Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2019

15-KHÚC TỨ MÙA


KHÚC TỨ MÙA
[TNT-Láy]



XUÂN chiều lả lướt diễm nồng khai
XUÂN ngọt ngào hương giữa nguyệt đài
XUÂN chứa chan hồn đơm tuyệt quả
XUÂN dào dạt cõi lộng bừng mai
XUÂN lòng rộn rã gieo vần hái
XUÂN ý triền miên dệt tứ cài
XUÂN mặn mà loang niềm ước trải
XUÂN tình rạng rỡ vọng chờ ai

HẠ loáng nghiêng thềm phảng phất ai
HẠ thương nũng nịu tóc mây cài 
HẠ thơm thảo nắng vờn hương cải
HẠ khát khao tình nhớ sắc mai
HẠ níu chân trời xao xuyến đượm
HẠ loang cuối nẻo thẩn thơ dài
HẠ về ngúng nguẩy thời ngây dại
HẠ sởn sơ lòng khó nhạt phai

THU về chập chững lá dần phai
THU quánh sương khuya lặng lẽ mài
THU mẩn mê đời dâng ước lại
THU ngào ngọt cõi hẹn thề lai
THU vờn sắc dịu mơ màng rải
THU ướp lòng thơm rộn rã chài
THU khúc êm đềm qua vạn đại
THU hoài lả lướt mộng tìm ai

ĐÔNG lẻ loi sầu một dáng ai
ĐÔNG vang khắc khoải điệu bi hài
ĐÔNG bề bộn nẻo chờ hoa trái
ĐÔNG tỉ tê hồn gọi gái trai
ĐÔNG phủ muôn trùng chao đảo dại
ĐÔNG xa vạn kiếp thở than dài
ĐÔNG choàng lạnh lẽo ngùi thương hại
ĐÔNG hút heo gầy khiến mộng phai

HANSY

PHIÊN ÂM CÒN KÉM HIỆU KHẢO CHƯA ĐẠT


PHIÊN ÂM CÒN KÉM
HIỆU KHẢO CHƯA ĐẠT

Quyển Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hổ đã được Trần Trọng Dương khảo cứu và công bố dưới nhan đề Khảo cứu từ điển song ngữ Hán Việt - Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hổ (NXB Văn học, Hà Nội, 2016, ảnh).

Sách có sao chụp đầy đủ nguyên bản Hán Nôm, ký hiệu R.1726 với phần phiên âm của Lê Văn Cường. Trong sách, bản phiên âm này đã được Trần Trọng Dương hiệu khảo và chú thích. Rất đáng tiếc là tuy mới sơ bộ khảo sát mà chúng tôi đã thấy có đến 120 chỗ phiên âm còn kém, hiệu khảo chưa đạt. Dưới đây chỉ là một số dẫn chứng (sau chữ “tr.” là số thứ tự của trang quốc ngữ, liền sau dấu gạch chéo là số trang của bản R.1726).
1.
“Thái Bạch là sao phóng” (tr. 287/4a). Làm gì có “sao phóng”. Trong bản R.1726 thì chữ đang xét là mai [] nhưng vì nét in hơi nhòe nên mới bị đọc sai thành “phóng” []. Trong R.1726, ngay phía dưới, chếch về bên trái, người dùng trước đã ghi cho rõ thêm bằng ngòi bút sắt rằng đó là chữ mai [] nhưng rất tiếc là cả nhà phiên âm và nhà hiệu khảo đều... không thấy. Huống chi, liền ngay sau đó còn có câu: “Trường canh [長庚] là sao sớm tức Thái Bạch”. Thái Bạch là “sao sớm”.“Sao sớm” là gì, nếu không phải là “sao mai”?
2.
“Tuệ [] là sao xể” (tr. 287/4a). Là sao chổi chứ làm gì có “sao xể”? Chính nhà hiệu khảo đã ghi tại cước chú 3 như sau: “Nguyên văn chữ Nôm ghi: [+] thanh phù xể, hoặc chuế . Có thể đọc là chổi (…)”. Đã nhận xét được như thế mà sao lại còn chấp nhận “sao xể”? Tuệ [] hiển nhiên là sao chổi.
3.
“Nhĩ trưu [耳鍬] là cái nỉ cài che tai” (tr. 350/32b). Hẳn chẳng biết có vị thức giả nào biết “cái nỉ cài che tai” là cái gì còn Phạm Đình Hổ thì viết: “Nhĩ thiêu là cái nỉa cạy ráy tai”. Trong R.1726, chữ nỉa ghi bằng [+], chữ cạy bằng [+] và chữ ráy bằng [+]. Chữ nỉa [+] đã được ghi nhận trong Tự điển chữ Nôm dẫn giải của Nguyễn Quang Hồng, tập 2, tr. 1.375; chữ ráy [+] cũng được ghi nhận trong tập 2 này, trang 1.532. Còn chữ [] đọc là thiêu chứ không phải “trưu”. Vậy cái mà nhà phiên âm và nhà hiệu khảo đọc thành “nỉ cài che tai” chính là cái “nỉa cạy ráy tai”, tức là cái mà ngôn ngữ bình dân trong nam gọi là cây móc tai, cái vật bé nhỏ dùng để cạy cứt ráy.

AN CHI

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2019

10-HOA NHỚ


14-LỠ LÀNG MỘNG ƯỚC


LỠ LÀNG MỘNG ƯỚC

[Ô thước]

Hẹn ước tan rồi vắng biệt nhau
Ngàn xưa kỷ niệm bỗng hoen màu
Người ơi thuở đó ngời nhanh nhảu
Ái hỡi tim này lậm đớn đau
Biết vậy đừng mơ hàng ngọc báu
Chi nào vướng bận lẽ vàng thau
Làm sao có chỗ mà yên náu
Giữa đoạn lầm si lỡ chuyến tàu

Con tàu hiệp cẩn đã dần trôi
Nuối tiếc làm chi cũng lỡ rồi
Khiến đảo chao nguyền khi hẹn dối
Thêm tàn tạ ước dạo thề ôi
Mà chêm vớ vẩn ê chề dội
Lại thấy đìu hiu mải miết bồi
Đứt đoạn tơ hồng đau dạ rối
Nghe lòng rạn vỡ giữa tình côi

Rạn vỡ trầu cau quạnh quẽ nhà
Thôi rồi hiệp cẩn đã mù xa
Vì sao mộng ước đành tan rã
Khiến nỗi tình yêu hết đượm đà
Cứ tưởng muôn đời luôn đắm dạ
Ai dè mấy bữa lại lìa ta
Giờ đây quá vãng dường như lạ
Kỷ niệm nhòe sương giữa cuối tà


HANSY

KHÁM PHÁ “CÂU CHỮ TRUYỆN KIỀU”


KHÁM PHÁ
“CÂU CHỮ TRUYỆN KIỀU”

Những tìm tòi, khám phá thú vị của học giả An Chi (83 tuổi) về câu chữ xung quanh kiệt tác văn chương của đại thi hào Nguyễn Du vừa được công bố qua tác phẩm Câu chữ Truyện Kiều, do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành.

Học giả An Chi bên tác phẩm 'Câu chữ Truyện Kiều'-ẢNH: QUỲNH TRÂN
Mã giám sinh có râu?

Nhiều thắc mắc về câu: “Trăm năm trong cõi người ta” thì hai chữ “trăm năm” là bao nhiêu năm? Tại sao quyển Kim Vân Kiều tân truyện do Abel des Michels dịch sang tiếng Pháp ghi là: De tout temps, parmi les hommes? Tại sao trăm năm lại không phải cent ans mà là De tout temps (tạm dịch “bao giờ cũng…”, “luôn luôn”)? An Chi lý giải: “Tôi cho rằng ở đây người hiểu đúng ý của Nguyễn Du chính là Abel des Michels. Trong bài viết Trăm năm trong cõi người ta nghĩa là gì, Cao Xuân Hạo đã giải thích: “Mấy chữ “trong cõi người ta” khó lòng có thể hiểu thành “trong vòng một đời người”, trước hết cõi chỉ một khoảng không gian, một nơi chốn, chứ không bao giờ chỉ một khoảng thời gian. Còn hai chữ trăm năm thì hiểu là thời gian của một đời người nhưng cũng có thể hiểu theo cách dùng số từ thông dụng trong các tiếng: Việt, Hán, Nhật và nhiều tiếng Á Đông khác, như một thời gian dài không hạn định, có nghĩa xưa nay trong cõi thế gian chứ không phải trong vòng một trăm năm
của một kiếp người”.

Mã Giám Sinh có râu hay không râu? Học giả An Chi phân tích: “Đáng tiếc có người cho rằng mày râu nhẵn nhụi ở đây là trụi lủi vì bị cạo, nên mới phát sinh thắc mắc là: Họ Mã có cạo cả lông mày hay không? Nếu có thì kỳ cục quá nhưng nếu không thì tại sao Nguyễn Du lại viết như vậy? Cuối cùng cũng ra được cách hiểu “đờ mi” cho rằng, tuy viết thế nhưng họ Mã chỉ cạo trụi râu thôi chứ lông mày thì ngài còn chừa lại, khác nào nói rằng đại thi hào quá kém cỏi trong việc sử dụng từ ngữ. Nếu nói rằng “Mã Giám Sinh làm gì có râu mà cạo” thì thật là chẳng hay biết gì đến ý nghĩa và công dụng của hai tiếng nhẵn nhụi. Khi người ta nói “thằng ấy thua nhẵn túi” thì có nghĩa trước đó trong túi hắn ta đã có tiền… Vậy nếu họ Mã không có râu thì lấy đâu mà… nhẵn nhụi. Đúng như Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, Từ điển từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành và VN tự điển của Lê Văn Đức đều giảng rằng mày râu nhẵn nhụi là mày râu đã được chăm chút ngay ngắn, dễ coi”.

Đoạn Sở Khanh nói với Kiều: “Rằng ta có ngựa truy phong”, trong khi một số bản chú giải của Đào Duy Anh, Nguyễn Thạch Giang (NXB Văn học 1965), Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đều có đại ý rằng ngựa truy phong là ngựa chạy thật nhanh, có thể đuổi theo gió. Ở Thúy Kiều truyện tường chú của Chiêm Vân Thị, thì chú: Vua Thủy Hoàng nước Tần có 7 con ngựa tốt, con tốt nhất gọi là Truy Phong (chạy nhanh đuổi kịp gió), còn học giả An Chi nhận định: “Thành ngữ truy phong - nhiếp cảnh bắt nguồn từ tên hai con ngựa giỏi của Tần Thủy Hoàng, do đó trong ngữ đoạn danh từ ngựa truy phong của tiếng Việt không phải là một ẩn dụ của động từ truy phong (đuổi gió) trong tiếng Hán mà từ tên con ngựa Truy Phong”.

Luôn đến cùng sự thật chữ nghĩa

Xung quanh các tranh luận để có tác phẩm Câu chữ Truyện Kiều, ông An Chi phải đụng chạm tới những “tượng đài” như: Nguyễn Quảng Tuân, Hoàng Xuân Hãn, TS Đào Quang Huy, Nguyễn Tài Cẩn... thậm chí có người ở Hội Kiều học như Nguyễn Khắc Bảo còn phản ứng gay gắt.

Tuy nhiên, học giả An Chi khẳng định: “Mặc dù không dám tự nhận mình là tài giỏi hoặc thâm sâu về chuyên môn nhưng Huệ Thiên đã làm thì sự thật phải là cái đích luôn vươn tới. Nhờ có thể tra cứu ngoại ngữ: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, chữ Hán và Sanskrit (ngôn ngữ cổ ở Ấn Độ) nên tôi gặp thuận lợi hơn trong khi biện luận. Với học giả Hoàng Xuân Hãn, tôi không tán thành ông ở nhiều chỗ được in trong cuốn Câu chữ Truyện Kiều: Chuyện “bát Kiều” của Hoàng Xuân Hãn hãy còn là một nghi án; Nhận xét bài “Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về truyện Kiều trên tạp chí Văn học”; Về quyển Kiều mà học giả Hoàng Xuân Hãn dự định công bố… nhưng không vì thế mà làm cho danh tiếng của ông bị ảnh hưởng”.

Cũng chính vì quá thẳng thắn, đấu tranh đến cùng cho ngữ nghĩa con chữ như thế nên gần 15 năm trời lo bếp núc Chuyện Đông, chuyện Tây trên tạp chí Kiến thức ngày nay, ông từng có lúc bị “lên bờ xuống ruộng”, phải ngưng phụ trách tới… 5 kỳ báo. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đề nghị ông tiếp tục viết thì phải ký tên khác để tránh rắc rối.

Lúc ấy chủ biên Hàn Tấn Quang đặt bút danh mới là Lão Ngoan Đồng (tên nhân vật trong Anh hùng Xạ Điêu) nhưng ông không thích lắm. Cuối cùng Huệ Thiên tự chọn cho mình tên mới là An Chi như sự an nhiên tự tại, không muốn sinh sự với ai nữa nhưng ông muốn nhắn với mọi người là Huệ Thiên (An Chi) vẫn… y chang chứ không thay đổi gì hết.

Vậy là nhờ tiếp tục được công việc nghiên cứu mà trên 100 kiến giải trong Câu chữ Truyện Kiều được An Chi khám phá rất độc đáo, khoa học, với mỗi bài viết của ông như một lời bình Kiều, lẩy Kiều sâu sắc. Một công việc bền bỉ mà theo học giả muốn giúp độc giả hiểu thêm về các câu chữ, điển tích của Truyện Kiềucũng như sự tài hoa trong sử dụng ngôn ngữ tài tình của đại thi hào Nguyễn Du.

“Đọc Câu chữ Truyện Kiều để thấy rằng, lâu nay đã có nhiều văn bản Kiều và nhiều học giả giải thích, chú giải… Thế nhưng với An Chi, qua cách lý giải thấu đáo, uyên bác, ông đã “lật ngược vấn đề” một cách ngoạn mục và rất bất ngờ. Ông đã có cái nhìn khác các học giả tầm cỡ như Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Huệ Chi, Vũ Văn Kính… Câu chữ Truyện Kiều của An Chi có sức hấp dẫn là ngoài tài liệu “nói có sách, mách có chứng”, còn ở chỗ ông chọn cách diễn đạt trầm tĩnh, thân mật như đang trò chuyện cùng bạn đọc”. Nhà thơ - nhà báo Lê Minh Quốc

LÂ CÔNG SƠN
-------------------------
Tác giả An Chi tên thật là Võ Thiện Hoa. Ông còn có bút danh khác: Huệ Thiên, Huyện Thê, Viễn Thọ. Tuy nhiên, ông vẫn thích nhất bút danh Huệ Thiên vì: “Nhiều người cứ hỏi tôi Huệ Thiên là sao? Rất đơn giản, Thiện Hoa - tên của tôi nói lái ra thành Họa Thiên, mà nghe cả trời tai họa thì… ghê quá! Nhờ trong nam cũng nói Hoa thành Huê nên tôi mới lái Thiện Huê thành Huệ Thiên”.

NHỮNG BỨC TRANH CỦA BÙI GIÁNG


SỰ THẬT VỀ NHỮNG BỨC TRANH
CỦA BÙI GIÁNG


Một bức tranh vẽ Từ Hải của Bùi Giáng
Những nghệ sĩ lớn thường phát tiết “tinh anh”, cảm xúc của mình qua hình thể tác phẩm nhiều loại hình nghệ thuật. Bùi Giáng là một nhà thơ tài năng như vậy. Sau ngày Trung niên thi sĩ mất (7.10.1998), nhiều tác phẩm hội hoạ của ông tiếp tục được tìm thấy.

Mới đây, một bức tranh của Bùi Giáng vừa được đưa ra gây chú ý trong giới thưởng ngoạn mỹ thuật. Bức chân dung Trung niên Thi sĩ vẽ từ năm 1988. Cái lạ của ký hoạ này tuy là một gương mặt nhưng được ông chú thích hai người đó là vẽ Nguyễn Du và Phạm Thái.

"Nguyễn Du - Phạm Thái", bức chân dung vừa được tìm thấy của Trung niên Thi sĩ
Có nhiều lý giải về chú thích bức tranh. Một phía nghiêng về trạng thái mê mê tỉnh tỉnh lên đồng của "Thi sĩ điên". Khi sướng lên là ông vẽ thôi. Bất cần biết ai. Nhưng một phía khác lý giải Bùi Giáng hoàn toàn không điên mà ông vẽ rất có ý thức.

Ai cũng biết sinh thời ngoài thơ ông còn viết rất nhiều khảo luận, nghiên cứu về một số tác phẩm kiệt tác cổ điển Việt Nam mà ông đặc biệt yêu thích trong đó có tác phẩm Kiều của Nguyễn Du và Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái. Tuy nhiên cả Nguyễn Du (1766 - 1820) và Phạm Thái (1777 - 1813) đều không để lại cho hậu thế một di ảnh nào.

Bức tranh có thể đã đi ra từ những nhân vật của các tác phẩm đó là hai ông Từ Hải, Trương Đăng Thụ với những câu thơ tài hoa mô tả, oanh liệt, uy dũng, đại trượng phu như "Râu hùm hàm én mày ngài/Vai năm tấc rộng thân mười thước cao" chăng? Như vậy Bùi Giáng không vẽ người mà là... vẽ thơ!

Bùi Giáng là một hiện tượng độc đáo của thơ Việt. Cuộc đời ông để lại gia tài thơ đồ sộ có lẽ phải lên tới hàng ngàn bài và không hiếm những giai thoại thơ. Tuy nhiên, ngoài thơ, thời gian gần đây tranh của ông cũng có rất nhiều giai thoại thú vị như trên.

Trong một bài viết trước đây, chúng tôi có kể câu chuyện khi đến tư gia của nhà thơ Ngô Văn Tao trên đường Huỳnh Khương Ninh, quận 1, TP. HCM tìm tư liệu cho bài viết tranh ký họa Trịnh Công Sơn thì bất ngờ phát hiện ra ông Tao còn sưu tập, lưu trữ được một số tranh "hiếm quý" của Bùi Giáng.

Bức tranh "Quê chàng là Ithaque" ông Ngô Văn Tao sở hữu của thi sĩ Bùi Giáng
Bức tranh ông Tao sở hữu có khổ 1m x 1,5m, vẽ sơn dầu, có tên Quê chàng là Ithaque, chữ ký của Bùi Giáng và bút tích của ông ghi năm thực hiện là 63 (có lẽ viết tắt năm 1963) tại Sài Gòn. Bức tranh vẽ chủ đạo 3 gam màu vàng, đỏ và đen. Bố cục nổi rõ lên một chàng thi sĩ tóc bềnh bồng đang ngồi trên một cỗ xe có hai con ngựa kéo.

Theo ghi nhận riêng của chúng tôi thì bức sơn dầu này "ý tại ngôn ngoại", có kỹ thuật và rất độc đáo. Tuy là thể hiện bằng màu sắc nhưng có lẽ nội dung gửi gắm hướng đến một đề tài trừu tượng hơn là thuần túy phản ánh hiện thực. Đó có thể là trạng thái thoát tục của người làm nghệ thuật, đặc biệt là một tâm hồn thi ca thường xuyên thăng hoa như Bùi Giáng. Nhìn bức tranh như hiểu thêm ý một câu thơ ông viết mà nhiều người cho là bí hiểm: "Lạc loài đã rớt đi đâu/Chiếc chìa khóa mộng rực màu so le". Tranh ông như giải thêm nghĩa cho thơ.

Bìa tập thơ in chung của thi sĩ Bùi Giáng và Ngô Văn Tao với chủ đạo bức tranh "Quê chàng là Ithaque". Bên trái là chân dung Bùi Giáng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
Ông Tao cho biết đã mua bức tranh này một cách khá tình cờ của một độc giả yêu tác phẩm thơ Bùi Giáng bán lại: "Tôi cũng không rõ làm sao anh ta có bức tranh này", ông Tao hồi tưởng. Khi chúng tôi đặt câu hỏi nghi hoặc liệu có phải đúng là tranh Bùi Giáng hay không thì ông Tao quả quyết ngày còn sống, giữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng và ông Tao là thân hữu. Rất nhiều lần ông Tao hỏi Bùi Giáng về tác giả bức tranh. Bùi tiên sinh đã xác nhận chính là tranh ông vẽ.

Tự họa Bùi Giáng thưở Bài ca quần đảo - 1972
Khi làm bìa cho tập thơ chung in song ngữ Việt Pháp của hai ông Vào chung cục thơ - La commune poétique aventure (NXB Hội nhà văn 2004), ông Tao đã chụp hình bức tranh này làm bìa. Kết thúc câu chuyện, ông Tao nói: "Còn bao nhiêu tranh của Bùi Giáng quả là câu hỏi kỳ thú. Từ bấy đến nay, tôi cố ý tìm thêm nhưng chưa thấy".

Thi sĩ tự họa trên tờ lịch
Nhà thơ trẻ Vương Huy ở Cai Lậy, Tiền Giang - một người mê thơ Bùi Giáng đã sưu tầm gần đầy đủ các tác phẩm thơ, dịch, khảo luận của ông từ trước đến nay vừa thông tin cho chúng tôi biết, anh từng tìm thấy một phiên bản chụp bức tranh Quê chàng là Ithaque với chỉ hai màu đen trắng in trong tác phẩm Heidegger và tư tưởng hiện đại do Bùi Giáng viết và dịch in ở Sài Gòn năm 1963. Tấm hình này minh họa cho mục Heidegger và hình bóng của Nietzsche là một phần quan trọng trong cuốn sách đã kể trên của ông. Như vậy có thể thấy Bùi Giáng là tác giả bức tranh trên là có cơ sở.

Bức tranh "Gửi đêm" của Bùi Giáng từng được đấu giá 27 ngàn đô
Chúng tôi cũng đã tìm được nhiều tư liệu khẳng định Bùi Giáng từng vẽ rất nhiều tranh. Ví dụ cuốn Bùi Giáng trong tôi (NXB Văn nghệ 2005), một cuốn sưu tầm khá công phu của nhà thư pháp Hồ Công Khanh. Theo lời kể của tộc Bùi ở Vĩnh Trinh, Duy Xuyên - Quảng Nam, cụ thể là ông Bùi Vịnh, một bào đệ thì:

"Năm 1950, Bùi Giáng đỗ tú tài II ban văn chương. Năm 1952 vào Sài Gòn dạy học, viết sách và vẽ tranh". Và một người thầy của Bùi Giáng là giáo sư Vũ Ký khi gặp lại ở Sài Gòn thời gian trên thì: "Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ở hẻm Trương Minh Giảng". Đặc biệt, tập sách trên còn tìm được rất nhiều tranh vẽ bằng mực tàu, bút bi khá độc của Bùi Giáng.

Hoạ sĩ Đinh Cường và thi sĩ Bùi Giáng
Đáng chú ý và thuyết phục nhất, gần đây, họa sĩ Đinh Cường trong bài viết có nhan đề "Bùi Giáng - Đi về với gió du côn" ông xác tín: "Anh (Bùi Giáng) đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan Thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương Tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Đồng Khởi, TP.HCM)".

Theo nguồn tin đáng tin cậy từ một Nhà sưu tập, bức tranh Gửi đêm của Bùi Giáng đã từng đấu giá thành công 27 ngàn đô trong một triển lãm.

Như vậy xem ra khó có thể xem tranh Thi sĩ là "nghiệp dư" bởi chính giá tranh của ông cũng đang là ước mơ của nhiều hoạ sĩ chuyên nghiệp. Nhưng xem ra vẫn khó đủ khi ngày còn sống, thi sĩ đã từng thao thiết tự hỏi "Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?"

Nguyễn Hữu Hồng Minh



Thứ Tư, 29 tháng 5, 2019

9-NỤ HÔN ĐẦU


13-NHUNG NHỚ VÔ CÙNG


NHUNG NHỚ VÔ CÙNG

Chớ để mầm yêu phải bão bùng
Không đì ái cảm chỗ hành hung
Làm cho cuộc sống càng kinh khủng
Lại khiến hồng duyên chịu não nùng
Cũng chẳng phơi bày nơi đại chúng
Xin đừng giấu diếm chuyện hành tung
Mà nên thu xếp lìa tranh tụng
Kẻo mối tình mơ lại nhiễm trùng

Tình ơi giữ nhé cuộc tao phùng
Kỷ niệm muôn đời đẫm nhớ nhung
Rộn rã sum vầy trong ái phụng
Triên miên hạnh phúc giữa chăn mùng
Dù cho gió bão hoài va đụng
Vẫn nguyện ân tình mãi bổ sung
Rạng rỡ niềm yêu đồng sử dụng
Và luôn nồng mặn khúc thư hùng

HANSY

KHÔNG HẸN MÀ GẶP


KHÔNG HẸN MÀ GẶP

Cách đây không lâu, khoảng chừng gần nửa năm, khi vào một hiệu sách lớn, tôi gặp một người bạn mới, ông Phùng Thanh Vân. Qua trao đổi, tôi được biết ông là một nhà giáo, một nhà văn, nay đã cận kề cái tuổi 80 và dẫu với vóc dáng cường tráng, ông vẫn đi lại với một cái gậy. Vốn người Hà Nam, ông vào Thanh Hóa định cư nhiều năm và sau giải phóng, ông đã ghé lại Ninh Thuận, trước khi vào thành phố Hồ Chí Minh. Ông nói: “Tôi đi tìm mua các sách dành cho thiếu nhi vì đã từ lâu, tôi rất quan tâm đến món ăn tinh thần này của lớp trẻ.”

Tôi thật vui vì thấy những điều ông nói cũng là điều tôi trăn trở lâu nay. Một sự gặp mặt thú vị dẫu không hẹn hò. Ông Vân nói tiếp: “Lâu nay, tôi nghe nói nhiều về Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Ông ấy có nhiều tác phẩm ấn hành nhiều lần với số lượng lớn; đã được nhiều giải thưởng văn học, kể cả Giải thưởng Văn học của ASEAN. Tôi muốn được đọc và suy ngẫm về những tác phẩm ấy.”

 Khi biết tôi cũng đã từng dạy học và viết văn, ông Vân nói: “Mời bác cùng tôi làm công việc này. Bởi sách của Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh quá nhiều, chắc chắn tôi không sao đọc hết.” Tôi đáp: “Rất cảm ơn ông đã mời tôi cùng hợp tác vì đây là một việc làm vừa quý vừa hiếm. Quý vì thẩm định giá trị của loại sách này không chỉ góp phần trách nhiệm vì lớp trẻ mà đó còn là vì tương lai của dân tộc. Hiếm thì ông hiểu rõ quá rồi vì rất ít người chịu khó làm công việc này.”

 Vì quá vui và cũng vì trách nhiệm của một Nhà văn, tôi đã nhận lời.

 Nhưng lực bất tòng tâm, ở vào cái tuổi 93, tôi không còn đủ sức để mà đọc sách và cũng không còn đủ sáng suốt để mà phân tích nữa rồi. Rất may, sau đó một thời gian, khi đến nhà tôi chơi, ông Vân đã thông cảm để tôi được nghỉ. Rồi ông mỉm cười và nói:

- Vậy bao giờ bản thảo của tôi xong, nhờ bác giới thiệu sách nhé!
Tôi đáp:
- Được ông quan tâm, tôi xin nhận lời.

 Lúc bấy giờ tôi nói câu trả lời trên với sự suy nghĩ về một đối tác xã giao, nhưng thật không ngờ chỉ hơn bốn tháng sau, ông Vân đã trao cho tôi tập bản thảo của quyển sách này. Ông nói:
- Tôi chỉ chọn đọc và suy ngẫm về chức năng giáo dục ở những tác phẩm tiêu biểu của Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: đó là sách được tái bản nhiều lần; sách được giải thưởng văn học hoặc được chuyển thể thành phim.

 Tôi đã nhận lời thì phải thực hiện. Đọc tập bản thảo của ông Vân, tôi có hai ngạc nhiên lớn. Một là: Tôi thật không ngờ tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh lại có quá nhiều sự quái gở như thế và hai là: Với một thời gian không dài, ông Phùng Thanh Vân đã bỏ công sức đọc đi đọc lại hơn hai nghìn trang sách của Nguyễn Nhật Ánh để trích dẫn, phân tích rất là cụ thể với nhiều tham khảo từ các báo đài.

 Sau đó, ông cho tôi biết là đã tạm dừng những việc đang làm dở lại để mỗi ngày ông đọc và viết về truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh, thường là trên 12 tiếng; nhiều đêm chỉ ngủ 4 hoặc 5 giờ. Vợ con ông đã can ngăn, khuyên nên nghỉ sướng hơn, không nên bỏ nhiều công sức vào cái việc… vác tù và hàng tổng. Nhưng ông nghĩ rằng trách nhiệm của nhà văn, của nhà giáo là phải cố gắng hết mình để làm mọi việc có lợi cho dân, cho nước.

 Ông Vân kể: Mỗi lần thấy vợ tỏ ý can ngăn, ông lại đọc to:
  “… Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn…” (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu) để trấn an vợ.

 Và lẽ dĩ nhiên, giá trị của một tác phẩm là do người đọc quyết định.

VŨ HẠNH


Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019

8-BIỆT


12-TÔI YÊU EM


TÔI YÊU EM
[TNT]

TÔI ươm diễm mộng nhớ em nhiều
TÔI vẫn xin người chẳng quá kiêu
TÔI ước ngàn mây thùa ngát điệu 
TÔI mơ ngọn nắng dệt thơm chiều
TÔI dâng nuộc ái trầm hương diệu
TÔI  buộc tim lòng ánh nguyệt phiêu 
TÔI nguyện chung tình mong ấy hiểu
TÔI hằng khắc dạ mãi hoài yêu

YÊU làn má đỏ hương tình nếm
YÊU nắng chiều nhiêng sắc lụa mềm
YÊU ái thảo thơm bừng gối nệm 
YÊU nguyền lả lướt dậy từng đêm
YÊU người mải miết không hề lẹm
YÊU ấy triền miên chẳng sợ dèm 
YÊU khúc mơ lòng luôn khắc niệm
YÊU hoài rộn rã bóng hình em

EM hỡi thề vang lời giữa giậu
EM ơi nghĩa vọng buổi bên cầu
EM à kỷ niệm xin hoài ngấu
EM nhé ân tình giữ mãi sâu
EM nhớ môi ngời cho thắm đậu
EM xa chuyện nhảm kẻo u sầu
EM đừng để nhạt nguyền giai ngẫu
EM vẫn yêu nè hứa một câu

HANSY

NGÔN NGỮ LÍNH SÀI GÒN TRƯỚC NĂM 1975


NGÔN NGỮ LÍNH SÀI GÒN
TRƯỚC NĂM 1975

Có một sự thật đó là ngôn ngữ Sài Gòn ngay trước 75 mang đậm chất lính. Đó cũng là điều dễ hiểu vì miền Nam khi đó đang trong thời kỳ “leo thang chiến tranh” với lệnh “tổng động viên” trên toàn lãnh thổ. Vậy nên hôm nay chúng ta nói về ngôn ngữ lính Sài Gòn.

Thanh niên đến tuổi 18 đều bị “động viên” vào quân ngũ, chỉ trừ một số trường hợp được “hoãn dịch” vì lý do sức khỏe, gia cảnh hoặc học vấn… “Đi lính” là một thuật ngữ xuất hiện thường xuyên trên đầu môi cũng như trong tâm thức của mọi người. Bậc cha mẹ lo lắng khi con cái đến tuổi “quân dịch” còn thanh niên thì đứng trước một ngã rẽ quan trọng của cuộc đời: “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Mối lo của họ được thể hiện qua ám ảnh “Thi rớt tú tài…” và còn bi đát hơn với hai câu thơ này không biết có ai còn nhớ hay không:

Rớt tú tài anh đi trung sĩ,
Em ở nhà lấy Mỹ cho xong…

Thời nào cũng vậy, những thành phần COCC (chữ tắt của cụm từ Con Ông Cháu Cha), bao giờ cũng có cách luồn lách để khỏi đi lính. Người Sài Gòn thường dùng chữ “trốn lính” hay “trốn quân dịch”. Một trong những cách “trốn lính” là tìm đường cho các “quý tử” đi du học, hay cùng lắm, khi bị “bắt lính” các bậc cha mẹ lo “chạy” để con được phục vụ trong các đơn vị không tác chiến, làm “lính văn phòng”, hay còn được gọi bằng một thuật ngữ rất phổ biến là “lính kiểng”. Người ta thường chưng hoa kiểng, cây kiểng để làm đẹp căn nhà nhưng “lính kiểng” lại chính là một hình thức “tự làm đẹp đời mình” trước những viễn cảnh u ám của chiến tranh, bom đạn, chết chóc vẫn xảy ra hàng ngày.

Đôi khi “lính kiểng” còn được gọi qua cái tên nghe khá ngộ nghĩnh nhưng cũng rất thâm thúy: “lính cậu”. Chả là thứ lính này xuất thân từ những “cậu ấm” trong các gia đình quyền thế hoặc giàu có. Đây là loại “lính nhưng không phải là lính” nếu đem so sánh với những chiến binh ngày đêm phải đương đầu với súng đạn tại những tiền đồn heo hút hay rừng sâu núi thẳm, cách biệt hẳn với chốn phồn hoa đô hội. Xem ra câu “huynh đệ chi binh” không phải lúc nào cũng đúng như ý nghĩa vốn có của nó.

Hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, kẻ trước người sau, đều lần lượt rời ghế học trò để khoác trên mình bộ quần áo lính. Đó có thể là sắc áo “rằn ri” của các binh chủng dữ dằn như Nhảy dù (được “thần tượng hóa” thành “thiên thần mũ đỏ”). Lực lượng đặc biệt, Biệt cách dù hay Thủy quân lục chiến đội trên đầu chiếc mũ “mũ bê-rê xanh” còn Biệt động quân thì lại chọn màu mũ nâu. Còn nhớ AirborneRanger, Liên đoàn 81 Biệt cách dù, trong trận chiến An Lộc đã nổi tiếng với 2 câu thơ:

An Lộc địa, sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân.

Tuy nhiên, mũ bê-rê chỉ dùng khi về phép và các dịp đặc biệt. Khi ra trận mọi quân binh chủng đều đội chiếc “mũ sắt” phía bên trong có lót lớp “nũ nhựa” để bảo vệ phần đầu. Trên nguyên tắc là vậy chứ nhiều khi đạn có thể xuyên thủng “mũ sắt” nếu bắn từ khoảng cách gần.

Lính bộ binh thì “hiền” hơn với bộ kaki, sau này được thay thế bằng bộ quân phục “bốn túi”, áo bỏ ngoài quần, giống như lính Mỹ. Đặc điểm của bộ binh là phải “gom ống quần” trong khi Không quân và Hải quân được thả ống quần, “lè phè”, thoải mái. Cũng vì thế lính không quân và hải quân sợ nhất là bị “gom ống quần lội bộ”, thuật ngữ ám chỉ bị thuyên chuyển sang bộ binh để đi tác chiến…

“Giày trận” được gọi là “bốt đờ sô” (botte de saut), có loại hoàn toàn bằng da nhưng sau này có loại giày kết hợp giữa da và vải, rất nhẹ trong những chuyến lội rừng, băng suối. Lính “địa phương quân” hay “nghĩa quân” thì hẩm hiu hơn với những đôi giày bằng vải bố, được gọi tắt là “giày bố”, kiểu như giày “ba-ta” nhưng cổ cao hơn giày thường.

Ngay khi bắt đầu trình diện tại các Trung tâm Tuyển mộ Nhập ngũ, thanh niên dù “đăng lính” hay bị “bắt lính” cũng đều phải qua một trong những thủ tục là làm “thẻ bài”. Tấm “thẻ bài” là vật bất ly thân, được đeo trên cổ trong suốt thời gian tại ngũ của quân nhân. “Thẻ bài” tựa như tấm lắc đeo ở cổ con chó nên người Mỹ gọi nó bằng cái tên… “dog tag” (Dịch là: Thẻ chó)! Mỗi quân nhân bắt buộc có 2 tấm “thẻ bài” bằng kim loại không gỉ, được đeo bằng sợi dây cũng bằng kim loại. Trên mỗi tấm có ghi họ tên, “số quân” và loại máu để khi bị thương, cần tiếp máu, quân y biết ngay loại máu gì. Khi người chiến sĩ tử trận, một tấm thẻ bài được bỏ trong miệng tử sĩ và tấm kia đơn vị sẽ giữ lại để làm tài liệu báo cáo.

Bài hát “Tấm Thẻ Bài” qua tiếng hát liêu trai của Thanh Thúy đã gây nhiều xúc động trong lòng người nghe và mãi đến bây giờ, mỗi lần được nghe lại bài hát nầy hoặc là nhìn thấy lại hình tấm thẻ bài chúng ta càng thấy ngậm ngùi và thương tiếc những chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua. Nhạc sĩ Huyền Anh đã viết những câu thật xúc động:

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đã mờ mờ mang tên anh.
Anh đã đi, đã đi vào vùng biển đời người
Anh ngủ yên, ngủ yên như cỏ úa
Anh ơi sau cuộc chiến này
Có còn chi để lại
Hay chỉ còn tấm thẻ bài mang tên anh

Và trong số các món quân trang, quân dụng được cấp phát, ngoài chiếc balô người lính còn có “poncho” là một tấm vải mưa trùm đầu theo kiểu vải khoác của người Nam Mỹ. Poncho ngoài việc là áo mưa còn có một công dụng mà bất cứ người lính nào cũng chẳng muốn sử dụng: poncho sẽ được dùng để khâm liệm xác của tử sĩ bỏ mình trên chiến trường.

“Trốn lính” là chấp nhận sống bên lề xã hội, “trốn chui trốn nhủi” khi thấy bóng dáng cảnh sát, quân cảnh. Cuộc sống của người trốn quân dịch là những chuỗi ngày bấp bênh, không tương lai ngay giữa Sài Gòn đô hội. Cũng vì thế, có người tự chặt “ngón tay bóp cò” (ngón trỏ) để khỏi đi lính, có người “tự hành xác”, “ốm tong ốm teo” để được các trung tâm nhập ngũ trả về vì “không đủ sức khỏe”…

Nguyễn Ngọc Chính


Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

7-MƠ PHAI


11-CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG
[Nhạc-Giao cổ]

XA biệt em rồi khổ cứa sâu
NHAU xưa ái rã hoải hoang sầu 
CHƯA nhiều hiệp kết ngày thương bậu
MÀ lại chia lìa buổi đoạn ngâu
LÒNG gọi thề tìm ai hiểu thấu
NGHE tim chợt tỏ dạ kêu cầu
QUẠNH hiu gác phượng buồn giai ngẫu
VẮNG vẻ thân đờ mắt đẫm châu

ĐƯỜNG tình đã lỡ biệt chờ mong
THÊNH lệch vành tim khiến oải lòng
THANG đượm tan rồi đâu thể ngóng
GIÓ bừng nghẹn tắt chẳng còn trông
LỘNG điên đảo dạ sầu hoang trống
MỘT khổ chùng tê trỗi phập phồng
MÌNH rã rượi nhiều trong ảo vọng
TA ngùi bởi ái trở mùa đông

RƯỢU đắng bày ra tiễn trước thềm
CẠN dòng uẩn khúc trọc trằn đêm
LY tràn tửu thoát mùi chăn nệm
UỐNG đoạn trần ai gió phả rèm
SAY khướt luồn tim sầu kiểm nghiệm
LÒNG buồn khắc khoải hận dài thêm
CÒN chi ngoái vọng mùa xưa hiếm
GIÁ lạnh tình ơi buốt dạ mềm

LÁ thề đã rụng héo mòn thơ
TRÊN nẻo đường qua lặng ngắt tờ
CÀNH rã xiêu tàn đau đớn mở
MỘT chìm khổ dại guộc gầy mơ
CHIẾC trâm nát giữa vòng thương dở
CUỐI quãng vùi trong cõi ái mờ
BAY dạt ven đời thêm ngẩn ngớ
XA người quạnh quẽ khiến lòng đơ

HANSY



LẮT LÉO CHO VUI VỚI NHAU


LẮT LÉO CHO VUI VỚI NHAU

1.-
TIẾNG VIỆT PHONG PHÚ

Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng để truyền thông với nhau và dân tộc đó chỉ thực sự tồn tại trong bao lâu ngôn ngữ đó còn tồn tại, cho nên có thể nói ngôn ngữ chính là sức sống của một dân tộc. Dân tộc Việt nam cũng có một ngôn ngữ riêng từ lâu đời và hiện nay vẫn đang được gần 80 triệu người Việt không những ở trong nước mà kể cả người Việt sống ở nước ngoài xử dụng để truyền thông với nhau. Ðiều đó cho thấy tiếng Việt đã gắn liền với sự tồn vong của dân tộc Việt.

Theo các nhà ngữ học thì tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ tượng hình và độc âm. Chỉ cần nghe âm thanh là người ta cũng có thể hình dung ra hình ảnh, cách thế của những sự việc, người và vật được nói đến. Có thể nói tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa phong phú, vừa uyển chuyển, lại luôn luôn có tính cách sáng tạo cho nên tiếng Việt rất giàu về từ ngữ chỉ sự vật cụ thể cũng như các từ tượng thanh, tượng hình, và các phó từ chỉ đặc tính của các sự vật đó.

Cái khuynh hướng dễ dãi và tùy tiện trong việc tạo từ được thể hiện rất rõ trong tiến trình hình thành ngôn ngữ Việt. Khi người dân Việt bành trướng về phương Nam, ngoài lý do ảnh hưởng của phong thổ địa lý và sự pha trộn tiếng nói của những dân tộc bản xứ bị người Việt chinh phục mà tiếng Việt bị biến đổi về âm giọng, cũng như vì nhu cầu mà nảy sinh ra nhiều từ mới để gọi tên các sự vật mới, tuy nhiên cũng vì quá tùy tiện mà một số vật vốn đã có tên rồi cũng được đặt thêm tên khác. Cùng một vật ở miền Bắc được gọi bằng một tên này, người Trung có thể gọi bằng một tên khác và người Nam lại dùng một tên lạ hơn nữa. Riêng người Nam lại còn biến đổi thanh của âm gốc để loại bỏ bớt tiếng phó từ bổ nghĩa đi kèm theo mỗi khi cần xử dụng các từ được dùng làm đại từ nhân xưng ngôi thứ ba. Do đó để nói ông ấy, người Nam gọi là "ổng", và cứ thế mà "bả" thay cho bà ấy, "chỉ " thay cho chị ấy v.v...

Do sáng tạo theo kiểu "thấy mặt đặt tên" và tính tùy tiện biến đổi nghĩa của các từ theo điều kiện địa phương xưa kia mà tiếng Việt có quá nhiều từ đồng nghĩa, rồi những từ này lại đồng âm với từ có sẵn khác, hay có khi vẫn cùng là một từ, nhưng ý nghĩa lại hiểu khác đi, thí dụ như người Bắc nói "gầy" thì người Nam nói "ốm", người Bắc lại hiểu nghĩa "ốm" là "bịnh" của tiếng Nam v.v... Thêm vào đó, vào thời phong kiến trước đây, có nhiều từ, thường là gốc chữ Hán, bị buộc đọc trại thành một âm khác vì lý do kỵ húy tên các vua chúa, khiến cho cùng một chữ mà có hai cách phát âm thí dụ như "hoàng" và "huỳnh"chẳng hạn... Ðiều này đôi khi cũng dễ gây ra nhiều cái rắc rối hay hiểu lầm trong vấn đề truyền thông giữa những người gốc địa phương khác nhau, và là nguyên nhân gây ra kỳ thị địa phương.

Tuy tiếng Việt rất dồi dào từ ngữ cụ thể chỉ sự vật cũng như rất giàu các phó từ chỉ đặc tính để mô tả sự vật thiên nhiên cùng các hiện tượng, cũng như rất uyển chuyển trong phương diện diễn đạt tình cảm hay các trạng thái tâm hồn của con người, nhưng lại thiếu từ ngữ trừu tượng để diễn đạt ý tưởng cho nên thường phải vay mượn từ chữ Hán hay từ những ngôn ngữ khác. Tuy nhiên có một điều đặc biệt là những từ ngữ này khi du nhập vào tiếng Việt thì cũng đều được Việt hóa cho phù hợp với cách phát âm của nguời Việt. Ngay cả bộ chữ Hán mà người Việt dùng cũng được phát âm theo cách riêng của mình. Tuy nhiên vì tiếng Hán Việt là một thứ tiếng Tàu không hoàn toàn là Tàu mà ta cũng chẳng phải ta, do đó khi muốn giao thiệp với người Tàu, nếu người Việt không biết một thứ ngôn ngữ nói của Trung hoa thì lại phải dùng bút đàm chẳng khác nào khi phải giao thiệp với người Cao ly hay người Nhật bản là những dân tộc cùng dùng một chuyển ngữ chung là Hán tự.

Ngôn ngữ Việt cũng như ngôn ngữ Trung hoa đều là tiếng độc âm, nhưng tiếng Việt nói xuôi còn tiếng Tàu nói ngược. Người Việt nói cái áo xanh nhưng người Tàu lại nói theo thứ tự tiếng phó từ bổ nghĩa đi trước tiếng danh từ chỉ sự vật. Chính vì thế mà khi tạo từ ngữ kép gốc chữ Hán thì thường tuân theo trật tự của ngôn ngữ Trung hoa, nhưng khi ghép các từ kép này vào câu thì người Việt có khi lại áp dụng cái trật tự của tiếng Việt. Mặc dù vậy, cái trật tự này không hẳn là luật nhất định mà đôi khi cũng có những trường hợp có thể nói "trưởng ty" hay "ty trưởng", "Từ điển Văn học Việt nam" hay "Việt nam Văn học Từ điển" đều được cả.

Ngoài ra tiếng Việt lại có một đặc điểm mà các ngôn ngữ khác không có, đó là cách nói lái và sự xử dụng tiếng đệm. Khi nói lái người ta phải chọn một cụm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau. Tiếng lái có khi là tiếng có nghĩa nhưng có khi không. Câu "con cá đối nằm trong cối đá" thì tiếng lái có nghĩa, nhưng thí dụ "con gà" nói lái "ca gòn" thì chẳng có nghĩa gì cả.

Còn tiếng đệm là những tiếng thường được ghép thêm vào sau một tiếng gốc để làm rõ nghĩa thêm cho tiếng gốc hoặc có khi chỉ nhằm tạo thêm âm vận cho tiếng nói, do đó tiếng đệm có thể là một tiếng có nghĩa như "nhà cửa", "sách vở"..., hoặc có khi làm tăng hay giảm nghĩa của tiếng gốc như "nằng nặng", "buồn buồn", "sạch sành sanh"..., nhưng cũng có khi chỉ là tiếng thêm vào cho tiếng gốc nghe bớt cộc mà thôi thí dụ như "cơm kiếc", "chơi bà lơi xơi" v.v... Tuy nhiên tất cả tiếng đệm thêm vào cũng chỉ dựa vào một âm vận theo thói quen và tùy thuộc vào sự thẩm âm của người nghe chứ không có một quy luật rõ rệt.
2.-
LƯỠI KHÔNG XƯƠNG NHIỀU ÐƯỜNG LẮT LÉO
Tục ngữ Việt nam có câu: "Lưỡi không xương nhiều đừng lắt léo". Dĩ nhiên con người nói được là nhờ cái lưỡi nhưng câu nói trên nhắm vào nghĩa bóng, ý nói con người muốn nói xuôi hay nói ngược cách nào cũng được vì chân lý là cái không có hoặc không ai nắm được. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về cái tiếng nói mà người dân Việt đã nói từ hơn bốn ngàn năm nay, nhiều lúc tôi lại đâm ra thắc mắc không biết có phải vì nhờ cái lưỡi uốn éo dễ dàng mà tiếng Việt trở nên phức tạp và lắt léo vô cùng hay không?

Ðể thấy sự phức tạp của tiếng Việt, chỉ cần nghe qua cách xưng hô. Chẳng hạn, khi ta nghe một đôi nam nữ xưng hô với nhau từ lúc họ xử dụng cụm đại từ nhân xưng ông-tôi, hoặc cô-tôi, sau đó đổi qua anh-tôi, hoặc em-tôi, rồi chuyển thành anh-em, ta cũng có thể hiểu ngay tiến trình liên hệ tình cảm giữa hai người này đối với nhau như thế nào. Cũng thế, khi nghe các cụm đại từ nhân xưng từ ông-tôi biến qua mày-tao v.v... hay ngược lại, là người nghe có thể hiểu được những chuyển biến trong thái độ. Ðối với cách dùng đại từ ngôi thứ ba cũng thế. Ðiều này không những làm cho người ngoại quốc học tiếng Việt cảm thấy rắc rối mà đôi khi cũng làm cho chính người Việt nam lúng túng khi họ chưa xác định được vai vế, thái độ hay tình cảm đối với người đối thoại.

Ngoài đặc tính giàu âm thanh và ngữ điệu, tiếng Việt lại không bị gò bó trong những quy luật chặt chẽ nên có đặc tính rất lắt léo, do đó mà người xử dụng có thể biến hóa cho phù hợp với nhu cầu diễn đạt của mình.Ðiều này giúp cho người Việt nam không những dùng ngôn ngữ để truyền thông mà còn có thể biến ngôn ngữ thành một phương tiện giải trí như là nói lái, nói bằng một phụ âm, dùng tiếng đồng âm dị nghĩa, nhại tiếng ngoại quốc, hoặc dựa vào các hình thức trên để làm thành những câu đố mua vui ...

Hình thức giải trí bằng ngôn ngữ thông thường nhất là nói lái. Ngoại trừ những cụm từ cùng một âm vận với nhau thí dụ "thắc mắc" khi hoán vị các phụ âm không tạo ra sự biến đổi thì không thể nói lái, còn các cụm từ có hai âm vận khác nhau thì đều có thể nói lái được. Thí dụ như nhà thơ Bùi Giáng cũng có lần xử dụng cách nói lái này để ký tên một cách hài hước dưới một bài thơ của mình như sau: "Bùi văn Giáng, Bàng văn Giúi, Búi văn Giàng, Báng văn Giùi..." Riêng nữ sĩ Hồ Xuân Hương thì đã xử dụng rất tài tình những tiếng lái trong thơ của mình để khi đọc xuôi thì nghe ra thanh nhưng nếu lái lại thì lại hiểu thêm ra nghĩa tục, nhờ thế mà thơ Hồ Xuân Hương chiếm được một chỗ đứng độc đáo trong giòng văn học tiếng Việt.

Ngoài mục đích mua vui, tạo khôi hài, tạo thêm một nghĩa khác cho câu nói, người ta còn có thể xử dụng cách nói lái để ngầm ý xỏ xiên hay khích bác một cách kín đáo. Có những cách đơn giản dễ nhận như câu: "Ðem hình bác lộng kiếng", nhưng cũng có những câu phức tạp cần phải được giải thích như câu chuyện về món ăn "đại phong" mà Trạng Quỳnh dâng cho chúa: "Ðại phong là gió to, gió to thì đổ chùa, đổ chùa thì tượng lo, tượng lo là lọ tương".

Ðôi khi sự nói lái còn sâu sắc hơn do được phối hợp giữa chữ nghĩa bác học với ngôn ngữ thông thường để có thể qua mặt người bị chửi xỏ như bốn chữ "Ðại điểm Quần thần" trong bức hoành phi mà các nhân sĩ Nam kỳ mừng Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm thời còn Tây. Nếu đọc qua và hiểu theo nghĩa thông thường thì bốn chữ trên có ý khen ngợi một người có công lớn đối với nước nhưng nếu khi dịch sát từng tiếng câu trên sẽ là "Chấm to bầy tôi" và nói lái lại thành ra "Chó Tâm bồi Tây" là một câu chửi xỏ.

Văn học phản kháng trong dân gian cũng thường hay dùng tính cách lắt léo của ngôn từ để sáng tác ra những câu nói vừa mua vui, vừa mỉa mai châm biếm hay biểu lộ sự chống đối một cách bất bạo động như bài thơ truyền khẩu sau đây thời Việt minh kháng chiến:
Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
Chú khiêng lên hết chiến khu rồi
Thi đua sao cứ thua đi mãi
Kháng chiến lâu dài khiến chán thôi

Sống dưới chế độ Cộng sản, người dân Việt cũng đã truyền tụng nhau câu ca dao sau đây, mặc dù nội dung biểu lộ một nhận định về lối sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng xét kỹ ra thì đây cũng là một thái độ chung về chính trị của người dân Việt từ xưa tới nay:

Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt
Lách lòn lươn lẹo lại lên lương

Cái cách nói chỉ dùng một phụ âm này cũng thường được dùng cho mục đích giải trí, như làm thơ, hoặc thi kể một câu chuyện mà chỉ dùng một phụ âm nào đó thôi, thí dụ như:

Rầu rĩ râu ria ra rậm rạp
Rờ râu râu rụng, rờ rún rún rung rinh

Kể ra những cách dùng ngôn ngữ để mua vui thì rất nhiều nhưng nói chung tất cả đều dựa trên đặc tính độc âm và sự trùng âm cùng với sự lỏng lẻo của cấu trúc các cụm từ, mà tiếng Việt lại có quá nhiều từ tuy đồng âm nhưng nghĩa lại khác nhau, có khi lại tương phản nhau, lại còn cách dùng pha lẫn tiếng nôm và tiếng gốc chữ Hán hay chữ ngoại quốc, khiến cho một câu nói có thể hiểu theo nhiều cách, tùy theo người nghe và tuỳ theo hoàn cảnh, do đó mà người Việt vẫn có tính thích chơi chữ.

Trong câu đố "rùa bò mấy chân?" người được đố có thể hiểu tiếng "bò" như là một động từ nên đáp là bốn, nhưng người đố để tranh phần thắng sẽ giải thích "bò" hiểu theo nghĩa "bò" đây tức là con bò thì khi tính số chân của cả hai con trên cọng lại phải là 8 mới đúng. Kể ra thì cái lý luận này hoàn toàn dựa trên tính cách mập mờ của từ ngữ và lối nói nên không thể bảo đó là chính xác, tuy nhiên cả người đố lẫn người được đố chỉ nhằm mục đích mua vui nên cũng không ai lấy đó làm điều tranh cãi để tìm đâu mới thực là chân lý. Ðiều này phản ảnh cái tinh thần của người dân Việt không quan tâm đến luận lý để tìm ra chân lý mà chỉ nhìn xem hiện tượng để biết cách sống sao cho phù hợp thôi.

Cái triết lý sống này được thể hiện qua câu tục ngữ mà nhiều người tương truyền đó là sấm Trạng Trình: "Khôn chết, dại chết, biết sống". Ngu dại thì bị người ta đè đầu đè cổ, bóc lột cho tới chết, mà khôn thì cũng bị người ta tìm cách hãm hại vì sợ tranh giành, chỉ có biết thì mới sống yên ổn. Nhưng "biết" là biết như thế nào thì lại không ai xác định được. Có lẽ do mỗi người tự tìm lấy một phương cách xử thế sao cho thích hợp với hoàn cảnh riêng của mình. Có lẽ do thái độ hiện sinh này mà người dân Việt chỉ nhìn vào hiện tượng để tìm cách thích nghi chứ không đặt vấn đề đi tìm nguyên ủy hay bản thể của sự vật để giải thích sự vật. Ngôn ngữ là phản ảnh tâm hồn con người cũng vì thế mà được phát triển theo chiều hướng mô tả cảm xúc chứ không lý luận trừu tượng.

Trong suốt quá trình lịch sử, trải qua bao nhiêu lần bị các dân tộc khác đô hộ, phải tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác nhau và bị các ngôn ngữ này khống chế về mặt chính trị, nhưng người dân Việt không những vẫn duy trì tiếng nói của mình mà còn dùng tiếng nói của mình để nhại ngôn ngữ của kẻ thống trị như một sự mua vui, hay có khi để qua mặt kẻ thống trị. Bằng cách nói lái hay dùng những tiếng có âm thanh hao hao với một thứ tiếng ngoại quốc nào đó, người dân Việt đã đùa bỡn với tiếng Tàu, tiếng Tây, tiếng Nhật, tiếng Nga... Vào thời các chú chệc còn làm vương làm tướng, để nhại tiếng Tàu người dân Việt chỉ việc thêm tiếng "tỉn" sau mỗi âm tiếng Việt rồi nói lái từng cặp một thí dụ như: "mìn tẩy đin tỉ đin tẩu đín tỏ", nói lên nghe có âm hưởng như tiếng Tàu nhưng thực ra chỉ là "mầy đi đâu đó". Khi mấy ông Tây bà đầm sang An-nam "khai hóa" cho dân An-nam-mít thì để nhại tiếng Pháp người ta nói "ít-xơ-măng" (ăn xơ mít) v.v... Ðàn anh Liên xô qua Việt nam giúp Việt nam xây dựng xã hội chủ nghĩa thì để nhại tiếng Nga người ta mời đồng chí Móc-cu-ra-đớp đi "xô xích le" (xe xích lô). Cũng có khi người ta lại nhại người ngoại quốc nói tiếng Việt để tạo thành những câu nói theo một nghĩa này nhưng do cách phát âm lơ lớ của người ngoại quốc khiến cho một số từ nghe ra như một từ khác khiến người nghe có thể hiểu ra một nghĩa khác có tính chất khôi hài.

Như vậy thì quy luật tiếng Việt lỏng lẻo là do nơi con người Việt nam chỉ quan tâm đến hiện tượng hơn là đi tìm bản chất cho nên nhìn thấy cái nhu cầu diễn đạt tình cảm đối với sự vật mới là chính yếu, mà các trạng thái của tâm hồn thì lại vô cùng uyển chuyển và phức tạp, không bị gò bó theo quy luật nhất định, do đó mà ngôn ngữ cũng trở nên phức tạp và không có quy luật rõ ràng. Khi một người "chẻ sợi tóc làm tư " thường không phải người đó muốn phân tích tận cùng một sự vật theo suy luận để tìm ra chân lý mà chỉ nhằm khai thác những khía cạnh lắt léo của sự vật để tìm bắt cho được khía cạnh nào đó thích hợp với chủ đích tình cảm của mình mà thôi.
3.-
MẸ HÁT CON KHEN HAY

Tiếng Việt còn một điểm đặc biệt là mặc dù ngôn ngữ nói đã có từ thời Thượng cổ và phát triển đến một trình độ cao, nhưng qua đến thời kỳ có sử, ngôn ngữ viết vẫn không xuất hiện. Hệ thống chữ quốc ngữ đang được người Việt hiện nay xử dụng chỉ mới nảy sinh gần đây do hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy mới có. Có lẽ vì thế mà trước đây, nhà văn phạm học Phạm Duy Khiêm khi soạn bộ Văn Phạm Việt Nam, đã từng gọi tiếng Việt là một thổ ngữ (dialect).

Sự thiếu một hệ thống chữ viết trước đây có lẽ là hậu quả của sự kiện người Trung hoa đô hộ đằng đẵng suốt một ngàn năm. Với manh tâm đồng hóa dân tộc Việt, người Tàu sang cai trị đã mang theo nền văn hoá của họ sang truyền bá cho dân Việt, bắt người Việt phải học chữ Hán, dùng Hán văn làm chuyển ngữ, tiếng Việt chỉ còn là phương tiện truyền thông giữa người Việt với nhau như là một phương tiện trao đổi niềm an ủi cảm thông của những kẻ cùng chung cảnh ngộ mà thôi, do đó mà người dân Việt nam hầu như không còn cơ hội để phát minh một hệ thống ký hiệu riêng để ghi chép ngôn ngữ của mình.

Ngoài ra, có lẽ do ảnh hưởng của một ngàn năm bị đô hộ và sức mạnh văn hóa của kẻ thống trị lấn át mà mãi mấy trăm năm sau khi đã giành lại được quyền tự chủ, người dân Việt vẫn không quan tâm đến việc tạo cho mình một nền văn học riêng. Mãi đến thế kỷ 13, Hàn Thuyên mới mượn chữ Hán để sáng chế ra chữ Nôm, mở đầu cho thời kỳ văn chương chữ nôm thành hình, nhưng vì muốn đọc được chữ nôm lại phải biết chữ Hán cho nên đó cũng là một trở ngại khiến cho hệ chữ viết này khó trở thành phổ cập. Có lẽ vì thế mà cả Hồ Qúy Ly hay vua Quang Trung trước kia khi đề xướng việc dùng chữ Nôm thay thế cho chữ Hán làm chuyển ngữ đều không thành mà còn bị chống đối.

Riêng về cách viết theo mẫu tự La tinh thì mãi tới thời cận đại, khi các giáo sĩ Tây phương đến Việt nam để truyền giáo muốn ghi lại kinh giảng bằng tiếng Việt cho con chiên bản xứ thì nhận thấy chữ nôm quá rắc rối và khó học cho nên giáo sĩ Alexandre de Rhodes mới xử dụng mẫu tự La tinh để ký âm ngôn ngữ Việt. Do tính cách tiện dụng và dễ học của cách viết này mà qua thế kỷ 20 cách viết tiếng Việt theo lối phiên âm này được chấp nhận như là chữ Quốc ngữ và mở đường cho nền văn học tiếng Việt phát triển. Tuy nhiên khi nhìn lại quá trình hình thành của chữ quốc ngữ có phần nào gắn liền với sự mở đường cho thực dân Pháp cai trị Việt nam thì dân gian đôi khi cũng mai mỉa:

Tiếng Quốc ngữ, chữ nước ta
Ông cố ông cha lập ra...

Dĩ nhiên ông cố ông cha nói đây không phải là các tổ tiên người Việt mà là các ông cố đạo người Tây đem Phúc âm của Chúa đến rao giảng cho con cháu Tiên Rồng. Nhưng cũng chính nhờ thế mà dân Việt nam là dân châu Á đầu tiên và duy nhất xử dụng chữ viết theo mẫu tự La tinh. Ðiều này làm cho nhiều người lầm tưởng tiếng Việt dễ học. Sự thực do chữ viết có tính cách phiên âm nên đối với bất cứ ai biết mẫu tự La tinh và nắm được quy luật ký âm tiếng Việt là người ta có thể viết chính tả hay đọc những điều đã được viết ra một cách dễ dàng. Tuy nhiên để biết và hiểu tiếng Việt một cách thấu suốt thì không phải là chuyện dễ.

Mặc dù theo với nhu cầu tiến hóa của thời đại, tiếng Việt có khả năng vay mượn và đồng hóa ngôn ngữ ngoại quốc thành ngôn ngữ của chính mình để làm giàu cho cái kho ngữ vựng về mọi lãnh vực, nhờ đó mà có thể dùng để truyền đạt khoa học và tư tưởng, nên vẫn tiếp tục phát triển để tồn tại như một sinh ngữ, nhưng về phương diện khoa ngôn ngữ học thì cho tới ngày nay tiếng Việt vẫn chưa có được một bộ tự điển tiếng Việt đầy đủ hoặc sự chuẩn định chính xác nào cả. Mọi sự tiếp thu hay tạo từ mới, biến hóa âm vận cũng như các quy luật về văn phạm vẫn dựa vào sự thỉnh âm và chấp nhận của mọi người một cách mặc nhiên.

Ngoài ra, vì đặc tính lắt léo, thiếu tinh thần luận lý Tây phương khiến cho tiếng Việt không thích hợp với ngôn ngữ ngoại giao hay nghiên cứu khoa học, cho nên từ xưa tới giờ dù có bài ngoại, người dân Việt vẫn sính học ngoại ngữ và cần học ngoại ngữ vì lý do cần giao tiếp với thế giới hoặc khi cần mở mang kiến thức. Kể ra cũng là một điều nghịch lý khi một người có thể tự hào về đất nước có bốn ngàn năm văn hiến với một ngôn ngữ phong phú và lâu đời, nhưng nếu như chỉ biết có mỗi một thứ tiếng mẹ đẻ thì cũng chưa hẳn thấy mình là người trí thức đáng tự hào.

Riêng về mặt văn học mà nói thì nhờ đặc tính dồi dào của âm từ và ngữ điệu trong tiếng Việt mà ca dao rất phát triển và tạo cho dân Việt có được một kho tàng ca dao rất phong phú. Cũng do đặc tính dồi dào âm điệu và sự uyển chuyển của tiếng Việt giúp cho việc diễn đạt các trạng thái tâm hồn càng tinh tế mà về mặt văn chương, bản dịch Chinh Phụ Ngâm bằng tiếng nôm của bà Ðoàn Thị Ðiểm đã lấn lướt được bản chính viết bằng Hán văn của Ðặng Trần Côn. Nhưng chính Nguyễn Du mới là người đã xử dụng những đặc tính này của tiếng Việt một cách tài tình trong bút pháp khi ông sáng tác truyện Kiều. Chính vì nhờ vào những lời thơ trong sáng và có một sức truyền cảm rất mạnh mà truyện Kiều đã rất phổ cập trong dân chúng. Ðó cũng là lý do khiến cho trước đây Nguyễn Văn Vĩnh từng nói: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, dân tộc ta còn; dân tộc ta còn, nước ta còn."

Tuy nhiên đối với người ngoài thì mặc dù văn học Việt nam kể từ thời chữ Nôm cho tới nay cũng có những tác phẩm có thể góp mặt trên văn đàn thế giới nhưng vì người ngoại quốc ít có ai chịu học tiếng Việt để nghiên cứu văn học Việt, còn những tác phẩm tiếng Việt thì cũng do những cái rắc rối và đặc tính lắt léo của ngôn từ khiến cho không thể nào dịch hết ý nghĩa hoặc có khi còn không thể nào dịch được như các tiếng lái, tiếng chơi chữ cho nên cũng ít có ai dám dịch các tác phẩm tiếng Việt ra tiếng ngoại quốc. Vì lẽ đó mà những tác phẩm văn chương viết bằng tiếng Việt thường không được thế giới biết đến.

Tuy nhiên, đứng về mặt ngôn ngữ nói mà nhận xét thì tiếng Việt đã chứng tỏ có khả năng quyến rũ rất lớn đối với những người nói được tiếng Việt. Mặc dù qua bao nhiêu thế kỷ bị người Tàu cai trị, văn hóa Tàu xâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống người dân Việt nhưng con cháu những người Tàu sang Việt nam lập nghiệp thì vì lý do phải học nói tiếng Việt để có thể tiếp xúc làm ăn với người Việt, đều dần dần trở thành người Việt nam chứ không còn là người Tàu nữa. Ðiều này không những chỉ xảy ra cho người Trung hoa mà ngay cả những dân tộc bị dân Việt nam chinh phục như Chàm, Khờ me cũng thế.

Mặc dù từ xưa có một số nhà nho, rồi sau này một số nhà Tây học do chịu ảnh hưởng quá nặng của các nền văn hóa ngoại lai nên cũng đã từng chê bai tiếng Việt là "nôm na là cha mách qué", nhưng nếu gạt bỏ cái tinh thần luận lý để sống với tâm hồn thì bất cứ ai đã quen với tiếng Việt đều thấy tiếng Việt vẫn có những cái hay và cái đáng yêu mà không một ngôn ngữ nào có thể thay thế. Chính vì tính chất truyền cảm đó của tiếng Việt mà người dân Việt qua bao đời nay vẫn thấy mình gắn bó với thứ ngôn ngữ ấy mỗi khi muốn tìm đến với nhau trong tình tự dân tộc:

Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn quen

ĐOÀN VĂN KHANH