Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

THỦ TƯỚNG NGUYÊN XUÂN PHÚC TẶNG TỔNG THÔNG TRUMP MÓN QUÀ GÌ?

THỦ TƯỚNG NGUYÊN XUÂN PHÚC
TẶNG TỔNG THÔNG TRUMP MÓN QUÀ GÌ?

Và món quà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mang theo để tặng Tổng thống Trump tại cuộc gặp chính thức ở Nhà Trắng ngày 31-5 cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa: Một chiếc “đèn Hoa Kỳ” được thiết kế công phu với chất liệu chính là gốm Bát Tràng, mang theo thông điệp lịch sử giao thương Việt - Mỹ.



Chiếc "đèn Hoa Kỳ" mang cảm hứng tròn đầy về lịch sử giao thương Việt - Mỹ

Vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, hãng dầu lửa của Mỹ đã bắt đầu đem hàng đến bán tại Việt Nam. Lúc đó người Việt chỉ quen dùng dầu lạc hoặc nến để thắp sáng, chưa quen dùng dầu hỏa. 

Để phát triển thị trường, người Mỹ đã tặng đèn cho người mua dầu. Cái tên “đèn Hoa Kỳ” xuất phát từ đó, sau này các loại đèn dầu cho dù được làm bằng chất liệu gì và xuất xứ ở đâu cũng thường được người dân gọi là “đèn Hoa Kỳ”, gắn bó với gần như mọi gia đình Việt suốt thế kỷ 20. 

Những người thiết kế món quà này cho Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng “đèn Hoa Kỳ” là biểu tượng cho mối quan hệ và đối ngoại kinh tế giữa hai quốc gia Việt - Mỹ trong lịch sử, gắn kết mối quan hệ bền vững dựa trên nền tảng đôi bên cùng có lợi, mở rộng giao thương và mong muốn quan hệ Việt - Mỹ bền chặt và cùng tiến về phía trước. 



Chiếc "đèn Hoa Kỳ" mang cảm hứng tròn đầy về lịch sử giao thương Việt - Mỹ

Tròn đầy là cảm hứng để thiết kế ra mẫu “đèn Hoa Kỳ”. Hình tượng đòng lúa (lúa non) làm họa tiết chân đèn với ẩn ý về nền văn hóa lúa nước, cùng với họa tiết hoa sen biểu trưng cho tính hướng thiện của tâm hồn người Việt, tạo thành điểm nhấn từ cổ đèn kéo xuống đế đèn. 

Trên bầu đèn là họa tiết cuốn thư và hai lá cờ Việt Nam - Hoa Kỳ với thông điệp mở rộng giao thương, tạo lập vững chắc về sự hợp tác toàn diện.
Đèn cao 32cm (thân đèn) với đường kính 12cm, thông phong (bóng đèn thủy tinh) cao 12cm. 

Lựa chọn gốm Bát Tràng để chế tạo, “đèn Hoa Kỳ” được phủ men thanh lưu ly tạo cảm giác sang trọng, thân thiện, các họa tiết hoa sen (cổ đèn, đế đèn) được các nghệ nhân đúc từ những tấm đồng lá với công đoạn hoàn toàn thủ công đã tạo ra một vật phẩm quà tặng đầy ý nghĩa.



Chiếc "đèn Hoa Kỳ" mang cảm hứng tròn đầy về lịch sử giao thương Việt - Mỹ

LÊ KIÊN




Chiếc "đèn Hoa Kỳ" mang cảm hứng tròn đầy về lịch sử giao thương Việt - Mỹ

NGUYỆT HỒ

136.
NGUYỆT HỒ

Lóng lánh mặt hồ trải ánh trăng 
Tâm thương man mác ước mơ rằng 
Tình yêu luôn ngọt nồng thơm dậy
Ân ái mãi đầy diệu ngát giăng 
Bát ngát hương trời gieo vận mộng
Mênh mông sóng nước dõi cô Hằng 
Gió lùa êm ả vầng mây rạng
Thấp thoáng xa xa một thức vàng

HANSY


HOAN CA

Mặt nước loang tình sóng sánh trăng 
Tiếng ca vang vọng nhắn nhe rằng 
Tim ơi hương phấn xin đừng lặng
Ái hỡi ân nguyền hãy mãi giăng 
Quyết dắt mê huyền trong mỗi chặng
Bền neo hảo lạc giữa cung hằng 
Và em chiếu lựng ngàn hoa nắng
Đế mối nồng duyên lóng lánh vàng

HANSY

EM VÀ TA

EM VÀ TA 

Chợt nhớ mùa nào hương tóc bay 
Xao xuyến lòng ta dạt dào say 
Em qua, ngõ vắng xôn xao dậy 
Lụa là tha thuớt với tóc mây. 

Chiều nào em đến giữa tim ta 
Sóng dậy bờ thương, ngát hương hoa 
Ta say một giấc mơ miên viễn 
Em gọi hồn ai cháy sáng lòa. 

Rồi những thao thức giữa canh trường 
Lòng yêu càng nén lại càng thương 
Mơ em một giấc tương tư mộng 
Đắm đuối trong nhau khúc Nghê thường. 

Em hát tình em bằng lời thơ 
Ta hòa theo vũ khúc trăng mơ 
Ô hay, tim có cùng một nhịp 
Mà sao hai phía rộn mong chờ...??? 

Trời kia còn sáng tối, nắng mưa 
Lòng người đâu mãi vẹn như xưa 
Tình kia rồi cũng phai dấn mất 
Để tháng ngày qua dạ thẩn thờ.. 

HANSY 

MONG CHỜ

MONG CHỜ
(Thuận-Nghịch độc)

Khao lòng diễm ảo biếc trời mơ
Quyện ái vần thương mải miết chờ
Trào luyến vạn tim lèn dạ ngẩn
Lộng tràn muôn ngõ lịm tình  ngơ
Ngao mùa đượm ngát lừng duyên tỏa
Hạ tiết ngào thơm trỗi khúc mờ
Sào nựng má xưa thuyền cập bến
Xao cầm nguyệt tửu dặt dìu vơ

Vơ dìu dặt tửu nguyệt cầm xao 
Bến cập thuyền xưa má nựng sào
Mờ khúc trỗi thơm ngào tiết hạ
Tỏa duyên lừng ngát đượm mùa ngao
Ngơ tình lịm ngõ muôn tràn lộng
Ngẩn dạ lèn tim vạn luyến trào
Chờ miết mải thương vần ái quyện
Mơ trời biếc ảo diễm lòng khao

HANSY

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

23. DIỆT TUYỆT SƯ THÁI

23.
DIỆT TUYỆT SƯ THÁI 
Tàn bạo vô lý

Chưởng môn phái Nga My Diệt Tuyệt sư thái là một người có tính nguyên tắc cứng rắn, như là sự hóa thân của nguyên tắc. Bà không chỉ là sự hóa thân của nguyên tắc mà còn luôn luôn cho rằng mình hoàn toàn đúng; vì cho rằng mình hoàn toàn đúng, cho nên lại càng kiên trì nguyên tắc, vì thế mà hành động tàn bạo, không chút nể nang lưu tình; cuối cùng, tình người của bà hiển nhiên lạnh nhạt, nên tính cách và tâm lý của bà bị niềm tin nguyên tắc ức chế và trói buộc nghiêm trọng. Người sáng lập phái Nga My là Quách Tương, một cô nương hết sức đáng yêu, không ngờ người kế nhiệm nàng là Diệt Tuyệt sư thái lại bất cận nhân tình, tàn bạo vô lý như thế. Đủ thấy, truyền thống môn phái dù tốt đẹp, lập trường hiệp nghĩa dẫu đúng đắn, song sự di truyền lịch sử thường thường lại sinh ra những biến dị bất ngờ, trong một quần thể nào cũng có những cá thể khác nhau. Bởi vậy, không ai dám khẳng định rằng đứng dưới ngọn cờ chính nghĩa toàn những con người chính phái hiệp nghĩa chân chính.

1.

Diệt Tuyệt sư thái là một ví dụ điển hình. Diệt Tuyệt sư thái tuy là nữ nhân, nhưng võ công cao cường chẳng thua gì đấng mày râu, tính cách quật cường còn hơn cả nam giới, nổi tiếng là người chiến đấu không khoan nhượng với tà phái ma giáo. Làm chưởng môn một đại danh môn chính phái trong võ lâm, Diệt Tuyệt sư thái kiên trì chính nghĩa, lập trường kiên định, điều đó không ai nghi ngờ. Bà xuất hiện lần đầu tiên trong sách đã đầy hào khí, làm cho người ta kinh sợ; ngay cả Kim Hoa bà bà trứ danh một thời cũng biết khó tự lui. Sau, đệ tử ruột của Diệt Tuyệt sư thái, người sắp được bà truyền cho y bát, là Kỷ Hiểu Phù bị Quang Minh tả sứ của Minh giáo là Dương Tiêu bức gian, bà đã một chưởng đánh vỡ sọ nàng ! Nàng không chịu lập công chuộc tội, thì bà đánh chết luôn, trắng đen rõ ràng, không chút thỏa hiệp, tác phong và tư cách bà là như thế. Diệt Tuyệt sư thái xuất hiện lần thứ hai, khi sáu đại môn phái liên hợp vây đánh sào huyệt đỉnh Quang Minh của ma giáo (mà Minh giáo làm đại diện) bắt đầu chiến dịch của họ.

Đại đệ từ của bà là Tĩnh Hư bị Thanh dực bức vương Vi Nhất Tiếu của ma giáo hút máu mà chết thảm. Các đệ tử đau đớn khóc thương, Diệt Tuyệt sư thái quát bảo họ im, rồi nói : "Chúng ta lâu nay học võ để làm gì? Chẳng phải là để chống kẻ mạnh, giúp kẻ yếu, trừ diệt yêu tà hay sao? ... Cát hung họa phúc thế nào, phái Nga My ta sớm đã gạt qua một bên ...", "Một trăm năm trước, đâu đã có phái Nga My. Chỉ cần chúng ta tử chiến một phen cho thật oanh liệt, dẫu phái Nga My có bị tiêu diệt sạch một lần, thì cũng đã sao?" (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Những lời anh phong hào khí, khảng khái quyết tử như thế, ai nghe cũng phải thán phục, chẳng trách lúc ấy Trương Vô Kỵ có mặt ở đó đã liên tưởng đến cái không khí Kinh Kha đi hành thích Tần Thủy Hoàng. Chính vì thế, khi gặp giáo chúng Nhuệ kim kỳ của Minh giáo, Diệt Tuyệt sư thái liền ra tay sát hại thẳng thừng. Có điều là Trương Vô Kỵ nghĩ khác, không nhịn nổi, bèn đứng ra cứu tử phù thương các giáo chúng, thỉnh cầu Diệt Tuyệt sư thái thủ hạ lưu tình.

Diệt Tuyệt sư thái tuy phát hiện võ công của Trương Vô Kỵ không thuộc phe yêu tà, hơi thương tiếc cho tài năng của chàng, nhưng bà không thể dễ gì từ bỏ lập trường nguyên tắc, bèn hỏi Trương Vô Kỵ có biết pháp danh của bà là gì hay không, rồi nói : "Ngươi biết thế là tốt. Yêu ma tà đồ, ta quyết giết cho hết sạch, không còn một mống, chẳng lẽ hai chữ 'Diệt Tuyệt' chỉ để gọi suông thôi? (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Trương Vô Kỵ mà không có Cửu dương thần công hộ thể, thì đã chết tươi dưới ba chưởng của bà. Nếu trong một bộ tiểu thuyết võ hiệp tầm thường, hành động này, cá tính này của Diệt Tuyệt sư thái sẽ được coi là lẽ đương nhiên, nhất định cũng sẽ được tán thưởng; thì trong Ỷ thiên Đồ long ký, hành động ấy lại bị gã thiếu niên Trương Vô Kỵ chất vấn sắc bén : Vi Nhất Tiếu chỉ giết có hai người, nay phái Nga My giết mười lần nhiều hơn; Vi Nhất Tiếu dùng răng giết người, Diệt Tuyệt sư thái dùng kiếm giết người, cùng là giết người cả, đâu có phân biệt thiện ác? Ngoài lập trường chính tà, ít ra cũng còn lập trường nhân đạo. Như vậy, hành vi tư tưởng của Diệt Tuyệt sư thái chẳng những không đúng, mà còn có vấn đề.

Diệt Tuyệt sư thái tuy luôn mồm tuyên dương chính phái hiệp nghĩa, yêu cầu đệ tử tuyệt đối không dung tha kẻ địch, tựa hồ bà xuất phát từ lập trường nguyên tắc chính tà không cùng tồn tại. Song thực ra, lần nay Diệt Tuyệt sư thái đến đây còn có một ẩn tình. Thứ nhất, một đại cao thủ của phái Nga My là sư huynh của Diệt Tuyệt sư thái, tên Cô Hồng Tử, bị chết bởi tay Quang Minh tả sứ Dương Tiêu của Minh giáo; thứ hai, Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn của Minh giáo từng giết cao thủ võ lâm Phương Bình ở phủ Khai Phong tỉnh Hà Nam, mà Phương Bình chính là anh ruột của Diệt Tuyệt sư thái. (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Như vậy, đàng sau ngọn cờ đường hoàng của Diệt Tuyệt sư thái còn có nhiều tạp niệm tư tâm không thể coi thường. Cô Hồng Tử là đệ tử phái Nga My, tuy không hi sinh vì môn phái, song Diệt Tuyệt sư thái làm chưởng môn lại muốn "chủ trì công đạo" cho đệ tử bản môn, thì kể cũng tạm được.

Nhưng để báo thù cho anh mình, Diệt Tuyệt sư thái ngày trước từng sai đệ tử xuống núi đi khắp nơi săn lùng Kim Mao Sư Vương, thậm chí mạo hiểm chặn đánh vợ chồng Trương Thúy Sơn, sau đó chuyển mối thù đối với cá nhân Kim Mao Sư Vương sang cả Minh giáo, lần này dốc toàn bộ lực lượng môn phái vào chiến dịch mạo hiểm, thì bất kể thế nào cũng là quá đáng. Sự thực vừa nói chứng minh, mọi sự yêu ghét trên thế gian đều có duyên cớ cả. Phía sau bất cứ ngọn cờ đường hoàng thuần khiết nào cũng có nhiều tạp niệm tư tâm ít ai biết. Hơn nữa, đáng sợ không phải là tạp niệm tư tâm của cá nhân, mà là lợi dụng chức quyền, biến tạp niệm tư tâm ấy thành mục đích của đại chúng, để mọi người xông vào chỗ chết vì mục đích đó.

2.

Cái đáng sợ thật sự của Diệt Tuyệt sư thái không phải là sự tàn bạo quá mức đối với kẻ địch, mà là sự vô tình tàn nhẫn đối với chính đệ tử của mình. Giết chết đệ tử đắc ý Kỷ Hiểu Phù là một ví dụ điển hình. Diệt Tuyệt sư thái từng biện hộ cho việc giết Kỷ Hiểu Phù như sau : "Hạng nghiệt đồ vô liêm sỉ như nó, để cho sống có ích gì (Xem Ỷ thiên Đồ long ký ). Lời biện hộ này nghe có vẻ đường hoàng, Diệt Tuyệt sư thái có vẻ là người giữ vững lập trường nguyên tắc, ghét ác như ghét kẻ thù. Có điều là trước khi giết Kỷ Hiểu Phù, lại có một đoạn khiến bạn đọc rất bất ngờ, ấy là Diệt Tuyệt sư thái nói với Kỷ Hiểu Phù : "Được, chuyện ngươi thất thân với Dương Tiêu, bênh vực Bành hòa thượng, đắc tội với Đinh sư tỷ, nói dối sư phụ, lén lút nuôi hài nhi ... tất cả những việc đó ta không nhắc đến nữa.

Giờ ta sai ngươi đi làm một việc, xong việc đó, ngươi trở về núi Nga My, ta sẽ đem y bát và kiếm Ỷ Thiên truyền cho ngươi, lập ngươi làm người thừa kế chức chưởng môn bổn phái." (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Câu nói ấy khiến Đinh Mẫn Quân vừa ghen tức vừa căm hận, ngầm oán trách sư phụ hồ đồ, làm điều nghịch lý. Cũng là nói Kỷ Hiểu Phù chẳng những có thể không chết, mà còn được kế tục y bát của sư phụ, trở thành chưởng môn phái Nga My. Đương nhiên với một điều kiện, ấy là Kỷ Hiểu Phù phải đi làm một việc, ai cũng đoán là đi giết Dương Tiêu. Kỷ Hiểu Phù không nhẫn tâm làm việc đó, song cũng không muốn nói dối sư phụ, nàng chỉ còn biết lắc đầu, Diệt Tuyệt sư thái bèn đánh chết nàng bằng một chưởng. Chuyện này có mấy điều đáng chú ý. Thứ nhất, tính nguyên tắc của Diệt Tuyệt sư thái không phải là không thể thương lượng, không thể trao đổi, nói theo bà ta, tức là có thể lập công chuộc tội. Như thế Diệt Tuyệt sư thái cũng có tính linh hoạt, có cách giải quyết khác nhau đối với cùng một sự việc. Nếu Kỷ Hiểu Phù đáp ứng yêu cầu của sư phụ, nàng không chỉ lập công chuộc tội, mà còn được thăng quan tiến chức. Độc giả tinh ý sẽ phát hiện, chiêu hứa hẹn thăng quan được Diệt Tuyệt sư thái sử dụng tối thiểu ba lần, trừ lần này ra, sau này, trước khi bước vào chiến dịch tấn công đỉnh Quang Minh, Diệt Tuyệt sư thái công khai biểu thị, chỉ cần trong chiến dịch này, người nào lập công, bất kể nam nữ, tăng tục, đều có thể thay bà giữ chức chưởng môn.

Lần thứ ba là khi Diệt Tuyệt sư thái trao chiếc nhẫn chưởng môn cho tiểu đệ tử Chu Chỉ Nhược. Cái lần Diệt Tuyệt sư thái hứa hẹn với Kỷ Hiểu Phủ là thật, hay là lừa dối nàng, chúng ta chưa biết, nhưng người tiếp nhiệm chức đó phải tuyệt đối tuân lệnh sư phụ, thì là điều kiện rõ ràng. Diệt Tuyệt sư thái muốn Kỷ Hiểu Phù phải làm gì để lập công chuộc tội, bây giờ không có ai đối chứng. Nhưng yêu cầu của Diệt Tuyệt sư thái khi truyền chức vị cho Chu Chỉ Nhược, thì rất rõ ràng, khiến người ta rùng mình. Diệt Tuyệt sư thái yêu cầu : Chu Chỉ Nhược phải dùng sắc đẹp của mình dẫn dụ Trương Vô Kỵ, lấy thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên; cái đó gọi là người lo việc lớn không câu nệ tiểu tiết; nhưng sau khi lấy được đao, kiếm rồi, Chu Chỉ Nhược không được chân tình với Trương Vô Kỵ, cho nên trước đó Diệt Tuyệt sư thái đã chuẩn bị sẵn cho Chu Chỉ Nhược lời thề như sau: "Con là Chu Chỉ Nhược, thề có trời đất chứng giám, nếu sau này con đem lòng ái mộ tên dâm đồ Trương Vô Kỵ, giáo chủ của Ma giáo, kết thành vợ chồng với hắn, thì cha mẹ con chết nằm dưới mồ xương cốt không yên, sư phụ con là Diệt Tuyệt sư thái sẽ thành ma quỉ ngày đêm quấy nhiễu con suốt đời; nếu con sinh con đẻ cái với hắn, thì con trai đời đời làm nô bộc, con gái kiếp kiếp làm kỹ nữ”. (Xem Ỷ thiên Đồ long ký).

Về yêu cầu và lời thề nói trên, thiết tưởng mỗi độc giả sẽ có cách đánh giá của mình. Đem chức vụ làm mồi nhử, rồi yêu cầu đệ tử thề nguyền, đi lừa kẻ địch, nếu cần thì hi sinh sắc đẹp, hi sinh tình cảm riêng để hoàn thành sự nghiệp thần thánh vinh quang của sư môn, việc ấy đối với Diệt Tuyệt sư thái không chỉ hợp tình hợp lý, mà còn như là chuyện tất nhiên vậy.

CUỐI.

Ta thấy sau khi bàn giao chuyện đại sự, Diệt Tuyệt sư thái quả nhiên lấy mình làm gương, từ trên tháp cao chùa Vạn An thành Đại Đô nhảy xuống, không chấp nhận sự cứu giúp của Trương Vô Kỵ, tự diệt mình. Đến đây chúng ta mới thấy một Diệt Tuyệt sư thái có tạp niệm tư tâm, tính cách quái gở, thủ đoạn tàn bạo cả với đệ tử, đều chưa phải là hoàn toàn đáng sợ. Thực sự đáng sợ chính là cái sự cố chấp và cuồng nhiệt bất chấp thủ đoạn, không cần suy nghĩ, đối với mục đích và niềm tin của bà. Diệt Tuyệt sư thái chết như thế, Chu Chỉ Nhược quyết không dám làm trái mệnh lệnh của sư phụ, bởi vì điều đó đã trở thành di nguyện lúc lâm chung của sư phụ, không thể giải thích, thay đổi gì được nữa. Người ngoài cũng không thể không tin rằng Diệt Tuyệt sư thái đúng là một người kiên định lập trường.

Nếu không, bà đã chẳng tự sát để làm gương. Nhưng vì sao Diệt Tuyệt sư thái lại hận thù Trương Vô Kỵ như vậy? Trương Vô Kỵ võ công chính phái, là người chính phái, trên đỉnh Quang Minh hóa giải kiếp nạn, ở chùa Vạn An thành Đại Đô giải cứu cao thủ sáu đại môn phái, ai ai cũng thấy rõ, tại sao Diệt Tuyệt sư thái khăng khăng không thấy? Chỉ vì Trương Vô Kỵ đã lên làm giáo chủ Minh giáo, mà bà giận lây ư? Nhưng Minh giáo đang đứng đầu cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, mà chính Diệt Tuyệt sư thái chẳng đã nói, "Cuộc đời ta, bình sinh có hai tâm nguyện lớn, một là làm sao đuổi bọn Thát tử, lấy lại giang sơn cho người Hán, hai là làm sao cho võ công phái Nga My đứng đầu thiên hạ, vượt cả Thiếu Lâm, Võ Đang, trở thành môn phái số một ở Trung Nguyên", đó sao? (Xem Ỷ thiên Đồ long ký).

Để thực hiện tâm nguyện thứ nhất, vì sao Diệt Tuyệt sư thái không chịu liên kết với Minh giáo thành một mặt trận thống nhất, cùng tác chiến? Có người sẽ bảo, cái gọi là tâm nguyện thứ nhất của Diệt Tuyệt sư thái chỉ là nói suông thế thôi, điều bà thật sự quan tâm, ấy là làm sao cho phái Nga My đứng đầu thiên hạ! Yêu cầu của bà đối với Chu Chỉ Nhược dường như cũng chứng minh điểm này. Nhưng như thế vẫn chưa thể giải thích vì sao Diệt Tuyệt sư thái lại căm hận Trương Vô Kỵ đến thế. Thực ra, ngoài nguyên nhân chính trị, còn có một nửa là nguyên nhân đạo đức, tức là bà ta cho rằng Trương Vô Kỵ là một "tên dâm tặc" Ma giáo, sợ chàng làm ô uế "sựtrong trắng" của Chu Chỉ Nhược, như Dương Tiêu từng làm với Kỷ Hiểu Phù. Mà đàng sau nguyên nhân đạo đức này còn có một nguyên nhân không thể nói rõ, ấy là Diệt Tuyệt sư thái không biết gì, hoặc căm hận đối với tình cảm nam nữ, đối với tình người nói chung.

Như vậy chúng ta mới có thể lý giải, vì sao DiệtTuyệt sư thái căm hận Dương Tiêu, vì sao bà ta đánh chết Kỷ Hiểu Phù, thậm chí đối với “nghiệt chủng" Dương Bất Hối của Kỷ Hiểu Phù và Dương Tiêu, bà ta cũng muốn đập chết luôn. Chúng ta mới có thể lý giải, vì sao Diệt Tuyệt sư thái đòi Chu Chỉ Nhược thề độc, rồi bà sẽ còn hóa thành ma quỉ để hù dọa nàng. Do tình cảm bị ức chế, tâm lý và nhân tính biến dạng, Diệt Tuyệt sư thái mới dành toàn bộ nhiệt tình của mình cho hoạt động chính trị. Mà hoạt động chính trị thì càng làm cho tình cảm bị ức chế, tâm lý và nhân tính bị biến dạng thêm. Cá nhân Diệt Tuyệt sư thái hoàn toàn không đáng sợ, đáng sợ là cái tư tưởng chính trị, đạo đức chính trị và nhiệt tình chính trị của bà. Cuối cùng, ngay cả bản thân mình, bà cũng còn cương quyết "diệt tuyệt".

ĐÙA CHÚT MÀ

ĐÙA CHÚT MÀ
(tếu zui)
Ờ thì đôi lúc chán nhau 
Cũng như có thuở đậm màu mỡ yêu 
Tình trông óng ả mỹ miều 
Biết đâu bão rớt hết chiều chuộng nhau.

Nếu mà Em sợ lòng đau
Thì Ta vẫn cứ trắng phau phau lòng
Đều đều cánh bướm vờn bông
Cho tơi tả nguyệt, cho nồng mặn hương.

Chỉ là thử dạ tình nương 
Chứ tim vẫn đậm ước trường cửu thôi
Vẫn ngọt mềm ở vành môi
Vẫn dìu em đến chốn sôi nổi nào...

Thôi thì chẳng dám tào lao
Sợ em đi thiệt sẽ hao hụt đời...

HANSY

TIÊU DAO

TIÊU DAO
(Ngũ độ thanh)

Trăng lùa cánh diệu phả vào thơ
Dệt giữa nồng thương ướp nẻo chờ
Phảng phất hương quỳnh đâu dậy ngỡ
La đà sắc phượng ấy lèn mơ
Triền thơm ái cảm nào pha lợ
Cõi lộng tình ân chả tối mờ
Chập chững gươm đàn thi phú mở
Giang hồ xoải cánh bạt đời trơ

Giang hồ xoải cánh bạt đời trơ
Quãng nhạc tình yêu sắc ẩn mờ
Nắng tỏa mê thầm loang vẹn rỡ
Đêm về ước vọng phả tròn mơ
Triền miên ngõ hẹn la đà nhớ
Phảng phất lời thương rộn rã chờ
Ngọt mãi hương lòng chan bốn bể
Trăng lùa cánh diệu phả vào thơ

HANSY

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

QUẢNG NAM RA ĐỀ THI MÔN TOÁN BỊ SAI

QUẢNG NAM RA ĐỀ THI
MÔN TOÁN BỊ SAI

Sở GD-ĐT Quảng Nam ra đề thi Học kỳ II môn Toán lớp 9 bị sai, sau đó đã hướng dẫn học sinh chỉnh sửa và bù thêm thời gian làm bài. 

Sáng ngày 16/5, tại kỳ thi Học kỳ II năm 2016-2017 môn Toán lớp 9, đề thi do Sở GD-ĐT Quảng Nam ra đã phát hiện một câu không đúng.

Đề thi Toán lớp 9 của Sở GD-ĐT Quảng Nam
Cụ thể, câu 4 (cho 4 điểm) trong đề thi có nội dung: “Cho tam giác ABC vuông tại A. Đường tròn O, đường kính AB cắt BC tại M. Phần a: Chứng minh AM vuông góc với BC và AM.BC=AB.AC. Phần b: Gọi I là trung điểm của BC. Đường thẳng BI cắt đường tròn O tại điểm thứ hai N. Chứng minh MNIC là tứ giác nội tiếp. Phần c: chứng minh IC2 =IN.IB.

Ngay sau khi phát đề, giáo viên đã phát hiện phần b ra sai. Bởi vì, nếu gọi I là trung điểm của BC thì sẽ không giải được đáp số. Sau đó, giáo viên đã hướng dẫn học sinh sửa thành AC và bù thêm thời gian 5 phút cho học sinh làm bài.

Phần b, giáo viên đã hướng dẫn học sinh sửa thành AC
Ông Hà Thanh Quốc, giám đốc Sở GD-ĐT Quảng Nam, cho biết chưa nắm được sự cố sai đề thi này vì chưa nhận được báo cáo.

Theo ông Quốc, khi mở đề ra mà phát hiện sai thì bộ phận trực đề thi sẽ chỉ đạo điều chỉnh ngay tại chỗ. “Đây là lỗi về mặt chuyên môn, Sở sẽ xem xét người ra đề, nếu sai sẽ kiểm điểm rút kinh nghiệm” - ông Quốc nói.


Vũ Trung

DỖI HỜN

135.
DỖI HỜN

Lặng cánh yêu nồng não ruột rơi 
Ngàn thương trả lại hết cho người 
Niềm mơ rụi não nề phiên khúc
Khắc khoải cung đàn cõi mộng vơi 
Ái hỡi cam đành roi xử cội
Nguyền sao nỡ chịu án oan trời 
Duồng mây gởi gió lời tâm sự 
Quá vãng mê lầm thả ngút khơi

HANSY

CHÍ TRAI

Dõi mắt thương hoài thánh thót rơi 
Niềm yêu mãi cuộn phía xa người 
Đau hoài lộng nỗi niềm xa cách
Kỷ niệm thân tình nhớ khó vơi 
Biển hỡi gửi lòng mây trải nắng
Đảo ơi trao dạ gió vang trời 
Hiến thân non nước ngàn năm vũng 
Chi sá trai hùng lướt sóng khơi

HANSY


HY VỌNG

Hải đảo muôn trùng ánh nắng rơi 
Trầm hương quê mẹ gửi cho người 
Ân tình lộng biếc thề mơ trỗi 
Thơm ước mộng tràn nỗi khổ vơi 
Dẫu biết cô phòng đêm xót cội
Vẫn xin ấm phận giữa hoen trời 
Ngày vui chắc hẳn nhiều thơm mới 
Rạng rỡ hưng cờ rạng biển khơi

HANSY

MƯA TÌNH

MƯA TÌNH

Một chút tơ trời, một chút mưa ngâu
Giăng kín cả niềm thương nỗi nhớ
Có phải Em về gọi mùa trăn trở
Nhung nhớ ơ hờ, nhung nhớ ơi!

Ta hát dâng Em khúc hát vạn lời
Những bài ca yêu thương đầy trong âm hưởng
Thơ Em viết chuyện tình nhiều âm hưởng
Để làm nền cho bản nhạc Ta ru.

Em một đời chung thủy đến ngàn thu
Tháng năm phong kín dù rừng kia thay lá
Tình yêu đó còn hơn là biển cả
Yêu một lần mà khắc mãi đến ngàn năm.

Nào ai ngờ lỡ bước giữa mùa trăng
Ta chết nghỉm giữa cõi đời ô trược
Đường Em đi nắng hồng soi phía trước
Cơn mưa tình yêu đành để lại phía sau lưng.

HANSY

TẠI SAO MÀ...

TẠI SAO MÀ...
(Tiệt hạ)

Giấc mơ đẹp thế tại sao mà
Bão gió cuồng quay bỗng chốc đà
Gừng muối vứt nguyền ôi cứ tưởng
Khang tào bỏ nghĩa té thì ra
Yêu thương ngút lặng thầm đau với
Quá vãng trào dâng hận ghét và
Quyết dẹp bóng hình ngày ấy đã
Tình yêu huyễn ảo tựa như là

Tình yêu huyễn ảo tựa như là
Chỉ khiến sầu đau phẩn uất và
Ton hót lọc lừa chân thật ngỡ
Lặng thầm dối gạt ỡm ờ ra
Đổi thay trên dưới nên nguyền đã
Trộn lẩn trắng đen khiến mộng đà
Thôi nhé biệt từ câu ước tưởng
Giấc mơ đẹp thế tại sao mà 

HANSY

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

DỄ NÀO QUÊN

DỄ NÀO QUÊN

Ước thề xưa cũ ước thề ghim
Khiến mãi long đong khiến mãi tìm
Đâu nữa muối gừng đâu nữa ái
Chẳng còn hương lửa chẳng còn tim
Vì sao nghiêng ngã vì sao cạn
Để phải lao đao để phải chìm
Hoài muốn tìm quên hoài muốn xả
Dễ nào phai lãng dễ nào im

HANSY

1.
HẾT RỒI

Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ghim
Dõi phương mù thẳm dõi phương tìm
Còn chi cật ruột còn chi não
Đã cạn gan lòng đã cạn tim
Nào tưởng nguyền thâm nào tưởng vọng
Lại rơi duyên thắm lại rơi chìm
Ngồi đây tha thắt ngồi đây lặng
Chẳng trọn ân thề chẳng trọn im

+Thùy Linh 
3.
CŨNG ĐÀNH

Vẫn còn nhung nhớ vẫn còn ghim
Để mãi bơ vơ để mãi tìm
Ngơ ngác nhìn theo ngơ ngác dạ
Thẫn thờ trông ngóng thẫn thờ tim
Bèo trôi lặng lẽ bèo trôi dạt
Nước nổi thờ ơ nước nổi chìm
Khao khát trong lòng khao khát mộng
Cũng đành mất mát cũng đành im

+Minh Hien 
4.
ĐÀNH VẬY

Ái buộc câu nguyền ái buộc ghim
Mãi theo kỷ niệm mãi theo tìm
Ê chề phím vỡ ê chề mộng
Lặng lẽ khúc sầu lặng lẽ tim
Người đã quay lưng người đã ngoảnh
Kiếp chao biệt dạng kiếp chao chìm
Từng đêm thổn thức từng đêm quạnh
Cũng phải chôn lòng cũng phải im

+Thùy Linh 

NHỦ LÒNG

NHỦ LÒNG

Ân tình chẳng trọn dòng thơ
Trách cao xanh ấy lắm hờ hững duyên
Chia tim rẽ bến xa thuyền
Tình trong ngấn lệ khiến điên đảo hồn.

Người ơi, cách núi trở sông
Biết bao giờ mới hiệp nồng nàn yêu
Mịt mờ biển bắc nghiêng chiều
Để phương nam luống nỗi phiêu lãng tình.


Bao giờ mới có bình minh
Để hương ái cũ được bình yên thêm
Để trăng ngát diệu qua thềm
Cho lời thề nguyện được êm đẹp hoài.

Dầu rằng cách trở, đừng phai
Giữ gìn chung thủy, vẫn nài nỉ lâng
Dẫu giông gió thổi bao lần
Một lời hẹn ước quyết gần gũi nhau...


HANSY

VIỆT NAM ANH DŨNG

VIỆT NAM ANH DŨNG

Toàn dân góp sức hiệp muôn lòng
Gian khó nghĩa bền vượt lũy chông
Giáng trả quân thù xua lũ Hán
Tràn khơi ý tưởng rợp hương đồng
Băng rừng xoải cánh lừng chim lạc
Vượt thác lao mình rạng núi sông
Nối mộng anh hùng xây tổ quốc
Bình yên đất mẹ sáng tươi hồng

Bình yên đất mẹ sáng tươi hồng
Phấp phới dương cờ dậy biển sông
Xẻ núi xông pha đền nghĩa nước
Duỗi ghe tiến thẳng dệt tâm đồng
Lòng luôn chói rạng ngời thanh sử
Chí mãi vang rền đạp bão chông
Đất nước ngàn năm hoài rực rỡ
Toàn dân góp sức hiệp muôn lòng

HANSY

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

Kỳ 46 -QUÂN NGUYÊN MÔNG TUNG ĐÒN GIÓ TRẦN NHẬT DUẬT PHÁTHẾ GỌNG KỀM

Kỳ 46
---------
QUÂN NGUYÊN MÔNG TUNG ĐÒN GIÓ
TRẦN NHẬT DUẬT PHÁTHẾ GỌNG KỀM

Đại Việt, tuy mất kinh đô nhưng đã phá được một gọng kìm trong thế ba gọng kìm. Quân Đại Việt giờ đây lại tập trung đối phó thế gọng kìm mới. Phía bắc là quân của Thoát Hoan ào ào đánh xuống, phía nam là quân của Toa Đô thừa thế đánh lên.

1.
Tương quan lực lượng mặt trận tây bắc

Trong lúc chiến sự diễn ra quyết liệt ở trung châu nước Đại Việt, thì ở vùng biên thùy mạn tây bắc, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cũng cầm quân đương đầu với quân Nguyên từ Vân Nam tiến sang. Cánh quân Nguyên ở Vân Nam do viên Bình chương Vạn hộ hầu Nạp Tốc Lạt Đinh (Naxirut Din) chỉ huy, ước chừng có hơn 1 vạn quân. Trong thành phần cánh quân này bao gồm cả quân lính người Mông Cổ và người Vân Nam. Nạp Tốc Lạt Đinh dẫn quân tiến theo con đường mà ngày trước đội quân của Ngột Lương Hợp Thai đã đi, từ châu Quy Hóa đánh xuống. Cánh quân Nguyên này đóng vai trò thứ yếu trong kế hoạch của Nguyên triều, cốt là để phân tán lực lượng của Đại Việt mà thôi. Tuy vậy, quân Đại Việt cũng không thể không điều quân trấn giữ vùng tây bắc. Nếu để hở hướng này, thì đòn hư sẽ biến thành đòn thực. Quân của Nạp Tốc Lạt Đinh một khi tiến xuống phối hợp với đại quân của Thoát Hoan hai mặt giáp công thì quân Đại Việt tất sẽ rơi vào thế hiểm nghèo. Bởi vậy, Hưng Đạo vương đã giao cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật phụ trách mặt trận tây bắc, có nhiệm vụ chặn đứng quân địch, không cho chúng phối hợp với đại quân phía đông bắc của Thoát Hoan. Hưng Đạo vương còn bố trí quân đóng ở Tam Đái, do Hoài Thượng hầu Trần Lộng chỉ huy làm hậu viện cho quân ở mạn tây bắc.

Chiêu Văn vương là em thứ 6 của Thượng hoàng Trần Thánh Tông, chú của vua Trần Nhân Tông. Bấy giờ ông còn rất trẻ, chỉ mới 30 tuổi đã đảm nhận trọng trách trong quân. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật là người tuổi trẻ tài cao, tài khiêm văn võ. Đặc biệt, Chiêu Văn vương có kỳ tài về ngoại ngữ, không chỉ am hiểu tiếng nói mà còn hiểu biết phong tục tập quán của các sắc dân. Nhờ có năng lực, ngoài 20 tuổi ông đã được triều đình cho phụ trách ngoại giao và giao thiệp với các sắc dân thiểu số. Năm 1280, Trịnh Giác Mật ở Đà Giang làm phản, ông một mình vào trong sào huyệt của địch dụ hàng, khiến cho Trịnh Giác Mật cảm phục mà theo về kinh thành tạ tội. Triều đình Đại Việt nhờ ông mà dẹp yên được đạo Đà Giang, vừa không tốn một binh một tốt vừa thu phục được lòng dân ở đó.

Đặc điểm của các lực lượng quân sự tại vùng biên giới tây bắc có khác biệt lớn với vùng trung châu nước Đại Việt. Do binh lực Đại Việt phần lớn phải dồn cho chiến trường chính phía mạn đông bắc, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chỉ trực tiếp nắm giữ vài ngàn quân, với thành phần lực lượng đủ mọi sắc tộc. Quân của ông bao gồm quân triều đình người Việt trung châu, quân sơn cước người Tày và các tộc thiểu số, quân người Tống sang quy phụ. Với lực lượng ít, không đồng nhất lại phải tác chiến độc lập, nhiệm vụ của Trần Nhật Duật không hề dễ dàng.

Triều đình Đại Việt không áp dụng chế độ trực trị đến châu huyện mà cho các tù trưởng nơi này quyền tự trị và thế tập. Họ thể hiện sự quy phục triều đình bằng cách nộp thuế, nốp cống phẩm, cho đất trú quân và điều quân phối hợp khi có chiến tranh. Tù trưởng các trại, châu, động nơi này tự cầm quân bản bộ của mình. Họ chỉ chiến đấu hiệp đồng với quân triều đình chứ không tách ghép quân lực, triều đình cũng không thể can thiệp sâu vào nhân sự, nội bộ của các đội quân người thiểu số. Thậm chí, nếu tình hình diễn biến phức tạp thì các sắc dân thiểu số có thể còn trở giáo theo phe địch. Bởi dù có chung một quốc gia, các sắc dân tây bắc thời kỳ này vẫn chưa thực sự coi người Việt là đồng chủng đồng văn. Quốc gia đối với họ đơn giản là một liên minh cực lớn của các cộng đồng. Trấn thủ vùng tây bắc, Chiêu Văn vương đã phải rất khéo léo thu phục được lòng trung thành của các sắc dân nơi này. Gặp dân ăn bốc thì ông cũng ăn bốc, gặp người uống bằng mũi thì ông cũng uống bằng mũi. Dân trong vùng người người đều cảm mến. Nhờ vậy mà các tù trưởng và quân dân các sắc dân thiểu số sẵn lòng xả thân cho Đại Việt ngay cả khi quân Nguyên chiếm thế thượng phong và quân triều đình phải rút lui khỏi vùng.
2.
Chiến sự tây bắc

Tại vùng tây bắc nước Đại Việt, châu Quy Hóa là cửa ngõ đầu tiên mà quân Nguyên tiến vào. Tại đây có dòng họ Hà người Tày, đời đời nối giữ chức trại chủ, là thế lực lớn mạnh và có uy tín nhất vùng Quy Hóa. Bấy giờ Hà Đặc là trại chủ Quy Hóa, cùng em là Hà Chương cả hai đều là người tuấn kiệt, mưu trí. Quân Nguyên với lực lượng mạnh đánh vào Quy Hóa, Chiêu Văn vương không thể mạo hiểm đem quân quá xa đại doanh ở trại Thu Vật mà ứng cứu. Bởi nhiệm vụ của ông là phòng thủ, bảo toàn lực lượng. Hà Đặc thế cô không thể đương đầu trực diện với giặc, chỉ đánh thăm dò rồi rút quân, nhường đường lớn cho Nạp Tốc Lạt Đinh tiến qua. Tuy nhiên, Hà Đặc không dễ dàng để yên cho quân Nguyên tung hoành. Ông chỉ huy quân rình rập sau hậu tuyến của quân Nguyên, đêm ngày đánh tỉa, bám đuôi giặc từ vùng núi non biên giới đến tận vùng đồng bằng. Mặc dù cách đánh này không ảnh hưởng lớn đánh tiến độ hành quân của quân Nguyên nhưng khiến cho giặc phải phân tán tinh thần và lực lượng.

Qua được địa bàn châu Quy Hóa, Nạp Tốc Lạt Đinh đối đầu với cửa ải Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái ngày nay) của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật trong lúc mà chiến sự ở vùng Vạn Kiếp – Thăng Long đang gay go. Nhật Duật vừa giao chiến với quân của Nạp Tốc Lạt Đinh, vừa nghe ngóng quân tình ở mặt trận miền đồng bằng. Theo các sử liệu cũ, đã không có trận quyết chiến nào diễn ra ở đây. Nạp Tốc Lạt Đinh có ý muốn diệt gọn quân của Chiêu Văn vương, sai kỵ binh ngầm đi vòng ra sau trận tuyến của Đại Việt một quãng xa để mai phục, sau đó tung quân chia làm nhiều cánh tấn công mạnh vào trại Thu Vật. Chiêu Văn vương sau khi giao chiến vài trận nhỏ tiêu hao lực lượng địch, bèn hạ lệnh rút quân bảo toàn lực lượng. Bấy giờ căn cứ Tam Đái vẫn còn phía sau, Chiêu Văn vương vẫn có thể trông cậy vào đó mà phối hợp chặn giặc bảo vệ Thăng Long. Quân Đại Việt xuống thuyền rút theo dòng sông Lô về xuôi. Chiêu Văn vương ngồi trên chiến thuyền, quan sát thấy quân Nguyên trên bờ đuổi theo sau nhưng lại đi thong thả bèn nói với tướng sĩ: “Phàm đuổi thì cần nhanh, nay giặc tiến từ từ, sợ có tiền quân chắn ngang phía trước”.Nói xong sai quân đi trước do thám, quả nhiên phát hiện thấy phục binh của địch đợi sẵn ở phía hạ lưu. Chiêu Văn vương đã biết được quỷ kế của Nạp Tốc Lạt Đinh, sai quân bỏ thuyền lên bộ, hướng về Thăng Long.

Ngày 20.2.1285, quan quân về đến vùng Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ ngày nay) thì được tin Thăng Long đã thất thủ, đại quân cùng triều đình đã rút lui về đông. Lúc này trong quân có nhiều người hoang mang lo lắng. Chiêu Văn vương bèn cho dừng quân bên ngã ba sông Bạch Hạc, cùng ba quân làm lễ cắt tóc tuyên thề trước thần linh: “Nguyện dốc hết lòng trung để báo đền quân thượng”.Làm lễ xong, tinh thần quân sĩ lại lên cao. Chiêu Văn vương cùng các tướng sĩ trèo đèo vượt sông, tìm về với đại quân triều đình. Tại Tam Đái, quân của Trần Lộng cũng rút lui để tránh việc bị kẹt giữa hai khối quân lớn của Nạp Tốc Lạt Đinh và Thoát Hoan. Nạp Tốc Lạt Đinh tuy đánh lui được Chiêu Văn vương nhưng chịu thiệt hại không nhỏ do bị quân của Hà Đặc tập kích và cũng bị tổn thất tại Thu Vật.

Nạp Tốc Lạt Đinh phải chia quân đối phó với quân của các tù trưởng khá vất vả, chỉ còn có thể huy động được 1.000 quân đến hội với cánh quân của Thoát Hoan. Chẳng những vậy, tuyến hành lang hậu cần phía sau liên tục bị quấy rối,khiến quân của Nạp Tốc Lạt Đinh trở thành một gánh nặng về quân lương cho toàn bộ đoàn quân Nguyên xâm lược. Còn về phía Đại Việt, tuy mất kinh đô như đã phá được một gọng kìm trong thế ba gọng kìm. Quân Đại Việt giờ đây lại tập trung đối phó thế gọng kìm mới. Phía bắc là quân của Thoát Hoan ào ào đánh xuống, phía nam là quân của Toa Đô thừa thế đánh lên. Tình hình vẫn còn rất cam go, đòi hỏi phải có được bản lĩnh phi thường để đi đến thắng lợi.

Quốc Huy





ĐẤT NƯỚC THÂN THƯƠNG

134.

ĐẤT NƯỚC THÂN THƯƠNG

Một phương TÂY BẮC nhuộm LAM gầy 
QUẢNG TRỊ XÁM lòng nước mắt cay 
Đất ĐỎ ĐỒNG NAI nhiều dốc rẫy
Núi rừng PHÚ THỌ BIẾC màu mây 
HÀ TIÊN sóng BẠC thuyền thơ đẩy
ĐÀ NẴNG mơ HUYỀN dáng phú ngây 
Cô gái CẦN THƠ HOÀNG hạc nguẩy
HUẾ thương TÍM rịm luyến lưu này

HANSY

TRẢ TÌNH

TRẢ TÌNH

Ta ngồi đây đếm kỷ niệm chan về
Man mác cõi hồn một dòng luyến nhớ
Nơi xa ấy hỏi ái còn tim gõ 
Thương giữa chiều khi ân ái lìa tan.

Chiều nào Em - Ta ước mộng xuân tràn
Cùng mơ một khung trời thơm hạnh phúc
Em gối đầu trên muôn ngàn háo hức
Ta lặng người khi hoan lạc bừng khơi...

Thủ thỉ cho nhau biết mấy vạn lời
Đâu có biết gió giông về khắp nẻo
Cuối dốc tình chi còn nồng vắt vẻo
Ta lao đao trong ngỏ tối hoang vu...

Thôi thì thôi, trả lại kiếp xa mù
Duyên phối ngẫu âu trời kia đã định
Nên tất cả lạc loài xa nẻo chính
Để cuối cùng hoang hoải cả mùa thương....

HANSY

TÌNH XA

TÌNH XA
(Thuận Nghịch độc)

Sông chiều phả xám uẩn đời hoa
Lộng trỗi hờn loang bợt ánh tà
Mong ước lụy tàn thân héo rã
Vợi chìm mê đắm cõi nồng qua
Dòng chau nước thảm thờ ơ má
Mộng nuối tim nhoài mệt mỏi ta
Lòng tẻ nhạt hương nguyền xót dạ
Trông chờ vắng lặng mắt buồn xa

Xa buồn mắt lặng vắng chờ trông
Dạ xót nguyền hương nhạt tẻ lòng
Ta mỏi mệt nhoài tim nuối mộng
Má ơ thờ thảm nước chau dòng
Qua rời cõi đắm mê chìm rỗng
Rã héo thân tàn lụy ước mong
Tà ánh bợt loang hờn trỗi lộng
Hoa đời uần xám phả chiều sông

HANSY

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

22. TẠ TỐN

22.
TẠ TỐN 
Sám hối làm con người mới.

Trong sách Ỷ thiên Đồ long ký, Diệt Tuyệt sư thái trước sau luôn sai người truy nã Tạ Tốn, nhưng cho đến khi bà ta chết, vẫn không gặp được Kim Mao Sư Vương, khiến tôi cũng tiếc cho bà ta. Tôi thường nghĩ, giả sử hai người ấy gặp nhau; hai tính cách trái ngược ấy đụng nhau, nhất định sẽ xảy ra chuyện bất ngờ. Hai người này sinh ra là để đối đầu với nhau, một bên chính phái, một bên tà phái, một bên sức sống bị áp chế cực độ tới mức biến dạng khô quắt, một bên sức sống phát tiết cực độ tới mức biến dạng bành trướng. Cả hai đều tay nhuốm đầy máu người, chỉ khác là một bên đến chết vẫn không tha thứ cho người khác, còn bên kia thì dành quãng đời còn lại cho sự sám hối. Là người ngoài cuộc, chúng ta thấy trong cái đáng kính của Diệt Tuyệt sư thái có nhiều cái đáng sợ; còn trong cái đáng sợ của Tạ Tốn lại có nhiều cái đáng yêu, đáng thương, đấy là chỗ kỳ diệu của đời người, tính người. Xem chuyện của hai người ấy, chúng ta cứ phải nghĩ mãi không thôi.

1.
Khi một người cao lớn dị thường, tóc vàng xõa xuống vai, cặp mắt xanh biếc phát quang lóng lánh, tay cầm một cây lang nha bổng có hai đầu, dài chừng trượng sáu, trượng bảy, xuất hiện tại đảo Vương Bàn, thì không chỉ những ai có mặt ở đó cảm thấy kinh sợ, mà tôi tin rằng các độc giả cũng bất giác kinh hãi. Người ấy rõ ràng không giống người Hán ở Trung Nguyên, thậm chí cũng không giống con người, mà là một thể hỗn hợp kỳ diệu giữa ma quỉ với thiên thần. Nếu không, tại sao Tạ Tốn lại có khả năng siêu phàm, chỉ gầm lên một tiếng như dã thú cũng đủ làm cho tất cả các nhân vật võ lâm có mặt trên đảo đều bị thương,hóa thành ngu ngốc? Nhưng rất nhanh chúng ta sẽ phát hiện, Kim Mao Sư Vương dưới ngòi bút của Kim Dung, tuy là một đại ma đầu ghê gớm thường gặp trong tiểu thuyết võ hiệp, song thực ra khác hẳn.

Chúng ta nhanh chóng thấy tên đại ma đầu tự xưng "mười ba năm nay ta chỉ làm bạn với cầm thú, ta tin tưởng cầm thú chứ không tin con người. Mười ba năm nay ta giết cầm thú ít hơn là giết người", (Xem Ỷ thiên Đồ long ký), thực ra lại có một phương diện quân tử nho nhã. Không giết Trương Thuy Sơn và Ân Tố Tố là biểu hiện đầu tiên của phương diện đó. Tuy giữa biển cả mênh mông, đầy các núi băng trôi nguy hiểm, Tạ Tốn chửi trời rủa đất, nổi cơn điên cuồng, suýt nữa bóp chết Ân Tố Tố, đến nỗi Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố phải chống lại, cuối cùng bắn mù hai mắt Tạ Tốn, nhưng khi sóng yên gió lặng, chúng ta vẫn thấy ẩn sau bề ngoài đáng sợ của ông vẫn thấp thoáng cái tướng của bậc quân tử. Không lâu nữa thì chúng ta biết, sở dĩ Kim Mao Sư Vương biến dạng đi như thế hoàn toàn không phải vì ông bẩm sinh đã tàn ác, lòng dạ như ma quỉ, mà thực chất chỉ là vì một thảm cảnh gia đình mà người thường không thể tưởng tượng và càng không thể tin nổi, đã làm cho tính cách, tâm lý Tạ Tốn biến dạng, tinh thần điên cuồng.

Cụ thể, sư phụ của ông là Thành Côn mười ba năm về trước, một ngày nọ đột nhiên giết sạch cả gia đình lớn nhỏ mười ba người, gồm cha mẹ, vợ con ông, chỉ còn lại một mình ông, để ông phải đối mặt với cái cảnh tượng bất ngờ, có tính hủy diệt tâm lý, tinh thần đó. Cảnh tượng trải qua không chỉ khiến Tạ Tốn cảm thấy đau đớn và phẫn nộ ghê gớm, đồng thời còn hết sức chấn động và bàng hoàng : vị sư phụ chí thân chí ái làm sao lại đi hiếp dâm vợ ông, lại tàn nhẫn giết sạch thân nhân của ông? Việc đó không chỉ làm cho ông nội trong một đêm mất hết người thân, mà còn hủy diệt chỗ dựa tinh thần và quan niệm giá trị của ông. Trên thế gian, ngoài việc báo thù, Tạ Tốn không còn mục tiêu và đối tượng nào để tin, để dựa, để lưu luyến nữa. Từ đấy trở đi, Tạ Tốn đương nhiên sống chỉ là để báo thù. Nhưng ban đầu võ công của ông không bằng sư phụ, chẳng những báo thù không được, mà còn bị thương.

Sau Tạ Tốn luyện thành Thất thương quyền cực kỳ uy lực, thì lại không tìm đâu ra hình bóng sư phụ Thành Côn nữa. Để tìm được sư phụ Thành Côn báo thù, Tạ Tốn không tiếc bất cứ giá nào, trong cơn tức giận, ông cứ giết bừa bãi người vô tội ở các nơi, gây ra án mạng, rồi viết để lại dòng chữ "Kẻ giết người là Hỗn nguyên tích lịch thủ Thành Côn", bắt buộc Thành Côn phải ra mặt ứng chiến. Nhưng Thành Côn trước sau không hề xuất hiện, lại mời phương trượng Thiếu Lâm tự là Không Kiến đại sư đến hòa giải. Trong cơn giận dữ không thể kiềm chế, Tạ Tốn đã đánh chết luôn cả Không Kiến đại sư từ bi nhân ái. Do bi thương, phẫn nộ, kinh ngạc, thù hận, tuyệt vọng, cộng với sự tổn hại tâm tạng vì luyện tập Thất thương quyền, nhân việc đánh chết Không Kiến đại sư mà đâm ra hối hận, Tạ Tốn hóa thành một ma vương vừa sát nhân, vừa hủy hoại thế giới tinh thần của ông, khiến tính khí ông hết sức thất thường.

Tạ Tốn không thể nào ngờ, sư phụ Thành Côn sở dĩ làm thế, là vì cố ý, chứ không phải do hắn say rượu hoặc phát rồ. Hắn muốn thông qua gã đệ tử đang đảm nhiệm chức pháp vương trong Minh giáo là Tạ Tốn, để trả thù cái việc giáo chủ Dương Đính Thiên cướp người yêu của hắn. Thành Côn cố ý biến gã đệ tử của mình thành một công cụ điên cuồng giết người, đối đầu với toàn bộ võ lâm, cốt cho tất cả mọi người thanh toán món nợ máu với Minh giáo. Sở dĩ Thành Côn chọn đệ tử của mình làm công cụ thực hiện âm mưu thâm độc của hắn, bởi vì hắn biết rõ đệ tử Tạ Tốn của hắn thiên tư thông minh nhưng tâm linh yếu đuối, bẩm tính chất phác nhưng tính cách nông nổi.

2.

Tình tiết giàu sức tưởng tượng nhất, cảnh tượng kinh ngạc nhất trong bộ tiểu thuyết này là tiếng khóc chào đời của nhân vật chính vang lên, làm cho Tạ Tốn đang điên cuồng, cơ hồ mất tính người, bỗng bừng tỉnh. Bắt đầu từ giây phút ấy, tình yêu nảy sinh trong lòng Tạ Tốn, tâm trí phục hồi, thù hận tiêu giảm, tâm lý, tính cách và vận mạng của ông biến đổi bắt đầu trở lại bình thường. Cảnh ấy đương nhiên có tính chất tượng trưng, hoàn toàn không phải nhờ tiếng khóc là thần nhạc, kỳ diệu hơn linh đan diệu dược, mà chỉ vì tâm bệnh tích kết ở Tạ Tốn phải được chữa bằng tâm dược. Đối với một người như Tạ Tốn vì mất mấy đứa con mà đến nỗi phát điên vì thù hận, thì tiếng khóc của trẻ sơ sinh có thể đánh thức, phục hồi bản năng người cha ở ông.

Sự phục hồi bản năng người cha ở Tạ Tốn còn giúp cho Ân Tố Tố thông minh chớp ngay lấy cơ hội đó, để cho đứa con vừa ra đời làm con nuôi của đối phương, lấy luôn cả cái tên Tạ Vô Kỵ của đứa con đã mất của Tạ Tốn. Tạ Tốn sung sướng phát khóc, định ẵm đứa bé sơ sinh, nhưng lại sợ mình làm cho đứa bé hốt hoảng, chứng tỏ ông đã thể hiện tình yêu sâu sắc đối với con người. Rồi giữa chốn hoang dã, tiếng cười đắc ý vang lên, không chỉ xua tan mối hận vợ chồng Trương Thúy Sơn làm ông mù lòa, mà còn xua tan hết thảy mối thù hận, phẫn nộ và bi thương tích kết trong lòng ông mười mấy năm nay. Từ giờ trở đi, Tạ Tốn bắt đầu làm một con người mới. Tình yêu như của người cha mà Tạ Tốn dành choTrương Vô Kỵ hiển nhiên là một trọng điểm tự sự trong bộ tiểu thuyết này.

Tình yêu đó không chỉ thể hiện ở việc bênh vực Trương Vô Kỵ mỗi khi vợ chồng Trương Thúy Sơn định trách phạt con, đến mức tự nhiên cậu bé Trương Vô Kỵ coi nghĩa phụ như chỗ dựa, người che chở vững nhất của mình; cũng không chỉ thể hiện ở việc từ năm Trương Vô Kỵ lên tám, Tạ Tốn dốc lòng truyền thụ võ công cao thâm cho đứa bé, thậm chí nghiêm khắc bắt học thuộc lòng; mà còn thể hiện ở việc từ khi nhận đứa bé làm con nuôi, mục đích sống của Tạ Tốn bắt đầu chuyển biến hẳn; tìm bí mật trong thanh đao Đồ Long không còn là trọng điểm nữa; mà ông chăm chú theo dõi hướng gió, dòng chảy, nhất tâm nhất ý đưa Trương Vô Kỵ trở về đất liền, để cậu bé được sống sung sướng trong một thế giới bình thường. Tiến hơn nữa, thực sự đáng quý là Tạ Tốn không chỉ tìm cách đưa Trương Vô Kỵ trở về đất liền, mà còn kiên quyết để vợ chồng Trương Thúy Sơn đưa con về đất liền, một mình ông ở lại hòn đảo cách biệt với thế giới. Nguyên nhân là "Ta thương yêu nó mười năm, thế cũng đủ rồi. Tặc lão thiên thể nào cũng gây sự với ta, thằng bé ở bên ta quá lâu, e rằng tặc lão thiên giận lây sang nó, sẽ thành họa lớn". (Xem Ỷ thiên Đồ long ký).

Nguyên nhân thực sự, đương nhiên Tạ Tốn biết rằng ông gây ra quá nhiều nợ máu, không muốn để Trương Vô Kỵ bị ảnh hưởng báo ứng lây, nên thà ông bị trừng phạt bằng nỗi cô đơn nơi hoang đảo, song phải để ba người kia sớm trở về đất liền. Trong tình hình lúc ấy, một người cha chỉ có thể biểu hiện tình yêu đến thế là cùng. Bấy giờ Tạ Tốn quyết ý để Tạ Vô Kỵ trở về đất liền, lấy lại họ Trương, còn một mình ông ở lại hoang đảo, là vì tình yêu đối với Trương Vô Kỵ; nhiều năm sau, bất ngờ Tạ Tốn lại cùng Tử Sam Long Vương của Minh giáo trở về đất liền, lý do chủ yếu nhất cũng là vì ông không nén được niềm thương nhớ đối với đứa con nuôi Trương Vô Kỵ. Thậm chí có thể nói, Tạ Tốn thừa biết ở đất liền đầy rẫy kẻ thù, thanh đao Đồ Long sẽ dẫn đến vô vàn tai họa, song ông vẫn cứ trở về, thực chất thể hiện tình yêu sâu xa của ông đối với Trương Vô Kỵ. ông đương nhiên không mơ ước cùng sống một chỗ với chàng, nhưng được ở gần hơn một chút, hoặc chỉ được nghe tin về nó, thì ông cũng không quản nguy hiểm đến tính mệnh trở về cố hương.

Tình yêu của Tạ Tốn đối với Trương Vô Kỵ không chỉ cho ta thấy sự chuyển biến tính cách lớn lao của Tạ Tốn, tình người lóe sáng nơi ông, mà còn đoán biết năm xưa ông yêu đứa con đẻ Tạ Vô Kỵ như thế nào. Như vậy cũng dễ hiểu đòn chí mạng mà Thành Côn giáng vào tình cảm và tâm linh ông khi hắn giết hại cả gia đình ông. Chúng ta cũng dễ hiểu vì sao một người lương thiện như Tạ Tốn, đột nhiên lại biến thành một đại ma đầu điên cuồng giết người.

CUỐI

Sau khi Tạ Tốn cùng Trương Vô Kỵ, Chu Chỉ Nhược từ đảo Linh Xà trở về đất liền, ông bị Cái Bang bắt ra sao, rồi bị dẫn giải tới Thiếu Lâm tự thế nào, còn nhiều nghi vấn; nhất là Chu Chỉ Nhược đóng vai trò gì trong quá trình đó, tác giả không nói rõ. Co điều tôi cho rằng việc đưa Tạ Tốn đến Thiếu Lâm tự quả là một cách bố trí tài tình, không chỉ vì sư phụ kiêm kẻ thù của Tạ Tốn là Thành Côn ẩn náu ở đấy, mà đấy còn là nơi nương thân cuối cùng của Tạ Tốn. Nghe tiếng chuông, tiếng trống của Thiếu Lâm tự, tiếng tụng kinh Phật của ba đại cao tăng Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn, ông thành tâm sám hối, từ đó xuất gia, đó cũng là một kết cục rất bất ngờ của bộ tiểu thuyết. Tình tiết ấy khởi đầu cho việc xuất gia của hai người Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác trong Thiên long bát bộ sau này.

Phải thấy "Buông cây đao xuống, lập tức thành Phật" luôn là tinh nghĩa của tinh thần nhà Phật, cũng là chủ đề quá quen thuộc trong chuyện dân gian truyền thống Trung Quốc. Chuyện Tạ Tốn sở dĩ làm cho người ta bất ngờ không chỉ là việc ông xuất gia đi tu, mà là việc ông thành tâm sám hối. Sự sám hối của ông diễn ra không phải sau khi ông xuất gia, mà là trước khi ông nảy ra ý định đi tu. Sau khi Tạ Tốn đánh sư phụ Thành Côn mười ba quyền để trả mối thù hắn giết mười ba người nhà của ông, khiến ông điên rồ mười ba năm trời, ông không giết hắn, ông chủ động phế bỏ võ công của mình, xóa sạch ân oán đôi bên. Sau đó ông tình nguyện tiếp nhận sự trả thù của thân bằng cố hữu những người bị ông sát hại, sẵn sàng để họ hành hạ, giết chết ông. Tác giả viết: "Hào sĩ võ lâm coi cái chết nhẹ như lông hồng, song lại quyết không chịu nhục, cho nên mới có câu 'Sĩ khả sát nhi bất khả nhục'.

Hai người vừa rồi nhổ nước bọt vào mặt ông, quả là đại nhục, mà Tạ Tốn vẫn thản nhiên chịu đựng, đủ biết ông đã hối hận cực điểm về mọi tội lỗi trong quá khứ. Từ trong đám đông một số người lần lượt tiến ra, kẻ tát hai cái, người đá một cái, cũng có kẻ chửi bới nặng nề, song Tạ Tốn trước sau vẫn nín nhịn, không tránh né, cũng không nói lại nửa lời". (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Tạ Tốn lúc này xứng đáng là một vị anh hùng thật sự dĩ nhiên không phải như một anh hùng võ hiệp, mà như một anh hùng văn hóa, có dũng khí đạo đức lớn lao và tinh thần sám hối phi phàm. Cảnh này đủ để người ta nặn một bức tượng, cảnh tỉnh hậu nhân, nhất là những người Trung Quốc không thành tâm sám hối.

Sự sám hối của Tạ Tốn cũng không phải sau khi đến chùa Thiếu Lâm mới xuất hiện, mà đã có từ hồi còn ở Băng Hỏa đảo. Khi ông kể cho vợ chồng Trương Thúy Sơn và Trương Vô Kỵ nghe thảm họa của gia đình ông, thuật lại những tội nghiệt mấy chục năm ông gây ra, thuật lại chuyện ông lợi dụng lòng từ bi cứu khổ của phương trượng Thiếu Lâm tự Không Kiến đại sư mà đánh chết phương trượng, ông tự nói "Tạ Tốn này vong ân bội nghĩa, không bằng loài cẩu trệ", (Xem Ỷ thiên Đồ long ký), thì thực tế là ông đã thực sự chân thành sám hối. Khi đánh chết Không Kiến đại sư, ông cũng đã hối hận, chỉ là thù lớn chưa trả, oán hận khó tan, tâm thần rối loạn, chưa thể sám hối triệt để. Sau khi đột nhiên nghe tiếng khóc chào đời của Trương Vô Kỵ, tính người phục hồi, tâm cảnh dần dần bình an, lương tri phục hồi, sự sám hối bắt đầu nảy sinh và mạnh dần. Nếu không trải qua tình trạng tự trách và hối hận đau khổ lâu dài hàng chục năm, làm sao chỉ ở cạnh Thiếu Lâm tự vài tháng mà Tạ Tốn có thể đột nhiên hối ngộ?

Nếu bảo chỉ nhờ nghe tiếng chuông, tiếng trống của Thiếu Lâm tự, tiếng tụng kinh Phật của ba đại cao tăng Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn, mà đại ma đầu hai tay nhuốm máu lập tức thành Phật, thì đúng là chuyện hoang đường. Đấy là chưa kể Thành Côn hơn mười năm ở trong chùa Thiếu Lâm, làm môn hạ của Không Kiến đại sư, mà chẳng thấy hắn sám hối chút nào cả. Chuyện Tạ Tốn kỳ thực không liên quan gì đến kinh Phật hoặc Phật giáo, mà là chuyện liên quan đến tính người và lương tri. Tuy nói cuối cùng ân oán giữa Tạ Tốn với kẻ thù duy nhất của ông là Thành Côn được xóa tan, Tạ Tốn cuối cùng cũng trở thành cao tăng, nhưng nghĩ lại chuyện cũ, ta vẫn không khỏi cảm thấy phẫn uất, bi thương cho số phận bất hạnh của ông. Số phận bất hạnh ấy do Thành Côn gây ra, vậy mà hắn vẫn còn nhởn nhơ sống trên thế gian.