Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2019

15-KHÚC TỨ MÙA


KHÚC TỨ MÙA
[TNT-Láy]

XUÂN trời lả lướt
diễm nồng khai
XUÂN
ngọt ngào hương giữa nguyệt đài
XUÂN
chứa chan tình đơm quả trái
XUÂN ngào ng
ạt cõi lng thềm mai
XUÂN
thơ rộn rã gieo vần hái
XUÂN
phú triền miên dệt tứ cài
XUÂN mặn mà lâng niềm ước trải
XUÂN tình
rạng rỡ vọng chờ ai

HẠ loáng nghiêng thềm
phảng phất ai
HẠ thương
nũng nịu tóc mây cài 
HẠ
thơm thảo nắng vờn hương cải
HẠ
khát khao tình nhớ sắc mai
HẠ
níu chân trời xao xuyến lại
HẠ loang cuối nẻo thẩn thơ dài
HẠ về ngúng nguẩy thời ngây dại
HẠ sởn sơ lòng khó nhạt phai

THU vàng quạnh quẽ lá dần phai
THU quánh sương khuya lặng lẽ mài
THU mẩn mê lòng mơ khả ái
THU trầm ngâm nẻo hẹn trùng lai
THU trời sắc dịu mơ màng bái
THU cõi ngàn khoe mải miết chài
THU khúc êm đềm qua vạn đại
THU hoài lả lướt mộng về ai

ĐÔNG lẻ loi chờ một dáng ai
ĐÔNG vang khắc khoải điệu bi hài
ĐÔNG bề bộn ý sầu đong mãi
ĐÔNG tỉ tê lời chẳng chịu khai
ĐÔNG biệt muôn trùng đau đớn mãi
ĐÔNG xa vạn kiếp thở than nài
ĐÔNG choàng lạnh lẽo ngùi thương hại
ĐÔNG
mảnh mai gầy xóa mộng trai

HANSY


PHIÊN ÂM CÒN KÉM HIỆU KHẢO CHƯA ĐẠT


PHIÊN ÂM CÒN KÉM
HIỆU KHẢO CHƯA ĐẠT

Quyển Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hổ đã được Trần Trọng Dương khảo cứu và công bố dưới nhan đề Khảo cứu từ điển song ngữ Hán Việt - Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hổ (NXB Văn học, Hà Nội, 2016, ảnh).

Sách có sao chụp đầy đủ nguyên bản Hán Nôm, ký hiệu R.1726 với phần phiên âm của Lê Văn Cường. Trong sách, bản phiên âm này đã được Trần Trọng Dương hiệu khảo và chú thích. Rất đáng tiếc là tuy mới sơ bộ khảo sát mà chúng tôi đã thấy có đến 120 chỗ phiên âm còn kém, hiệu khảo chưa đạt. Dưới đây chỉ là một số dẫn chứng (sau chữ “tr.” là số thứ tự của trang quốc ngữ, liền sau dấu gạch chéo là số trang của bản R.1726).
1.
“Thái Bạch là sao phóng” (tr. 287/4a). Làm gì có “sao phóng”. Trong bản R.1726 thì chữ đang xét là mai [] nhưng vì nét in hơi nhòe nên mới bị đọc sai thành “phóng” []. Trong R.1726, ngay phía dưới, chếch về bên trái, người dùng trước đã ghi cho rõ thêm bằng ngòi bút sắt rằng đó là chữ mai [] nhưng rất tiếc là cả nhà phiên âm và nhà hiệu khảo đều... không thấy. Huống chi, liền ngay sau đó còn có câu: “Trường canh [長庚] là sao sớm tức Thái Bạch”. Thái Bạch là “sao sớm”.“Sao sớm” là gì, nếu không phải là “sao mai”?
2.
“Tuệ [] là sao xể” (tr. 287/4a). Là sao chổi chứ làm gì có “sao xể”? Chính nhà hiệu khảo đã ghi tại cước chú 3 như sau: “Nguyên văn chữ Nôm ghi: [+] thanh phù xể, hoặc chuế . Có thể đọc là chổi (…)”. Đã nhận xét được như thế mà sao lại còn chấp nhận “sao xể”? Tuệ [] hiển nhiên là sao chổi.
3.
“Nhĩ trưu [耳鍬] là cái nỉ cài che tai” (tr. 350/32b). Hẳn chẳng biết có vị thức giả nào biết “cái nỉ cài che tai” là cái gì còn Phạm Đình Hổ thì viết: “Nhĩ thiêu là cái nỉa cạy ráy tai”. Trong R.1726, chữ nỉa ghi bằng [+], chữ cạy bằng [+] và chữ ráy bằng [+]. Chữ nỉa [+] đã được ghi nhận trong Tự điển chữ Nôm dẫn giải của Nguyễn Quang Hồng, tập 2, tr. 1.375; chữ ráy [+] cũng được ghi nhận trong tập 2 này, trang 1.532. Còn chữ [] đọc là thiêu chứ không phải “trưu”. Vậy cái mà nhà phiên âm và nhà hiệu khảo đọc thành “nỉ cài che tai” chính là cái “nỉa cạy ráy tai”, tức là cái mà ngôn ngữ bình dân trong nam gọi là cây móc tai, cái vật bé nhỏ dùng để cạy cứt ráy.

AN CHI

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2019

10-HOA NHỚ


14-LỠ LÀNG MỘNG ƯỚC


LỠ LÀNG MỘNG ƯỚC
[Ô thước]

Ngoái lại đường xưa nuối đượm đà
Thôi rồi quá vãng phải đành xa 
Còn đâu nụ ái mùa trăng cả 
Đã hết nguồn yêu buổi nắng tà 
Thổn thức chao lòng đau đớn rã 
Âm thầm rũ bóng não nề ra 
Niềm vui tắt lịm nào tăm cá 
Ôi nhớ hôm nào dưới tán đa

Hôm nào mơ ước đã lùi xa 
Khuất nẻo mầm thương ngã bóng tà 
Có hiểu chăng người tê buốt dạ 
Thôi đừng nhé bậu tủi sờn da 
Chòng chao trí não tiêu điều lá 
Khắc khoải lòng tim quạnh quẽ nhà 
Cứ ngỡ muôn đời ân ái phả
Đâu dè gió bão dập vùi va

Gió bão làm cho ái vẹt tà 
Thơ tình áo não tựa hồn ma 
Vì sao khấn nguyện lời không nhả
Hay bởi nguyền ân tuổi chẳng già
Bởi vậy tâm hồn như sỏi đá
Thôi đành phận kiếp tựa cầm ca
Ngàn xưa lấp vội màu yêu trả 
Dốc tửu đưa chiều tiễn biệt ha

Đưa chiều tiễn biệt khúc trầm kha 
Quẳng lại bờ xưa những tiếng khà
Ngốc dại ngùi hoen màu nhuốm lạ
Mê trầm mặn chát buổi dèm pha
Ngu ngờ để lắm rồi xiêu ngã 
Ngúng nguẩy cho nhiều mộng thứ tha 
Thắm thoát thời gian đời vật vã 
 Nhiều khi trượt dốc tối tăm chà

Trượt dốc triền miên bị lỡ phà  
Sao người tráo trở để sầu pha
Tào khang rã mộng buồn chi sá
Nguyệt lão lờ duyên ghẹo ấy mà
Chỉ nguyện khoành êm dừng bão phá 
Cho mờ nhịp nuối khỏi lòng sa 
Thì chôn đáy huyệt mưa sầu xả
Kỷ niệm bây giờ chỉ một Ta

HANSY

KHÁM PHÁ “CÂU CHỮ TRUYỆN KIỀU”


KHÁM PHÁ
“CÂU CHỮ TRUYỆN KIỀU”

Những tìm tòi, khám phá thú vị của học giả An Chi (83 tuổi) về câu chữ xung quanh kiệt tác văn chương của đại thi hào Nguyễn Du vừa được công bố qua tác phẩm Câu chữ Truyện Kiều, do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành.

Học giả An Chi bên tác phẩm 'Câu chữ Truyện Kiều'-ẢNH: QUỲNH TRÂN
Mã giám sinh có râu?

Nhiều thắc mắc về câu: “Trăm năm trong cõi người ta” thì hai chữ “trăm năm” là bao nhiêu năm? Tại sao quyển Kim Vân Kiều tân truyện do Abel des Michels dịch sang tiếng Pháp ghi là: De tout temps, parmi les hommes? Tại sao trăm năm lại không phải cent ans mà là De tout temps (tạm dịch “bao giờ cũng…”, “luôn luôn”)? An Chi lý giải: “Tôi cho rằng ở đây người hiểu đúng ý của Nguyễn Du chính là Abel des Michels. Trong bài viết Trăm năm trong cõi người ta nghĩa là gì, Cao Xuân Hạo đã giải thích: “Mấy chữ “trong cõi người ta” khó lòng có thể hiểu thành “trong vòng một đời người”, trước hết cõi chỉ một khoảng không gian, một nơi chốn, chứ không bao giờ chỉ một khoảng thời gian. Còn hai chữ trăm năm thì hiểu là thời gian của một đời người nhưng cũng có thể hiểu theo cách dùng số từ thông dụng trong các tiếng: Việt, Hán, Nhật và nhiều tiếng Á Đông khác, như một thời gian dài không hạn định, có nghĩa xưa nay trong cõi thế gian chứ không phải trong vòng một trăm năm
của một kiếp người”.

Mã Giám Sinh có râu hay không râu? Học giả An Chi phân tích: “Đáng tiếc có người cho rằng mày râu nhẵn nhụi ở đây là trụi lủi vì bị cạo, nên mới phát sinh thắc mắc là: Họ Mã có cạo cả lông mày hay không? Nếu có thì kỳ cục quá nhưng nếu không thì tại sao Nguyễn Du lại viết như vậy? Cuối cùng cũng ra được cách hiểu “đờ mi” cho rằng, tuy viết thế nhưng họ Mã chỉ cạo trụi râu thôi chứ lông mày thì ngài còn chừa lại, khác nào nói rằng đại thi hào quá kém cỏi trong việc sử dụng từ ngữ. Nếu nói rằng “Mã Giám Sinh làm gì có râu mà cạo” thì thật là chẳng hay biết gì đến ý nghĩa và công dụng của hai tiếng nhẵn nhụi. Khi người ta nói “thằng ấy thua nhẵn túi” thì có nghĩa trước đó trong túi hắn ta đã có tiền… Vậy nếu họ Mã không có râu thì lấy đâu mà… nhẵn nhụi. Đúng như Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, Từ điển từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành và VN tự điển của Lê Văn Đức đều giảng rằng mày râu nhẵn nhụi là mày râu đã được chăm chút ngay ngắn, dễ coi”.

Đoạn Sở Khanh nói với Kiều: “Rằng ta có ngựa truy phong”, trong khi một số bản chú giải của Đào Duy Anh, Nguyễn Thạch Giang (NXB Văn học 1965), Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đều có đại ý rằng ngựa truy phong là ngựa chạy thật nhanh, có thể đuổi theo gió. Ở Thúy Kiều truyện tường chú của Chiêm Vân Thị, thì chú: Vua Thủy Hoàng nước Tần có 7 con ngựa tốt, con tốt nhất gọi là Truy Phong (chạy nhanh đuổi kịp gió), còn học giả An Chi nhận định: “Thành ngữ truy phong - nhiếp cảnh bắt nguồn từ tên hai con ngựa giỏi của Tần Thủy Hoàng, do đó trong ngữ đoạn danh từ ngựa truy phong của tiếng Việt không phải là một ẩn dụ của động từ truy phong (đuổi gió) trong tiếng Hán mà từ tên con ngựa Truy Phong”.

Luôn đến cùng sự thật chữ nghĩa

Xung quanh các tranh luận để có tác phẩm Câu chữ Truyện Kiều, ông An Chi phải đụng chạm tới những “tượng đài” như: Nguyễn Quảng Tuân, Hoàng Xuân Hãn, TS Đào Quang Huy, Nguyễn Tài Cẩn... thậm chí có người ở Hội Kiều học như Nguyễn Khắc Bảo còn phản ứng gay gắt.

Tuy nhiên, học giả An Chi khẳng định: “Mặc dù không dám tự nhận mình là tài giỏi hoặc thâm sâu về chuyên môn nhưng Huệ Thiên đã làm thì sự thật phải là cái đích luôn vươn tới. Nhờ có thể tra cứu ngoại ngữ: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, chữ Hán và Sanskrit (ngôn ngữ cổ ở Ấn Độ) nên tôi gặp thuận lợi hơn trong khi biện luận. Với học giả Hoàng Xuân Hãn, tôi không tán thành ông ở nhiều chỗ được in trong cuốn Câu chữ Truyện Kiều: Chuyện “bát Kiều” của Hoàng Xuân Hãn hãy còn là một nghi án; Nhận xét bài “Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về truyện Kiều trên tạp chí Văn học”; Về quyển Kiều mà học giả Hoàng Xuân Hãn dự định công bố… nhưng không vì thế mà làm cho danh tiếng của ông bị ảnh hưởng”.

Cũng chính vì quá thẳng thắn, đấu tranh đến cùng cho ngữ nghĩa con chữ như thế nên gần 15 năm trời lo bếp núc Chuyện Đông, chuyện Tây trên tạp chí Kiến thức ngày nay, ông từng có lúc bị “lên bờ xuống ruộng”, phải ngưng phụ trách tới… 5 kỳ báo. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đề nghị ông tiếp tục viết thì phải ký tên khác để tránh rắc rối.

Lúc ấy chủ biên Hàn Tấn Quang đặt bút danh mới là Lão Ngoan Đồng (tên nhân vật trong Anh hùng Xạ Điêu) nhưng ông không thích lắm. Cuối cùng Huệ Thiên tự chọn cho mình tên mới là An Chi như sự an nhiên tự tại, không muốn sinh sự với ai nữa nhưng ông muốn nhắn với mọi người là Huệ Thiên (An Chi) vẫn… y chang chứ không thay đổi gì hết.

Vậy là nhờ tiếp tục được công việc nghiên cứu mà trên 100 kiến giải trong Câu chữ Truyện Kiều được An Chi khám phá rất độc đáo, khoa học, với mỗi bài viết của ông như một lời bình Kiều, lẩy Kiều sâu sắc. Một công việc bền bỉ mà theo học giả muốn giúp độc giả hiểu thêm về các câu chữ, điển tích của Truyện Kiềucũng như sự tài hoa trong sử dụng ngôn ngữ tài tình của đại thi hào Nguyễn Du.

“Đọc Câu chữ Truyện Kiều để thấy rằng, lâu nay đã có nhiều văn bản Kiều và nhiều học giả giải thích, chú giải… Thế nhưng với An Chi, qua cách lý giải thấu đáo, uyên bác, ông đã “lật ngược vấn đề” một cách ngoạn mục và rất bất ngờ. Ông đã có cái nhìn khác các học giả tầm cỡ như Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Huệ Chi, Vũ Văn Kính… Câu chữ Truyện Kiều của An Chi có sức hấp dẫn là ngoài tài liệu “nói có sách, mách có chứng”, còn ở chỗ ông chọn cách diễn đạt trầm tĩnh, thân mật như đang trò chuyện cùng bạn đọc”. Nhà thơ - nhà báo Lê Minh Quốc

LÂ CÔNG SƠN
-------------------------
Tác giả An Chi tên thật là Võ Thiện Hoa. Ông còn có bút danh khác: Huệ Thiên, Huyện Thê, Viễn Thọ. Tuy nhiên, ông vẫn thích nhất bút danh Huệ Thiên vì: “Nhiều người cứ hỏi tôi Huệ Thiên là sao? Rất đơn giản, Thiện Hoa - tên của tôi nói lái ra thành Họa Thiên, mà nghe cả trời tai họa thì… ghê quá! Nhờ trong nam cũng nói Hoa thành Huê nên tôi mới lái Thiện Huê thành Huệ Thiên”.

NHỮNG BỨC TRANH CỦA BÙI GIÁNG


SỰ THẬT VỀ NHỮNG BỨC TRANH
CỦA BÙI GIÁNG


Một bức tranh vẽ Từ Hải của Bùi Giáng
Những nghệ sĩ lớn thường phát tiết “tinh anh”, cảm xúc của mình qua hình thể tác phẩm nhiều loại hình nghệ thuật. Bùi Giáng là một nhà thơ tài năng như vậy. Sau ngày Trung niên thi sĩ mất (7.10.1998), nhiều tác phẩm hội hoạ của ông tiếp tục được tìm thấy.

Mới đây, một bức tranh của Bùi Giáng vừa được đưa ra gây chú ý trong giới thưởng ngoạn mỹ thuật. Bức chân dung Trung niên Thi sĩ vẽ từ năm 1988. Cái lạ của ký hoạ này tuy là một gương mặt nhưng được ông chú thích hai người đó là vẽ Nguyễn Du và Phạm Thái.

"Nguyễn Du - Phạm Thái", bức chân dung vừa được tìm thấy của Trung niên Thi sĩ
Có nhiều lý giải về chú thích bức tranh. Một phía nghiêng về trạng thái mê mê tỉnh tỉnh lên đồng của "Thi sĩ điên". Khi sướng lên là ông vẽ thôi. Bất cần biết ai. Nhưng một phía khác lý giải Bùi Giáng hoàn toàn không điên mà ông vẽ rất có ý thức.

Ai cũng biết sinh thời ngoài thơ ông còn viết rất nhiều khảo luận, nghiên cứu về một số tác phẩm kiệt tác cổ điển Việt Nam mà ông đặc biệt yêu thích trong đó có tác phẩm Kiều của Nguyễn Du và Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái. Tuy nhiên cả Nguyễn Du (1766 - 1820) và Phạm Thái (1777 - 1813) đều không để lại cho hậu thế một di ảnh nào.

Bức tranh có thể đã đi ra từ những nhân vật của các tác phẩm đó là hai ông Từ Hải, Trương Đăng Thụ với những câu thơ tài hoa mô tả, oanh liệt, uy dũng, đại trượng phu như "Râu hùm hàm én mày ngài/Vai năm tấc rộng thân mười thước cao" chăng? Như vậy Bùi Giáng không vẽ người mà là... vẽ thơ!

Bùi Giáng là một hiện tượng độc đáo của thơ Việt. Cuộc đời ông để lại gia tài thơ đồ sộ có lẽ phải lên tới hàng ngàn bài và không hiếm những giai thoại thơ. Tuy nhiên, ngoài thơ, thời gian gần đây tranh của ông cũng có rất nhiều giai thoại thú vị như trên.

Trong một bài viết trước đây, chúng tôi có kể câu chuyện khi đến tư gia của nhà thơ Ngô Văn Tao trên đường Huỳnh Khương Ninh, quận 1, TP. HCM tìm tư liệu cho bài viết tranh ký họa Trịnh Công Sơn thì bất ngờ phát hiện ra ông Tao còn sưu tập, lưu trữ được một số tranh "hiếm quý" của Bùi Giáng.

Bức tranh "Quê chàng là Ithaque" ông Ngô Văn Tao sở hữu của thi sĩ Bùi Giáng
Bức tranh ông Tao sở hữu có khổ 1m x 1,5m, vẽ sơn dầu, có tên Quê chàng là Ithaque, chữ ký của Bùi Giáng và bút tích của ông ghi năm thực hiện là 63 (có lẽ viết tắt năm 1963) tại Sài Gòn. Bức tranh vẽ chủ đạo 3 gam màu vàng, đỏ và đen. Bố cục nổi rõ lên một chàng thi sĩ tóc bềnh bồng đang ngồi trên một cỗ xe có hai con ngựa kéo.

Theo ghi nhận riêng của chúng tôi thì bức sơn dầu này "ý tại ngôn ngoại", có kỹ thuật và rất độc đáo. Tuy là thể hiện bằng màu sắc nhưng có lẽ nội dung gửi gắm hướng đến một đề tài trừu tượng hơn là thuần túy phản ánh hiện thực. Đó có thể là trạng thái thoát tục của người làm nghệ thuật, đặc biệt là một tâm hồn thi ca thường xuyên thăng hoa như Bùi Giáng. Nhìn bức tranh như hiểu thêm ý một câu thơ ông viết mà nhiều người cho là bí hiểm: "Lạc loài đã rớt đi đâu/Chiếc chìa khóa mộng rực màu so le". Tranh ông như giải thêm nghĩa cho thơ.

Bìa tập thơ in chung của thi sĩ Bùi Giáng và Ngô Văn Tao với chủ đạo bức tranh "Quê chàng là Ithaque". Bên trái là chân dung Bùi Giáng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
Ông Tao cho biết đã mua bức tranh này một cách khá tình cờ của một độc giả yêu tác phẩm thơ Bùi Giáng bán lại: "Tôi cũng không rõ làm sao anh ta có bức tranh này", ông Tao hồi tưởng. Khi chúng tôi đặt câu hỏi nghi hoặc liệu có phải đúng là tranh Bùi Giáng hay không thì ông Tao quả quyết ngày còn sống, giữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng và ông Tao là thân hữu. Rất nhiều lần ông Tao hỏi Bùi Giáng về tác giả bức tranh. Bùi tiên sinh đã xác nhận chính là tranh ông vẽ.

Tự họa Bùi Giáng thưở Bài ca quần đảo - 1972
Khi làm bìa cho tập thơ chung in song ngữ Việt Pháp của hai ông Vào chung cục thơ - La commune poétique aventure (NXB Hội nhà văn 2004), ông Tao đã chụp hình bức tranh này làm bìa. Kết thúc câu chuyện, ông Tao nói: "Còn bao nhiêu tranh của Bùi Giáng quả là câu hỏi kỳ thú. Từ bấy đến nay, tôi cố ý tìm thêm nhưng chưa thấy".

Thi sĩ tự họa trên tờ lịch
Nhà thơ trẻ Vương Huy ở Cai Lậy, Tiền Giang - một người mê thơ Bùi Giáng đã sưu tầm gần đầy đủ các tác phẩm thơ, dịch, khảo luận của ông từ trước đến nay vừa thông tin cho chúng tôi biết, anh từng tìm thấy một phiên bản chụp bức tranh Quê chàng là Ithaque với chỉ hai màu đen trắng in trong tác phẩm Heidegger và tư tưởng hiện đại do Bùi Giáng viết và dịch in ở Sài Gòn năm 1963. Tấm hình này minh họa cho mục Heidegger và hình bóng của Nietzsche là một phần quan trọng trong cuốn sách đã kể trên của ông. Như vậy có thể thấy Bùi Giáng là tác giả bức tranh trên là có cơ sở.

Bức tranh "Gửi đêm" của Bùi Giáng từng được đấu giá 27 ngàn đô
Chúng tôi cũng đã tìm được nhiều tư liệu khẳng định Bùi Giáng từng vẽ rất nhiều tranh. Ví dụ cuốn Bùi Giáng trong tôi (NXB Văn nghệ 2005), một cuốn sưu tầm khá công phu của nhà thư pháp Hồ Công Khanh. Theo lời kể của tộc Bùi ở Vĩnh Trinh, Duy Xuyên - Quảng Nam, cụ thể là ông Bùi Vịnh, một bào đệ thì:

"Năm 1950, Bùi Giáng đỗ tú tài II ban văn chương. Năm 1952 vào Sài Gòn dạy học, viết sách và vẽ tranh". Và một người thầy của Bùi Giáng là giáo sư Vũ Ký khi gặp lại ở Sài Gòn thời gian trên thì: "Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ở hẻm Trương Minh Giảng". Đặc biệt, tập sách trên còn tìm được rất nhiều tranh vẽ bằng mực tàu, bút bi khá độc của Bùi Giáng.

Hoạ sĩ Đinh Cường và thi sĩ Bùi Giáng
Đáng chú ý và thuyết phục nhất, gần đây, họa sĩ Đinh Cường trong bài viết có nhan đề "Bùi Giáng - Đi về với gió du côn" ông xác tín: "Anh (Bùi Giáng) đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan Thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương Tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Đồng Khởi, TP.HCM)".

Theo nguồn tin đáng tin cậy từ một Nhà sưu tập, bức tranh Gửi đêm của Bùi Giáng đã từng đấu giá thành công 27 ngàn đô trong một triển lãm.

Như vậy xem ra khó có thể xem tranh Thi sĩ là "nghiệp dư" bởi chính giá tranh của ông cũng đang là ước mơ của nhiều hoạ sĩ chuyên nghiệp. Nhưng xem ra vẫn khó đủ khi ngày còn sống, thi sĩ đã từng thao thiết tự hỏi "Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?"

Nguyễn Hữu Hồng Minh



Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

9-NỤ HÔN ĐẦU


13-NHUNG NHỚ VÔ CÙNG


NHUNG NHỚ VÔ CÙNG

Chớ để mầm yêu phải bão bùng
Không đì ái cảm chỗ hành hung
Làm cho cuộc sống càng kinh khủng
Lại khiến hồng duyên chịu não nùng
Cũng chẳng phơi bày nơi đại chúng
Xin đừng giấu diếm chuyện hành tung
Mà nên thu xếp lìa tranh tụng
Kẻo mối tình mơ lại nhiễm trùng

Tình ơi giữ nhé cuộc tao phùng
Kỷ niệm muôn đời đẫm nhớ nhung
Rộn rã sum vầy trong ái phụng
Triên miên hạnh phúc giữa chăn mùng
Dù cho gió bão hoài va đụng
Vẫn nguyện ân tình mãi bổ sung
Rạng rỡ niềm yêu đồng sử dụng
Và luôn nồng mặn khúc thư hùng

HANSY

KHÔNG HẸN MÀ GẶP


KHÔNG HẸN MÀ GẶP

Cách đây không lâu, khoảng chừng gần nửa năm, khi vào một hiệu sách lớn, tôi gặp một người bạn mới, ông Phùng Thanh Vân. Qua trao đổi, tôi được biết ông là một nhà giáo, một nhà văn, nay đã cận kề cái tuổi 80 và dẫu với vóc dáng cường tráng, ông vẫn đi lại với một cái gậy. Vốn người Hà Nam, ông vào Thanh Hóa định cư nhiều năm và sau giải phóng, ông đã ghé lại Ninh Thuận, trước khi vào thành phố Hồ Chí Minh. Ông nói: “Tôi đi tìm mua các sách dành cho thiếu nhi vì đã từ lâu, tôi rất quan tâm đến món ăn tinh thần này của lớp trẻ.”

Tôi thật vui vì thấy những điều ông nói cũng là điều tôi trăn trở lâu nay. Một sự gặp mặt thú vị dẫu không hẹn hò. Ông Vân nói tiếp: “Lâu nay, tôi nghe nói nhiều về Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Ông ấy có nhiều tác phẩm ấn hành nhiều lần với số lượng lớn; đã được nhiều giải thưởng văn học, kể cả Giải thưởng Văn học của ASEAN. Tôi muốn được đọc và suy ngẫm về những tác phẩm ấy.”

 Khi biết tôi cũng đã từng dạy học và viết văn, ông Vân nói: “Mời bác cùng tôi làm công việc này. Bởi sách của Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh quá nhiều, chắc chắn tôi không sao đọc hết.” Tôi đáp: “Rất cảm ơn ông đã mời tôi cùng hợp tác vì đây là một việc làm vừa quý vừa hiếm. Quý vì thẩm định giá trị của loại sách này không chỉ góp phần trách nhiệm vì lớp trẻ mà đó còn là vì tương lai của dân tộc. Hiếm thì ông hiểu rõ quá rồi vì rất ít người chịu khó làm công việc này.”

 Vì quá vui và cũng vì trách nhiệm của một Nhà văn, tôi đã nhận lời.

 Nhưng lực bất tòng tâm, ở vào cái tuổi 93, tôi không còn đủ sức để mà đọc sách và cũng không còn đủ sáng suốt để mà phân tích nữa rồi. Rất may, sau đó một thời gian, khi đến nhà tôi chơi, ông Vân đã thông cảm để tôi được nghỉ. Rồi ông mỉm cười và nói:

- Vậy bao giờ bản thảo của tôi xong, nhờ bác giới thiệu sách nhé!
Tôi đáp:
- Được ông quan tâm, tôi xin nhận lời.

 Lúc bấy giờ tôi nói câu trả lời trên với sự suy nghĩ về một đối tác xã giao, nhưng thật không ngờ chỉ hơn bốn tháng sau, ông Vân đã trao cho tôi tập bản thảo của quyển sách này. Ông nói:
- Tôi chỉ chọn đọc và suy ngẫm về chức năng giáo dục ở những tác phẩm tiêu biểu của Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: đó là sách được tái bản nhiều lần; sách được giải thưởng văn học hoặc được chuyển thể thành phim.

 Tôi đã nhận lời thì phải thực hiện. Đọc tập bản thảo của ông Vân, tôi có hai ngạc nhiên lớn. Một là: Tôi thật không ngờ tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh lại có quá nhiều sự quái gở như thế và hai là: Với một thời gian không dài, ông Phùng Thanh Vân đã bỏ công sức đọc đi đọc lại hơn hai nghìn trang sách của Nguyễn Nhật Ánh để trích dẫn, phân tích rất là cụ thể với nhiều tham khảo từ các báo đài.

 Sau đó, ông cho tôi biết là đã tạm dừng những việc đang làm dở lại để mỗi ngày ông đọc và viết về truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh, thường là trên 12 tiếng; nhiều đêm chỉ ngủ 4 hoặc 5 giờ. Vợ con ông đã can ngăn, khuyên nên nghỉ sướng hơn, không nên bỏ nhiều công sức vào cái việc… vác tù và hàng tổng. Nhưng ông nghĩ rằng trách nhiệm của nhà văn, của nhà giáo là phải cố gắng hết mình để làm mọi việc có lợi cho dân, cho nước.

 Ông Vân kể: Mỗi lần thấy vợ tỏ ý can ngăn, ông lại đọc to:
  “… Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn…” (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu) để trấn an vợ.

 Và lẽ dĩ nhiên, giá trị của một tác phẩm là do người đọc quyết định.

VŨ HẠNH


Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019

8-BIỆT


12-TÔI YÊU EM


TÔI YÊU EM
[TNT-Ô thước]

TÔI vun diễm mộng nhớ em nhiều
TÔI vẫn xin người chẳng quá kiêu
TÔI ước ngàn mây thùa ngát điệu 
TÔI mơ ngọn nắng dệt thơm chiều
TÔI dâng nuộc ái trầm hương diệu
TÔI  buộc tim lòng ánh nguyệt phiêu 
TÔI nguyện chung tình mong ấy hiểu
TÔI hằng tâm niệm mãi hoài yêu

YÊU làn môi lựng hương tình nếm
YÊU nắng chiều loang sắc lụa mềm
YÊU ái thảo thơm bừng gối nệm 
YÊU nguyền lả lướt dậy từng đêm
YÊU người mải miết không hề kém
YÊU ấy triền miên chẳng sợ dèm 
YÊU khúc mơ lòng ươm cõi hẹn
YÊU hoài rộn rã bóng hình em

EM hỡi thề vang lời giữa giậu
EM ơi nghĩa vọng buổi bên cầu
EM à kỷ niệm xin hoài ngấu
EM nhé ân tình giữ mãi sâu
EM nhớ môi ngời luôn thắm đậu
EM xa chuyện nhảm kẻo u sầu
EM đừng để nhạt mùa giai ngẫu
EM mãi yêu nè hứa một câu

HANSY

NGÔN NGỮ LÍNH SÀI GÒN TRƯỚC NĂM 1975


NGÔN NGỮ LÍNH SÀI GÒN
TRƯỚC NĂM 1975

Có một sự thật đó là ngôn ngữ Sài Gòn ngay trước 75 mang đậm chất lính. Đó cũng là điều dễ hiểu vì miền Nam khi đó đang trong thời kỳ “leo thang chiến tranh” với lệnh “tổng động viên” trên toàn lãnh thổ. Vậy nên hôm nay chúng ta nói về ngôn ngữ lính Sài Gòn.

Thanh niên đến tuổi 18 đều bị “động viên” vào quân ngũ, chỉ trừ một số trường hợp được “hoãn dịch” vì lý do sức khỏe, gia cảnh hoặc học vấn… “Đi lính” là một thuật ngữ xuất hiện thường xuyên trên đầu môi cũng như trong tâm thức của mọi người. Bậc cha mẹ lo lắng khi con cái đến tuổi “quân dịch” còn thanh niên thì đứng trước một ngã rẽ quan trọng của cuộc đời: “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Mối lo của họ được thể hiện qua ám ảnh “Thi rớt tú tài…” và còn bi đát hơn với hai câu thơ này không biết có ai còn nhớ hay không:

Rớt tú tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà lấy Mỹ cho xong…

Thời nào cũng vậy, những thành phần COCC (chữ tắt của cụm từ Con Ông Cháu Cha), bao giờ cũng có cách luồn lách để khỏi đi lính. Người Sài Gòn thường dùng chữ “trốn lính” hay “trốn quân dịch”. Một trong những cách “trốn lính” là tìm đường cho các “quý tử” đi du học, hay cùng lắm, khi bị “bắt lính” các bậc cha mẹ lo “chạy” để con được phục vụ trong các đơn vị không tác chiến, làm “lính văn phòng”, hay còn được gọi bằng một thuật ngữ rất phổ biến là “lính kiểng”. Người ta thường chưng hoa kiểng, cây kiểng để làm đẹp căn nhà nhưng “lính kiểng” lại chính là một hình thức “tự làm đẹp đời mình” trước những viễn cảnh u ám của chiến tranh, bom đạn, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày.

Đôi khi “lính kiểng” còn được gọi qua cái tên nghe khá ngộ nghĩnh nhưng cũng rất thâm thúy: “lính cậu”. Chả là thứ lính này xuất thân từ những “cậu ấm” trong các gia đình quyền thế hoặc giàu có. Đây là loại “lính nhưng không phải là lính” nếu đem so sánh với những chiến binh ngày đêm phải đương đầu với súng đạn tại những tiền đồn heo hút hay rừng sâu núi thẳm, cách biệt hẳn với chốn phồn hoa đô hội. Xem ra câu “huynh đệ chi binh” không phải lúc nào cũng đúng như ý nghĩa vốn có của nó.

Hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, kẻ trước người sau, đều lần lượt rời ghế học trò để khoác trên mình bộ quần áo lính. Đó có thể là sắc áo “rằn ri” của các binh chủng dữ dằn như Nhảy dù (được “thần tượng hóa” thành “thiên thần mũ đỏ”). Lực lượng đặc biệt, Biệt cách dù hay Thủy quân lục chiến đội trên đầu chiếc mũ “mũ bê-rê xanh” còn Biệt động quân thì lại chọn màu mũ nâu. Còn nhớ AirborneRanger, Liên đoàn 81 Biệt cách dù, trong trận chiến An Lộc đã nổi tiếng với 2 câu thơ:

An Lộc địa, sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân.

Tuy nhiên, mũ bê-rê chỉ dùng khi về phép và các dịp đặc biệt. Khi ra trận mọi quân binh chủng đều đội chiếc “mũ sắt” phía bên trong có lót lớp “nũ nhựa” để bảo vệ phần đầu. Trên nguyên tắc là vậy chứ nhiều khi đạn có thể xuyên thủng “mũ sắt” nếu bắn từ khoảng cách gần.

Lính bộ binh thì “hiền” hơn với bộ kaki, sau này được thay thế bằng bộ quân phục “bốn túi”, áo bỏ ngoài quần, giống như lính Mỹ. Đặc điểm của bộ binh là phải “gom ống quần” trong khi Không quân và Hải quân được thả ống quần, “lè phè”, thoải mái. Cũng vì thế lính không quân và hải quân sợ nhất là bị “gom ống quần lội bộ”, thuật ngữ ám chỉ bị thuyên chuyển sang bộ binh để đi tác chiến…

“Giày trận” được gọi là “bốt đờ sô” (botte de saut), có loại hoàn toàn bằng da nhưng sau này có loại giày kết hợp giữa da và vải, rất nhẹ trong những chuyến lội rừng, băng suối. Lính “địa phương quân” hay “nghĩa quân” thì hẩm hiu hơn với những đôi giày bằng vải bố, được gọi tắt là “giày bố”, kiểu như giày “ba-ta” nhưng cổ cao hơn giày thường.

Ngay khi bắt đầu trình diện tại các Trung tâm Tuyển mộ Nhập ngũ, thanh niên dù “đăng lính” hay bị “bắt lính” cũng đều phải qua một trong những thủ tục là làm “thẻ bài”. Tấm “thẻ bài” là vật bất ly thân, được đeo trên cổ trong suốt thời gian tại ngũ của quân nhân. “Thẻ bài” tựa như tấm lắc đeo ở cổ con chó nên người Mỹ gọi nó bằng cái tên… “dog tag” (Dịch là: Thẻ chó)! Mỗi quân nhân bắt buộc có 2 tấm “thẻ bài” bằng kim loại không gỉ, được đeo bằng sợi dây cũng bằng kim loại. Trên mỗi tấm có ghi họ tên, “số quân” và loại máu để khi bị thương, cần tiếp máu, quân y biết ngay loại máu gì. Khi người chiến sĩ tử trận, một tấm thẻ bài được bỏ trong miệng tử sĩ và tấm kia đơn vị sẽ giữ lại để làm tài liệu báo cáo.

Bài hát “Tấm Thẻ Bài” qua tiếng hát liêu trai của Thanh Thúy đã gây nhiều xúc động trong lòng người nghe và mãi đến bây giờ, mỗi lần được nghe lại bài hát nầy hoặc là nhìn thấy lại hình tấm thẻ bài chúng ta càng thấy ngậm ngùi và thương tiếc những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua. Nhạc sĩ Huyền Anh đã viết những câu thật xúc động:

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đã mờ mờ mang tên anh.
Anh đã đi, đã đi vào vùng biển đời người
Anh ngủ yên, ngủ yên như cỏ úa
Anh ơi sau cuộc chiến này
Có còn chi để lại
Hay chỉ còn tấm thẻ bài mang tên anh

Và trong số các món quân trang, quân dụng được cấp phát, ngoài chiếc balô người lính còn có “poncho” là một tấm vải mưa trùm đầu theo kiểu vải khoác của người Nam Mỹ. Poncho ngoài việc là áo mưa còn có một công dụng mà bất cứ người lính nào cũng chẳng muốn sử dụng: poncho sẽ được dùng để khâm liệm xác của tử sĩ bỏ mình trên chiến trường.

“Trốn lính” là chấp nhận sống bên lề xã hội, “trốn chui trốn nhủi” khi thấy bóng dáng cảnh sát, quân cảnh. Cuộc sống của người trốn quân dịch là những chuỗi ngày bấp bênh, không tương lai ngay giữa Sài Gòn đô hội. Cũng vì thế, có người tự chặt “ngón tay bóp cò” (ngón trỏ) để khỏi đi lính, có người “tự hành xác”, “ốm tong ốm teo” để được các trung tâm nhập ngũ trả về vì “không đủ sức khỏe”…

Nguyễn Ngọc Chính


Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

7-MƠ PHAI


11-CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG
[Nhạc-Giao cổ]

XA biệt em rồi dạ đớn đau
NHAU xưa tình rã hoải hoang sầu 
CHƯA nhiều hạnh phúc ngày thương bậu
MÀ lại chia lìa buổi đoạn ngâu
LÒNG rạn bão lay nào hiểu thấu
NGHE chao nguyệt sẫm hết mong cầu
QUẠNH hiu gác phượng buồn giai ngẫu
VẮNG vẻ tim đờ mắt đẫm châu

ĐƯỜNG tình chi nữa để chờ mong
THÊNH  lệch vành tim khiến oải lòng
THANG đượm tan rồi đâu thể ngóng
GIÓ bừng nghẹn tắt chẳng gì trông
LỘNG thơm thảo ước giờ bay mộng
MỘT não nề loang hiện kín phòng
MÌNH rã rượi nhiều trong ảo vọng
TA sầu bởi ái trở mùa đông

RƯỢU đắng bày ra tiễn trước thềm
CẠN niềm u uẩn dặc dằng đêm
LY tràn tửu thoát mùi chăn nệm
UỐNG đoạn trần ai gió phả rèm
SAY khướt quặn tâm sầu miễn nhiễm
LÒNG buồn khắc khoải ngỡ ngàng thêm
CÒN ta ngoái vọng mùa thương huyễn
GIÁ lạnh trầm kha buốt dạ mềm

LÁ tình đã rụng héo mòn thơ
TRÊN nẻo mùa xưa lặng ngắt tờ
CÀNH rã xiêu tàn đau đớn mở
MỘT chìm khổ dại guộc gầy mơ
CHIẾC trâm nát giữa vòng thương nhớ
CUỐI quãng vùi trong nẻo ái mờ
BAY dạt ven đời thêm ngẩn ngớ
XA rồi hoang hoải khiến lòng ngơ

HANSY