Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2019

40-VÔ CÙNG


46-HỌC SUỐT CẢ ĐỜI


HỌC SUỐT CẢ ĐỜI
1.
MẪU GIÁO – Vô tư

Còn thơ loáng miệng thốt tuôn lời
Chạy nhảy ngang phè thỏa thích chơi
Phá quậy bao trò hay đổi mới
Đùa hoang lắm kiểu dễ thay dời
Đùa vui thoải mái không cần đợi
Khóc dỗi tèm lem thật rối bời
Ngúng nguẩy hò reo nào chịu vợi
Đêm ngày ngủ ngáy thích nằm phơi
2.
TIỂU HỌC – Bỡ ngỡ

Học chữ hôm đầu khó quá ơi
Ê a cả buổi mệt nhất đời
Bút chì nguệch ngoạc đường mây khởi
Bảng phấn cong quèo nét bút khơi
Sóng Mẹ ra trường mơ lại với
Cùng Cô đứng lớp mộng thêm cời
Đầy năm tất thảy đều khen ngợi
Mắt liếc tay lùa khắp mọi nơi
3.
TRUNG HỌC – Tinh nghịch

Nhiều năm Trung học trí thêm ngời 
Kiến thức đong đầy tựa biển khơi
Chữ nghĩa tuôn trào ôi tuyệt vợi
Tình yêu chớm nở thật cao vời
Rầm rì dưới hộc vui xoài khới
Rón rén bên bàn nhát bạn lơi
Phượng đỏ bao mùa lưu luyến hỡi
Thầm thương chợt dậy khó quên lời
4.
ĐẠI HỌC – Học đại

Vượt dốc Vũ môn nhớ cả đời
Bao lần sát hạch lắm lần bơi
Văn từ tấp nập hoài lo tới
Vở sách triền miên khó nhọc mời
Lắm món lơ ngơ đành nghẹn khởi
Bao hàng lóng ngóng phải dừng chơi
Vì tương lai cả nên vào xới
Tín chỉ khô rèng phải gắng xơi
6.
TRƯỜNG ĐỜI – Bầm dập

Thường hay vật vã giữa trường đời
Học khó luôn lầm đấy bạn ơi
Chữ nghĩa ngày xưa nào dụng tới
Mưu đồ hiện tại khó mà vơi
Nhiều khi thất bại ê chề hỡi
Lắm lúc buồn đau ngán ngẫm hời
Cứ ngỡ xuôi dòng vinh dự tới
Ai dè nước ngược mãi hoài bơi

HANSY

Kỳ 146 -3 MIỀN VĂN MINH TRẢI DÀI TRÊN 3 MIỀN NƯỚC TA LÀ RẤT ĐẶC BIỆT


CHƯƠNG 10
CHỐNG NAM XÂM
& MỞ CÕI
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Kỳ 146
3 MIỀN VĂN MINH
TRẢI DÀI TRÊN 3 MIỀN NƯỚC TA
LÀ RẤT ĐẶC BIỆT

3 miền nước ta đều có những nền văn minh từ lâu đời. Đây là điều vô cùng đặc biệt vì không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có được những nền văn minh sớm và đa dạng như đất nước chúng ta.

Thời tiền sử, Việt Nam là một trong những ngã tư đường của các luồng di cư. Trên lãnh thổ nước ta đã sớm xuất hiện các cộng đồng người tiền sử thuộc hai đại chủng Mogonloid và Australoid. Người người thuộc hai đại chủng này đã sinh sống trên lãnh thổ nước ta đã có sự hôn phối, hòa huyết với nhau tạo thành những chủng người mới. Do đời sống thời mông muội khá bấp bênh, chọn lọc tự nhiên khá gay gắt nên một số dòng di cư đã bị tuyệt diệt. Một số khác thích nghi được với điều kiện sống, sinh sôi và phát triển.
1.
Văn minh Đông Sơn

Theo huyền sử được chép trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vua Kinh Dương Vương đã lập ra nước Xích Quỷ vào năm 2879 trước công nguyên tức khoảng 5.000 năm trước, là quốc hiệu đầu tiên của người Việt. Trên thực tế thì giai đoạn này hầu hết những vùng trên thế giới vẫn còn sống đời sống mông muội, trừ một vài vùng hiếm hoi ở Bắc Phi và Trung Cận Đông bắt đầu thoát khỏi thời kỳ đồ đá và biết làm nông nghiệp thành thục, biết xây dựng thành phố. Ở nước ta, 5.000 năm trước cư dân vẫn đang trong thời kỳ đồ đá mới.
Đến khoảng 4.000 năm trước, những nền tảng văn minh đầu tiên đã xuất hiện ở miền bắc Việt Nam. Tầng văn hóa Phùng Nguyên mà khảo cổ học khai phá đã cho chúng ta biết rằng những cư dân thời kỳ này đã biết chế tác công cụ bằng đá với độ tinh xảo cao, dựng nhà, làm gốm, đồ trang sức, lưới đánh cá …

Đến giai đoạn khoảng 3.500 năm trước, cư dân tại đồng bằng bắc bộ đã chuyển sang một tầng văn hóa mới được định danh là văn hóa Đồng Đậu. Lúc này, nông nghiệp đã xuất hiện, và người ta đã bắt đầu bước vào thời đại đồ đồng. Nối tiếp thời kỳ văn hóa Đồng Đậu là văn hóa Gò Mun từ khoảng 3.000 năm trước, nông nghiệp trồng lúa nước và kỹ thuật luyện kim đồng đã đạt đến trình độ cao. Năng suất lao động thời bấy giờ tăng cao. Xã hội bắt đầu phân hóa mạnh, các cộng đồng người được tổ chức thành những bộ lạc được chỉ huy bởi những vị thủ lĩnh. Những bộ lạc sinh sống trên vùng bắc bộ chia sẻ ngôn ngữ và nhiều tập quán tương đồng, vừa hợp tác với nhau để chống cải tạo tự nhiên và các thế lực ngoài vùng, vừa có sự cạnh tranh lợi ích với nhau. Để chiến đấu và sinh tồn, các công nghệ mới được áp dụng vào chế tác vũ khí. Cung tên, giáo, rìu chiến … được làm bằng đồng thau trở nên phổ biến.

Sự phát triển của văn hóa Gò Mun đã dẫn đến văn hóa Đông Sơn, một nền văn minh thực sự của tổ tiên người Việt. Thời kỳ Đông Sơn có cột mốc xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, đánh dấu sự phát triển đến đỉnh điểm của thời đại đồ đồng trên miền Bắc Việt Nam, và bắt đầu chuyển sang thời đại đồ sắt. Trên nền tảng xã hội phát triển khá hoàn chỉnh và một nền kinh tế đa dạng bao gồm nông nghiệp, thủ công, ngư nghiệp và hàng hải, nhà nước đầu tiên của người Việt ra đời.

Thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, trên lãnh thổ miền bắc Việt Nam đã định hình hai tộc người chủ yếu là người Âu Việt và người Lạc Việt, đều thuộc chủng Mongoloid phương nam. Người Lạc Việt có 15 bộ lạc gồm Giao Chỉ, Việt Thường, Vũ Ninh, Quân Ninh, Gia Ninh, Ninh Hải, Lục Hải, Thanh Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Hoan, Cửu Đức (theo Việt Sử Lược). Trong số các bộ lạc, Văn Lang là bộ lạc hùng mạnh nhất. Thủ lĩnh của bộ lạc Văn Lang đã được các bộ lạc còn lại tôn làm vua, sử gọi là vua Hùng, lập ra nước Văn Lang. Lãnh thổ nước Văn Lang chủ yếu là vùng đồng bằng, vùng trung du bắc bộ và vùng bắc trung bộ ngày nay. Kinh đô Văn Lang đóng tại Phong Châu (Phú Thọ), cả nước chia làm 15 bộ tương ứng với vùng của 15 bộ lạc trước khi lập quốc.

Cư dân Văn Lang là những người giỏi nghề sông biển, trồng lúa nước và đúc đồng. Ở nơi sông nước, người dân có tục xăm mình để tránh giao long làm hại. Lương thực chính của người Văn Lang là lúa nếp, dùng để nấu xôi và làm bánh. Bên cạnh đó, lúa tẻ và những hoa màu khác cũng là những sản phẩm thường xuyên được sản xuất và tiêu dùng. Trống đồng Đông Sơn là di sản minh chứng cho trình độ phát triển cao của văn minh Đông Sơn. Qua các họa tiết trên trống, chúng ta có thể hiểu về trang phục, lối sinh hoạt hằng ngày, kiến trúc nhà cửa, kiểu dáng thuyền, nếp nghĩ, nếp sống thời xưa. Trống đồng không chỉ được tìm thấy ở miền bắc Việt Nam, mà còn ở những nơi khác tại Đông Nam Á và vùng Hoa Nam. Điều đó chứng tỏ, đã có sự giao thoa về thương mại và văn hóa nhộn nhịp vào thời cổ đại. Về quân sự, người Việt giỏi thủy chiến và sử dụng cung nỏ trong chiến đấu. Mũi tên đồng của người Việt có khả năng xuyên giáp gieo rắc nổi kinh hoàng cho kẻ thù. Khi ra trận, trống đồng được dùng làm hiệu lệnh tiến công, khiến cho tinh thần chiến đấu của các chiến binh dâng cao. Bên cạnh vũ khí bằng đồng, từ giữa thời kỳ Đông Sơn đã xuất hiện vũ khí làm bằng sắt, là công nghệ tối tân thời bấy giờ. Truyền thuyết về Thánh Gióng được nhiều ý kiến đánh giá là một câu chuyện thần thánh hóa sự việc có thật rằng dựa vào vũ khí và áo giáp bằng sắt, người Lạc Việt đã chiến thắng trong cuộc chiến bảo vệ đất nước.

Trong thời kỳ Đông Sơn, bên cạnh sự phát triển mạnh của cộng đồng người Lạc Việt thì người Âu Việt cũng phát triển thế lực ở gần vùng núi phía bắc và đông bắc bộ, ngay bên cạnh lãnh thổ nước Văn Lang. Khoảng gần công nguyên, người Âu Việt cũng đã lập quốc. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư gọi nước của người Âu Việt là nước Thục. Còn theo truyền thuyết của dân Tày, Nùng thì nước này có tên là Nam Chưởng hoặc Nam Cương.

Thậm chí một số nhóm Âu Việt đã sinh sống hòa lẫn với người Lạc Việt trong vùng cai trị của các vua Hùng. Do có sự tương đồng nhất định về nhân chủng, phong tục tập quán nên hai cộng đồng Âu Việt và Lạc Việt chung sống với nhau tương đối hòa bình. Sự xâm lấn của các thế lực từ phương bắc càng thúc đẩy người Âu Việt tiến về phương nam. Năm 257 trước công nguyên, vua của người Âu Việt là Thục Phán nhân lúc vua Hùng nước Văn Lang không phòng bị, kéo quân đánh chiếm Phong Châu, lãnh thổ của nước Văn Lang và Âu Việt được sáp nhập làm một. Sau khi thay thế vua Hùng, Thục Phán thi hành chính sách hòa hợp hai cộng đồng, đặt tên nước là Âu Lạc, xưng là An Dương Vương. Thời kỳ Âu Lạc cũng là thời mà văn minh Đông Sơn đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự.
2.
Văn minh Sa Huỳnh

Trên dải đất miền trung Việt Nam vào khoảng 4.000 năm trước, các cư dân thuộc chủng Malayo-Polynesian (Mã Lai – Nam Đảo) đã sinh sống tràn ngập. Họ đã biết làm nông nghiệp và bắt đầu bước vào thời đại kim khí. Các nhà khảo cổ học gọi thời kỳ này là thời kỳ văn hóa Tiền Sa Huỳnh. Khác với những cư dân vùng bắc Việt Nam cùng thời, những người Tiền Sa Huỳnh luyện đồng với quy mô nhỏ hơn nhiều.

Tuy nhiên, đến giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh vào khoảng 3.000 năm trước đến đầu công nguyên, người Sa Huỳnh đã có bước nhảy vọt về kỹ thuật luyện kim và bước vào kỷ nguyên đồ sắt sớm hơn cả văn minh Đông Sơn. Vũ khí và công cụ bằng sắt trong các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh có tỉ lệ vượt trội so với đồ đồng. Do đặc điểm của vùng đất ven biển với các đồng bằng nhỏ hẹp, người Sa Huỳnh không thể chỉ dựa vào nông nghiệp để sống mà có hoạt động kinh tế dựa trên cả ba nền tảng nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại.

Mặc dù cũng trồng lúa nước như cư dân Đông Sơn, cư dân Sa Huỳnh có lương thực chính là lúa tẻ chứ không phải lúa nếp. Sản phẩm của văn hóa Sa Huỳnh đa dạng, hướng đến nền kinh tế hàng hóa. Riêng về thủ công nghiệp, bên cạnh các sản phẩm đồ gốm, người Sa Huỳnh phát triển nghề luyện thủy tinh và chế tác đá quý thành những đồ trang sức tuyệt đẹp. Những đồ trang sức và thủy tinh của người Sa Huỳnh đã trở thành hàng hóa quý giá, được nhiều nước trong khu vực ưu chuộng.

Cư dân Sa Huỳnh thời cổ đại là tổ tiên của người Chăm, nền văn minh mà họ tạo nên chính là tiền đề cho văn minh Chămpa về sau. Hiện chưa có bằng chứng để khẳng định rằng liệu người Sa Huỳnh đã có thành lập nhà nước như những cư dân Đông Sơn hay chỉ tồn tại những thành bang, bộ lạc nhỏ cùng chia sẻ chung một nền văn minh. Đến đầu công nguyên, cư dân Sa Huỳnh đã có sự phát triển về văn minh ngang ngửa với văn minh Đông Sơn, với sức sản xuất không hề thua kém.
3.
Văn minh Ốc Eo

Tầng văn hóa đầu tiên được khảo cổ học tìm thấy ở vùng Nam bộ là tầng văn hóa Đồng Nai, xuất hiện vào khoảng 4.000 – 3.000 năm trước. Chủ thể của văn hóa Đồng Nai là cư dân thuộc chủng Mã Lai – Đa Đảo. Trên vùng đất Đông Nam Bộ màu mỡ, thiên nhiên trù phú, cư dân văn hóa Đồng Nai chủ yếu sinh sống bằng canh tác nương rẫy, săn bắt và hái lượm. Cũng giống như cư dân Sa Huỳnh, việc khan hiếm mỏ đồng thúc đẩy cư dân văn hóa Đồng Nai sớm phát triển kỹ thuật luyện sắt và tiến vào kỹ nguyên đồ sắt mạnh mẽ.

Các sản phẩm thủ công đặc trưng của văn hóa Đồng Nai là trang sức, đồ thủy tinh. Sự phát triển các nghề thủ công đã góp phần thúc đẩy thương mại và hàng hải. Về cuối giai đoạn văn hóa Đồng Nai, các thành thị ven biển đã hình thành và phát triển. Cho đến khoảng 2.000 năm trước, văn hóa Đồng Nai đã tiếp thu nhiều yếu tố ngoại lai. Cư dân văn hóa Đồng Nai vừa ưa chuộng những chiếc trống đồng du nhập từ Văn Lang, vừa học cách rèn vũ khí theo mẫu của các nước Chiến Quốc Trung Hoa. Đặc biệt là ảnh hưởng từ văn minh Ấn Độ đã chuyển biến văn hóa Đồng Nai sang một tầm cao mới, chính là văn minh Ốc Eo.

Văn minh Ốc Eo là sự nối tiếp, kế thừa của văn hóa Đồng Nai kết hợp với những yếu tố du nhập từ văn minh Ấn Độ. Vào khoảng đầu công nguyên, cư dân Ốc Eo đã lập nên vương quốc Phù Nam với trung tâm nằm tại vùng mà ngày nay là Hà Tiên, Kiên Giang. Phù Nam là một nước có nền kinh tế chuyên về thương mại và hàng hải. Cư dân Phù Nam là những chủ thể đầu tiên khai phá và làm chủ toàn bộ đất đai Nam bộ. Với tiềm lực kinh tế hùng mạnh, họ thiết lập được sự cai trị trên khắp vùng Nam bộ và lấn dần về phía tây, lần lượt kiểm soát đất đai của vùng ngày nay là nước Campuchia.

Đông Sơn, Sa Huỳnh và Ốc Eo là ba nền văn minh Việt Nam thời cổ đại đều đáng để người Việt trân trọng và nghiên cứu, bảo tồn. Trên đây là những nét khái quát về sự hình thành văn minh và một số đặc trưng sơ lược nhất. Để tìm hiểu sâu hơn về việc thịnh suy của các nền văn minh, mời độc giả đón xem những kỳ sau.

Quốc Huy


Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

39-ĐẮNG ĐÓT


45-ĐƯỜNG QUAN LỘC

ĐƯỜNG QUAN LỘC

Thăng đường chóng vánh nhờ quan hệ
Số dách luôn là ngôi hậu duệ
Chẳng có bà con mặc lối lề
Chỉ cần ngọc báu hay tiền tệ
Kẻ sỹ bây giờ gặp lưỡi lê
Thứ bậc cuối cùng cho trí tuệ
Bởi hết họ hàng được bảo kê
Ưu tiên vẫn cứ kêu đồ đệ

Ưu tiên vẫn cứ kêu đồ đệ
Bố thí ngôi quèn cho trí tuệ
Cửa hậu âm thầm gặp ái thê
Lòng kho chất chứa vun tiền tệ
Vàng thơm ngọc sáng thỏa muôn bề
Tuổi trẻ tài cao dùng hậu duệ
Tiếu ngạo trần gian thấy não nề
Thăng đường chóng vánh nhờ quan hệ

HANSY

BÙI GIÁNG YÊU KIM CƯƠNG


BÙI GIÁNG YÊU KIM CƯƠNG
MỘT TÌNH YÊU KỲ DỊ

Thiên hạ kháo nhau về mối tình của tôi và thi sĩ Bùi Giáng. Thậm chí có một nhà thơ diễn tả tình yêu quyết liệt mà không cần hồi đáp bằng một câu chắc nịch: “Anh yêu em như Bùi Giáng yêu Kim Cương”.
Thi sĩ Bùi Giáng đến nhà không hẹn trước, bất chợt, quần áo xốc xếch, gõ cửa đùng đùng. Khi có ở nhà, tôi luôn mở cửa mời ông vào phòng khách uống nước và trò chuyện - Ảnh tư liệu
Đối với ông, tôi nâng niu trong lòng một ân tình sâu thẳm, trang trọng rất riêng dành cho ông.

Tình yêu kỳ dị

Tôi gặp ông lần đầu lúc 19 tuổi, thời còn theo đoàn cải lương của má. Thật ra, ông chú ý đến tôi trong đám cưới của đôi bạn Hạnh - Thùy.

Một hôm Thùy bảo tôi: “Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị”. Tôi trả lời: “Ừ, thì mời ổng tới”.

Hóa ra là ông, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có bất cần đời như sau này. Ông thường lui tới nhà tôi chơi, vài lần mời tôi đi uống cà phê nhưng nhất định phải đi bằng xe đạp do ông chở, chứ không chịu đi bằng bất cứ phương tiện nào khác.

Một hôm ông trịnh trọng cầu hôn tôi. Tôi thấy thái độ của ông không được bình thường nên tôi đều né tránh.

Vài lần sau, ông thở dài nói với tôi: “Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô, vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi”.
Tôi ngần ngừ: “Thưa ông, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính...”.

Tưởng ông nói chơi, ai dè làm thiệt. Ông đùng đùng dắt ngay đứa cháu tới, mà đứa cháu đó chỉ... mới 8 tuổi.

Thời gian qua, thỉnh thoảng ông vẫn ghé thăm tôi. Mặc kệ tôi đang yêu ai, đang thất tình ra sao, thậm chí đang sống chồng vợ với người nào, ông đều không quan tâm.

Lá thư thi sĩ Bùi Giáng gửi Kim Cương
Hồn nhiên, bản năng và vô điều kiện

Trong những lúc ông điên nhất, quên nhất, không còn lưu lại một chút gì trong trí nhớ, cả thơ ca và kiến thức thì tên tôi vẫn được ông gìn giữ. Tên tôi được ông gọi đi gọi lại bất cứ khi vui khi buồn, bất cứ khi hạnh phúc khi đau đớn.

Chưa một lần nào ông sàm sỡ bằng hành động hay lời nói. Xưng hô vẫn cứ tôi và cô một cách nghiêm túc và chững chạc. Một tình cảm xuất phát thật hồn nhiên, bản năng và vô điều kiện.

Trong đầu ông hình như chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất - đó là địa chỉ và số điện thoại nhà của tôi.

Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay làm “chim bay, cò bay” la hét làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu: “Mẫu thân của tôi là Kim Cương, ở số... Hoàng Diệu, điện thoại 844...”.

Thế là công an réo gọi tôi để đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông té bị thương, người ta chở vô bịnh viện, ông cũng chỉ “khai báo” y như vậy.

Bịnh viện lại réo tôi đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, tôi bị người ta gọi điện đến đưa ông về.

Thậm chí có một buổi ông xuất hiện trước nhà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh. Tôi hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu nhưng ông không chịu.

Ông nói: “Chừng nào cô chịu lên xích lô đi với tôi thì tôi mới đi”. Tôi đành phải gọi một chiếc xích lô đi cùng ông, vừa ngồi xe vừa nghe ông nói chuyện trên trời dưới đất không một cảm giác đau đớn nào. Những lúc tỉnh táo, ông nói với tôi: “Cô nhơn hậu lắm cô mới chịu nói chuyện với tôi tới giờ này!”.

Nghệ sĩ KIM CƯƠNG




Ô DÙ


Ô DÙ
Trong Nam kêu ô; ngoài Bắc gọi dù.

Đây là một thứ đồ vật cầm tay dùng để che mưa, che nắng hoặc làm dáng, có cán, thường dài (cao) từ 60 - 80 cm, dùng làm trụ chịu một cái sườn (khung) gồm nhiều nan để đỡ mái dù hình nấm, làm bằng vải hoặc giấy dầu, trơn màu hoặc có hoa văn, có thể xòe ra để che hoặc cụp lại để cầm cho gọn.

Trở lại với thứ dù cũng gọi là ô, xin nói rằng ô Bắc đã đi chung với dù Nam để tạo nên danh ngữ đẳng lập ô dù, một cấu trúc mới xuất hiện trong vài thập niên gần đây để chỉ những tay cấp trên có quyền thế bao che cho cấp dưới lộng quyền làm bậy, làm không đúng quy trình.

Về xuất xứ thì ô là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở từ ghi bằng một chữ Hán mà bên trái là bộ cân [] và bên phải là thanh phù ô [], có âm Hán Việt hiện hành là ổ, có nghĩa là khăn đội đầu. Từ “khăn đội đầu” sang “đồ dùng để che nắng che mưa” là chuyện bình thường trong sự chuyển biến ngữ nghĩa từ nguyên từ (etymon) sang từ phái sinh (derivative - theo nghĩa rộng nhất).

Về nghĩa thì như thế còn về âm thì ta lại có thêm ô trong cửa ô, ô Cầu Dền, ô Đống Mác..., cũng là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [,] mà âm Hán Việt hiện hành là ổ, có nghĩa là hào lũy. Dictionnaire classique de la langue chinoise của F.S.Couvreur giảng là “retranchement”, còn Mathews’ Chinese-English Dictionary thì giảng là “an entrenchement”. Thì cũng là cùng một nghĩa.

Còn dù là âm xưa của chữ du [] du chỉ tản [油紙傘], có nghĩa là ô (làm bằng) giấy (có phết) dầu. Đây là một loại ô thông dụng (chứ không phải hiếm thấy) ở Trung Quốc.

Từ chỗ là một sản phẩm của Trung Quốc, nó đã được truyền bá sang một số nước trong khu vực: Nhật Bản, Triều Tiên, Lào, Thái Lan... Người Khách Gia di cư sang Đài Loan cũng đem theo loại hình ô giấy này.

Ngoài việc dùng để che mưa che nắng, theo truyền thống xưa ở Trung Quốc, đây còn là một vật dụng không thể thiếu trong hôn lễ. Vì vậy tại quê hương của nó thì ô giấy dầu, tức du chỉ tản [油紙傘] là một vật dụng quen thuộc, phổ biến.

Du chỉ tản [油紙傘] cũng nói tắt thành du tản [油傘]. Khi danh ngữ này đi vào VN thì nó dần dần được rút gọn thành dù, để chỉ thứ ô làm bằng giấy dầu của Tàu, rồi dần dần mới mở rộng nghĩa mà chỉ các loại ô nói chung.

Sự rút ngắn này là một hiện tượng bình thường. Từ khô trong khô bò, khô mực, khô nai, khô sặc, khô tra... là hình thức rút ngắn của các danh ngữ thịt khô, cá khô, mà hình thức gốc nay đã ít dùng. Nhưng ta vẫn có thể nghe/thấy nói/viết, chẳng hạn: Khô bò là thịt bò khô.

AN CHI


Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2019

38-LÃNG DU


44-ĐỒI THÔNG HAI MỘ

ĐỒI THÔNG HAI MỘ
[Tích]

Thường nghe chuyện kể kết tâm đồng
Dệt ái ươm tình đượm ngát bông
Lãng tử Gò Công nào có vợ
Nàng quê Đà Lạt vẫn chưa chồng
Thầm yêu chớm nở tào khang mộng
Nguyện ước thơm bừng hiệp cẩn trông
Gió núi mây ngàn thêm quấn quyện
Vành tim rộn rã mải mê lồng

Cùng nhau ngọc nữ sánh văn hài
Xứng ý ưa lòng gái lẫn trai
Dốc lượn đồi cao choàng mộng lớn
Rừng quanh núi thẫm dệt mơ dài
Môi nguyền gởi gắm nào cho đủ
Nụ ước trao chuyền chẳng có sai
Nối tiếp thời gian càng thắm đượm
Ngàn thương vạn nhớ khóe mi cài

Ngày qua mộng ái đẫm ân tình
Khẩn ước chung đời được hiển linh
Cứ ngỡ trời xanh rồi phụ giúp
Dè đâu bố mẹ áp gia hình
Thành hôn rạng rỡ cùng ai đẹp
Kế nghiệp êm đềm với ruộng xinh
Phố núi mờ sương nàng tuyệt vọng
Vừa tin tử trận khép đăng trình

Hồ Than Thở lệ suối xây thành
Kết liễu xong đời một kiếp thanh
Mộ chí hoài thăm buồn bã đọng
Lòng gan nuối gởi thảm thê dành
Nào tin báo tử là sai lạc
Khiến dạ dâng sầu luống tưởi tanh
Trở lại miền xưa chàng tự vẫn
Mồ chôn dựa sát kiểu song hành


HANSY


QUAN PHỤ MẪU


QUAN PHỤ MẪU

Ngày nay, chúng ta vẫn còn được nghe đến cụm từ “Quan phụ mẫu”. Vậy nguồn gốc ra đời và hàm nghĩa, ý nghĩa của Quan phụ mẫu là gì?

Theo sách sử ghi lại, Cao Khải triều nhà Minh trong “Thư bác kê giả sự” đã viết: “Vu khứ hiền sứ quân, viên nhân thất phụ mẫu” (vu cáo hãm hại sứ quân tài đức khiến cho dân chúng mất đi cha mẹ), trong “Thủy Hử truyện. Hồi 24” cũng viết: “Khủng nhật hậu phụ mẫu quan vấn thì…” (e rằng sau này khi quan phụ mẫu hỏi…) . Trong “Trì bắc ngẫu đàm. Đàm dị thất. Tằng tổ phụ mẫu”, Vương Sĩ Trinh triều nhà Thanh cũng viết: “Kim hương quan, xưng châu huyền quan viết phụ mẫu” (Quan châu huyện ngày nay được xưng là cha mẹ). Những lời này đều là nói quan lại địa phương được xưng là quan phụ mẫu.

Điển cố về nguồn gốc của từ “Quan phụ mẫu”

Trong “Hán Thư” ghi rằng: Triệu Tín Thần là người Thọ Xuân, Cửu Giang, thời Tây Hán. Thời Tây Hán Nguyên Đế, khi đang đảm nhận chức vụ quan Thái thú ở Nam Dương, ông đã cho khởi công xây dựng nhiều công trình thủy lợi, giáo dục cảm hóa dân chúng, khuyến khích canh tác nông nghiệp, đề xướng tiết kiệm khiến Nam Dương bấy giờ trở thành quận lớn giàu có và đông đúc. Ông coi dân như con. Người dân Nam Dương vô cùng cảm kích trước đức hạnh và tấm lòng của ông nên gọi ông là cha “Triệu phụ”.

Đến thời Đông Hán Quang Võ Đế, người dân Nam Dương lại nghênh đón một vị Thái thú ân cần chính trực tên là Đỗ Thi. Theo “Hậu Hán thư. Đỗ Thi truyện” ghi lại: Đỗ Thi là người sống giản dị, thi hành các biện pháp chính trị một cách công bằng và thanh liêm. Ông cho giảm bớt lao dịch và thuế má, còn khuyến khích người dân khai hoang canh tác, xây dựng hệ thống thủy lợi, đúc nông cụ… giúp cho năng suất lao động của người dân được nâng cao và hiệu quả hơn. Nhờ vậy, nhà nhà có cơm ăn áo mặc đầy đủ. Thời ấy, dân chúng đều xem ông như “Triệu phụ” thứ hai.

Bởi vì người dân Nam Dương ghi nhớ sâu sắc công lao của Triệu Tín Thần và Đỗ Thi nên đã xây dựng nhà thờ để làm nơi tưởng niệm hai ông. Đồng thời dân chúng đều ca ngợi hai ông là “Trước có Triệu phụ, sau có Đỗ mẫu”. Lúc này, từ “phụ mẫu” (cha mẹ) đã mang hàm ý chỉ quan lại địa phương và cũng là hình thức ban đầu nhất của từ “Quan phụ mẫu”.

Tới thời Tống, quan lại của các châu, huyện bắt đầu được xưng là “Quan phụ mẫu”. Loại xưng hô này được ghi lại trong văn hiến, trong thơ ca và được sử dụng thịnh hành vào thời nhà Minh và Thanh.

“Quan phụ mẫu” là cha mẹ là chỉ người thân cận với dân nhất, làm việc công chính liêm minh, vì dân, che chở và lo cho dân nhất. Nếu không làm được như vậy là đã trái với Thiên ý, khiến lòng dân căm hờn và ắt sẽ bị Trời trừng phạt. Cổ nhân nói: “Mất thiên hạ là bởi vì mất dân. Mất dân là bởi vì mất lòng dân. Được lòng dân thì được thiên hạ. Điều dân muốn thì hãy làm cho đầy đủ, điều dân ghét thì đừng đem đến cho dân”. Đây là bài học được lưu truyền nhiều đời và vẫn còn tác dụng to lớn cho đến ngày nay.

Vậy vì sao thời xưa, quan lại được xưng là “Quan phụ mẫu”?

Văn hóa truyền thống Trung Hoa được xưng là văn hóa Thần truyền (văn hóa do Thần truyền cấp cho nhân loại), hay còn được gọi là nền văn hóa bán Thần (nửa Thần). Cổ nhân cho rằng quyền hành của Vua là thiên bẩm (trời cho). Bậc Đế Vương nhờ Thiên mệnh mà có được thiên hạ, cho nên Đế Vương là con của Thượng Thiên và được xưng là “Thiên tử”. Trong “Bạch hổ thông. Quyển nhất” có viết: “Vương giả phụ thiên mẫu địa, vi thiên chi tử dã”, ý nói Vua có cha mẹ là Trời và Đất, hay cũng được gọi là con của Trời.

Bởi vậy, Thiên tử phải chiểu theo Thiên ý (ý trời) mà làm việc, lấy Đức để cai trị thiên hạ, phải đối xử tốt với dân chúng, yêu dân như con, vui với niềm vui của dân, buồn với nỗi buồn của dân. Ngược lại, người dân phải tôn kính bậc Quân Vương giống như tôn kính cha mẹ mình. Giống như trong “Tả truyện. Tương Công thập tứ niên” viết: “Dưỡng dân như tử, cái chi như thiên, dung chi như địa, dân phụng kì quân, ái chi như phụ mẫu” (nuôi dân như con, che chở dân như trời, dung nạp dân như đất, dân kính trọng Quân Vương, yêu thương như cha mẹ).

Bởi vì Thiên tử giống như cha mẹ của vạn dân nên thiên hạ tự nhiên cũng trở thành một gia đình. Mà lệnh của Thiên tử đến quan lại địa phương là thể hiện ý chỉ của Thiên tử. Cho nên, quan lại địa phương và dân chúng trong địa phương cũng hình thành nên một mối quan hệ cha mẹ, con cái. Loại văn hóa truyền thống này thời xưa là xuyên suốt và dân chúng, quan lại đều tự nhiên hình thành sự ràng buộc như vậy.

An Hòa

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2019

37-NUỐI MÀ CHI


43-MỎI MÒN DUYÊN PHẬN


MỎI MÒN DUYÊN PHẬN
 [Ô Thước]


Trông chờ mỏi dạ giữa mùa ngâu
Quạnh quẽ vành tim héo chực chầu
Kiếp hỡi ơ thờ sao chịu thấu
Duyên à trắc trở khiến buồn lâu
Còn chăng vọng nhớ thề bên giậu
Hoặc đã lờ quên hứa cạnh cầu
Buốt lặng cô phòng đơn lẻ cấu
Ngoài xa lạnh lẽo hoải hoang rầu

Lạnh lẽo trầm mê dã dượi mầu
Trơ lòng buốt dạ não nề sâu
Ân tình thuở đó vàng giai ngẫu
Kỷ niệm giờ đây xám dãi dầu
Để cõi thề xưa lầm lỡ đậu
Nên vùng ái cũ nhạt nhòa bâu
Trời không kết hiệp duyên đành tẩu
Khiến nghẹn ngào tim vỡ mộng đầu

Từ hôm nguyện vỡ nghẹn cau trầu
Ái cảm bây giờ biết dựa đâu
Chẳng nữa thơm ngời khi mộng xấu
Còn thêm tẻ nhạt buổi mơ nhầu
Từng đêm lẻ gối hồn rên nẫu
Mỗi giấc cô phòng dạ úa thâu
Chát mặn hoen lòng đau khổ giấu
Càng tăng nhão nhoẹt trái tim sầu

HANSY

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2019

42-KẾT NGHĨA KIM BẰNG


KẾT NGHĨA KIM BẰNG

Cùng nhau kết nghĩa dệt kim bằng
Gọt tứ trau lời dụng khả năng
Khúc vũ hồng nhan dành biếu tặng
Làn ca lãng tử mở hoan đằng
Mầm thương trải khắp dìu chân cẳng
Lọn nhớ du cùng bỡn gió trăng
Túi rượu bầu thơ vờn lủng lẳng
Nhằm khi túy lúy ghẹo Nga Hằng

Thơ Đường mãi đẹp dẫu trầm thăng
Ý tứ ngời trong phả vặc vằng
Cũng ước tung lời lên thượng đẳng
May nhờ chọn chữ cận toàn năng
Từ trong góc thẳm tình yên lặng
Đến giữa đài cao trí vĩnh hằng
Dẫu ngọt hay là xen mật đắng
Tâm hồn vút tỏa ngọn bằng lăng

HANSY

36-TRONG VEO


41-CHIỀU SƯƠNG VỌNG NHỚ


CHIỀU SƯƠNG VỌNG NHỚ
 [Áp cú]


Chiều sương kỷ niệm nhớ thiên kiều
Kiều nữ mơ màng trỗi khúc tiêu
Tiêu nhạc ngời loang dào dạt chiếu
Chiếu chăn vút quyện mẩn mê liều
Liều dâng khúc mộng nào lo xiếu
Xiếu ngã thơ tình mãi ước phiêu
Phiêu bổng hương trầm theo vũ điệu
Người ơi rộn rã biết bao chiều

Chiều hôm nhấp nhỏm chỉ thích liều
Liều ghẹo tim người hẹn cõi phiêu 
Phiêu bạt nẻo tình mơ lắm kiểu
Kiểu loang khúc ái mộng bao kiều
Kiều nương rạng rỡ mơn làn điệu
Điệu vũ tưng bừng vọng tiếng tiêu
Tiêu điểm ân nguyền thơm ngọt chiếu
Chiếu gon nũng nịu đắm yêu chiều

Chiều nay dạ bỗng nuối hương kiều
Kiều hỡi đâu rồi khúc diễm tiêu
Tiêu nguyệt hôm nào nay đã xiếu
Xiếu tim thuở ấy cũng tan liều
Liều mơ phối ngẫu giờ lu chiếu
Chiếu mộng hoan tình thảy bạt phiêu
Phiêu dạt tim lòng ai có hiểu
Hiểu cho nỗi nhớ giữa sương chiều

HANSY

HOÀNH PHI, CÂU ĐỐI BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ: HỒN TRƯƠNG BA – DA HÀNG THỊT


HOÀNH PHI, CÂU ĐỐI BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ:
HỒN TRƯƠNG BA – DA HÀNG THỊT

Bài viết này không có tính chất học thuật chuyên sâu, để tưởng nhớ giáo sư Cao Xuân Hạo - người thầy mà tôi không có cơ hội được học.

Các bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng tại chùa Bổ Đà Bắc Giang.
Đây chỉ là những suy nghĩ cá nhân về một vấn đề đang được tranh luận hiện nay trong nước, mặc dù việc thực hiện thì đã xảy ra từ lâu. Đó là việc thay chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ trong các hoành phi, câu đối ở các di tích, công trình lịch sử tôn giáo.

Ở các nước Á đông trong những thế kỷ trước, chữ Hán có vai trò gần như tiếng Anh hiện nay trên thế giới, như một lingua franca, một ngôn ngữ giao tiếp giữa những người nói các thứ tiếng khác nhau, có khác chăng là hiện nay ta nói tiếng Anh, còn ngày xưa người ta bút đàm, tức là giao tiếp bằng cách viết chữ Hán với nhau. Từ đầu những năm đầu thế kỷ hai mươi, cụ Phan Bội Châu chu du sang Nhật mà không biết tiếng Nhật, cụ chỉ bút đàm. Hiện nay, bút đàm đôi khi vẫn còn sử dụng. Một giáo sư người Nhật kể lại chuyện gọi món ăn trong một chuyến du lịch Trung Hoa. Ông ấy đặt món bằng tiếng Anh, nên anh hầu bàn không hiểu, cho rằng vị khách này là người Trung Hoa, nhưng nói một thổ âm khác, anh ta liền chạy vào bếp kéo ra một người nói thổ âm khác anh ta, người ấy cũng không hiểu. Cuối cùng, thực khách vừa bút đàm vừa nói bằng tay với người phục vụ.

Cần phân biệt tiếng Hoa và chữ Hán. Trên đất nước Trung Hoa rộng lớn ngày nay, những người nói tiếng Hoa, phương ngữ Bắc Kinh và các vùng lân cận, và những người nói các phương ngữ khác ở các vùng khác như Quảng đông, Triều châu... mặc dù không hiểu nhau nhưng đều sử dụng chữ Hán để viết và đọc, giống như người Việt dùng chữ Hán. Như vậy trong chừng mực nào đó thì chữ Hán có vai trò gần như tiếng Anh,một lingua franca, trung tính về mặt văn hóa và chính trị, người Singapore, người Ấn độ... nói  tiếng Anh, mà không hề chịu ảnh hưởng của nước Anh, và người Nhật, người Hàn, dùng chữ Hán để viết bên cạnh chữ viết riêng của họ, mà không đoái hoài gì đến văn hóa chính trị của nước Trung Hoa hiện đại. Nhưng tiếng Hoa thì khác, tiếng Hoa qua các viện Khổng Tử trên thế giới đang bị giới trí thức ở các nước ấy e dè vì thế lực đằng sau, nhà nước Trung Hoa, không hề vô tư trong việc quảng bá tiếng Hoa. Một quốc gia dám ngang nhiên tự vẽ lại bản đồ quốc gia thì không việc gì không dám làm. Họ cẩn trọng như thế là đúng.

Tôi không biết chắc chắn vai trò tiếng Hoa ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai như thế nào, nhưng trong quá khứ chữ Hán và biến thể của chữ Hán, chữ Hán Nôm là phương tiện duy nhất lưu giữ kho tàng tri thức của cha ông, vì vậy cần phải hết sức cẩn trọng trong các vấn đề liên quan đến văn bản Hán và Hán Nôm. Tuy nhiên, để hiểu cha ông chúng ta cần học chữ Hán Nôm, chứ không phải tiếng Hoa. Một người giỏi tiếng Hoa chưa chắc đã giỏi chữ Hán, và tiếng Hoa chưa hề và không bao giờ là một lingua franca trên thế giới, căn cứ trên những đóng góp về khoa học, nghệ thuật, văn chương, giáo dục, triết học... của cộng đồng dùng tiếng Hoa ta có thể đoan quyết như vậy. 

Cách đây không lâu, tôi có dịp đi cùng với một đoàn giáo viên nước ngoài trong đó có một giáo viên người Úc dạy sử tham quan Đại nội, Huế. Là người địa phương, tôi ngẫu nhiên trở thành một hướng dẫn viên du lịch. Với kiến thức chừng mực của một hướng dẫn viên du lịch bất đắc dĩ tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát, không đi sâu vào chi tiết, ví dụ chỉ nói là các bản văn khắc gỗ gắn trên tường bằng chữ Hán là các bài thơ của vua, gọi là Ngự chế trong tiếng Việt, còn nội dung thì tôi thú thật là không biết, vì tôi mù chữ Hán. May thay, bà giáo viên người Úc đã thay tôi dịch các văn bản chữ Hán sang tiếng Anh, và tôi học được thêm nhiều điều mà sách vở không thấy nói đến, chẳng hạn ý nghĩa đồ hình các ngôi sao trên các tác phẩm đúc đồng.

Xấu hổ vì không đọc được chữ nghĩa của cha ông,sau buổi tham quan đó, tôi hạ quyết tâm học chữ Hán. Dĩ nhiên là tự học, vì không có thời gian đếncác lớp dạy Hán Nôm. Cho đến nay, vốn liếng chữ Hán của tôi chỉ đủ để đọc lỏm bỏmvài chữ, dự án xóa mù Hán Nôm của tôi xem như không thành công. Tuy nhiên, có một kinh nghiệm làm tôi bớt áy náy về sự thất bại của dự án. Trong một lần đi chợ trời ở Mỹ, tôi mua được một cái chai đựng trà bằng sứ, làm ở Hà Lan, điều thú vị là trên chai có khắc một bài thơ chữ Hán. Tôi nhờ một anh bạn, người Hoa, mới sang Mỹ làm nghiên cứu sinh tiến sĩ về ngôn ngữ học, đọc và giải thích. Tôi rất ngạc nhiên khi anh ta cho biết cómột số từ viết theo lối cổ nên anh ta không đọc được, và vì thế anh ta không chắc là hiểu hết ý nghĩa của bài thơ. Một người Hoa có trình độ học vấn như anh ta mà còn gặp khó khăn với chữ Hán, mới thấy quả như người xưa nói, bể học mênh mông.

Việc thay các hoành phi câu đối bằng chữ Hán sang chữ Quốc ngữ ở các công trình tôn giáo, văn hóa, lịch sử như đền chùa, lăng tẩm...  là một việc làm thiếu suy nghĩ, không nói đến chuyện tốn kém vô ích, nhìn từ góc độ văn hóa - lịch sử thì việc làm này hoàn toàn sai trái, có nguy cơ một lần nữa chặt đứt dòng mạch văn hoá, lịch sử của dân tộc.

Xét về hình thức, đặt chữ Quốc ngữ vào cái khung hoành phi thì cũng gần như thiết kế một bộ trang phục có cà vạt, áo vét, khăn đóng, guốc mộc, và khố. Đơn giản là vì chúng không tương thích với nhau về nguồn cội, cách thức vận hành và chức năng: Chữ Quốc ngữ là một sản phẩm hoàn toàn của phương Tây, còn hoành phi, câu đối lại thuộc về văn hóa Á đông, ta có thể gặp chữ Quốc ngữ khắp nơi, nhà hàng, cửa hiệu, công sở, nhưng hoành phi câu đối thì chỉ có ở nhưng nơi có tính văn hóa, tôn giáo... tôn nghiêm, và nội dung cũng khác, một bên dùng để xiển dương cái đẹp cái hay, còn bên kia thì bất chấp nội dung. Hồn Trương Ba da hàng thịt, từ lai căng trong trường hợp này là chính xác. Còn nói đến ý nghĩa lịch sử - khảo cổ, thì việc thay thế ấy là hoàn toàn phá hoại, không có quốc gia văn minh nào ứng xử như vậy với di tích, với các công trình có tính văn hóa lịch sử.

Nhìn sang hai quốc gia có gốc gác văn hóa Á đông nhưng lại tiếp thu văn minh phương Tây một cách thành công là Hàn quốc và Nhật bản, ta thấy họ vẫn sử dụng chữ Hán, mặc dù đã có chữ viết riêng, thậm chí họ còn mời giáo viên người Trung Hoa sang dạy chữ Hán, xin nhớ là họ không cần viện Khổng tử dạy tiếng Hoa. Chữ Hán trong các công trình lịch sử của họ vẫn được trân quí, vì chữ Hán chỉ là phương tiện, cái được phương tiện đó diễn đạt, lưu giữ mới quan trọng. Xóa chữ Hán là xóa luôn kinh nghiệm sống, tâm hồn và trí tuệ của cha ông.

Có người lập luận là dùng chữ Quốc ngữ để cho người thời nay hiểu. Thật ra, điều này chỉ đúng chưa được một nửa. Ví dụ, ta thay bức hoành phi chữ Hán 眞如bằngmột bức hoành phi chữ quốc ngữ chân như, liệu người đọc có hiểu không, thậm chí khi được diễn dịch chưa chắc người đọc đã hiểu nếu không có kiến thức Phật học (theo từ điển Thiều Chửu thì chân như có nghĩa là nguyên lai, viên mãn thanh tịnh, không phải mượn bên ngoài vào). Đa số các văn bản chữ Hán, hay Hán Nôm còn lại ở Việt Nam thuộc về tôn giáo, triết học, văn hoá lịch sử mà ngôn ngữ uyên áo tịch mật của tôn giáo và triết học thì không phải ai đọc được cũng hiểu được; văn hóa lịch sử cũng vậy, có bao nhiêu là bất đồng về cách hiểu của một văn bản khi bối cảnh của văn bản đang còn chưa rõ ràng.

Nếu để giúp người đọc thời nay hiểu thì tốt nhất là nên có bản dịch trên một tấm bia nhỏ dựng bên cạnh bản gốc chữ Hán hay Hán Nôm, tương tự như cách thức các quốc gia khác thường làm để phục vụ du khách, ví dụ như bản tiếng Anh bên cạnh một bản văn khắc trên đá bằng tiếng Pháp trong một lâu đài ở Pháp. Việc làm này bảo đảm không bị thất thoát vì dịch thuật, vì nếu bản chữ Quốc ngữ dịch không đúng với tinh thần của bản chữ Hán thì còn có bàn gốc bên cạnh để đối chiếu. Các nhà nghiên cứu dịch thuật đã từng căn dặn, coi chừng, dịch là diệt, dịch là phản. Có ai muốn vì vô tình mà đã phản hay đã diệt di ngôn của cha ông hay không?

Lịch sử đã sang trang, chữ Hán ở nước ta đã mai một cùng với các ông đồ, nhìn lại hai nước trong khu vực văn hóa Hán, Hàn Quốc và Nhật Bản, ta nên tự hỏi liệu việc duy trì chữ Hán có đóng góp gì cho thành công vượt trội của họ hay không, khi chữ Hán là chiếc cầu nối giúp họ trở về với túi khôn của cha ông, chứ không phải là một gánh nặng các con chữ, học để thi như ngày xưa.

Trần Thuần
(Đại học Postdam, Đức)