Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

190-ĐÓA NGỌC LAN


TIẾNG VIỆT VỠ NÁT


TIẾNG VIỆT VỠ NÁT

Trên báo Văn nghệ số 34, ra ngày 24/8/2019 có bài “Vọng ngoại – Một tư tưởng nô lệ về văn hóa” của tác giả Trần Bảo Hưng phê phán một số trường hợp nói, viết và sử dụng sai từ đang phổ biến hiện nay trong xã hội, tôi xin được có đôi điều trao đổi, bàn lại và bàn thêm. Nhìn chung tôi đồng ý với tác giả bài viết, nhưng thật ra có những cái đã bị phê phán từ rất lâu rồi nhưng … Và cũng có cái tôi không đồng ý.
*
Đầu tiên là cấu trúc làm bởi ai. Nhớ nhiều chục năm trước ông Cao Xuân Hạo đã từng lên tiếng, có điều khi đó cách viết nầy chưa phổ biến lắm, nhưng đôi năm trở lại đây thì nở rộ, không chỉ ở các trang mạng lá cải, tay mơ viết mà có cả ở các trang mạng nghiêm túc, bài do những bậc khoa bảng (trong và ngoài nước) viết. Thật ra đây không phải là vọng ngoại mà (gọi cho đúng tên) là dốt tiếng Việt. Người ta cứ thấy cấu trúc trong tiếng Anh “be do something by someone” là dịch ngay là “làm bởi ai” mà không thấy là tiếng Việt không có cấu trúc bị động.

Thử hỏi trong sinh hoạt hằng ngày có ai nói “Con chuột bị ăn bởi con mèo”? Hay ai ai cũng nói “Con mèo ăn con chuột”? Tức chủ ngữ (ngữ pháp) tiếng Việt cũng phải là chủ thể của hành động (ngữ nghĩa). Cấu trúc bị động có trong các ngôn ngữ Ấn-Âu, ai biết tiếng Anh, Nga, Pháp thì thấy rất rõ điều nầy. Cứ thấy người Anh nói, viết có “by” là liền phun ra “bởi” mà không thèm để ý tới “by” trong cấu trúc nầy người Anh muốn chỉ chủ thể hành động không là chủ ngữ của câu (trong tiếng Pháp thì có từ par, tiếng Nga thì danh từ ở cách Năm). Từ “bởi” trong tiếng Việt dùng để chỉ nguyên nhân, xin mời xem Từ điển tiếng Việt (nxb KHXH, 1988, Hoàng Phê chủ biên, tr 102) giải thích nghĩa từ bởi ra sao:

“Bởi”: k. 1 (thường dùng trước một cấu trúc chủ ngữ-vị ngữ) (chữ viết đậm là do người dẫn nhấn mạnhtừ biểu thị điều sắp nêu ra là lý do hoặc nguyên nhân của một việc được nói đến; vì). bởi anh chăm việc canh nông, cho nên mới có bồ trong bịch ngoài (cd.). 2 Từ biểu thị điều sắp nêu ra là người hay vật gây ra trạnh thái đã nói đến. Bị trói buộc bởi tập quán cũ. Trăng lu vì bởi đám mây… (cd.).

Thật ra trong các từ đển Anh-Việt từ by còn có nghĩa là của.

Ví dụ: inspected by xyz phải dịch là kiểm định của xyz chứ không dịch là kiểm định bởi xyz.

“By” còn có nghĩa là bằng. Ví dụ: made by iron nghĩa là làm bằng sắt chứ không là làm bởi sắt.

Hãy thử so sánh thì sẽ thấy cách dùng khác nhau của từ “by” với từ “bởi”:
1. 
BY trong tiếng Anh luôn liền sau nó là một danh từ hay một cụm danh từ/danh ngữ (danh từ và tính từ có chức năng tính ngữ) chỉ chủ thể hành động. PAR trong tiếng Pháp cũng y vậy.
2. 
BỊ/ĐƯỢC/BỞI trong tiếng Việt luôn liền sau nó là một cụm Chủ-Vị.

Để rõ hơn về Bị, được, bởi tôi xin trích một đoạn của ông Cao Xuân Hạo hết sức thú vị như sau: “Động từ “được” đặt trước một động từ khác diễn đạt các ý nghĩa nói rằng đó là một mối lợi mà chủ thể được nhận (un avantage reçu) hay một kết quả may mắn mà chủ thể thu được (un heureux résultat obtenu):

- Người ấy được khen.
- Tôi được đi xem hát.

Ba động từ “bị”, “mắc”, “phải” đặt trước một vị từ khác diễn đạt cái ý nói rằng đó là một sự bất lợi mà chủ thể phải chịu (un désavantage subi):

- Người kia bị đánh.
- Nó phải phạt.
- Anh ấy mắc lừa.

Ở đây, các từ được, bị, mắc, phải được coi là động từ (verbe) bình thường (chứ không phải trợ từ – auxiliaires) và ba tác giả tuyệt nhiên không nhắc đến thái bị động (voix passive)”.

(Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt (nxb Trẻ, 2001), Nhân đọc lại một cuốn sách cũ, trang 44).

Cách nói, viết dịch sai này hiện lan tràn tới khó chịu và đáng xấu hổ, thậm chí xuất hiện trên cả các đài truyền hình trung ương lẫn địa phương. Hôm nay mà ông Cao Xuân Hạo sống dậy, không biết ông có còn than tiếng Việt què quặt, dị dạng nữa hay một từ nào thê thảm hơn để diễn tả?
*
Về cách viết tắt có chữ K, tôi có phần chấp nhận. Chữ K du nhập vào tiếng Việt có lẽ bắt nguồn từ sự cố máy tính Y2K hồi cuối thập niên 1990. K là viết tắt chữ kilo trong các thứ tiếng Anh, Pháp, v.v. có nghĩa là một ngàn, và K được dùng như một ký hiệu. Nếu như là một ký hiệu thì ta chấp nhận được như các ký hiệu đã quen bấy lâu như kg, km, l, v.v. đã du nhập vào tiếng Việt và đã được Việt hóa; vả lại ngôn ngữ có tính tiết kiệm. Cái sai ở đây là 2K nghĩa là 2.000 đồng, tức thiếu mất chữ đồng, vậy nên nói hay viết 2K là nói cụt, vô nghĩa. Tức cũng là dốt.
*
Về những cái tên MobilFone, VinaFone, v.v. tôi cũng có cái nhìn khác. Thật ra đây chỉ là những cái tên tắt. Một doanh nghiệp có thể có một cái tên đầy đủ cùng một cái tên tắt đễ dễ tạo thành thương hiệu, tiện trong quảng cáo, làm logo, v.v. thường thấy trên thế giới. có điều người ta khéo hơn mình. Ví dụ Hàn có Hyundai, mà Huynday là phiên âm Latinh của âm Hán- Cao Ly có nghĩa Hiện đại. Pháp có France Telecom viết tắt từ société française de télécommunications (Công ty Viễn thông Pháp). Tại miền Nam trước năm 1975 cũng có nhiều công ty tạo tên tắt như vậy: Vicasa (Việt Nam cán sắt, nay là CT CP thép Biên Hòa), Vissan (Việt Nam kỹ nghệ súc sản, nay cũng vậy, nhưng thêm Cổ phần).

Tôi không quá khắt khe, nhưng hãy coi chừng: Viettel bị đọc, nói là Việt Teo! Học đòi ở đây tệ nhất là các cơ quan nhà nước. Ủy ban Nhân dân Phường mà cũng dịch ra tiếng Anh làm gì, hội nhập với thế giới phẳng, toàn cầu hóa chăng? Có anh Tây nào cần biết tới Ủy ban Nhân dân Phường khi tới Việt Nam chơi hay làm việc? Mà liệu các anh Tây vào thì lấy đâu ra nhân viên biết tiếng Tây tiếng U đặng giao dịch? Cao lắm là phun ra mỗi tiếng Hế lô (thay vì Hê Lốô cho đúng trọng âm, ngữ điệu tiếng Anh).
*
Một cái học đòi- dốt tiếp là “xuống cấp”

Có xuống cấp hay không? Hơn mười năm nay các tổ chức nhà nước, truyền thông giới trí thức và bàn dân rất hay nghe mấy cụm từ văn hóa xuống cấp, giáo dục xuống cấp, đạo đức xuống cấp, nhà xuống cấp, v.v. nghe sau thấy khó hiểu quá.
Để dễ hình dung, trước tiên ta thử tìm hiểu cái sự phân cấp nhà. Theo các văn bản luật và pháp quy ban hành và hiện hành thì nhà có bốn cấp: biệt thự thuộc cấp I, nhà kiên cố thì cấp II, nhà bán kiên cố thì cấp III, nhà với vật liệu tạm bợ thì cấp IV. Vậy có hay chăng, một cái biệt thự sau vài chục năm bỏ hoang sắp sụp đổ thì thành nhà cấp IV (nhà tranh vách đất) chứ không còn thuộc cấp I  biệt thự? Lại phì cười văng nước miếng!

Trong Nhiệt đới buồn (Tristes Tropiques), Claude Lévi-Strauss nói rõ là ông không quan niệm thứ văn hóa cao với thấp mà chỉ có các loại hình văn hóa khác nhau. Để cụ thể ông đưa ra một sự so sánh: dân thành phố New York tự hào mình là người văn minh, thuộc nền văn hóa bậc cao nhưng lại tàn phá thiên nhiên; còn thổ dân vùng Amazon còn sống đời hoang dã lại sống cùng và bảo vệ thiên nhiên! Vậy, Lévi-Strauss đặt câu hỏi, ai văn minh hơn ai, ai thuộc nền văn hóa cao hơn? Mà cũng không cần nhìn qua trời Tây, xứ ta cũng có người cùng thời với Lévi-Strauss hỏi tương tự, đó là bác sỹ Nguyễn Cảnh Chi. Khi đó ông, theo lời của ông Nguyên Ngọc, khi đi điền dã cao nguyên trung phần, vị bác sỹ nầy nhận xét: trong khi người sắc tộc ở đó cũng nhiều chí, rận như người Việt và họ cũng ngồi bắt chí, rận cho nhau. Cái điều khác là người sắc tộc thì dùng hai móng tay ép cho chí, rận cho chết chứ không đưa lên miệng cắn cái bép như người Việt! Và ông đặt câu hỏi: ai biết vệ sinh hơn ai?
*
Rồi Văn hóa hay không là văn hóa? Do, như được biết, hiện có đâu độ 300 định nghĩa khác nhau, tôi không chép ra đây một loạt định nghĩa của riêng học giả nào, tôi xin nêu cách mình quan niệm của mình từ sự học của bản thân. Văn hóa là từ gốc Nhât- Hán- Việt, do là khi người Nhật tiếp xúc với phương Tây rồi dịch các sách Tây cho dân mình học, họ đã dịch từ “culture” ra tiếng Nhật bằng cách dùng các gốc từ Hán mà cấu tạo từ mới Văn hóa, người Hán và người Việt cứ theo đó mà đem vào tiếng mình, thậm chí các từ văn hóa, giai cấp, công sản, v.v được Trung Quốc xem là từ ngoại lai dù được viết bằng chữ Hán. Truy nguyên này được nhiều tác giả đề cập. Do vậy, theo thiển ý tôi, để xác định nội hàm của từ văn hóa, ta phải nhìn lại xem từ “culture” trong tiếng Anh là gì, ví dụ:

LiveScience: Culture is the characteristics and knowledge of a particular group of people, encompassing language, religion, cuisine, social habits, music and arts. Văn hóa là một nhóm các đặc trưng và kiến thức của một nhóm người cụ thể, bao gồm ngôn ngữ, tín ngưỡng, ẩm thực, tập quán xã hội, âm nhạc và nghệ thuật).

Cambridge dictionairy: the way of life, especially the general customs and beliefs, of a particular group of people at a particular time (cách sống, đặc biệt là phong tục và niềm tin chung, của một nhóm người cụ thể tại một thời điểm cụ thể).

Và đặc biệt là Tuyên bố chung của UNESCO về đa dạng văn hóa năm 2002 với định nghĩa: “Reaffirming that culture should be regarded as the set of distinctive spiritual, material, intellectual and emotional features of society or a social group, and that it encompasses, in addition to art and literature, lifestyles, ways of living together, value systems, traditions and beliefs”. (Tái xác nhận rằng văn hóa phải được xem là tập hợp các đặc trưng diện mạo về tâm hồn, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, và rằng nó bao gồm cả nghệ thuật và văn học, lối sống, cách chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và niềm tin).

Cái chung nhất của các định nghĩa nầy thì (1) văn hóa luôn là một tập hợp các giá trị của một cộng đồng, (2) văn hóa không riêng chỉ những gì hay, gì tốt, gì đẹp mà phải bao hàm cả xấu, dở, tệ! Vậy nhưng, không hiểu sao từ độ sau năm 1975 người Sài Gòn lại nghe mấy thứ “vô văn hóa”, “mất văn hóa”, “trình độ văn hóa”; độ mươi năm trở lại đây lại nghe thêm “văn hóa giao thông”, “văn hóa công sở”, thậm chí “văn hóa phong bì” mà phì cười văng nước miếng! Vậy thì đã có văn hóa tất phải có phi văn hóa = phản văn hóa (theo kiểu vật chất với phản vật chất hay hạt với phản hạt vậy), nghĩa là làm gì có chuyện vô với mất ở đây? Sao không dịch “reading culture” là thói quen đọc sách, ví dụ vậy, dịch là văn hóa đọc sách nó mới sang chăng? Từ “culture” trong tiếng Anh còn có một nghĩa khác (thứ hai) là thói quen kia mà!

Riêng tôi thích nhất là một câu của bậc trí giả nào đó (M. Goorki?) mà nay không còn nhớ, đại ý văn hóa là thế giới thứ hai do con người tạo nên bên cạnh nhiên giới. Còn nhớ xưa kia bà nội tôi có lần chửi ai đó “thằng cha, con gái mẹ mầy không biết dạy mầy, đồ mất dạy!” chứ bà không hô là vô hay mất văn hóa chi cả. Hóa ra một bà già mấy lần học bình dân học vụ mà mỗi lần đọc truyện Tàu cứ phải đánh vần to tiếng mà rành tiếng Việt hơn các nhà khoa bảng thời “ra ngõ gặp tiến sỹ”!
Cuối cùng, xin chớ xé vụn văn hóa ra thành nhiều mảnh mà thật ra đó chỉ là những thành tố cấu thành văn hóa mà thôi!
*
Bàn về các lỗi trong nói, viết tiếng Việt hiện nay thì nhiều vô thiên lủng, viết cả chục bài cũng chưa hết. Mà có ai nghe ra chăng? Hay lại cho rằng nhiều chuyện, rằng rảnh quá, rằng rách việc? Không nói ra thì tức, tiếc, bực và buồn quá. Từ lâu rồi tôi không xem truyền hình nữa, đọc báo thì chỉ đôi tờ. Tại sao? Tôi lười, tôi không có thời gian, hay…? Không, tôi kinh sợ phải nghe hay đọc cái thứ tiếng Việt, chữ Việt vỡ nát ấy…

TQ NAM

133-MAN MÁC TIM LÒNG


133
MAN MÁC TIM LÒNG
[Ngũ độ]

Luyến cảm bây giờ lạc quãng đâu
Mà nghe khắc khoải giữa hoang màu
Tình ơi có hiểu lòng thương lậm
Mộng hỡi sao mà ái chẳng sâu
Nếu nợ duyên này không thỏa mãn
Thì trăng ước nọ phải u sầu
Làm cho mỗi đứa hờn thêm nặng
Khiến nẻo tâm hồn quạnh quẽ ngâu

Khiến nẻo tâm hồn quạnh quẽ ngâu
Làn tim ủ dột quánh mi sầu
Ngày nao ước thệ cùng nhau mãi
Buổi ấy chia lìa biệt nẻo sâu
Cứ ngỡ ngàn năm bừng hảo mộng
Nào hay mấy nhịp đã phai màu
Từng đêm quá vãng về chao dạ
Dõi mắt nhưng nào kỷ niệm đâu
*
HANSY

THU BIỆT

Giã biệt thu vàng đến ngả đâu
Hàng me vạt nắng đã loang màu
Đường xa bụi bẩn lem tà trắng
Bóng nhỏ sương mờ lịm ngõ sâu
Ở giữa dòng tương nhiều lạnh giá
Nhìn trong cõi tạm lắm âu sầu
Mưa tầm tã ngợp trời thương nhớ
Chức nữ đau lòng đổ lệ ngâu

Chức nữ đau lòng đổ lệ ngâu
Vành khăn ướt đẫm chỉ thêm sầu
Thà không gặp gỡ tình vương thắm
Đã chẳng chia lìa ái ngập sâu
Bởi nghĩa ngàn năm nào nhạt sắc
Vì duyên vạn kiếp chẳng phai màu
Cầu Ô Thước kẻ mong người đợi
Viễn cảnh đôi mình đến được đâu... ?

Minh Hien

NGỠ NGÀNG DUYÊN PHẬN



NGỠ NGÀNG DUYÊN PHẬN

Ta vẫn mãi hoài nhủ lòng mong ngóng
Ủ ấp chan khát vọng có Em về
Ngày hạnh ngộ mắt môi dậy tình mê
Thương biết mấy tràn trề hương kỷ niệm.

Em xa đó có còn hồng môi miệng
Còn nhớ không câu chuyện thuở hẹn hò
Ta chốn này nghe lòng chạnh bơ vơ
Ngút ngàn rồi vần thơ chim sáo nhỏ...

Đã xa mù biết người xưa có nhớ
Mà đợi chờ ngóng trở một bàn chân
Đời vụt qua hết một kiếp dương trần
Bước trở lại, tình không còn như trước.

Nếu biết vậy, khi xưa đừng sóng bước
Giờ chỉ còn in vệt xước lòng đau
Thôi nhé người, đừng hẹn đến kiếp sau
Vì bội bạc di truyền trong máu thịt…

HANSY

ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ


ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ

Cuộc thế như là áng bạch vân
Thường hay chuyển đổi biết bao lần
Người lo chẳng ướp tròn duyên phận
Kẻ ước luôn tìm vẹn nghĩa ân
Thỏa mãn an bình đâu mấy bận
Hồ nghi khốn khổ lại muôn phần
Trong lòng bởi vậy chuyên cầu khấn
Sảng khoái linh hồn được mãi ngân

Sảng khoái linh hồn được mãi ngân
Vầng trăng hạnh phúc trỗi loang dần
Bình yên thể xác tình thơm đượm
Ổn định tim lòng dạ vững cân
Nhặt góp hiền tâm hòng ngát phận
Bồi trau thiện tính để an phần
Chân thành dưỡng đức may thời vận
Cuối nẻo sông đời hưởng diễm ân

HANSY

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2019

189-TÌNH HỒNG THẮP NẾN


NHỮNG YẾU TỐ LÀM NÊN THƠ HAY


NHỮNG YẾU TỐ
LÀM NÊN THƠ HAY

Chứng chỉ cho danh hiệu nhà thơ là những bài thơ hay. Nhưng thế nào là thơ hay? Trả lời câu hỏi này không đơn giản và khó có được sự nhất trí. Trước hết là do sự phân hóa về thị hiếu, quan điểm thẩm mĩ. Có bao nhiêu nhà thơ chân chính thì cũng có bấy nhiêu cách cảm nhận thế giới, cảm nhận con người và cách thể hiện nghệ thuật khác nhau, tạo nên sự đa dạng, phong phú muôn mặt cho thơ.

Lưu Hiệp (485-520) – nhà thi học cổ Trung Hoa đã nói về điều này trong tác phẩm nổi tiếng "Văn tâm điêu long": “Người khảng khái gặp được âm điệu kích ngang thì vỗ nhịp. Người hàm súc gặp bài văn chặt chẽ cứ theo đi. Người hời hợt thấy văn chương màu mè đã rung động. Người ưa tân kỳ được câu thơ lạ cứ thích nghe. Hợp mình thì ngợi khen, khác mình thì bỏ mặc”.
Quan niệm thơ và thơ hay có tính lịch sử. Mỗi thời quan niệm thơ mỗi khác. Hàng ngàn năm Trung đại, chịu ảnh hưởng của mỹ học Trung Hoa cổ ông cha ta làm thơ bằng chữ Hán, rồi sau đó bằng chữ Nôm với hình thức thơ Đường khuôn mẫu, niêm luật chặt chẽ, đăng đối. Tiếp xúc với văn hoá phương Tây, Phong trào Thơ mới 1932-1945 đã làm một cuộc cách mạng thi ca, đưa thơ Việt Nam vào thời kỳ hiện đại. Tính sáng tạo được đặt lên hàng đầu: "Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết/ Chân tự do đạp phăng cả hàng rào" (Xuân Diệu).

Thời chúng ta đang sống sự phân hóa về thị hiếu, quan điểm thẩm mĩ càng trở nên vô cùng phức tạp. Cánh cửa nhìn ra thế giới rộng mở, các quan điểm, trường phái thơ cũng theo đó mà ảnh hưởng vào Việt Nam. Những tranh luận quyết liệt xung quanh các xu hướng “thơ hiện đại”, “hậu hiện đại”, “tân hình thức”...trong những năm qua cho thấy điều đó. Tuy vậy, thơ dù có hàng ngàn vạn nhánh phát triển thì vẫn có chung bản chất là nghệ thuật ngôn từ. Có thể kể ra mấy tiêu chí của thơ hay. Đó là: Thơ phải có nhạc tính, phải giàu tính nghệ thuật, sử dụng ngôn từ theo nguyên tắc “lạ hóa”… Trên cơ sở chung ấy có khoảng tự do mênh mông cho sáng tạo.

Có thơ hay một cách giản dị, trong sáng. Lại có thơ hay trong sự phức tạp, không dễ hiểu. Thật là thiên hình, vạn trạng. Tôi cho rằng thơ hay là thơ giàu tính nhân bản, minh triết trong nội dung trữ tình và có sáng tạo về thi pháp. Thơ hay không chỉ là thơ đậm đà chất trữ tình, làm nao lòng người đọc mà còn là thơ trí tuệ chiếu những tia rơnghen nhận thức vào cuộc sống phức tạp, vô minh, thức tỉnh con người:

Người ta lớn bởi vì ngươi cúi xuống
(Mara)

Bài thơ hay là một sinh thể nghệ thuật toàn vẹn, có một vẻ riêng, độc đáo, "đọc thì xúc động, nghĩ thì sâu xa" với những dư âm, dư vị không cùng.

Có thể nói đến những yếu tố chính làm nên thơ hay như sau.
1.
Thơ hay là khi có nội dung trữ tình giàu tính nhân bản và mới lạ

Những gì xuất phát từ trái tim mới đến được với trái tim. Các thời đại đi qua nhưng trái tim con người có những hằng số, trong đó có sự xúc động trước tình người, trước cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống.
Cuộc sống là tươi đẹp. Con người thật đáng tự hào. Niềm hạnh phúc, tình yêu của con người với con người, với thiên nhiên tất yếu là nội dung trữ tình của thơ ca. Nhưng đó mới là một nửa sự thật đời sống. Nhìn một phía khác thì chiến tranh, áp bức, nghèo khổ, bệnh tật, tai ương, tử biệt sinh ly …luôn rình rập, vây bủa kiếp người trên thế gian. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói đời là bể khổ. Con người xứng đáng là đối tượng ngợi ca đồng thời cũng là đối tượng để cảm thông, thương xót, nâng đỡ. Thi hào Pháp Alfred De Musset đã viết:

Không gì làm ta lớn lên bằng nỗi đau
Vần thơ buồn thương là vần thơ đẹp nhất.

"Truyện Kiều", "Văn tế thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du là những tiếng kêu đứt ruột, thương xót cho những kiếp người "trong trường dạ tối tăm trời đất". Một nhà thơ của thời chúng ta là Dương Tường đã viết một câu thơ rất được đồng cảm: Tôi đứng về phe nước mắt.
Có những bài thơ nhất thời được tán tụng nhưng rồi đã mai một theo thời gian.Không thể có một tác phẩm thơ được gọi là lớn, là hay mà lại xa rời tính nhân bản.
Thơ hay được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, nhưng đó là cái đẹp mới.

Bàn về Thơ mới, Chế Lan Viên đã viết: “Phân chia bờ cõi thơ bằng hai chữ mới, cũ chẳng có ý nghĩa gì”. Nhà thơ Nga Voznesensky(1933-2010) cũng cho rằng:

“Không có mới và cũ, chỉ có tài và bất tài mà thôi. Ai có tài thì người đó mới”. Theo chúng tôi, vấn đề không đơn giản như vậy. Cùng một cô gái đẹp nhưng vận áo tứ thân, nón thúng, quai thao và diện mode 2018 cho ta hai vẻ đẹp khác nhau: Một cái đẹp đã thuộc về quá khứ và một cái đẹp cho hôm nay. Thơ cũng vậy. Có nội dung thời đại thì cũng có hình thức thời đại.

Nhà thơ là người không chịu nhìn cuộc sống theo “lẽ phải thông thường” đã trở nên quen thuộc, sáo mòn. Đối tượng công phá thường trực của thơ là sự rập khuôn, máy móc của tư duy, của cách cảm, cách nghĩ, cách viết mà người ta sa vào một cách tự động, nhiều khi không tự biết. Thơ phải gây được hiệu ứng tâm lý ngạc nhiên, thú vị và khâm phục ở người tiếp nhận: Ngạc nhiên ở khả năng nhìn ra cái mới nơi thế giới quen thuộc, ngạc nhiên ở khả năng nới rộng tính nhân bản của con người, ngạc nhiên trước tài năng nghệ thuật và sử dụng ngôn từ.

Bài thơ "Tôi yêu em" của A. Pushkine là một ví dụ. Vượt lên sự thường tình Thi hào Nga mãi mãi được ghi nhớ với câu thơ: "Cầu cho em được người tình như anh đã yêu em". Ấn tượng mới lạ cũng thật đậm nét với bài thơ "Ngập ngừng" của Hồ Dzếnh: "Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé ". Mùa Xuân là mùa mở đầu một năm nhưng với Xuân Diệu thì "Xuân không mùa"…

Thơ không thể không có một thông điệp gì đến người nghe, người đọc. Thông điệp ấy có thể là một cảm xúc, một tâm trạng, một suy nghĩ có tính minh triết, một kinh nghiệm thẩm mỹ về cuộc sống, con người và về bản thân ngôn ngữ. Vấn đề là những thông điệp ấy phải thực sự mới mẻ. Bài thơ dân gian "Con cóc" là biếm họa điển hình về loại thơ dở, không có thông điệp gì đáng nói.
2.
Thơ hay là khi có cấu trúc tứ thơ độc đáo

Về tầm quan trọng của tứ thơ, Xuân Diệu đã viết: “Ngôn từ, lời chữ, vần rất quan trọng, bởi thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ. Tuy nhiên, đó là cái quan trọng thứ hai. Mà cái quan trọng thứ nhất làm rường cột cho tất cả là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài. Làm thơ khó nhất là tìm tứ”
Cấu trúc tứ thơ là kết quả của tư duy sáng tạo, là mô hình nghệ thuật tổng quát làm cho mọi thành phần, yếu tố đều tập trung cho ý đồ nghệ thuật, cho chủ đề của bài thơ. Nhà thơ Anh S.Koleridgơ (1772-1834) đã viết: “Một bài thơ hay là những ngôn từ sáng giá trong một cấu trúc hoàn hảo”. Tứ thơ cho thấy rõ tài năng sáng tạo của nhà thơ. Tôi nhớ mãi một bài thơ chống chiến tranh phát xít của nhà thơ Đức Bertolt Brecht chỉ gồm 2 câu:

Hôm nay những lứa đôi yêu nhau
Ngày mai những đứa trẻ mồ côi ra đời.

Cái găm vào trí nhớ ta là cấu trúc tứ thơ độc đáo.
Tứ thơ phong phú, đa dạng do sáng tạo là thuộc tính của thơ. Yêu cầu lý tưởng là mỗi bài thơ phải có một cấu trúc tứ thơ độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên trong thực tiễn sáng tạo thơ ta thường gặp một số kiểu cấu trúc tứ thơ hay như:

-Cấu trúc tứ thơ qui nạp

Ở những bài thơ có mục đích thuyết phục người đọc một ý tưởng nào đó, cấu trúc tứ thơ thường có dạng vận động từ cụ thể đến khái quát. Bài thơ "Tiếng bom ở Siêng Phan" (Phạm Tiến Duật) là một thí dụ. Kết thúc bài thơ là câu thơ cô đúc như triết lý của những con người yêu nước, dám đánh lại kẻ thù hung bạo và dạn dày chiến trận: "Thế đấy! Giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ".

-Cấu trúc tứ thơ diễn dịch

Nhà thơ đưa ra một nhận định khái quát có tính minh triết về cuộc sống, con người rồi diễn dịch bằng nhiều ý thơ như những luận điểm. Tiêu biểu là bài thơ "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" rất nổi tiếng của Chế Lan Viên, hay bài thơ"Xuân không mùa " của Xuân Diệu .

-Cấu trúc tứ thơ đối lập

Cấu trúc tứ thơ đối lập rất có hiệu quả trong việc làm nổi bật tư tưởng chủ đề của bài thơ. Ví dụ bài "Hai câu hỏi" (Chế Lan Viên) :

Ta là ai ? Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt.
Ta vì ai? Sẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.

-Cấu trúc tứ thơ tương đồng

So sánh là một thao tác tư duy thường xuyên của con người nhằm làm nổi bật đối tượng nhận thức. Cấu trúc tứ thơ tương đồng làm nổi bật chủ đề trữ tình. Bài thơ "Không đề" (Khuyết danh-Triều Tiên) là một ví dụ:

Khi trên khung cửi chỉ đứt
Cần mẫn em ngồi
Dùng răng dùng môi
Hai đầu nối lại.
Khi đứt chỉ tình yêu, ơi cô gái
Em cũng nên làm như thế đừng quên.

-Cấu trúc tứ thơ ý tại ngôn ngoại

Đây là loại cấu trúc tứ thơ đặc biệt tinh tế khiến ta đọc ra cái vắng mặt trong bài thơ. Các nhà thơ Việt Nam và Trung Quốc xưa thường sử dụng loại tứ thơ này làm nên nét đặc trưng thơ Á Đông. Trong thơ trung đại Việt Nam, bài "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương có cấu trúc tứ thơ dạng này.

- Cấu trúc tứ thơ song song

Ở cấu trúc tứ thơ song song, các khổ thơ trong bài đều có một thành phần điệp cú hoặc điệp ngữ. Tính lặp lại như vậy làm nên cấu trúc độc đáo của bài thơ. Bài "Tự nhủ"" của Bế Kiến Quốc cấu trúc tứ thơ theo dạng này:

Bàn chân ơi, ta đưa ngươi đi
Mọi nẻo đường dù có khi ngươi vấp
Có khi dẫm vào gai và biết đâu có khi…
Ta phải đi vì ta yêu mục đích.
Vành tai ơi, ta đưa ngươi đi
Đến miệng đời dù nghe lời đắng chát
Lời thô bỉ và biết đâu có khi…
Ta phải nghe vì ta yêu tiếng hát.
...
Còn rất nhiều kiểu tứ thơ độc đáo, giàu tính sáng tạo khác cần phải được tiếp tục tìm hiểu. Chẳng hạn như trong Phong trào Thơ mới (1932 – 1945) đã xuất hiện những bài cấu trúc theo âm nhạc. Các bài thơ tượng trưng, siêu thực nhìn chung là rất khó nhận diện tứ thơ. Cảm nhận của người đọc là bài thơ được kết cấu như một nhạc bản.
3.
Thơ hay là khi có nhạc tính độc đáo

Quan niệm thơ đã thay đổi rất nhiều theo thời gian, trường phái, cá tính sáng tạo của nhà thơ… nhưng có một nguyên lý đã trở thành cốt lõi: Thơ phải có tính nhạc. Tính nhạc không chỉ phân biệt thơ với các loại hình nghệ thuật ngôn từ khác mà còn làm cho mỗi bài thơ là một sinh thể nghệ thuật. Có thể thấy mỗi bài thơ hay có một cấu trúc nhạc tính riêng.

Bàn về thơ, Mallarmé cho rằng: “Nhạc phải đi trước mọi sự”. Có thể dẫn ra những bài thơ hay có nhạc tính độc đáo như: "Say" (Vũ Hoàng Chương),"Nguyệt cầm" (Xuân Diệu)... Đặc biệt các bài thơ bình thanh của Bích Khê như: "Hoàng hoa", "Tỳ bà", "Nghê thường"… có một chất nhạc rất lạ và hấp dẫn:

Ôi trời hôm nay sao mà xanh
Ngọc trăng xây vàng qua muôn cành
Nhung mây tê ngời sao kim cương
Dạ lan tê ngời say men hương.
(Nghê thường)

Bài thơ "Cánh đồng, con ngựa và chuyến tàu" của Tô Thuỳ Yên cũng có một chất nhạc rất thú vị:

Trên cánh đồng hoang thuần một màu
Trên cánh đồng hoang dài đến nỗi
Tàu chạy nhanh mà qua rất lâu
Tàu chạy mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu…

Trong thơ cổ tính nhạc khuôn mẫu và đã được đúc kết với các thể thơ. Lao động sáng tác của nhà thơ gợi người ta nghĩ đến công việc soạn lời cho các làn điệu dân ca. Trong thơ hiện đại mỗi bài thơ phải có tính nhạc riêng độc đáo. Ở mỗi bài thơ hay ta thấy lời thơ được linh cảm về nhạc của thi sĩ dẫn dắt, nhịp điệu vừa tự do, vừa liên hệ với kết cấu nhạc tính toàn bài, cuốn hút người đọc. Thậm chí nhạc có thể đi trước ngữ nghĩa, ta chưa kịp hiểu đã cảm thấy hay như trong thơ tượng trưng. Ví dụ tiêu biểu là tính nhạc của bài thơ "Màu thời gian" (Đoàn Phú Tứ). Dù không hiểu, hoặc hiểu rất ít, nhưng do nhạc tính độc đáo, bài thơ dễ được bạn đọc đồng tình xem là một trong những tác phẩm hay nhất của Phong trào Thơ mới (1932 – 1945).
4.
Thơ hay là khi có ngôn ngữ thơ mới lạ

Thơ là nghệ thuật ngôn từ. Nhà thơ là nghệ sĩ ngôn từ. Thơ không chấp nhận thứ ngôn ngữ quen thuộc đến sờn mòn. Chắc chắn là tuổi trẻ hôm nay không ai tỏ tình bằng ca dao: “Đến đây mận mới hỏi đào/ Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?. Để diễn tả cảm xúc yêu đương thơ hôm nay sẽ có cách nói khác, phù hợp với tâm lý cảm nhận của người đọc hiện đại.

Nhiều câu thơ như găm vào trí nhớ ta do sự mới lạ:

-Trăng rất trăng là trăng của tình duyên
(Ca tụng - Xuân Diệu)
-Ô hay! buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông.
(Tỳ bà - Bích Khê)
-Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời.
(Thi mi ni - Trần Dần)
-Trời cứ xanh như rút ruột mà xanh
Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc
(Ở giữa cây và nền trời - Thi Hoàng)
-Hoa phượng đỏ tiếng kèn đồng mùa hạ
(Thanh Thảo)

Ngôn ngữ thơ đối lập với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ hàng ngày và ít khi là lời nói thẳng. Có vô vàn thủ pháp nghệ thuật để lạ hóa ngôn ngữ: Nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, cường điệu, nói giảm, nói vòng, động từ hóa tính từ, tính từ hoá danh từ...

Lạ hoá trong thơ hiện đại được đẩy lên một nấc mới khi tuyệt đối tự do trong việc kết hợp từ. Nhiều trường hợp dẫn đến phi giao tiếp nhưng cũng không ít khi có những sáng tạo tân kỳ như: "Biển pha lê", "đêm thuỷ tinh", "lệ ngân"...(Xuân Diệu). "Nắng thuỷ tinh" trong thơ Thanh Tâm Tuyền, trong ca từ Trịnh Công Sơn ánh lên một vẻ đẹp mới lạ.
5.
Thơ hay là khi có sáng tạo về thi pháp

Bài thơ là một giá trị tổng hợp, nhưng trước hết là nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy các thủ pháp nghệ thuật có một vai trò rất quan trọng. Chất thơ thể hiện không chỉ ở nội dung trữ tình nói điều gì? mà còn ở chỗ nhà nghệ sĩ ngôn từ đã sáng tạo bằng các thủ pháp nào.

Trên hành trình phát triển của mình thơ vừa tích lũy các thủ pháp nghệ thuật truyền thống, vừa không ngừng sáng tạo các thủ pháp mới. Nhận diện những bài thơ hay trong thơ hiện đại là không đơn giản do sự sáng tạo đã nới rộng đường biên lãnh địa thơ. Sáng tạo của nhà thơ thường vượt lên trước tầm đón nhận của công chúng bạn đọc. Nghĩ về Bích Khê, Chế Lan Viên đã viết: “Có những người làm thơ. Lại có những người vừa làm thơ vừa đẩy thơ về phía trước. Khê thuộc loại thứ hai”. Với phong trào Thơ mới (1932-1945) bên cạnh những thủ pháp nghệ thuật như: Nhân hóa, so sánh, ẩn dụ… thơ Việt Nam đã giàu có thêm các thủ pháp mới như: Miêu tả khách thể một cách cụ thể, cảm tính, đặt cạnh nhau những từ xa nhau về ngữ nghĩa, kết cấu bài thơ bằng nhạc tính…Đặc biệt là với thơ tượng trưng đã xuất hiện những câu thơ miêu tả cảm giác và tương hợp mới lạ chưa từng có trong thơ Việt:

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
Như hương thấm tận qua xương tuỷ
Âm điệu thấn tiên thấm tận hồn.
(Huyền diệu - Xuân Diệu)

Tất cả kinh nghiệm sáng tạo cổ, kim, đông, tây… đều góp phần làm giàu kho tàng thơ ca nhân loại. Thật đáng ghi nhận là những nhà thơ đã sáng tạo nên những thủ pháp nghệ thuật mới mẻ, mang dấu ấn phong cách riêng. Tư duy thơ tương hợp gắn với Nhà thơ Pháp Ch. Baudelaire (1821-1867). Hình thức thơ bậc thang gắn với Nhà thơ Nga V. Mayacovsky (1893-1930)…

Như vậy, có thể nói mỗi tác phẩm thơ hay là một phát hiện mới về nội dung đồng thời là một sáng tạo mới về hình thức.

PHẠM QUỐC CA

TRẠNG NGUYÊN CUỐI CÙNG TRỊNH HUỆ


TRẠNG NGUYÊN CUỐI CÙNG
TRỊNH HUỆ

Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam từ năm 1075 đến năm 1919, nếu Trạng nguyên đầu tiên Lê Văn Thịnh (1075) có công lớn đòi lại được vùng đất 6 Huyện và 3 Động, thì Trạng nguyên cuối cùng Trịnh Huệ (1736) là một nhân tài đáng kinh ngạc, khiến lắm kẻ ban đầu dị nghị nhưng sau cùng cũng chỉ có thể tâm phục khẩu phục.

Dòng dõi nhà Chúa

Theo ghi chép từ sách “Kim Giám Thực Lục” (1802) và “Kim Giám Tục Biên” (1869) thì Trịnh Huệ là cháu 5 đời của chúa Trịnh Tùng, thuộc dòng của Thuần Nghĩa Công Trịnh Dương. Tuy vậy gia cảnh của ông rất nghèo, đến đời bố ông thì phải rời nơi sinh sống từ xã Sóc Sơn (huyện Vĩnh Phúc, tỉnh Thanh Hóa) đến bãi Cồn Thần (nay là phần đất tại hai trường THCS Nguyễn Du và trường THPT Quảng Xương I).

Nhưng cuộc sống vẫn khó khăn tứ bề khiến bố ông phải chuyển đến làng Ngọc Am, xã Bất Quần (nay là xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa) để sinh sống. Tại đây bố ông đã gặp và nên duyên với một thôn nữ vừa đẹp người vừa đẹp nết. Hai người kết hôn và sinh được một nhân tài hiếm có đó chính là Trịnh Huệ.

Thần đồng hiếm có từ nhỏ

Theo “Trịnh Vương ngọc phả” thì Trịnh Huệ thuở nhỏ rất thông minh và chịu khó học hành, liếc mắt qua một lượt thuộc ngay mười hàng chữ, chục năm sau có thể đọc lại vanh vách.

(Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”)
Năm 1723 Trịnh Huệ thi Hương và đỗ ngay Hương cống (tức đỗ đầu), được chúa Trịnh Giang mời vào cung Tân Nhân giao cho chức phó Tri Hình Phiên.

Tại khoa thi năm Bính Thìn (1736), ông đỗ đầu kỳ thi Hội, vào đến thi Đình ông cũng lại đỗ đầu, trở thành Trạng nguyên.

Tại Văn Miếu Hà Nội ngày nay vẫn còn bia tiến sĩ khoa thi năm Bính Thìn (1736), bia có đề rằng:

Cho đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh: Trịnh Huệ, làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, trú quán xã Bất Quần, huyện Quảng Xương… Ra lệnh khắc tên vào đá để truyền mãi mai sau.

Sau năm 1736, dù các kỳ thi khoa bảng vẫn còn nhưng ngôi Trạng nguyên không còn có ai nữa.

Sau khi đỗ Trạng nguyên, Trịnh Huệ được phong Đông các đại học sĩ, rồi lên tới chức Tham tụng Thượng thư bộ Hình (tước Quận Công) tức ngang với chức Tể Tướng trong triều.

Năm 1740, Phủ Chúa có biến, chúa Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang, Trịnh Huệ bị nghi ngờ theo phe của Hoàng Công Phụ nên bị bắt giam để điều tra. Tuy nhiên nhận thấy ông vô tội nên chúa tha và phong làm Tế Tửu Quốc tử giám. (Về biến cố của Phủ Chúa, xem bài: “Làm ác gặp ác báo”: Vị Chúa trong sử Việt phải chui nhủi dưới hầm suốt 20 năm cuối đời)

Trạng nguyên mở lòng: “Ai có câu hỏi gì khó… xin trả lời hết”

Nhìn lại, con đường hoạn lộ của Trịnh Huệ tiến nhanh, nhưng vì ông là con cháu nhà Chúa nên nhiều người dị nghị tỏ ra không phục. Thậm chí nhiều người cho rằng việc đỗ Trạng nguyên của ông cũng do là người của nhà Chúa.

Trong dân gian lưu truyền câu chuyện như một giai thoại, kể rằng nghe được những lời dị nghị này Trịnh Huệ bèn nói:

Tôi đã nhất Tam khôi mà nói là do Vương phủ thiên vị thì còn gọi gì là văn chương nữa! Nay để khỏi nghi ngờ, trong triều ngoài nội ai có câu hỏi gì khó ở bất cứ sách vở nào về kinh sử, tả truyện, ý nho, lý số thì đem đến tôi xin trả lời hết!

Lập tức nhiều người không phục đến chất vất thử tài nhằm đưa ông vào thế bí để bêu rếu khắp nơi. Biết ông đương nhiên hiểu việc trong nước, nên nhiều người hỏi sách vở Trung Hoa. Trịnh Huệ đều rất tỏ tường khiến không ai tìm ra điểm yếu.

Họ quay lại hỏi các vấn đề trong nước nhưng cũng không sao bắt bí được, các vấn đề ông đều trả lời thông suốt.

(Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằngtranh”)
Thế nhưng không ai muốn thua cuộc và thừa nhận tài năng của ông một cách dễ dàng. Để ông lâm vào thế bí, một người đã hỏi rằng:

Chiếc đũa là vật thiêng không có chân, lúc thì gãy, lúc thì mất. Vậy nó chạy đi đâu, ở trong kinh điển nào?

Thế nhưng ông vẫn mỉm cười, dáng đứng khoan thai đọc hai câu thơ của vua Lê Thánh Tông:

Trời còn giành để An Nam mượn
Vạch chước bình Ngô mãi mới vừa.

Rồi ông nói:

Đó chẳng phải là câu thơ của Lê Thánh Tông bản Triều vịnh núi Chiếc Đũa, nơi khởi phát đế nghiệp mở ra công cuộc bình Ngô của nước ta hay sao? Núi Chiếc Đũa không có chân mà chạy về góc đó.

Quả là ở Thanh Hóa, nơi của biển Thần Phù, nay thuộc địa phận làng Văn Đức, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn có ngọn núi đứng một mình tên chữ là “Chính Trợ Sơn” gọi nôm là núi Chiếc Đũa, đã có tên trong sách vở. Xưa nhiều vị Vua Chúa đi qua đều có vịnh thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây.

Lúc này mọi người cũng chẳng còn gì để hỏi ông nữa cả, chỉ còn có thể tâm phục khẩu phục tài học của ông.

Dạy học miễn phí cho người dân 

Sau này khi nghỉ hưu Trịnh Huệ về nhà ở thôn Thọ Sơn, xã Bất Quần ở chân núi Voi. Tương truyền xưa khi bà Triệu thua trận, những con voi chạy tán loạn, trong đó con voi đầu đàn đã chạy đến vùng này thì hóa đá tạo thành dãy núi. Người dân nơi đây thấy con vật linh thiêng liền gọi dãy núi này là núi Voi.

Khi Trạng nguyên Trịnh Huệ về đây dạy học, ông bỏ tiền thuê người xây dựng nhà để người dân tới học chữ. Đặc biệt ông dạy học không phân biệt giàu nghèo, trai gái hay tuổi tác, ai có tâm muốn học là ông dạy, và ông cũng dạy hoàn tiền miễn phí, không thu tiền của người dân.

Vì thế người dân trong vùng cũng có người thân mật gọi ông là Trạng Voi.

Chùa Voi, nơi đây xưa kia là nhà của Trạng nguyên Trịnh Huệ dùng để dạy học miễn phí cho người dân. (Ảnh từ báo Thanh Hóa)
Ngôi nhà năm xưa Trạng nguyên Trịnh Huệ dùng để dạy học đến nay không còn nữa, vị trí ngôi nhà được thay thế bằng ngôi chùa Voi khang trang. Bên cạnh ngôi chùa vẫn còn đó hai chiếc cột đá, vốn là vật dụng mà khi xưa Trịnh Huệ dùng để treo kẻng, mỗi khi đến giờ ông liền gõ kẻng để học trò vào lớp.

Trong số các học trò của ông có nhiều người đỗ cao và làm quan. Khi ông mất các học trò của ông đã cho xây nhà thờ để thờ phụng người thầy đáng kính của mình.

Tấm biển đá “Trạng Nguyên từ”. (Ảnh từ báo Thanh Hóa)
Lê Quý Đôn khi còn làm đốc học ở Thanh Hóa đã đến thăm đền thờ Trịnh Huệ, ông đã quyên góp tiền để tu sửa lại rồi khắc biển treo trước đền là “Trạng nguyên từ” để người đời ngàn năm ghi nhớ.

Phong cảnh nơi đây hữu tình, vua Tự Đức đã làm thơ tạc trên núi. (Ảnh từ kienthuc.net.vn)
Đến thời vua Tự Đức, một lần nhà Vua đi qua dãy núi hình con voi đồ sộ, dưới chân núi là dòng sông thơ mộng, nhà vua cảm hứng mà làm một bài thơ, không chỉ ca ngợi cảnh đẹp mà còn nói lên đức độ của Trạng nguyên Trịnh Huệ, rồi yêu cầu Tổng đốc Thanh Hóa lên đỉnh núi Voi để khắc ghi.

Trần Hưng