiếc thay bây giờ nhiều người Việt vẫn vô tư gọi tháng Tý là tháng Mười Một!

Như vậy, có thể Tết Âm lịch ở Bách Việt cổ cũng gần trùng với Tết Dương lịch bây giờ, sang đến đời Hán bị đô hộ, Tết của người Bách Việt mới bị chuyển sang tháng Dần?

Tết âm lịch ở Australia

Tết của người Hoa là Tết âm lịch, nhưng ở Australia mà nói ngược lại rằng Tết âm lịch là Tết Trung Quốc thì rất sai.

Trong một đất nước dân chủ và đa sắc tộc như Australia, các chính khách muốn giành được phiếu của các cử tri và các nhà kinh doanh không muốn mất khách hàng thì sẽ không được lầm lẫn và phải biết phân biệt rằng "Lunar New Year" thì bao gồm Chinese New Year của người Hoa, Tết của người Việt, Losar của người Tây Tạng, Bhutan, Nepal…, Chaul Chnam Thmey của người Campuchia…

Cho dù "Chinese New Year" bao giờ cũng là quan trọng nhất!

Người Việt sống ở Australia hay các nước ngoài khác chắc đều thấm thía cái sự vắng Tết. Mặc dù bạn hoàn toàn vẫn có thể "ăn Tết" tại nhà mình, hoặc ra chợ Tết ở khu phố Tàu hay khu phố Việt.

Năm ngoái vào dịp nghỉ Giáng sinh và Tết Dương lịch chúng tôi lên Melbourne thăm con trai và cũng đi chợ Tết Việt ở khu Richmond gần nơi con ở.

Khu Richmond có một cái cổng chào mang hình cách điệu chim Lạc và nón Việt, như lời giới thiệu về mình một cách tự hào của cộng đồng người Việt ở đây. Nhưng chẳng ở đâu có Tết thực sự như là Tết ở Việt Nam!

Chúng tôi cũng muốn ăn Tết lắm chứ, về quê ăn Tết thì khỏi nói. Nhưng mà phần lớn các ngày Mùng Một Tết Việt đều rơi vào ngày còn phải đi làm bên này, không thể vô duyên xin nghỉ việc giữa chừng.

Tết con Gà năm nay còn khá, rơi vào 28/1 dương lịch, là Thứ Bảy, lại có thêm 26/1 là Quốc khánh Australia cũng là ngày nghỉ. Nhờ vậy mà con trai mới thu xếp được về ăn Tết với gia đình, để rồi sáng Mồng Hai lại tất tả ra đi.

Giả sử, vâng, chỉ là giả sử thôi, nước mình không bị một nghìn năm Bắc thuộc, thì Tết Việt vẫn như thời tổ tiên Bách Việt là vào tháng Tý. Nếu vậy thì hàng triệu người Việt đang là công dân toàn cầu có thể dùng kỳ nghỉ Giáng sinh và Năm Mới dương lịch mà về quê ăn Tết Việt.

Liệu mơ ước ấy có thể trở thành hiện thực theo một cách khác, khi người Việt được chủ động trở lại với Tết Bách Việt cội nguồn của mình?

TRÍ THỨC TRẺ


DUYÊN XUÂN

DUYÊN XUÂN

Gió hây hây sắc thắm
Lóa sáng cả chân trời
Tầng mây bồng sắc đẫm
Xuân đang đi dạo chơi

Lộc xanh vừa mới nhú
Duyên cả chỗ xù xì
Nụ cười tươi như ngọc
Cuốn hút khách tình si

Ơi xuân, em bao tuổi
Mỏng mảnh vẻ ngoan hiền
Ngập ngừng như còn náu
Ta yêu lắm xuân duyên

HANSY

MIỀN NAM NGỜI XUÂN

MIỀN NAM NGỜI XUÂN
(Ngũ độ thanh)

Nắng giữa miền Nam tỏa rợp trời 
Xuân về cúc liễu thọ đào khơi 
Rình rang phố thị lời thưa gởi 
Hớn hở làng quê cỗ gọi mời 
Lũ mọn môi cười chân sáo khởi
Ông già miệng nhoẻn dáng thần lơi 
Tình tang hội lễ trầm hương mới
Phú-Hỷ-Tài-Danh rạng rỡ ngời

Phú-Hỷ-Tài-Danh rạng rỡ ngời 
Thiên đường mỹ cảnh rợp ràng lơi 
Chào cô Hạnh Phúc triền miên xởi
Thỏa bác Bình An rộn rã mời 
Nhấp tửu ngâm làn mơ nhạc trỗi
Pha trà vẫy bút mộng tình khơi
Mùa thơm phả mượt ngào ngon tới
Nắng giữa miền Nam tỏa rợp trời


HANSY






Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2017

XUÂN TIẾN TỬU

75.

XUÂN TIẾN TỬU
(Ngũ độ thanh)

Chén rượu Xuân về đẫm tỏa hơi 
Rừng hoa cũng muốn dậy reo lời 
Hương nồng thoảng nhẹ mơ màng tới 
Cõi diệu chan đầy lảnh lót rơi 
Giữa khuỷnh màu xanh bừng nuộc mới
Ngoài cung sắc đượm bổng tâm ngời 
Muôn lòng rạng rỡ mừng duyên tới
Chuỗi mộng dương trần thỏa thích chơi 

Chuỗi mộng dương trần thỏa thích chơi 
Đài trang phấn nụ điểm mây ngời 
Anh hào trỗi nguyện mơ thầm với 
Ngọc nữ chao tình ái khỏa rơi 
Nỗi nhớ đong đầy tim lựng cõi
Mùa thương thấm đẫm dạ thêm lời
Chung trà Tết dậy nồng thơm hỡi
Chén rượu Xuân về đẫm tỏa hơi 

HANSY



Kỳ 30 - BẠO QUÂN MÔNG CỔ LẦN ĐẦU RƠI VÀO CẢNH HOẢNG LOẠN Ở THĂNG LONG

Kỳ 30
-------
BẠO QUÂN MÔNG CỔ
LẦN ĐẦU RƠI VÀO CẢNH HOẢNG LOẠN
Ở THĂNG LONG

Quân lệnh của triều đình đã ban xuống rằng nhân dân khi gặp giặc đến phải quyết chiến đến cùng, hoặc liệu thế không chống nổi thì cho phép lẩn trốn vào rừng núi chứ nhất định không hàng giặc. Mệnh lệnh đó được nhân dân các thôn làng tuân theo triệt để.
1. 
Quân Mông Cổ ở Thăng Long

Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân xâm lược Đại Việt với một tốc độ nhanh thường thấy của quân Mông Cổ. Chỉ trong vòng chưa đầy 3 tuần kể từ khi vượt biên giới, quân Mông Cổ đã vào đến Thăng Long. Thế nhưng với kế sách “vườn không nhà trống” mà quân dân Đại Việt bày ra, việc nhanh chóng chiếm giữ kinh đô của quân Mông Cổ trở nên không mấy ý nghĩa.

Chưa kịp đắc thắng khi tiến vào Thăng Long, quân tướng Mông Cổ nhận ra rằng chúng đang ở trong một thành thị hoang vắng, chỉ còn lác đác một vài người dân không kịp di tản. Quân Mông lập tức lục soát khắp thành. Những gì chúng tìm thấy chỉ là ba tên sứ giả đang bị trói chặt bằng dây thừng tre, thoi thóp trong đại lao. Khi cởi trói thì một tên sứ giả đã chết do đói khát. Khắp thành Thăng Long các kho lương thực của triều đình cùng với lương ăn trong nhà dân đa phần đã được đem đi hoặc cất giấu. Quân Mông Cổ không tìm được quân lương, điều mà chúng hy vọng khi chiếm được thành Thăng Long. Tức giận, Ngột Lương Hợp Thai thả cho quân lính đập phá khắp thành, lùng giết bất cứ người nào còn sót lại trong thành. Hành động tàn ác này càng làm cho quân dân Đại Việt quyết tâm tử thủ ở bất cứ nơi nào quân giặc tiến đến.

Trong khi Thăng Long di tản, thì các làng xóm lân cận với kinh thành cũng tổ chức chôn giấu lương thực, đào hào đắp lũy để tự bảo vệ mình. Quân lệnh của triều đình đã ban xuống rằng nhân dân khi gặp giặc đến phải quyết chiến đến cùng, hoặc liệu thế không chống nổi thì cho phép lẩn trốn vào rừng núi chứ nhất định không hàng giặc. Mệnh lệnh đó được nhân dân các thôn làng tuân theo triệt để.

Như đã phân tích ở những kỳ trước, biên chế thông thường của một đạo quân Mông Cổ điển hình có ưu thế cốt ở việc gọn nhẹ, không tiêu tốn nhiều nhân lực, vật lực cho hậu cần. Phương châm của quân Mông Cổ là mang theo lương thực vừa đủ dùng trong một thời gian ngắn trên lưng ngựa, rồi chúng sẽ cướp bóc trong lãnh thổ đối phương để nuôi quân. Đó là sách lược lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Tuy nhiên lần tấn công Đại Việt, yếu điểm chết người của quân Mông đã lộ ra. Ở trong thành Thăng Long hoang vắng, nguy cơ thiếu lương thực đối với quân Mông tính bằng ngày, bằng giờ. Tình thế buộc Ngột Lương Hợp Thai phải chia quân thành các toán nhỏ, tỏa ra các làng quanh Thăng Long để cướp bóc. Tuy nhiên giải pháp này lại lợi không bù được hại. Chẳng mấy toán quân đi cướp lương thu về thành quả xứng đáng. Những làng chiến đấu luôn buộc quân Mông Cổ phải trả cái giá đắt về nhân mạng để đổi lấy số lương thực cướp được ít ỏi. Thế nhưng có khi quân Mông Cổ vào chiếm được làng lại chẳng tìm được gì để ăn. Thậm chí có những làng được dân binh dựng lũy kiên cố, đẽo tre làm chông như những con nhím khiến quân Mông Cổ không thể xuyên thủng nổi.

Sử cũ ghi nhận cuộc chiến đấu của nhân dân làng Cổ Sở (ngoại thành phía tây Hà Nội ngày nay) như một minh chứng điển hình của cuộc chiến tranh nhân dân quanh Thăng Long. Dân chúng của làng đã giăng bẫy, đào hào, cắm chông, dựng chiến lũy bằng tre để ngăn kỵ binh giặc. Kỵ binh Mông Cổ khi tấn công vào làng thì ngựa bị mắc bẫy khụy chân không đi được, binh lính Mông Cổ liều mạng xông vào thì giẫm phải chông tre và bị trúng tên từ trong làng bắn ra. Thừa thế, dân binh trong làng xông ra chém giết, chặt lấy đầu giặc để uy hiếp tinh thần. Cuối cùng toán quân cướp bóc đành phải rút chạy bỏ lại xác đồng đội mà chẳng thu hoạch được gì. Những chiến thắng từ các thôn làng nhỏ như thế là nền tảng ban đầu, là sự báo hiệu cho một chiến thắng lớn mang tính toàn cục. Quân Mông Cổ nhanh chóng lâm vào cảnh đói khát, túng quẫn. Ngột Lương Hợp Thai sợ ở trong thành sẽ bị bao vây bất ngờ nên dẫn quân ra khỏi thành, đóng quân ở bến Đông Bộ Đầu. Quân đội và triều đình Đại Việt thì mất tăm, khiến cho viên chủ tướng Mông Cổ có muốn kéo quân đánh một trận sống mái cũng chẳng được. Xung quanh thành Thăng Long là muôn vàn các nhánh sông lớn nhỏ như những chiến lũy tự nhiên ngăn cản quân Mông tung hoành. Quân Mông Cổ lúc này vẫn còn gần 4 vạn người, chỉ biết chôn chân chờ đợi.
2.
Đại quân nhà Trần ở Thiên Mạc

Trong khi quân Mông Cổ ở Thăng Long dần rơi vào tình thế túng quẫn thì quân Đại Việt ở Thiên Mạc có cơ hội xốc lại tinh thần sau những tổn thất ban đầu. Dưới sự điều động về hậu cần cực tốt, các kho tàng đủ để nuôi một số lượng quân lính tập trung đông đảo trong một thời gian dài. Ấy cũng là nhờ trong lúc thái bình Đại Việt đã liên tục phát triển nông nghiệp. Cái gốc rễ thịnh vượng trong thời bình là nền tảng cho sức mạnh hậu cần trong chiến tranh. Bấy giờ sương binh các lộ, cùng với gia binh của các vương hầu kéo nhau đến Thiên Mạc hội sư đông đến hơn 10 vạn quân. Chiến thuyền Đại Việt đậu tấp nập ở sông Thiên Mạc. Những vũ khí trong dân ngày thường vẫn lưu giữ nhiều, nay được triều đình tổ chức trưng thu để bổ sung cho quân đội. Về mặt vật chất quân dân Đại Việt vẫn có đủ sức mạnh để đánh bại giặc. Tuy vậy, về mặt tinh thần xuất hiện một số hoang mang nhất định trong hàng ngũ. Bởi kể từ khi Ngô vương nối lại quốc thống nước Việt, trải mấy trăm năm chưa có quân giặc nào vào được kinh thành nước ta. Đến nay ta phải lui binh liên tiếp, bỏ ngỏ kinh đô. Điều đó theo lẽ thường bất cứ người nào cũng sẽ sinh hoài nghi về sức mạnh của đất nước.

Một điển hình cho sự sợ hãi thời bấy giờ, tiếc thay lại đến từ một người đứng đầu hàng quan võ – Thái úy Trần Nhật Hiệu. Ông trước là người có uy vọng rất lớn, từng lập nhiều công lao trong chiến trận, lại là người họ hàng gần gũi với vua (chú của Trần Thái Tông, được gọi là Thúc phụ). Trần Nhật Hiệu ngoài tài điều binh, còn có tài cai trị. Trước kia, vua Trần Thái Tông đi đánh Chiêm Thành đã giao ông làm lưu thủ tại kinh thành và ông đã hoàn thành trọn vẹn trọng trách. Bởi vậy bằng nhiều sự tin tưởng, vua Trần đã đích thân đi thuyền nhẹ đi tận chỗ của Trần Nhật Hiệu để hỏi kế sách chống giặc. Trần Nhật Hiệu lúc ấy đang ngồi thẩn thờ trên một chiếc thuyền nhỏ, nghe vua hỏi không nói nên lời, dùng tay chấm nước viết lên mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống”. Tức là Nhật Hiệu khuyên vua bỏ nước chạy sang Tống nương nhờ để bảo toàn mạng cho hoàng gia. Đó là kế dở tệ và vô trách nhiệm. Bởi một là chính nước Tống cũng đang lao đao trước sức tấn công của Mông Cổ, hai là vua bỏ nước đi trốn thì muôn dân biết trông cậy vào ai nữa.

Vua lại hỏi quân Tinh Cương ở đâu. Nhật Hiệu bấy giờ đã bỏ ngũ, không điều quân nghiêm chỉnh nên vua mới hỏi vậy. Nhật Hiệu trả lời: “Không gọi được chúng đến”. Vua thấy Thúc phụ mình bày kế nhảm, lại bỏ quân bản bộ không coi giữ,thất vọng bỏ đi. Thuyền ngự lại sang chỗ Thái sư Trần Thủ Độ hỏi kế sách. Trái với sự yếu hèn của vị Thái úy, Thái sư Trần Thủ Độ khẳng khái đáp lời: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Lời nói của vị Thượng phụ Thái sư, người đứng đầu bá quan văn võ khiến cho vua Trần Thái Tông lập tức lấy lại được niềm tin. Chẳng những vua Trần vững tin, mà khí khái của Thái sư Trần Thủ Độ còn truyền cảm hứng đến tất cả ba quân tướng sĩ.

Bấy giờ Trần Thủ Độ được mọi thần dân và quan quân Đại Việt coi là một cây đại thụ với rất nhiều sự tin tưởng. Tài thao lược của ông đã được minh chứng trong nhiều năm để làm nên một vương triều Trần vững mạnh. Bằng uy tín của mình, Trần Thủ Độ đã giúp quân Đại Việt có lại được nhuệ khí, có lại niềm tin vào chiến thắng. Với niềm tin đó, quân dân Đại Việt chuẩn bị bước vào trận chiến sống còn với địch.

Quốc Huy



GÀ LÊN MÂM

GÀ LÊN MÂM

Ngày Tết hầu như nhà nào cũng có con gà. Gà cúng ông bà, gà trên mâm cỗ… Nó phổ biến đến vậy nhưng mấy ai ăn miếng gà mà hiểu hết về nó...

Ngon - bổ - rẻ

Trong dinh dưỡng có lời khuyên “hai chân (gia cầm) tốt hơn bốn chân (gia súc)”.
Thịt gia súc (heo, bò, dê) đều là loại thịt đỏ, thường gây bệnh tim mạch, bệnh thống phong (gout). Trong khi đó thịt gà (thịt trắng) chứa những protein dễ hấp thu, ít nhân purin nên có thể dùng cho bệnh nhân gout.

Với những người có rối loạn mỡ máu thì thịt gà là món có thể ăn, trong khi thịt gia súc lại phải kiêng.

Trung tâm Nghiên cứu sức khỏe Chicago (Mỹ) thực hiện nghiên cứu với sự tham gia của 200 nam nữ. Họ được yêu cầu bổ sung vào chế độ ăn uống trong vòng 1 tuần với lượng thịt như sau: Nhóm thứ nhất tăng cường 170g thịt bò, thịt bê hoặc thịt heo mỗi ngày. Còn nhóm thứ hai bổ sung vào chế độ ăn uống 179g thịt gà.

Kết quả:
Nhóm ăn thịt gà giảm cholesterol xấu 2,9% trong khi nhóm ăn thịt đỏ (nạc) giảm không đáng kể. Vì thế thịt gà được sử dụng cho những người thừa cân, béo phì, rối loạn mỡ trong máu và bệnh thống phong.

Tuy nhiên, xin mở ngoặc là bạn muốn giảm cân thì chỉ được ăn thịt nạc, đặc biệt là phần nạc ở ức gà, không ăn da và mỡ gà. Vận động viên thể hình cần protein để có khối cơ nở nang, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn thì thịt gà nạc cũng là lựa chọn.

Có một loại gà bị mang tên ác nhưng không hề ác. Chúng thuộc họ trĩ, còn gọi là ô kê (gà đen) hay ô cốt kê (gà xương đen), hắc cước kê (gà đen chân chì) hay gà ngũ trảo (5 ngón).
Theo y học cổ truyền, gà ác vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ can thận, ích khí huyết, dưỡng âm hạ nhiệt, dùng để bồi bổ cơ thể, chữa những chứng bệnh nóng âm ỉ trong xương, đi tả lâu ngày do tỳ hư, ra mồ hôi trộm…

Các nhà dinh dưỡng hiện đại cho rằng thịt gà ác giàu protein (có 18 loại acid amin cần thiết), ít mỡ, nhiều vitamine và các nguyên tố vi lượng. Vì thế gà ác được coi là vị thuốc phòng chống mệt mỏi, tăng cường miễn dịch, tăng khả năng thích nghi trong những môi trường khắc nghiệt. 

Nước ta có một số giống gà được xếp vào hàng “quý” như gà Đông Tảo, gà đồi Yên Thế, gà Mía, gà Mạnh Hoạch giá cao gấp 2 - 3 lần các loại gà ta khác. Liệu chúng có giá trị dinh dưỡng cao không? Thưa không. Chẳng qua  chúng ngon theo khẩu vị nên được nâng lên vị trí “quý”, bà con mình muốn ăn phải trả giá đắt mà thôi.

Tây không khoái, ta lại ưa

Người Âu Mỹ thích ăn gà công nghiệp vì thịt mềm, còn ta khoái ăn gà “đi bộ” vì thịt dai và chê gà công nghiệp thịt nhão, vị nhạt.

Tuy nhiên, khi phân tích thành phần dinh dưỡng thì gà đi bộ không hơn gà công nghiệp. Các nhà dinh dưỡng cho rằng chuyện này chẳng qua là do thói quen ăn uống của ta mà thôi.

Tương tự, người Mỹ thích ăn ức gà nhưng không ưa cánh hay đùi gà vì họ sợ dư lượng chất kháng sinh mà người nuôi thường tiêm vào đùi và cánh còn tồn đọng nơi đây.

Ở ta, những trại nuôi gà thả cũng tiêm kháng sinh nhưng bà con ta khoái khẩu món cánh gà chiên nước mắm, đùi gà chiên bơ… chả thấy ai lăn tăn lo lắng sẽ bị kháng thuốc. Khi phân tích giá trị dinh dưỡng thì thịt vùng ức gà hàm lượng protein cao hơn phần đùi. Hóa ra Tây có lý hơn ta trong việc ăn thịt gà. 

Bổ như trứng gà

Không có thứ thịt nào đủ chất dinh dưỡng bằng trứng. Trứng gà chứa protein dễ tiêu hóa, đủ các acid amin cần thiết, nhiều vitamine và chất khoáng.

Trứng luộc chín là cách ăn tốt nhất. Có một món trứng bổ gọi là “sữa gà mái”. Cách làm như sau: đập 1 - 2 quả trứng gà thật tươi vào một ly lớn, đánh tan đều với ít đường hay mật ong, rồi chế 200ml nước đang sôi vào khuấy đều, ta sẽ có ly trắng đục như sữa nên gọi là sữa gà mái, người lớn tuổi dùng cho bữa điểm tâm.

Đàn ông dùng “sữa gà mái” là món bổ thận tráng dương. Lòng trắng trứng gà chứa nhiều protein, vì thế các vận động viên thể hình được khuyên ăn  (VĐV Eddie Robinson ăn từ 27 - 34 lòng trắng/ngày).

Dinh dưỡng của trứng có trống và không trống không có gì khác biệt. Tuy nhiên, trứng gà lộn (đã ấp chừng 1 tuần) tức là đã thành phôi thì bổ hơn trứng không có trống. Trẻ nhỏ dưới 3 tuổi không nên cho ăn nhiều trứng, vì lúc đó chức năng gan chưa hoàn chỉnh nên có thể bị dị ứng.

Đợt dịch H5N1, nhiều người lo ăn trứng bị lây nhiễm. Thật ra, nếu bạn luộc chín thì loại siêu vi này cũng… ngủm.

Hạp và không hạp

Theo Đông y, thịt gà vị ngọt, tính ấm, có tác dụng ôn trung ích khí, bổ tinh tủy, thường dùng cho các trường hợp gầy yếu sút cân, suy kiệt, đầy bụng không tiêu, ăn kém, tiêu chảy… Tuy nhiên một số bệnh lại cần kiêng thịt gà:

Người bị thủy đậu cần kiêng thịt gà, đặc biệt là da gà vì có thể gây ngứa ở những nốt thủy đậu và để lại sẹo sau khi khỏi bệnh.

Khi bị sỏi thận nên ăn ít thịt gà vì thịt gà giàu protein sẽ làm lượng oxalat trong nước tiểu tăng lên mà hình thành thêm sỏi.

Người cao huyết áp, rối loạn cholesterol, béo phì không nên ăn da gà (vì nhiều mỡ), không ăn lòng đỏ trứng gà (vì chứa nhiều cholesterol).

Người đang mắc bệnh xơ gan nếu ăn thịt gà (cam ôn) sẽ làm cho tình trạng thấp nhiệt ở gan nặng hơn. 

Thịt gà ăn với lá chanh thái chỉ sẽ rất ngon, thế mới có câu “Con gà cục tác lá chanh”. Bí quyết nằm ở tinh dầu trong lá chanh. Nghiên cứu của các nhà khoa học ở Đại học Ohio (Mỹ) cho thấy tinh dầu chanh có thể kháng khuẩn, tác dụng tốt đến sức khỏe, và mùi thơm dễ chịu đã tạo hứng thú cho thực khách.

Tuy nhiên, có một số thực phẩm không nên hoặc hạn chế dùng chung với gà:

- Không ăn thịt gà chung với lá kinh giới sẽ gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu, táo bón.

- Không trộn nhiều bắp cải vào món gỏi gà sẽ gây “hàn” mà đau bụng, bởi bắp cải vị ngọt, tính hàn, thịt gà vị ngọt, tính ấm. Nếu trong nước trộn lại có nhiều tỏi (đại nhiệt) sẽ gây hàn nhiệt giao tranh làm tổn thương khí huyết. Người nào cơ thể yếu, ăn món gỏi gà xong thường than mệt, ậm ạch trong bụng là vì vậy. Đã bắp cải lại thêm hành tây sống cũng không nên, vì hành sống cũng hàn có thể gây tiêu chảy.

- Kiêng ăn thịt gà với thịt chó vì thịt gà tính cam ôn, thịt chó, gan chó cũng cam ôn đại nhiệt. Ăn phải hai thứ bị nhiệt sinh ra đi kiết. 

- Không ăn gà với muối mè và rau thơm, sẽ sinh ra chứng chóng mặt, run rẩy chân tay. 

- Kiêng ăn gà với cá chép vì thịt gà tính cam ôn, cá chép tính cam hàn, gặp nhau sinh ra nhiệt nên dễ nổi mụn nhọt. 

- Thịt gà kiêng ăn với tôm: Vì cả hai đều thuộc tính ôn, kết hợp với nhau sẽ gây nên hiện tượng động phong - ngứa ngáy khắp người. 

“Chuyện ấy” của gà

Gà trống không có vụ chung tình. Nó có thể đạp mái trung bình 25 - 41 lần/ngày với nhiều con mái. Nếu cách ly gà trống và gà mái, sau đó cho chúng “gặp nhau” thì con trống sẽ “máu lửa” hơn, nó có thể “làm ăn” từ 13 - 29 lần trong 1 giờ khiến con mái kiệt sức . 

Gà mái tuy lang chạ với nhiều gà trống, nhưng nó ưu tiên cho “bạn tình” đầu tiên để nhân giống.

Các nhà khoa học ở Đại học Oxford đứng đầu là Rebecca Dean đã quan sát và thấy rằng: Gà mái nếu không thích “bạn tình” nào, nó sẽ chủ động làm co thắt ống dẫn trứng để đẩy tinh trùng của kẻ đó ra ngoài. Thường 80% số tinh trùng “ngoài ý muốn” sẽ bị đào thải.

Rõ ràng gà mái có quyền lựa chọn “cha” cho thế hệ con, thường chúng chọn những con gà trống đẹp mã, khỏe mạnh và là con đầu đàn chứ không chọn những chú gà trống choai hay những kẻ yếu ớt.

Đây là cách mà các nhà khoa học gọi là “loại cơ hội làm cha của những gã gà trống hiếp dâm”.