Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

THÌ THÔI…


 
THÌ THÔI…

Ngày xưa đó, hẹn hò đắm mượt
Có ngờ đâu thề ước dần thay
Để cho đêm phải nhớ ngày
Khiến nao tấc dạ vọng lay canh trường.

Cứ ngỡ rằng yêu thương chân thật
Sẽ mãi hoài đấu cật chung lưng
Sẽ nồng vũ khúc nghê thường
Mùa trăng tình ái lộng đường ái ân.

Bởi do đâu đang gần bỗng ngái
Tình êm đềm ngang trái bùng lên
Để buồn não dậy từng phiên
Sầu hoen ngõ ái, đảo điên cuộc đời.

Người quay bước thốt lời chia biệt
Cũng đành cam chứ biết nào hơn
Thôi thì câm lặng dỗi hờn
Vần thơ đốt bỏ, phím đàn bẻ đôi…

HANSY

Bình -ĐƯỜNG XƯA BƯỚC VỘI -Mỹ Phương

ĐƯỜNG XƯA BƯỚC VỘI

Ngoài xa vắng hoàng hôn chừng sắp tắt
Vạt nắng chiều trải sắc úa màu hoen
Đắm miên man giữa đường phố hoa đèn
Bàn chân mỏi chưa quen đời cô lữ

Mãi bước lên chuỗi ngày dài quá khứ
Vần thơ buồn tình sử chép ngàn thương
Thời gian trôi theo cuộc thế vô thường
Vùng ký ức vẫn thương về kỷ niệm

Có lẽ nào trong giấc mơ mầu nhiệm
Tình trở về trang điểm buổi ban sơ
Ôm vòng tay tìm lau mắt lệ mờ
Rồi tan biến thẩn thờ đong tiếc nuối

Mưa phùn rơi cuối đường xưa bước vội
Dõi chiều nào vẫy gọi sắc hoa tươi
Tình xa xôi hoài nhau phút ngọt bùi
Cho nồng ấm đêm trôi vào bất tận...

Mỹ Phương Phạm
***********************
*
Nắng quái chiều hôm đẹp nhưng luôn ẩn chứa một cái gì đó u uẩn lụi tàn, phải chăng nắng biết mình như ánh lửa ngọn đèn bùng lên lần cuối trước khi tắt nên thường ngầm ẩn cái không vui bên trong sự rực rỡ chói lòa? Và khi ánh tà dương chuẩn bị nhường chỗ cho thâu đêm thì tự dưng muốn ngoái lại quãng đường vừa qua vì khi bóng tối đã phủ tràn lấy gì mà trông ngóng? Hình như đó cũng là tâm trạng của tác giả MỸ PHƯƠNG PHẠM trong ĐƯỜNG XƯA BƯỚC VỘI khi đang lơ lửng giữa thời khắc nhạy cảm Ngày – Đêm.

Ngoài xa vắng hoàng hôn chừng sắp tắt
Vạt nắng chiều trải sắc úa màu hoen
Đắm miên man giữa đường phố hoa đèn
Bàn chân mỏi chưa quen đời cô lữ

Lê bước chân từ quá vảng nặng nề lặng lẽ đan xen hoài mơ và thất vọng, nắng gió và bão bùng, thực và mộng, ảo và chân… Dẫu là thế vẫn hoài nhung nhớ, vẫn lịm đi trong từng đợt sóng xô bờ…

Mãi bước lên chuỗi ngày dài quá khứ
Vần thơ buồn tình sử chép ngàn thương
Thời gian trôi theo cuộc thế vô thường
Vùng ký ức vẫn thương về kỷ niệm

Để dối lòng mình trốn vào cõi ước, tìm cái huyễn mơ che lấp thực tại đau buồn. Vẫn mãi hoài ấp ủ giữa vành tim niềm cháy bỏng khắc thơm mùa hạnh ngộ, cho nụ hồng tươi lên màu mật, trang điểm ngôi tình cho rạng rỡ lại buổi đầu tiên. Và ấm êm thay vòng tay chắc nịch ân tình hong khô lệ ngày nao làm tim vỡ.

Có lẽ nào trong giấc mơ mầu nhiệm
Tình trở về trang điểm buổi ban sơ
Ôm vòng tay tìm lau mắt lệ mờ

Nhưng thực tại vẫn luôn ẩn chứa bao điều nghiệt ngã, mê lịm bao nhiêu thì khi tỉnh giấc Nam Kha càng đắng đót bấy nhiêu. Cái vỡ vụn hoang tàn của ngày không nhau đau đớn mỡ màng xiết bao! Làm sao một chút mơ mòng huyễn ảo còn rơi rớt chút đỉnh có thể đủ lấp vùi che giấu được bi thương?

Rồi tan biến thẫn thờ đong tiếc nuối

***
Nắng đã tắt từ lâu, bóng tối đêm đen lấn tràn dương thế. Đã vậy, những màn mưa còn cố tình che khuất chút le lói cúa nẻo đường về trong ký ức.

Mưa phùn rơi cuối đường xưa bước vội

Dẫu vậy người ơi,  những vàng son quá vãng tình thơ vẫn tràn đầy sức sống trong trong vành tim dường như đang rệu rã cố dõi tìm một hương chiều xưa cũ, ở đó có Ta-Em và có cả môi thương tím rịm ân tình.

Dõi chiều nào vẫy gọi sắc hoa tươi
Tình xa xôi hoài nhau phút ngọt bùi
Cho nồng ấm đêm trôi vào bất tận...

HANSY


NỢ TÌNH



NỢ TÌNH 

Nẻo hương phai lụn giữa canh tà 
Chấp chới mơ huyền ẩn cõi xa 
Cứ ngỡ hồn say vờn phím mộng
Nào hay dạ bạc héo trăng ngà 
Còn đâu sum hiệp nồng thơm tửu 
Để phải chia ly úa nhạt trà 
Thẳm vắng sầu đời trên gác lạnh
Sương buồn héo hắt chạnh lòng ta 

Sương buồn héo hắt chạnh lòng ta 
Chi nữa mà mơ rượu với trà 
Thơ xướng không người vui tiếng họa
Nhạc vang thiếu kẻ lướt tay ngà 
Lung linh hoa dỗi mênh mang lại
Lóng lánh trăng hờn bát ngát xa 
Nhấp chén tiêu sầu trong quạnh quẽ
Nẻo hương phai lụn giữa canh tà 

HANSY

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC BÌNH THƠ – Phạm Quang Trung



MỤC ĐÍCH 
CỦA VIỆC BÌNH THƠ 
Có sáng tác tất có thưởng thức, hơn thế có những ý kiến bàn bạc, trao đổi về sáng tác. Cho nên, dầu phê bình văn chương như một bộ môn tương đối độc lập trong khoa nghiên cứu văn chương mãi sau này mới ra đời, nhưng cảm thụ và thẩm định tác phẩm như một bộ phận hợp thành của đời sống văn chương thì có thể nói được nảy sinh cùng với bản thân văn chương.
Trước hết, phê bình tức là tuyển chọn. Tuyển chọn các bài thơ hay đưa vào tuyển tập là một động tác phê bình. Lê Quý Đôn nói rõ 5 “lệ” mà ông tuân thủ khi biên soạn “Toàn Việt thi lục”. Chỉ qua một tuyển thơ “Trích diễm thi tập”, Lê Quý Đôn đã coi tác giả của nó Hoàng Đức Lương, một người sự nghiệp không còn truyền lại đầy đủ là một “danh sĩ”. Vậy nên, có thể xem những nhà làm tuyển lớn như Phan Phu Tiên, Dương Đức Nhan, Hoàng Đức Lương, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích... là những nhà phê bình lớn. Trong lời Tựa “Hoàng Việt thi tuyển”, Bùi Huy Bích viết: “Tố thi nan, tuyển thi vưu nan” (Làm thơ khó, tuyển thơ càng khó). “Khó” chính là ở chỗ xem xét, đánh giá. Lưu Hiệp viết trong “Văn tâm điêu long”: “Thư tịch văn học là tinh hoa của đất nước, phải hiểu một cách sâu sắc, cẩn thận mới thấy hết sự huyền diệu của nó” (Báo Văn nghệ, Số 46/1989). Không phải ai cũng có thể hiểu “sâu sắc, cẩn thận”. Lỗ Tấn sau này từng chế giễu các nhà làm tuyển có “con mắt chỉ to bằng hạt đỗ xanh”, bỏ sót biết bao nhiêu tác phẩm hay. Trong quá khứ, hàng loạt những tuyển tập như “Việt Âm thi tập”, “Tinh tuyển chư gia luật thi”, “Trích diễm thi tập”, “Toàn Việt thi lục”, “Hoàng Việt thi tuyển”... đã ra đời, truyền đến chúng ta ngày nay những gia tài văn chương quý giá của ông cha.

Sau đó là công việc phẩm bình. Người xưa ý thức rất rõ về vai trò của công việc “bình duyệt” thơ. Nhiều ý kiến khẳng định trực tiếp. Lời Ngô Thế Vinh trong “Trúc Đường thi văn tập” là một dẫn chứng điển hình. Nghĩ về mối quan hệ giữa sáng tác và phê bình, Ngô Thế Vinh liên tưởng tới mối liên hệ giữa Bào và Chúc. Đó là hai chức quan thời xưa “cùng ở nơi lang miếu, củng cảm cách quỷ thần” nhưng mỗi người đảm trách một việc. “Bào trông coi việc bếp núc, Chúc trông coi việc tế tự”. Mỗi người một phận sự, không ai thay thế ai được, tất cả vì công việc chung. Khi một người trong số họ không làm, hoặc làm không đến nới đến chốn thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới công việc của người kia. “Chúc không làm việc của mình, Bào yên tâm được chăng? Bào không làm việc của mình, Chúc yên tâm được chăng?” [17, 217]. Lối so sánh sát hợp, có cơ sở vững vàng từ thực tế.

Việc phẩm bình một tác phẩm có ý nghĩa định hướng đối với thưởng thức rộng rãi của người đọc. Cao Bá Quát từng chỉ trích cái lối “không xét kỹ” cảu cầm bút khi vội cho “Hoa tiên” là “lối văn dâm đãng, khúc hát lẳng lơ” là cái thứ phê bình “đáng buồn cười biết mấy” [41, 150]. Vậy mà không ít người đã tin và nghe theo. Nếu ai cũng theo lối thưởng thức “khinh bạc” ấy thì giá trị của “hoa tiên” sẽ ra sao? Không thể tùy tiện phóng bút trog bàn luận văn chương. Khi ấy, tác hại sẽ khôn lường.

Do vậy, sự cẩn trọng, đức khiêm tốn không bao giờ thừa đối với người thưởng thơ, bình thơ. Đọc “Quy điền thi tập”, Nguyễn Thứ Phủ đã hơn một lần bày tỏ sự “kính cẩn” của mình khi đặt bút viết bài “Bạt”. Với ông, đây chỉ là một dịp may để “trộm” thể hiện lòng “ngưỡng mộ” của mình. Người làm thơ cũng với một thái độ tương tự. Một tài thơ như Ngô Thì Nhậm mà khi gửi những sáng tác mới của mình tới kẻ tri âm bao giờ cũng kèm theo những lời thật mềm mỏng, nhún nhường: “Mong anh phủ chính” và “bình điểm giúp” [17, 237-241]. Tự thâm tâm ông nghĩ thế, đâu phải lời nói đãi bôi.

Vậy người xưa xác định mục đích của việc bình thơ ra sao? Các danh nho thời trước thường là những bậc đại khoa, đọc nhiều hiểu rộng. Nhưng với thơ, họ đều chung một tâm sự: Thật khó đi đến tận cùng nghãi lý của thơ. Cao Bá Quát thú nhận: “Thơ thật là khó nói” [41, 151]. Ngay và những người tài trí được người cùng thời đề cao như Phạm Nguyễn Du cũng không mấy cả quyết khi bình phẩm thơ. Ông nói: “Hay và dở (của thơ) là điều tôi chưa thể tự tin” (Tạp chí Văn học, Số 5/1981, tr. 158). Thật ra, không riêng gì thơ, văn chương nhìn chung đều vậy. Những người có trách nhiệm luận bàn sức nặng càng đè nặng lên vai. Trần Cao Đệ viết: “Người viết đã khó, người đọc lại càng khó... Phương chi vừa đọc lại vừa bình”. Đúng như nhận thức của Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long”: “Tri âm thật là khó thay! Cái âm thực là khó biết, người biết thật là khó gặp. Gặp được người tri âm nghìn năm mới có một lần”.

Điều này cũng phù hợp với lý luận hiện đại về thơ và phê bình thơ. Nguyễn Phan Cảnh nói đến tính “nhòe về nghĩa” của ngôn từ thi ca [42]. Còn với R. Jakobson, thì coi “tính nhập nhằng” là “một đặc tính nội tại”, là “một hệ quả bắt buộc” của thông điệp thi ca [25, 28]. Do vậy ông tán thành với W. Empson: “Những phép bộc lộ về tính nước đôi là nằm từ bản căn của thi ca”. Với W. Empson, ngôn ngữ thi ca mang tính đa nghĩa. Đó là ưu thế nội tại của nó. Do đó, không thể phát hiện thông điệp thi ca được ngay mà cần phải tái phát hiện liên tục [33, 37]. Richards – Một nhà phê bình mới của Mỹ thì cho rằng: thơ hay nhất phải chứa những xung đột trái ngược và dung hòa chúng ở một “độ căng” nào đó [33, 39]. Trong tính cực đoan của những ý kiến này không phải không hàm chứa những điều đúng đắn.

Cái khó của bình thơ vậy là có nguyên do đồng thời từ hai phía, từ tính đa dạng của thơ và cả từ tính khác biệt của người thưởng thơ. Cùng hướng tới thơ Huyền Quang nhưng hai học giả Ngô Thì Sỹ và Lê Quý Đôn ở thế kỷ XVIII lại có những đánh giá có phần ngược nhau. Ngô Thì Sỹ lấy thơ để minh chứng cho tư cách thiền giả của Huyền Quang. Trong khi Lê Quý Đôn lại cho thơ Huyền Quang “không có khẩu khí của người tu hành”.

Nhưng khó không có nghĩa là “bất khả tri”. Với thơ củng thời và thơ thời trước đều vậy. Cái quyết định là đem lòng để cảm hiểu lòng. Nói như Vũ Duy Thanh: “Nếu đem một điểm tâm linh soi rọi, thì tinh thần ngàn xưa xuất hiện ngay đây” [17, 75]. Ông còn nói: “Nghìn xưa nguyện đem lòng chiếu rọi”. Ở phương Tây thường coi việc thưởng thức văn chương là một loại hoạt động nhận thức. Ở Trung Quốc và Việt Nam, trái lại, xem việc đọc tác phẩm trước tiên là sự trải nghiệm tình cảm của người sáng tạo.

Trước hết, phải hiểu “tinh thần” của thời gian bộc lộ qua trang thơ. Hiểu đúng và hiểu rõ. Từ đó mới có cơ sở xem xét, đánh giá. Một tác giả vô danh viết rất đúng rằng: “Nỗi lòng ủy khúc của người xưa vào mọi lúc thích đáng đều ẩn ở bên trong thơ sách, chỉ nhờ ta tụng đọc mà thôi” [41. Nên đọc thơ đọc văn là cuộc tìm kiếm, phát hiện lâu dài. Mà đích là cái “tâm” của người viết. Đỗ Tuấn Đại tự hỏi: “Tìm thư văn ông (Lý Văn Phức) sao không đi tìm cái tâm của ông?”. Do đó, đọc thơ, Nguyễn Thứ Phủ gắng “thấy lòng”, gắng phát hiện ra “cái tinh thần” của người viết ở dưới ngôn từ, ở trong vần điệu.

Không phải người xưa không chú tâm tới cái hay, cái đẹp về mặt hình thức. Thi ca khác lời nói thông thường ở hiệu quả cao, ở sức chấn động sâu của lời thơ được gia công chọn lọc. Tuy nhiên, như lời Nguyễn Tư Giản xác định: “Không nắm được tinh thần của tác giả, thì khó mà phân biệt được thể cách của tác giả”.

Cái quyết định trong thơ là dụng tâm của người viết. Hãy bắt đầu từ đây, rồi mọi giá trị nghệ thuật sẽ dần dần được soi tỏ. Còn nếu bắt đầu từ giá trị hình thức thì con đường đi tới tác phẩm của người bình thơ, thưởng thơ sẽ gặp thuận ít mà nghịch nhiều. Thậm chí ngay cả việc luận bàn thơ cũng có thể trở thành vô nghĩa. Lê Hy Thường cầm tập thơ “đoạn mở ra xem, thấy như khua ngọc gõ vàng, lời lời đáng yêu, phong lưu uyển chuyển, có thừa cái chí hướng của thi nhân. Há chẳng phải ông đã tiến bộ về mặt kỹ xảo? Nếu chỉ vậy e chẳng cần tôi nói nữa” [17, 124]. Cái hay của lời thơ đâu phải dễ nói. Ngay khi nói được cái hay của lời, nói đúng nói đủ, cũng chưa phải đã đạt tới cái đích chính của việc bình duyệt. Đỗ Hạ Xuyên phân tích rõ hơn điều Lê Hy Thường mới gợi ra bằng sự phê phán nhẹ nhàng mà sâu sắc: “Tựu trung bỏ ngắn tìm dài, khen nhiều chê ít, mượn bút viết lời, cốt được lâm ly diễm lệ, chứ chưa rỏ được bản ý của tác giả”. Phải tập trung tâm trí làm “rõ được bản ý của tác giả” nếu không, “chỉ là sự lội qua văn mà thôi”. Đó cũng là yêu cầu đầu tiên đối với người dịch thơ. Phan Huy Ích khi dịch “Chinh phụ ngâm” đã không khỏi băn khoăn: “Vận luật của văn dịch không sao lột hết tinh túy của nguồn văn”. Các dịch giả có thể chia sẽ nỗi băn khoăn này của ông. Nhưng Phan Huy Ích đồng thời “tự tin mình đã suy diễn được rõ ràng ý của tác giả”.

Như vậy, cơ sở ban đầu để có thể “lột hết tinh túy của nguồn văn” đã có. Song nhận đúng ra bản ý của thi nhân quả còn nan giải. Nguyễn Cư Trinh giải bày: “Lòng người là vật khó lường, phát ra làm thơ, thành ra lời nói, đến nỗi có một chữ mà nghĩ ba năm mới được, giảng ngàn năm chưa xong, vì thế, tôi cho là khó”. Ẩn trong ngôn từ thi ca là tiếng lòng uẩn súc. Nhà thơ muốn tâm sự cùng người tri âm tri kỷ đương thời và hậu thế. Hạnh phúc của người làm thơ tùy thuộc vào việc cảm thông nỗi lòng của họ nơi người đọc nhiều hay ít. Trước kia, có nhà thơ sống suốt đời vẫn không được hưởng dẫu chỉ là chút ít nguồn hạnh phúc quý giá ấy. Họ đành hướng tới bạn đọc mai hậu. Nguyễn Du chẳng hạn. Đã có mấy người cùng thời cảm hiểu được lòng ông? Ba trăm năm sau liệu có ai nhỏ những giọt nước mắt cảm thông lên tác phẩm của ông? Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Vậy thì lời nói trên của Nguyễn Cư Trinh không có gì là quá đáng. Đó là nỗi buồn của những tấn bi kịch giàu ý nghĩa xã hội. Ngay cả niềm vui cũng không hoàn toàn dễ dàng cảm thông được hết. Đọc thơ, Hà Tông Quyền thành tâm bộc bạch: “Tôi không đủ phát hiện cái vui của hai ông” . Dẫu là thơ vui hay thơ buồn, sự xét đoán bao giờ cũng cần tinh tường, thích đáng. Hết sức tránh những lời bàn bạc mơ hồ, dông dài. Một tác giả vô danh xác định dứt khoát: “Đối với sách, thơ mà không tìm chứng cớ của nó, thì khó thông với ánh sáng huyền diệu của tấc lòng” . Đó là bởi, cũng theo lời tác giả, “lập ngôn” có khi “bất hủ” lại có khi “vô căn cứ”, cũng như “trước thuật” có khi “mở mang cho kẻ sau” lại có khi “lừa dối người đọc”. Đó là chưa nói lắm khi lời bình chưa tới là do sức học chưa đủ. Vì vậy câu thơ sau của Nguyễn Thượng Hiền vẫn luôn nhắc nhủ người đọc chúng ta: Xin đem tập thơ cũ đốt trước làn gió/ Dâng lên trời xanh hỏi ai người làm chủ thơ văn?/ Và đọc tác phẩm của anh ra sao thế nhỉ?

Đủ và đúng trong bình duyệt thơ còn bao hàm sự phát hiện ra những nét riêng biệt của tác phẩm và của nhà thơ. Vì “văn tự sau trước không giống nhau” (Ngô Thế Vinh). Ở những đầu óc thông thái của thời trước, bản sắc riêng của thi ca còn được xem là dấu hiệu của sự thành đạt, dấu hiệu của văn phong Đại gia. Đọc “Toàn Việt thi lục” của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm sảng khoái đưa ra nhận xét: “Tiếng vàng tiếng ngọc, thực có thể gọi là nước thơ”. Rồi ông lưu ý: “Tựu trung, tìm ra khuôn mẫu văn chương to lớn, đáng gọi là thi gia, thì chỉ có các ông Thái Lã Đường (tức Thái Thuận, 1440 - ?), Bạch Vân Am (tức Nguyễn Bỉnh Khiêm, 1491 - 1585). Ngoài ra thật xa với vắng lặng” [23, 232]. Tài năng phải chín đến độ nào đó mới tạo lập nên phong cách. “Luận thi giả” không thể nào không chấp thuận mọi phong cách trong lúc dụng bút.
Có người nghĩ, cuộc đời vốn muôn vẻ, hãy gắng ghi nhận cho thật sát thực, ngòi bút ắt sẽ độc đáo. Ngô Thì Sỹ không tán đồng với cách nghĩ đơn giản ấy: “Giống như người thợ vẽ truyền thần, thần vốn có thể truyền, nhưng người vẽ nó thì lại càng nắm bắt hết được cái hình dung của nó”. Bản sắc riêng có được là do từ cả hai phía, bên trong và bên ngoài; trong đó cái bên trong mới quyết định.
Thấy được vai trò của bút pháp, người xưa rất có ý thức phát hiện ra những nét riêng khi thưởng thơ, bình thơ. Thế gian có phương châm “Tựu sự luận sự” (đến sự xét sự), thì với người phê bình cần phải “Tựu thi luận thi” (lấy thơ xét thơ). Thơ hay là ở vẻ độc đáo, mới lạ. Đọc thơ của các bậc nổi danh bên Trung Quốc, Phạm Nguyễn Du viết: “Đào tạm gần với sự đúng đắn, Khuất hơi quá về bi phẫn, Đỗ hơi thừa về cùng sầu, Lý phóng đãng mà buông thả, Bạch thất chí mà cao ngạo, Nguyên thì thấp hơn thế” (Tạp chí Văn học, Số 5/1981, tr. 158). Cái “thần” của thơ Đào Tiềm, Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn trong quan niệm của Phạm Nguyễn Du toát lên từ toàn bộ những phẩm chất của nội dung được biểu lộ qua hình thức. Phạm Nguyễn Du đã tránh được cái nhìn duy mỹ, phiến diện khi bàn về phong cách. Nguyễn Dư, bậc tiền bối của ông, cũng đã phôi thai một cách xem xét tương tự: “Thơ ông Chuyết Am (Lý Tử Tấn) kỳ lạ mà tiêu dao; thơ ông Vu Liêu (Nguyễn Trực) mạnh mẽ mà kích động; thơ ông Tùng Xuyên (có lẽ là Nguyễn Tử Thành) như chàng trai xung trận, có vẻ sấn sồ; thơ ông Cúc Pha (Nguyễn Mộng Tân) như cô gái chơi xuân, có vẻ mềm yếu”.

Việc chú trọng tới cá tính của thi nhân trong bình thơ ở các nhà nho nước ta thật đáng được đề cao nếu có dịp đối chiếu với lịch sử phê bình Trung Hoa thời phong kiến. Thêm I. S. Lisêvich thì nhìn chung những lời bình phẩm văn chương ở Trung Hoa xưa kia “mang tính đưa đẩy... nhằm phục vụ mục đích chung là bàn qua về văn”. Tới nhà phê bình Chung Vinh “cá tính sáng tạo mới được ở vào trung tâm chú ý của tác giả và sự miêu tả cá tính đó mới được mở rộng và gồm nhiều bình diện”. Rồi nhà nghiên cứu cho rằng, có thể xem “Thi phẩm” là một trường hợp hiếm hoi “không điển hình cho tư tưởng văn học Trung Quốc”.

Tìm hiểu về đạo bàn luận thơ thời trước, ta thấy có nhiều điểm gần gũi đồng thời có nhiều điểm khác biệt thậm chí xa lạ với lối bình thơ thời nay. Cái chính là do quan niệm về chức phận của phê bình cơ bản không giống nhau.

PHẠM QUANG TRUNG

THÔI THÌ THÔI NHÉ!



THÔI THÌ THÔI NHÉ!

Thôi thì thôi nhé
chỉ chừng ấy thôi...
Mình chia tay em nhé!
………..
Yêu mà không hiểu nhau
Thì sao gọi là yêu?
Thương mà cứ hành hạ nhau
Sao bảo là thương được?

Rồi có một ngày
Em làm phép thử
Anh biết em nghĩ gì
Và đã muốn giúp em quên anh...
Bốn ngày không liên lạc với nhau
Với anh dài hơn thế kỷ
Nhưng vẫn cắn lòng
Vì muốn đường em đi sẽ được thênh thang...

Thế đó...

Cũng có vài lần em đã thở than
Khi thấy đường tình bế tắc
Yêu mà cứ yêu như vậy
Thì tương lai em sẽ thế nào???

Anh biết đó là lỗi của mình
Nên thực lòng muốn em xa anh đi
Quên anh đi để để bước tới con đường khác
Ở đó không anh 
Nhưng có hoa hồng cho em.

Thế đó...

Có nhiều lúc em phân bì với anh:

Hình như em yêu anh nhiều hơn
Hình như em cho nhiều hơn nhận

Anh thì không biết cân đo đong đếm
Nên không biết mình yêu nhiều hay ít
Nhưng vẫn buồn
Vì thấy em chê tình của anh 
Nhưng làm sao được
Khi anh không bao giờ biết làm con toán của tình yêu.

Thế đó...

Rồi một ngày
Anh chợt nhận ra em quá xinh đẹp
(Chứ khi mới yêu anh chưa kịp thấy điều này)
Và em có nhiều tài nữa...
Mà xung quanh em biết bao bóng dáng lượn lờ...

Để rồi
Thấy rằng
Nếu yêu anh em sẽ thiệt thòi rất nhiều
Nên anh dẫu có đau lòng đến mấy
Cũng muốn em tìm kiếm một bóng hình khác thay anh...

Thế đó...

Mình yêu nhau là thế
Bao giông bão đến rồi cũng thua
Thế mà giờ chúng mình lại: 
Không hiểu nhau
Như lời em nói.

Mà thật lòng
Em không biết quý trọng tình anh
Không biết quý trọng tình mình
Em chỉ vì những cái mơ hồ mà chà đạp lên cái thực tại
Chỉ chạy theo cái cảm giáo hư ảo, vớ vẩn
Xem trọng kẻ bâng quơ hơn cả người mình yêu
(Hay đó chỉ là cái cớ để em dễ xa anh???)
………
Vậy thì mình chia tay em nhé!
Thôi thì thôi nhé
chỉ chừng ấy thôi...

HANSY

TRẦN VIÊN VIÊN


33
TRẦN VIÊN VIÊN

Đờn ca giặt lụa sống trong lành
Kỷ nữ trao tình bậc đế danh
Mắt biếc môi hồng da trắng mượt
Eo tròn gót nhỏ dáng tinh anh
Nghê thường phách lạc ngây Tam Quế
Sắc ngọc hồn say ngất Tự Thành
Hoạ thủy hồng nhan phần mỹ nữ
Tỳ bà khúc điệu thấu trời xanh

Tiep Nguyen
*****************
*Ngoài nhan sắc, Viên Viên còn có kỳ tài về cầm, kỳ, thi, họa nổi bật so với những kỹ nữ cùng thời. Cha của Chu hoàng hậu đến kỹ viện bỏ tiền ra mua VV, để đưa vào cung phục vụ hoàng đế. Kề cận được VV, Sùng Trinh cứ ở mãi trong cung không muốn ra thiết triều.
Đến những năm 1640, lúc bấy giờ nhà Minh đã suy tàn, khởi nghĩa của nhân dân bùng lên ở khắp mọi nơi, trong số đó mạnh nhất là Lý Tự Thành, đã đánh chiếm lấy ba thành trí lớn. Sau khi hay tin quân nổi dậy đánh lấy ba thành trì lớn, cộng thêm lời can gián của các quan, Sùng Trinh mới cho nàng ra ở trong phủ Chu quốc trượng.
Trong một bữa tiệc tại phủ, quốc trượng Chu Khuê cho VV ra múa hát, và nhan sắc cùng tài năng của nàng đã lọt vào mắt xanh của Ngô Tam Quế. Và khi viên võ quan này được cử ra trấn thủ Sơn Hải quan, để ngăn chặn quânMãn Châu, thì Sùng Trinh đã ban VV cho ông. Sau đó, VV cũng được họ Ngô sủng ái, tuy nhiên, nàng không theo ra trận, mà vẫn ở lại Bắc Kinh.
Khi hay ái thiếp của mình là TVV bị LTT chiếm đoạt, NTQ nổi giận, đến xin hợp với quân Đa Nhĩ Cổn đem quân quay về đánh kinh thành

Cuộc đời của TVV đúng là bi kịch của nhan sắc: hết làm trò chơi cho các danh sĩ và nhà hào phú đất Tô Châu; nàng lần lượt trở thành trò chơi cho Sùng Trinh Hoàng đế, Sấm vương Lý Tự Thành rồi Bình Tây vương Ngô Tam Quế. Cuộc chiến giữa Ngô Tam Quế và Lý Tự Thành tại Nhất Phiến Thạch làm chết cả vạn người, bị dư luận lịch sử Trung Quốc trút lên đầu của Trần Viên Viên.

SẮC TÌNH PHAI



SẮC TÌNH PHAI
(Thuận Nghịch độc)

Sao tình vợi nhớ nhạt chùng thương
Hận khổ tim này nuối mãi vương
Nào kiếp tủi tê mờ bóng nguyệt
Hỡi lòng đau héo lạnh màn sương
Trao đời cõi vọng mơ nguyền đoản
Gởi dạ miền châm buốt mộng trường
Cao vọng ước nhiều ôi đổ vỡ
Ngao sò phận xót lặng tàn hương

Hương tàn lặng xót phận sò ngao
Vỡ đổ ôi nhiều ước vọng cao
Trường mộng buốt châm miền dạ gởi
Đoản nguyền mơ vọng cõi đời trao
Sương màn lạnh héo đau lòng hỡi
Nguyệt bóng mờ tê tủi kiếp nào
Vương mãi nuối này tim khổ hận
Thương chùng nhạt nhớ vợi tình sao


HANSY

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

HOA CAU LẠC VÀO VƯỜN TRẦU


39.
HOA CAU LẠC VÀO VƯỜN TRẦU

Vườn trầu em gặp hoa cau
Lối vào mở lói đượm nhau tơ hồng
Anh ơi xua hết tàn đông
Nhóm em bếp lửa cho sông gợn tình

Hoa cau cất giọng ru êm
Vườn trầu thánh thót lạc mềm mói duyên
Ta yêu biển lửa hóa hiền
Một trăm con sóng cuồng điên say tình

Bước anh chân bước rập rình
Môi em lúng liếng ngắm nhìn hoa cau
Hoa thơm nở giữa vườn đào
Tao nhân mặc khách anh hào quay đi

Vườn trầu giữ dáng nhu mì
Gối ôm với gối em chờ thi nhân
Ngàn năm kết mối Hansy
Vạn năm giai ngẫu duyên thì sánh duyên

Hoatim

*
ƯỚC HOÀI

Lạc mà tình đẹp dệt nên
Thì hoa cau cũng xin nguyền lạc luôn
Đã vương trong mối tơ hồng
Thì xin kết nghĩa trăm năm, nhé trầu.

Ngày ngày anh gởi hương cau
Làm cho đôi má hôm nao hồng hồng
Để trầu luôn mãi ngóng trông
Hương cau ôm ấp yêu thương lòng trầu.

Em ơi, duyên nợ dài lâu
Để đôi tim được bắc cầu hòa mơ
Để lòng rộn rã câu thơ
Để vườn xuân mãi được chờ đợi ai.

Hoa tím một đóa em cài
Lên con tim nhớ của ai đây nè
Ước hoài trọn nghĩa phu thê
Hoatim – Hansy đi về có nhau…

HANSY

MỘT NỬA



MỘT NỬA

Một nửa lá thư em gởi cho anh 
Là một nửa yêu thương thôi đấy nhé 
Sao con tim lại chỉ trao một nửa 
Còn nửa kia em giữ lại làm gì??? 

Hãy gởi cho anh đoạn kết của tờ thư 
Dẫu có ngọt ngào hay nhiều cay đắng
Một nửa thôi làm sao lòng yên đặng 
Khi tình thì luôn phải có đủ đôi. 

Đành lòng sao em chỉ một nửa thôi 
Khi một nửa nghĩa là không gì hết 
Một nửa tình thư, nghe như tiễn biệt 
Dùng dằng chi cho nửa ấy đợi chờ. 

Sao em ngần ngừ giữ lại nửa câu thơ 
Em có biết tim này đau một nửa
Một nửa em trao, chòng chao nhịp thở 
Xin em đừng trêu cợt: 
-Nửa tình yêu... 

HANSY

VUI BUỒN CÙNG NET: 2-Thơ Cũng Lấm Bụi

VUI BUỒN CÙNG NET
(Trích Tự Truyện HANSY)

Hai
THƠ CŨNG LẤM BỤI


Hansy vốn thích thơ. Làm thơ, đọc thơ và họa thơ là không khí cho đời sống tình thần của Hansy. Trên Blog, nhiều đêm Hansy thức trắng để đối thơ, họa thơ với bạn thơ và khách vãng lai là chuyện thường. Đến tất niên hay minh niên, Hansy cùng các bạn thơ tổ chức họa thơ trên Blog với bạn bè, khách khứa người Việt khắp thế giới. Đặc biệt, Hansy chỉ giao lưu thơ với các cô mà thôi. Hihi

VF rõ ràng không thể đáp ứng được niềm vui này của Hansy. Khi tìm hiểu trang web NCM thiên về văn thơ và có Admin làm thơ Đường rất hay và đa tài, Hansy liền “đầu quân”.

Thế nhưng, cuộc vui cũng chóng tàn. Hansy có một bài viết để lại cho trang web NCM trước khi ra đi. Các bạn xem cho vui nhé!

CHÀO DIỄN ĐÀN NCM
CHÀO TK

CÙNG CÁC BẠN

Khi thấy hàng chữ: ĐOÀN KẾT – TÔN TRỌNG – KHÔNG CHÍNH TRỊ, Hansy liền đăng ký tham gia Diễn đàn NCM vì thích cái chủ trương này.

Hôm nay, Hansy trao đổi với các bạn một số vấn đề và vài đề nghị, mong được cùng nhau cư xử tốt hơn trên Diễn đàn (DĐ) này.

1. VẤN ĐỀ SỞ THÍCH LOẠI THƠ

Nếu các bạn lướt Web thì đều nhận thấy các DĐ thiết kế “hàng hóa” rất phong phú. Ngay trong chuyên mục THƠ cũng có thêm vài chuyên mục phụ nhiều hơn so với NCM của chúng ta. Ai cũng biết, các DĐ thiết kế điều đó là nhằm mục đích thỏa mãn “khẩu vị” vô cùng phong phú của bạn đọc và thành viên. Bởi 9 người 10 ý mà.

Vì thế, nếu chúng ta thích thơ Lục bát mà chê thơ Tự do, hay thích thơ kiểu Cổ mà chê thơ kiểu Mới, hoặc thích thơ về Quê hương, Cách mạng mà chê thơ về Tình yêu… một cách công khai, có ý khích bác, chỉ trích… là không thỏa đáng, thậm chí đó còn là biểu hiện giao tiếp không tốt giữa tình người, nhất là giữa những người biết làm thơ.

Theo Hany, bất cứ thể thơ, loại thơ nào cũng có cái ưu, cái khuyết của nó. 

ĐỀ NGHỊ:
Chúng ta cứ thích loại thơ của chúng ta và không nên có ý nghĩ ép người khác thích theo loại thơ mình thích.

2. VỀ SỰ HAY DỞ CỦA BÀI THƠ

Lẽ đương nhiên có sự hay dở giữa các bài thơ với nhau, nhưng nhìn chung, không có sự chênh lệch lớn. Vì sao?

a. Nếu chúng ta thừa nhận mình làm thơ nghiệp dư thì tất nhiên thơ của chúng ta có rất nhiều bài không hay.
b. Thực tế, những người được đời gọi là nhà thơ vẫn có những câu thơ, bài thơ không hay ho gì.
c. Nếu làm được toàn là thơ hay, thì thông thường, ai cũng sẽ đem in, rồi mang bán giữa chợ đời rồi, hiếm khi cho chúng ta được thưởng thức miễn phí như thế này.

ĐỀ NGHỊ:
Hay, ta cứ vỗ tay, đối họa. Dở, cứ chê, nhưng chê phải có nghệ thuật, phải chê làm sao để cho người bị chê tâm phục, khẩu phục, dễ tiếp nhận mà sửa sai. Tránh chê kiểu dùi đục chấm mắm cái.

3. VỀ TUỔI TÁC TRONG THƠ

Ngoài đời, có thể chúng ta hơn nhau về tuổi tác, nhưng trong thơ thì không phải người tuổi lớn là làm thơ hay hơn người tuổi nhỏ. Như Trần Đăng Khoa, lúc bé tí xíu vẫn làm được những câu thơ, bài thơ thật hay mà rất nhiều người làm thơ có tóc bạc vẫn không làm nổi. 

ĐỀ NGHỊ:
Thơ là phần tự do của con người, đừng đem tuổi tác mà dành phần hơn trong thơ.

4. Ý KIẾN THÊM CỦA HANSY

Chúng ta lăn lộn giữa đời suốt ngày, suốt tuần, rất mệt mỏi, tìm đến Thơ Văn, tìm đến DĐ là cốt tìm đến sự thư giãn cho tâm hồn, cho lòng mình bớt trần tục đi.

Nếu chúng ta cứ mang những thứ chán ngấy ở ngoài đời như: Sự khích bác, tư tưởng ăn trên ngồi trốc, đấu đá, phe phái, ma cũ ma mới… thì vào DĐ làm gì, hở các bạn?

Tính Hansy hay nói thẳng, có lời nào không vừa ý, mong các bạn lượng tình, cho qua.

Chúc Diễn đàn chúng ta ngày càng khởi sắc
Chúc TK cùng các bạn Thành đạt và Hạnh phúc.

Xin cám ơn vì đã lắng nghe.
NCM, 10:35, …
Hansy

*******
Các bạn thấy đấy, đến Thơ mà cũng dính lắm bụi trần!

HANSY

HÔN



HÔN
(Trắc-Bằng hồi đầu)

Nồng thơm đắm đuối tràn phê đã
Ngồn ngộn hương nguyền lan khắp ngả
Hoa bướm giật mình vạn chớm lay
Cỏ cây bừng mắt ngàn buông thả
Bồng bềnh khúc ái đượm mùi loang
Thánh thót nhạc tình hoang điệu xõa
Trời đất say mèm cõi ngẩn ngơ
Vành tim sấm dậy vàng tia lóa
***
Nồng thơm đắm đuối đã phê tràn
Ngồn ngộn hương nguyền ngả khắp lan
Hoa bướm giật mình lay chớm vạn
Cỏ cây bừng mắt thả buông ngàn
Bồng bềnh khúc ái loang mùi đượm
Thánh thót nhạc tình xõa điệu hoang
Trời đất say mèm ngơ ngẩn cõi
Vành tim sấm dậy lóa tia vàng

HANSY

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

ĐÁNH GIÁ MỘT NHÀ PHÊ BÌNH - Nguyễn Hưng Quốc


ĐÁNH GIÁ 
MỘT NHÀ PHÊ BÌNH 

Đánh giá một nhà phê bình, người ta hay tập trung vào chỗ người ấy thích ai và không thích ai. Tuy nhiên, người ta quên: nhà phê bình, trước hết, là một người đọc, và là người đọc, hắn cũng có quyền yêu thích hay không yêu thích một tác giả hay một tác phẩm nào đó. Trước đây, khi viết cuốn Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh tỏ vẻ yêu thích đặc biệt đối với một số nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, v.v... Đó là cái quyền của ông. Sau này, trong cuốnThơ Miền Nam 1954-75, Võ Phiến cũng tỏ vẻ yêu thích đặc biệt đối với một số người như Tô Thuỳ Yên, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, thậm chí, Giản Chi, Đỗ Tấn, Trần Bích Tiên, v.v... Đó cũng là cái quyền của ông. Những cái quyền ấy cần phải được tôn trọng.

Những cái quyền ấy đầy tính chủ quan. Mà phê bình thì không thể không chủ quan. Donald A. Stauffer có lần khẳng định: "Nhà phê bình không thể là một nhà phê bình lý tưởng nếu hắn tự cho mình là tiếng nói vô ngã của chân lý; hắn cũng không thể là nhà phê bình lý tưởng nếu mối quan tâm hàng đầu của hắn không phải là tác phẩm nghệ thuật." Không phải ai cũng đồng ý với quan điểm ấy. Một số người, như Northrop Frye, muốn loại trừ tính chất chủ quan bằng cách loại trừ các loại phán đoán giá trị ra khỏi phê bình. Nhưng người ta không có cách nào loại hết các phán đoán giá trị được: nó hiện diện ngay ở việc chọn lựa đề tài và chọn lựa tư liệu. Đó là số mệnh của phê bình.

Tính chất chủ quan làm phê bình vĩnh viễn không thể là một lời phán quyết chung thẩm cho bất cứ một hiện tượng văn học nào cả. Mọi hành động phê bình đều là những hành động cô đơn và bất định, ở đó, người ta biết là không có gì bảo hiểm chắc chắn cho việc phát ngôn của mình, trừ kiến thức, kinh nghiệm và quan trọng hơn, trực giác thẩm mỹ của mình.

Có lẽ đây là điểm khác biệt chủ yếu giữa một phán đoán thẩm mỹ và các loại phán đoán khác. Đánh giá ai đó có tội hay không có tội, chúng ta căn cứ vào điều khoản này hay điều khoản nọ trong luật pháp, hoặc, đơn giản hơn, căn cứ vào những nguyên tắc đạo lý phổ quát trong xã hội. Đánh giá một nhận định nào đó có chính xác hay không, chúng ta có thể căn cứ vào luận lý học hoặc các dữ kiện thu thập được từ thực nghiệm hay thực tế.

Còn đánh giá cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học?

Chúng ta không có một căn cứ nào vững chắc cả. Không thể căn cứ vào các nguyên lý, các quy luật hay các khuôn mẫu trong lịch sử văn học bởi vì chúng chỉ hiện hữu trong một không gian và một thời gian giới hạn nào đó mà thôi. Cũng không thể căn cứ vào các thành tựu và các giá trị được xem là vĩ đại trong quá khứ và được xem là những điển phạm trong lịch sử vì lý do đơn giản là, những thành tựu, những giá trị và những điển phạm ấy là những gì mọi người cầm bút chân chính đều muốn phủ nhận hoặc muốn vượt qua trong cuộc hành trình sáng tạo của chính họ.

Thành ra, trong thế giới văn học, chúng ta không thể nhân danh ai khác ngoài chính mình. Nhân danh mình, chúng ta yêu tác phẩm này và ghét bỏ tác phẩm nọ. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, khi cho bài "Ông đồ" là kiệt tác của Vũ Đình Liên, "Gửi Trương Tửu" là kiệt tác của Nguyễn Vỹ, "Màu thời gian" là kiệt tác của Đoàn Phú Tứ, hay khi cho lời văn của Xuân Diệu có cái gì như chơi vơi, đằng sau câu thơ của Nguyễn Nhược Pháp dường như có một tiếng cười khúc khích, đằng sau câu thơ của Huy Cận có một nỗi buồn rười rượi và đằng sau câu thơ của Thâm Tâm thấp thoáng những nỗi bâng khuâng khó hiểu của thời đại, v.v... Hoài Thanh cũng không nhân danh cái gì khác ngoài trực quan của bản thân ông.

Và chúng ta, khi đồng ý với những nhận định vừa nêu của Hoài Thanh, chúng ta cũng chỉ nhân danh chúng ta mà đồng ý. Bất cứ khi nào chúng ta không nhân danh chính mình mà lại nhân danh một thứ quyền lực nào đó, bất cứ là quyền lực gì, chẳng hạn như danh tiếng hay uy tín của một trào lưu hay một bậc tiền bối, chúng ta đều đi ra ngoài cơ chế sáng tạo và bị rớt vào cơ chế hành chánh của văn học, ở đó, văn học đã bị xơ cứng thành những kiến thức phổ thông, và ở đó, chúng ta không còn là những chủ thể cảm xúc và tư duy nữa mà chỉ là một đơn vị trong một tập thể đã bị điều kiện hoá. Nói cách khác, ở đó, chúng ta hoàn toàn bị tha hoá. Một cách đọc như thế thực chất là một sự phản bội lại bản chất của văn học, một hình thức sinh hoạt văn hoá tồn tại trước hết là để con người trở về với cái tôi của họ, với thế giới riêng tư và thầm kín của họ.

Phê bình là chủ quan. Tuy nhiên, tính chất chủ quan ấy phải có giới hạn thì mới có thể có đối thoại, và do đó, mới có thể có phê bình được. Cái giới hạn ấy chủ yếu xuất phát từ hai yếu tố.

Thứ nhất, đối tượng của phê bình: văn học. Một sự yêu thích chỉ có tính văn học khi tác phẩm được đọc như một công trình văn học chứ không phải như bất cứ một thứ gì khác, từ một phương tiện để tuyên truyền đến một phương tiện để giải trí. Những sự lẫn lộn phạm trù như vậy thực chất là một biểu hiện của tính chất thiếu chuyên nghiệp, nơi mọi ranh giới đều nhoà lẫn vào nhau: nhoà lẫn giữa văn học và phi văn học, giữa phê bình và đàm tiếu.

Thứ hai, mặc dù trong các phán đoán thẩm mỹ, người ta chỉ có thể nhân danh chính mình, nhưng cái "mình" mà người ta nhân danh ấy thực chất bao giờ cũng là một cái "mình" tập thể: nó là kết quả của vô số sự tương tác trong quá trình giáo dục và xã hội hoá của từng cá nhân. Không ai có thể thực sự đọc một mình. Đọc bao giờ cũng là cùng đọc với những người khác, trong đó có vô số những người đã chết. Khi chúng ta đọc Truyện Kiều, chẳng hạn, chúng ta luôn luôn "đọc chung" với Phạm Quý Thích, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Trương Tửu; hơn nữa, chúng ta còn "đọc chung" với cả những tác giả ngoại quốc, từ những lý thuyết gia Nho học ở Trung Hoa đến các lý thuyết gia thuộc các trường phái hiện thực, lãng mạn, phân tâm học, hiện sinh, hiện tượng luận, Mác-xít ở Tây phương, v.v... Chính những mối quan hệ chằng chịt này làm cho bất cứ cái đọc nào cũng có tính lịch sử, và tính lịch sử này, đến lượt nó, trở thành một giới hạn của tính chủ quan trong phán đoán thẩm mỹ: phán đoán ấy có thể được/bị đánh giá trên cơ sở một sự đối chiếu với những ý kiến đã có.

Tính chất chủ quan làm mọi lời phát biểu của nhà phê bình chỉ nên được xem như những lời đề nghị, một hình thức tiến cử với công chúng và với lịch sử những tác phẩm hắn xem là có giá trị và xứng đáng được bảo tồn. Tính chất tương đối trong những sự chủ quan ấy làm nhà phê bình bị buộc phải đối diện với nhu cầu tăng cường sức thuyết phục cho những phán đoán của mình: trong lúc không thể đoan chắc về tính chính xác của những nhận định ấy, hắn phải tự chứng minh những nhận định ấy là đúng đắn, ít nhất so với một phương pháp luận và một quan điểm thẩm mỹ nào đó mà hắn đã lựa chọn. Điều này có nghĩa là nhà phê bình phải bạch hoá quá trình cảm thụ và đánh giá của mình. Hắn không thể là kẻ nói theo kiểu "thánh phán". Hắn phải có bổn phận, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, tự chứng minh cho các luận điểm của mình.

Hành động tự chứng minh ấy là một biểu hiện của tinh thần trách nhiệm. Có thể nói nhà phê bình chỉ vượt lên khỏi tư cách độc giả để thực sự trở thành nhà phê bình khi ít nhiều chứng minh được những gì mình cho là hay, là đẹp. Một độc giả bình thường, trong một lúc ngà ngà men rượu hay men tình, có thể cho một bài thơ nào đó của Nguyên Sa là hay nhất Việt Nam, chẳng hạn. Không sao cả. Nhưng một nhà phê bình thì khác. Bằng sự phân tích, nhà phê bình phải mô tả những cái hay trong bài thơ ấy, và bằng sự so sánh, làm cho người đọc thấy được cái hay ấy quả là một cái hay lớn, hơn nữa, lớn hơn hẳn những cái lớn khác.

Gắn liền với những sự yêu thích có tính chất cá nhân, tất cả các công trình phê bình đều, trước hết, là một sự phản ánh khẩu vị văn học (taste) của nhà phê bình, sau đó, may ra, với một mức độ nào đó, mới là một sự phản ánh của tình hình sinh hoạt văn học một thời đại. Gắn liền với tinh thần trách nhiệm, mọi công trình phê bình nghiêm túc đều có tham vọng từ vương quốc chủ quan vươn tới vương quốc khách quan, từ những cảm nhận xuất phát từ trực giác và kinh nghiệm đến những phân tích mang tính khái niệm.

Đánh giá một nhà phê bình, chúng ta không đánh giá ở chỗ hắn giống với những người đọc bình thường, tức ở chỗ hắn thích hay không thích một tác giả, tác phẩm nào đó. Đó là cái quyền của hắn, thuộc phạm vi cá nhân của hắn. Việc đánh giá một nhà phê bình chỉ nên bắt đầu từ chỗ nhà phê bình ấy biến tác phẩm được mình yêu thích thành một mô hình nghệ thuật, hơn nữa, còn có tham vọng thuyết phục người đọc chấp nhận mô hình nghệ thuật ấy là một sự sáng tạo có giá trị; nói cách khác, từ chỗ nhà phê bình biến cái yêu cái ghét của mình thành một thứ quan điểm thẩm mỹ và có tham vọng biến quan điểm thẩm mỹ ấy thành một giá trị thẩm mỹ có tính phổ quát. Lúc ấy, hắn đã vượt ra ngoài phạm vi cá nhân. Hắn đã xuất hiện như một nhân vật công cộng (public figure).

Việc đánh giá ở đây chủ yếu xoay quanh ba nội dung chính:
Thứ nhất, việc phân tích và chứng minh cái hay, cái đẹp của nhà phê bình có đủ sức thuyết phục hay không? Hắn khen một tác phẩm nào đó là hay? Được thôi. Nhưng cái cách hắn chứng minh cái hay ấy ra sao, đó mới là điều quan trọng. Hắn thành công nếu sau khi đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy tự nhiên hay hơn hẳn, mới hơn hẳn và sâu sắc hẳn; nếu người đọc thấy rằng việc đọc quả là một cuộc khám phá thú vị và bổ ích, ở đó, họ bắt gặp những điều hoàn toàn bất ngờ trong lãnh thổ của nghệ thuật và cái đẹp. Ngược lại, hắn sẽ thất bại thảm hại nếu đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy vẫn cũ mèm và thế giới thơ văn vẫn không rộng thêm một chút xíu nào cả. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta cần cẩn thận: phần lớn những gì có vẻ như giàu sức thuyết phục thường là những cái đã cũ, do đó, chưa chắc đã có giá trị thực sự. Để kiểm tra tính thuyết phục của một luận điểm đôi khi cần khá nhiều thời gian và cần một tầm nhìn rộng, bao quát cả một hay nhiều trào lưu văn học trong một hay nhiều thời đại khác nhau, không những trong quá khứ hay trong hiện tại mà cả trong hướng vận động của văn học từ hiện tại chuyển đến tương lai. Nói cách khác, ở đây, khi đánh giá một sự đánh giá, người ta không những cần kiến thức mà còn cần cả viễn kiến và sự nhạy bén nữa.

Thứ hai, quan điểm thẩm mỹ nào làm nền tảng để dựa theo đó nhà phê bình đánh giá cái hay và cái lớn của văn học? Không có một nhà phê bình nghiêm túc nào lại không xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ nhất định. Chính quan điểm ấy làm cho ý kiến của nhà phê bình tránh được nguy cơ trở thành bất nhất và rỗng tuếch. Quan điểm ấy, một cách tự giác hay tự phát, thể hiện qua hai hình thức khác nhau.
Một, những lời phát biểu trực tiếp dưới dạng khái niệm về văn học. Hình như hiếm có nhà phê bình nào lại không có những lời phát biểu trực tiếp như thế, hoặc thành bài riêng hoặc xen kẽ trong các bài phê bình. Ngay cả ở những nhà phê bình có khuynh hướng hoài nghi lý thuyết hay chống lại lý thuyết như hầu hết các nhà phê bình Việt Nam, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những đoạn ít nhiều mang tính lý thuyết như thế.
Hai, quan điểm mỹ học thể hiện rõ hơn và đáng tin cậy hơn qua những tác giả hoặc tác phẩm mà nhà phê bình yêu thích. Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh lại nhiệt liệt khen ngợi thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương... hơn hẳn những người khác. Cũng chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Võ Phiến lại cảm thơ của một số người này mà lại không thể cảm nổi thơ của một số người khác. Loại bỏ tất cả những lý do phi văn học, đằng sau những sự lựa chọn ấy là những quan niệm khá nhất quán về thơ, về cái đẹp trong thơ và về chức năng của thơ, cơ sở để tạo nên sự đồng điệu, và từ đó, của sự ưu ái của họ. Đi sâu vào những quan niệm ấy, có khi chúng ta sẽ bắt gặp, chẳng hạn, giữa Hoài Thanh và Võ Phiến, tuy có khá nhiều dị biệt trong văn phong cũng như tư tưởng, lại có những tương đồng khá sâu sắc và bất ngờ khi họ đối diện với thơ: cả hai đều là những nhà lãng mạn chủ nghĩa hồn nhiên và chân thành. Đi sâu vào những quan niệm như thế, công việc phê bình phê bình có nhiều hứa hẹn mở ra những khám phá thú vị hơn và nhất là, có cơ sở hơn: trong khi chúng ta rất khó đánh giá một sự yêu thích thì chúng ta lại dễ dàng đánh giá một quan điểm bởi vì, thứ nhất, nó thuộc phạm trù nhận thức, thứ hai, nó có tính lịch sử, nhờ đó, chúng ta có thể tiến hành việc so sánh để nhận ra tính chất đúng/sai và mới/cũ trong quan điểm ấy.

Cuối cùng, điều chúng ta có thể làm và nên làm là đánh giá xem quan điểm thẩm mỹ của nhà phê bình có gì mới lạ và có làm phong phú thêm cách hiểu của chúng ta về văn học hay không? Chính câu hỏi thứ ba này không chừng mới là câu hỏi quan trọng nhất. Nó phân biệt những công trình phê bình mang tính sáng tạo và những sự nhai lại. Một công trình phê bình chỉ có thể được xem là có đôi chút giá trị khi nó phát hiện một cái gì mới hoặc trong cách đọc hoặc trong tác phẩm được đọc; những phát hiện mà trước đó chưa ai biết hoặc một số người đã biết nhưng lại chưa tự giác hẳn về cái biết của mình. Ví dụ, không có công trình phê bình nào về Truyện Kiềucó thể được xem là có giá trị nếu nó chỉ lẩn quẩn với việc chứng minh lại những kiến thức phổ thông; nếu nó không làm cho Truyện Kiều có một diện mạo mới, khác với những gì chúng ta đã quen nghĩ; nếu nó không giúp mở rộng vốn hiểu biết của chúng ta về Truyện Kiều, từ đó, giúp mở rộng, dù chỉ một chút, địa dư của cái gọi là văn học.

Có thể nói tầm vóc của công trình phê bình chủ yếu tuỳ thuộc vào tầm vóc của những phát hiện ấy: phát hiện cái hay ở đơn vị câu, chữ khác với việc phát hiện cái hay ở tổng thể của tác phẩm, và việc phát hiện cái hay của tác phẩm khác với việc phát hiện một cách nhìn hoặc một góc độ nhìn để từ đó không những tác phẩm được đề cập mà còn nhiều tác phẩm khác nữa tự nhiên trở thành khởi sắc và giàu có hẳn.

Nói tóm lại, đánh giá một nhà phê bình, chúng ta không thể không đọc những gì hắn viết. Trong những gì hắn viết, chúng ta cần tôn trọng cái quyền yêu ghét chủ quan, tức cái quyền thích tác giả này và không thích tác giả nọ, yêu tác phẩm này và không yêu tác phẩm kia của hắn. Xâm phạm vào quyền cá nhân ấy bao giờ cũng là một hành động thô bạo. Điều chúng ta cần làm và có thể làm là: thứ nhất, phê bình các luận điểm của hắn; thứ hai, phê bình việc chứng minh các luận điểm ấy của hắn; cuối cùng, thứ ba, phê bình cái hệ mỹ học mà hắn bênh vực hay khen ngợi. Theo tôi, nếu biết dừng lại ở những giới hạn như thế, chúng ta có thể bảo vệ được văn hoá phê bình, giúp phê bình giữ được tính chất trí thức và trách nhiệm của nó, đồng thời, trong đời sống, giảm thiểu được vô số những cuộc cãi cọ lằng nhằng vừa vô duyên vừa vô ích.

Nguyễn Hưng Quốc


GIỮA LÒNG


GIỮA LÒNG

Giữa lòng chỉ một dáng em 
Giữa lòng mát lựng những niềm thắm tươi 
Giữa lòng dành chỉ em thôi 
Giữa lòng khúc nhạc đan lời mộng mơ

Giữa lòng dệt kín vần thơ 
Giữa lòng thánh thót bến bờ tình em 
Giữa lòng tơ đã bén duyên 
Giữa lòng quãng ái ngọt mềm phú thi

Giữa lòng thắp nến tình si 
Giữa lòng thê dệt nguồn mê tuôn trào 
Giữa lòng góp nhặt trăng sao 
Giữa lòng thương nhớ lao xao vạn miền

Giữa lòng vẫn chỉ một em
Giữa lòng – tương ngộ ta em – giữa lòng…

HANSY