Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2016

MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG VIỆT - Nguyễn Hưng Quốc



MỘT ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG VIỆT 

Bạn thử dịch câu dưới đây sang tiếng Việt giùm tôi nhé.
He goes to Saigon.

Cái câu có cấu trúc đơn giản và gồm những chữ hầu như người mới học tiếng Anh nào cũng đều biết, riêng tôi, thú thực, tôi không biết dịch sao cả.

Có hai chỗ tôi không dịch được.

Thứ nhất, chữ “he”, đại từ nhân xưng chỉ ngôi thứ ba số ít. Trong tiếng Việt, trên nguyên tắc, nếu chúng ta không biết chữ “he” ấy ám chỉ người nào và người ấy có quan hệ gì với người kể chuyện, chúng ta không thể dịch chính xác được. “Ông ấy” hay “anh ấy” ư? Nhưng nếu người kể chuyện đang nói về một em bé thì sao? Thì phải dịch là “em ấy”, dĩ nhiên. Còn nếu em bé ấy là con trai của người phát ngôn thì phải dịch là “con tôi”; nếu đứng ở vai em và nếu cần lịch sự, thì dịch là “cậu ấy” hay “chú ấy”. Nếu câu văn ấy xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết thì tùy theo tính cách của nhân vật, có thể dịch là “chàng” hay “gã” hay “hắn” hay “lão” hay “nó” hay “y”, hay, xưa hơn một chút, “va”, và xưa hơn nữa, “nghỉ’ (như trong câu Kiều: “Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung”), v.v...

Nhưng cứ tạm cho “he” là “ông ấy” thì chúng ta lại đối diện với vấn đề thứ hai này nữa: Động từ “to go”. “Đi” chăng? Ừ, thì cũng được. Nhưng nếu ông ấy đang ở Hà Nội thì thường người ta không nói “đi Sài Gòn”. Mà là “vào Sài Gòn”. Và nếu người ấy đang ở Cần Thơ hay Đà Lạt, chẳng hạn, người ta sẽ nói: “Ông ấy lên Sài Gòn” hay “Ông ấy xuống Sài Gòn”. Nếu địa danh ấy ở miền Trung hay miền Bắc, ví dụ Huế hay Hà Nội, thì người ta có thể nói: “Ông ấy ra Huế / Hà Nội”, v.v...

Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta thấy rõ là các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt không phải chỉ liên hệ đến vai trò trong hành ngôn (người nói – ngôi thứ nhất; người nghe – ngôi thứ hai; hay người được đề cập – ngôi thứ ba) như trong các ngôn ngữ Tây phương mà còn gắn liền với (a) tuổi tác, (b) địa vị xã hội, (c) tính cách; (d) quan hệ với người phát ngôn, và (đ) tình cảm hay thái độ của người phát ngôn, v.v... Tất cả các yếu tố này thường xuyên thay đổi, do đó, cách xưng hô cũng biến hóa theo.

Trong trường hợp thứ hai, động từ chỉ việc di chuyển gắn liền chặt chẽ với yếu tố địa lý (lên/xuống), và riêng trường hợp của vào/ra, còn gắn liền với yếu tố lịch sử. Ai cũng biết, “vào” là động từ chỉ sự di chuyển từ một không gian rộng đến một không gian hẹp; “ra”, ngược lại, từ một không gian hẹp đến một không gian khác rộng hơn. Nhưng tại sao đang ở miền Nam, người ta lại “ra” miền Trung trong khi miền Trung rõ ràng là hẹp hơn miền Nam hẳn? Để trả lời câu hỏi ấy, người ta phải quay ngược lịch sử về tận thời Lý và đầu nhà Trần, lúc biên giới phía nam của Việt Nam chỉ dừng lại ở đèo Ngang: lúc ấy, trên bản đồ Việt Nam, phía Bắc đồng nghĩa với rộng và phía nam đồng nghĩa với hẹp. Chính trong bối cảnh ấy, hai chữ “vào” (nhập) và “ra” (xuất) được ra đời.

Mà không phải chỉ có các động từ lên/xuống/vào/ra, ngay cả các danh từ chỉ vị trí như trong hay ngoài, trên hay dưới cũng đều như thế. Ở các ngôn ngữ khác, ít nhất là các ngôn ngữ tôi biết, trong là trong, ngoài là ngoài, cũng như trên khác hẳn với dưới. Nhưng trong tiếng Việt thì khác. Trong hai câu “Ông ấy đứng trong vườn nhìn ra ngoài đường” và “Ông ấy đứng ngoài vườn nhìn vào trong nhà” thì vị trí của người được gọi là “ông ấy” không có gì thay đổi cả. Vẫn đâu đó trong không gian của một khu vườn thôi. Vậy mà lúc thì “trong vườn”, lúc thì “ngoài vườn”. Cũng tương tự như vậy, chúng ta có thể nói về ai đó là ông hay bà ấy ngồi trên nền nhà hay ngồi dưới nền nhà. Ý nghĩa giống hệt nhau.

Cả hai trường hợp vừa kể, đại từ nhân xưng và động từ chỉ phương hướng (và cùng với chúng, danh từ chỉ vị trí), cho thấy một đặc điểm nổi bật của tiếng Việt: tính tình thái (situational), trong đó, nổi bật nhất là tính liên hệ (relational). Mỗi cách nói năng hay viết lách đều gắn liền với một hoàn cảnh nhất định và với những mối quan hệ nhất định. Trong các ngôn ngữ khác, kẻ phát ngôn, bất kể tuổi tác, địa vị, tư cách, tâm trạng và bất kể đang nói chuyện với ai, đều là “I” (tiếng Anh) hay “Je” (tiếng Pháp) cả. Và người nghe, cũng vậy, lúc nào cũng là “you” hay “tu/vous”. Lúc nào cũng vậy. Trong tiếng Việt thì cách xưng hô của cái người phát ngôn ấy cứ thay đổi xoành xoạch tùy theo các quan hệ và cũng tùy cả tình cảm của người phát ngôn nữa. Trong các ngôn ngữ khác, trong bao giờ cũng là trong và ngoài bao giờ cũng là ngoài, nhưng trong tiếng Việt, với người ở trong nhà thì cái kẻ đang đứng “trong” vườn lại trở thành “ngoài” vườn; ngược lại, với kẻ đang đứng ngoài đường thì cái người đứng “ngoài” vườn ấy lại biến thành người “trong” vườn, v.v...

Theo tôi, chính tính tình thái ấy là nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu vắng thói quen tư duy trừu tượng cũng như truyền thống triết học của Việt Nam. Lâu nay, nhiều học giả, từ Phạm Quỳnh đến Võ Phiến, đều giải thích sự thiếu vắng ấy xuất phát từ yếu tố từ vựng: tiếng Việt thiếu hẳn các từ trừu tượng hay nói theo chữ của Phạm Quỳnh, phần “hình nhi thượng”.(1) Nhưng thiếu thì mượn. Và người Việt cũng đã vay mượn rất nhiều từ trừu tượng từ chữ Hán. Nhưng mượn rồi thì sao? Khả năng tư duy trừu tượng vẫn èo uột và một nền triết học đặc sản của Việt Nam vẫn cứ là một mơ ước xa vời của hết thế hệ này đến thế hệ khác.

Tại sao?

Theo tôi, nó nằm ở tính tình thái của tiếng Việt. Xin nhấn mạnh: của tiếng Việt chứ không phải của phần từ vựng trong tiếng Việt. Chính thói quen bao giờ cũng nhìn sự vật và sự việc từ một góc nhìn cụ thể, trong những quan hệ cụ thể đã ngăn cản khả năng trừu tượng hóa của người Việt.

Khi năng lực trừu tượng hóa còn yếu, triết học vẫn còn là một giấc mơ xa xăm.


Chú thích:
1.Xem bài “Đố kỵ cái trừu tượng” của Võ Phiến trên Tiền Vệ:http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=505





♥♥


GỌI MÙA


GỌI MÙA 

Đông đã về rồi, phải không em?
Ta nghe sầu nặng rụng qua thềm
Tương tư một thuở lèn trong gió
Em ở đâu rồi, em hỡi em?

Ngày đó em đi nhạc úa màu
Một lần chia biệt, vạn lần đau
Tóc mây giờ có vương tơ lạnh
Để mãi tìm ai suốt canh thâu.

Xuân có còn đến kịp không em
Có còn hoa thắm thuở thương mềm
Có còn hương ấm mùa xuân cũ
Hay đông ngủ hoài trên tóc em?

Giá rét thôi đừng vướng mắt nai
Mùa đông ít nhé kẻo lạnh ai
Ươm lòng mơ chút tình mây nước
Gọi gió xuân về ấm tương lai…

HANSY

BIỂN LÒNG


95.
BIỂN LÒNG

Biển...
chung tình lắm phải không?
Câu thơ cũ nát mà lòng vẫn dâng

Nhịp tim biển nhịp muôn lần
Ta chìa tay giữ bần thần trái tim

Bao giờ sóng biển đứng im
Là ngày
ta ấy lại tìm...
mất nhau

Biển...
không phải những niềm đau
Mà ai cấm đoán biển ào tới ta

Nằm nghe sóng gợn quanh nhà
Mới hay biển đã tìm ta trên bờ.

Hoatim
*
MỘNG CẦM

Thuyền tình vẫn mãi rỗng không 
Ước ao gió mượn thổi hồng, trào dâng 
Đi qua ghềnh thác bao lần 
Mà sao vẫn mãi tần ngần giữa tim.

Đối lòng niềm nhớ lặng im 
Mỏi đời không muốn dõi tìm đến nhau 
E rắng vết cũ còn đau 
Còn chăng người hỡi giọt sầu tha ta.

Trăm năm vui kiếp không nhà 
Hồng nhan là bạn, tình ca là đời…

HANSY

NGỠ NGÀNG

NGỠ NGÀNG
(Thuận Nghịch độc)

Trời thẫm tím đau nỗi chạnh lòng
Biệt mù ân nghĩa lỡ chờ mong
Rơi tràn lệ khổ chau buồn dạ
Hận tủi  bờ thương úa xót dòng
Rời nguyệt lẻ thơ ngàn nhớ rã
Vỡ tình lưu kiếp vạn sầu đong
Khơi triền lặng xót âm thầm dội
Vơi bạt tản nguyền tâm buốt  đông

Đông buốt  tâm nguyền tản  bạt vơi
Dội thầm âm xót lặng triền khơi
Đong sầu vạn kiếp lưu tình vỡ
Rã nhớ ngàn thơ lẻ nguyệt rời
Dòng xót úa thương bờ tủi hận
Dạ buồn chau khổ lệ tràn rơi
Mong chờ lỡ nghĩa ân mù biệt
Lòng chạnh nỗi đau tím thẫm  trời


HANSY

♥♫ -Dạ Khúc


Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

21- NHẬM NGÃ HÀNH


21
NHẬM NGÃ HÀNH
cái tôi và bản lĩnh

Ngạn ngữ phương Tây nói: Cái tôi là cái đáng ghét (Le moi est haïssant). Bản tính con người xưa nay đều luôn nghĩ đến mình trước hết, cho nên cái tôi tạo ra một lớp vỏ bọc kín tâm hồn và chận đứng mọi nẻo cảm thông giữa người với người.

Tôn giáo hay triết học phương Đông đều dạy con người tiêu trừ bãn ngã, vì xem đó là điều chướng ngại ngăn cản con người trên con đường tu học. Đức Phật thực hiện Từ Bi, Chúa Jésus rao giảng Bác Ái, đức Khổng Tử giảng dạy đức Nhân, cũng đều nhằm mục đích dẫn dắt con người đến chỗ thương yêu khắp cả chúng sinh như chính mình, hay xem tất cả mọi người đều đồng một thể. 

Người nông dân Việt Nam nói đơn giản và ngắn gọn hơn: Thương người như thể thương thân. Không có phân biệt ta và người. Những ai sính loại triết học hàn lâm thì bảo đó là để Tiểu Ngã hòa tan trong Đại Ngã theo kiểu Ấn Độ, hoặc vạn vật dữ ngã vi nhất theo kiểu Trung Hoa, hoặc không còn phân biệt chủ thể với khách thể theo kiểu triết học hiện đại…

Những trò chơi ngôn ngữ rối rắm vô bổ và rỗng tuếch đó đã làm hao tổn bút mực lẫn trí não của rất nhiều học giả Đông Tây rồi, và của cả những người sính triết học. Chúng ta hãy học tập cách người nông dân chân chất là xếp chúng qua một bên để mặc cho các học giả bàn luận, rồi cứ ung dung dắt trâu đi theo con đường ruộng giữa cánh đồng bao la với bàn chân đất, chỉ để nghe tiếng nói sâu thẳm từ chính trái tim mình. 

Xã hội có văn hóa thường buộc con người phải tìm cách giấu đi cái tôi. Người nào nói nhiều đến cái tôi có nghĩa là người kém văn hóa. Phải nói đến người ta  chúng ta hoặc chí ít cũng phải là chúng tôi. 

Rõ khổ! Vì dù ít dù nhiều ai cũng muốn phô diễn cái tôi. Do đó, cái tôi lại luôn tìm cách xuất hiện lấp ló đằng sau những nghi thức xã giao, thông qua những câu nhún nhường khiêm tốn, thường có tính giả vờ! Chỉ có những thiên tài thực sự mới đủ bản lĩnh để không ngần ngại bộc lộ cái tôi bằng tất cả sự kiêu hãnh hồn nhiên.

Theo kinh điển Phật giáo ghi lại thì khi vừa mới sinh ra đời, đức Phật đã bước đi bảy bước trên tòa sen và cất tiếng như sư tử hống: Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn. (Trên trời dưới đất, chỉ có Ta là tôn quý). Đó có lẽ là ngày đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, cái Tôi được khẳng định một cách minh triết và hùng hồn nhất. Một tôn giáo xiển dương quan điểmsắc tức thị không, không tức thị sắc và dùng một loạt mười tám loại Không từ Nội không cho đến Vô pháp hữu pháp không trong kinh Bát Nhã để đẩy toàn bộ cái thế giới hữu sắc này đến chỗ tận cùng của chân không, thì chính tôn giáo ấy lại khởi đầu bằng cách khẳng định một cách tuyệt đối cái tôi! 

Bỏ qua một bên những ý nghĩa siêu huyền mang tính tượng trưng và ẩn dụ (dĩ nhiên) trong lời tuyên bố đó, ta chợt bắt gặp lại, ở một bình diện thấp hơn, câu ngạn ngữ phương Tây bảo"Les extrémités se touchent" (cái cực đoan thường gặp nhau) Cái cùng cực của phủ nhận lại chính là cái cái cùng cực của khẳng nhận. Cũng như chỗ sơn cùng thủy tận của khoa học phương Tây lại tiếp giáp với cõi bờ huyền học phương Đông, cho nên vũ trụ của Einstein lại hòa nhập trong lời thơ Tagore!

Lý Bạch là nhà thơ vô cùng kiêu ngạo. Trong một đêm khuya yên tĩnh, nhìn tinh tú lấp lánh chiếu sáng trên không, ông ngẫu hứng muốn làm thơ, nhưng lại không dám viết thành câu vì sợ các vì tinh tú nghe được sẽ rùng mình rơi cả xuống dòng sông lạnh : 

Dạ tĩnh bất kham đề tuyệt cú
Đãn kinh tinh đẩu lạc giang hàn


(Đêm khuya không dám đề thơ
Chỉ e sao rụng lạnh bờ sông đêm)

Có một bài thơ tứ tuyệt của Lý Bạch, người ta thường cho rằng đó là bài thơ tả cảnh nhưng thật ra đó là bài thơ kiêu ngạo thượng thừa:

Chúng điểu cao phi tận
cô vân độc khứ nhàn
tương khan lưỡng bất yếm
duy hữu Kính Đình san


(Chim chóc đã bay về tổ hết; đám mây lẻ loi đang lờ lững trôi;
nhìn nhau mà không chán; chỉ có ta và núi Kính Đình).

Chỉ có núi Kính Đình là có thể nhìn ta giữa trời đất bao la để cảm nhận được sự hùng vĩ của nhau mà không chán! Đó là ngạo khí của kẻ khí thôn chư tử vô toàn mục (ngạo nghễ chưa xem ai vừa mắt) .

Beethoven từng phẫn nộ quát mắng bọn quý tộc: Các ông cần hiểu rằng quý tộc các ông đời nào cũng có, nhưng Beethoven này phải cả trăm đời mới có được một người! 

Đó đều là niềm xác tín đầy kiêu ngạo về cái Tôi của những người hiểu rõ thiên tài của mình.

Trong tất cả các tác phẩm của Kim Dung, có lẽ chỉ có ba nhân vật văn võ toàn tài, vừa có võ công tuyệt đỉnh lại vừa có trí huệ sắc bén, và là ba nhân vật kiêu ngạo bậc nhất. Đó là Hoàng Dược Sư, Tạ Tốn và Nhậm Ngã Hành. 

Nếu Hoàng Dược Sư hấp dẫn người đọc bởi cái tài hoa cô độc, nếu Tạ Tốn khiến người đọc kính nể vì kiến văn uyên bác, thì Nhậm Ngã Hành làm người đọc khoan khoái vì chất lỗ mãng giang hồ. Và ông là bậc đại tôn sư võ học duy nhất không ngần ngại phô diễn cái tôi với tất cả cái xấu lẫn cái tốt của nó, đúng với cái tên Nhậm Ngã Hành (để mặc ý ta làm!). 

Cái tài hoa của Hoàng Dược Sư dù sao vẫn còn mang chút màu mè của hạng quý tộc, sự uyên bác của Tạ Tốn vẫn có một chút từ chương của giới hàn lâm, chỉ có Nhậm Ngã Hành là hoàn toàn chất phác, giống như chưởng pháp của ông khi giao đấu với Thiên Thủ Như Lai chưởng của Phương Chứng đại sư. Người sao chưởng vậy. Không ly kỳ biến ảo, nhưng trong thô phác lại hàm chứa tinh hoa.
Chỉ những người có bản lĩnh thực sự và có sở đắc chân chính như Nhậm Ngã Hành mới dám vất bỏ mọi lớp vỏ văn hóa hoa hòe che phủ bản thân, để hiện ra một cách trần trụi với mọi cái xấu, cái tốt không thèm che dấu, như Một Con Người thực sự. Khi thì ăn nói cùng cực sắc bén đúng với phong độ của một đại tôn sư võ học, khi thì hành xử rất mực thô lỗ, thậm chí hạ cấp, như bọn hảo hán giang hồ. 

Đánh mãi với Phương Chứng, liệu thế không xong thì vờ tấn công Dư Thương Hải để dùng mưu đánh ngã Phương Chứng. Không thích Tả Lãnh Thiền nhưng lại thành thật công nhận: Nễ võ công liễu đắc, tâm kế dã thâm, ngận hợp lão phu đích đảm trụ (Ngươi võ công có chỗ hơn người, lại có mưu kế sâu, điều đó rất hợp với tâm ý lão phu). Ông chỉ chê Tã Lãnh Thiền một điểm là đã có dã tâm thôn tính Ngũ Nhac kiếm phái thì cứ ngang nhiên mà làm, không cần phải dùng đến những thủ đoạn lén lút, những âm mưu quỷ kế đê hèn không xứng đáng với bậc anh hùng hảo hán. Nhậm Ngã Hành cũng không hề che dấu tham vọng bá chủ võ lâm của mình. 

Hiếm có vị tôn sư võ học nào lại ngang nhiên tự nhận: Lão phu võ công ký cao, tâm tư hựu thị cơ mẫn vô tỷ, chỉ đạo phổ thiên hạ dĩ vô kháng thủ (lão phu võ công đã cao, tâm tư lại bén nhạy nhất đời, cứ cho rằng khắp thiên hạ không có đối thủ!). Và do đó ông phải vô cùng bội phục kẻ đã soán đoạt ngôi vị giáo chủ của mình là Đông Phương Bất Bại.

Đối với Xung Hư đạo trưởng thì ông ca ngợi nhân cách và Thái cực kiếm pháp của vị chưởng môn hết lời, nhưng lại khẳng định ngay: Nễ đích Thái cực kiếm pháp tuy cao, vị tất thắng đắc quá lão phu (Thái cực kiếm pháp của đạo trưởng tuy cao, nhưng chưa chắc đã thắng nỗi lão phu)!

Môn Hấp tinh đại pháp mà Nhậm Ngã Hành khổ luyện cũng có ý nghĩa riêng của nó: gom hết những tinh hoa trong thiên hạ để về phục vụ cho chính cái tôi. Đó cũng là môn võ công biểu hiện quan điểm cực đoan của Duy ngã độc tôn. Cái tôi của Nhậm Ngã Hành khi được khoáng trương đến cực độ thì tại điểm bách xích can đầu sẽ hoặc dược tại uyên (nhảy vào hố thẳm), như con rồng của quẻ Kiền trong kinh Dịch, để vỡ tan ra từng mãnh. 

Bước nhảy đó sẽ là điều kiện tối hậu để Nhậm Ngã Hành với Hấp tinh đại pháp bắt gặp kịp Phương Chứng đại sư với Dịch cân kinh. Cái tâm đại bi vô lượng của một bậc đại tôn sư võ học sẽ hóa giải cái tôi cực kỳ bá đạo của một đại tôn sư võ học khác, cũng như cái Duy Ngã Độc Tôn sẽ cùng cõi Chân Không Diệu Hữu viên dung nhất thể. Cái Tôi được khẳng định đến cùng cực, khi gặp cơ duyên, sẽ dễ dàng tan biến vào cái đối cực của nó là cõi Man Mác Huyền Minh. Giá như Nietzsche sống lại, ắt hẵn sẽ trỏ vào Nhậm Ngã Hành mà nói Ecco Homo (đây là một con người)! 

Nhưng muốn biểu hiện cái tôi như Nhậm Ngã Hành thì ta phải có bản lĩnh chân thực. Không có bản lĩnh chân thực thì cái tôi đó cũng chỉ là cái hình ảnh thảm hại của năm anh chàng võ nghệ mèo quào học đòi lên Hoa sơn luận kiếm! 

Như Tây Thi nhăn mặt thì cả làng đều say đắm, Đông Thi bắt chước nhăn mặt thì cả làng đều bỏ chạy. Muốn học cách viết Sử Ký như Tư Mã Thiên thì phải học cách du sơn ngoạn thủy như Tư Mã Thiên, muốn kiêu ngạo và phô diễn cái tôi như Nhậm Ngã Hành thì tự xét mình đã có được cái bản lĩnh như Nhậm Ngã Hành không? Có dám ngang nhiên phơi bày mọi cái xấu lẫn cái tốt, vì hiểu rằng cái xấu hay tốt đó đều bất khả tư nghì đối với cao thủ cỡ Dư Thương Hải không? Và có thực dám nhậm ngã hành (cứ làm theo ý ta) không? Có dám tự thấy Lão phu võ công ký cao, tâm tư hựu thị cơ mẫn vô tỷ, chỉ đạo phổ thiên hạ dĩ vô kháng thủ chưa?

Phải học nói rất nhiều trước khi muốn im lặng, phải đọc sách rất nhiều để hiểu rằng kiến thức chỉ là trò tiểu kỹ vô cùng vụn vặt, phải Bao đêm thao thức thật thà rồi mới ngộ ra rằng Sưu tầm chân lý té ra tầm ruồng (Bùi Giáng). 

Phải đẩy cái Tôi đến chỗ tận cùng rồi mới có cơ duyên để để trừ bỏ nó. Và đằng sau cái tôi đó phải là bản lĩnh chân thực. Vì đó chính là điều kiện để con người rủ bỏ tất cả và hoặc dược tại uyên!

HUỲNH NGỌC CHIẾN




♥♥


THÌ XIN…

THÌ XIN…

Ngóng nhau, tim nhớ triền miên
Thu tàn đông lạnh phai duyên cuộc đời
Biết còn có gặp, người ơi
Mà sao nghe đắng cuối trời quạnh hiu.

Trải lòng xuôi tím giữa chiều
Bâng khuâng tấc dạ, lối yêu mịt mờ
Buông tình giọt đọng lời thơ
Trăm năm là mấy, hững hờ mà chi.

Thời gian đốt mất xuân thì
Ngóng chờ suốt kiếp, hồn vì dáng ai
Xuôi dòng, nước chảy miệt mài
Có khi nào nhớ trúc mai hẹn thề.

Mai sau người có trở về
Thì xin hong lại tình mê thuở nào…

HANSY

TRAO TƠ


94.
TRAO TƠ

Hứa rồi anh nhớ đó nha
Lang quân em gửi trăng ngà nâng niu
Gió đưa lạ lẫm về chiều
Một câu nguyện ước thương nhiều không phai

Xuân về đỏ rực cành mai
Tình anh em kết đêm dài nhớ mong
Đợi anh từ buổi lập đông
Thuyền rồng đến rước theo chồng về quê

Tình duyên không lỗi câu thề
So dây gắn nhịp dạ hề yêu thương
Cau trầu dạo ấy vấn vương
Về nhà thưa mẹ chọn đường dùm con

Một lòng trọn dạ sắt son
Yêu anh như thể núi non yêu trời
Mây chiều lửng thửng rong chơi
Mấy đàn ong bướm vẽ vời nguyệt hoa

Ai sao mặc kệ người ta
Lòng em trao gửi chén trà em dâng
Mai sau đen mối dạ trần
Tấm lòng chung thủy bội phần em trao

Đêm khuya ai hát ngọt ngào
Lời ru êm dịu má đào xin theo
Dẫu cho lên núi xuống đèo
Chân tình trọn vẹn bọt bèo không than

Cho em lời hứa tâm an
Về nhà may áo cơ hàn trao anh
Chim quyên hót tiếng thót thanh
Cau trầu trộn mối cho xanh cuộc tình

Ngày mai trời ửng bình minh
Trong tay thắm mật chúng mình song đôi

Hoatim
*
MÃI THƯƠNG

Dịu dàng nắm lấy tay ta 
Ngọt mềm đi khắp giang hà dấu yêu 
Trầu cau kết nối tơ chiều 
Ngàn năm nồng mặn vạn điều chẳng phai.

Ta thời nhờ đến mối mai 
Rước em về ngự, mộng dài thỏa mong 
Nhà mình rồi sẽ thêm đông 
Bi bô giọng trẻ ấm lòng chân quê.

Bên nhau cho vẹn câu thề 
Trong nhau cho trọn phu thê đá vàng 
Dẫu là kiếp khác vẫn thương 
Vẫn chờ nhau cuối chặng đường tình yêu.

Thương em lòng mãi ấp yêu
Ngày duyên ấm mặn, đêm liêu phiêu trời 
Đào nguyên hai đứa dạo chơi 
Bồng lai tiên cảnh suốt đời nha em.

Nụ hôn thuở đó mãi thèm 
Hương thơm đọng mãi môi mềm hiến dâng…

HANSY

TRỞ VỀ CÁT BỤI

TRỞ VỀ CÁT BỤI
(Ngũ độ thanh)

Giữa thế thân đời chỉ giọt sương
Lầm mê vất vả nhọc bao đường
Lơi nguyền nhạt ái lìa tan hưởng
Bủa giận gây hờn vỡ nát thương
Hám lợi quên tình tâm nghĩ vưởng
Dùa sang ngoảnh mặt thói suy thường
Vì sao lạc mất lòng thơm thảo
Cõi bụi dơ mình phải vấn vương

Cõi bụi dơ mình phải vấn vương
Từ nay tỉnh ngộ giữa vô thường
Cùng vun cõi thiện ngời cây phước
Hãy trải tim hồng biếc sợi thương
Thứ lỗi tha lầm vui hạnh nẻo
Dày nhân trọng nghĩa thỏa tâm đường
Người ơi đạo lý khơi nguồn rạng
Giữa thế thân đời chỉ giọt sương

HANSY

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Kinh nghiệm viết văn: TÌM SỞ TRƯỜNG

Kinh nghiệm viết văn:
TÌM SỞ TRƯỜNG

Mới cầm bút, nhiều người dễ có ảo tưởng là mình có thể múa may trong mọi thể loại. Làm thơ hay. Viết truyện ngắn hay. Viết truyện dài hay. Viết bút ký hay. Viết phê bình, lý luận cũng hay nữa. Trên thực tế, hiếm người đa năng được như vậy lắm. Có. Nhưng hiếm. Cực hiếm. Còn lại, tuyệt đại đa số chỉ phát huy sở trường trong một sân chơi nhất định. Có người làm thơ hay nhưng viết văn xuôi lại kém. Làm thơ hay, nhưng chưa chắc làm theo thể loại nào cũng hay. Nhiều người chỉ thích hợp với một thể thơ nhất định: Họ tung hoành thoải mái trong một thể thơ cách luật nào đó nhưng lại lúng túng khi thử bút trong thơ tự do hay thơ văn xuôi. Hay ngược lại.

Sân chơi văn xuôi lại càng rộng rãi, thường vượt quá sức của một người. Không hiếm người sáng tác hay, tuyệt hay, nhưng lại vụng về khi viết loại văn phi hư cấu. Trong loại văn xuôi sáng tạo, người này thì viết truyện ngắn hay, người nọ lại viết truyện dài giỏi. Người viết truyện dài giỏi không phải viết cái gì cũng xuất sắc. Mỗi người dường như được an bài ở một loại đề tài và một phong cách nhất định. Đi lạc đề tài và phong cách, người ta dễ đâm ra lớ ngớ.

Trong các thể văn phi hư cấu cũng vậy. Có người viết lý thuyết hay nhưng phê bình lại yếu. Có người viết phê bình một tác phẩm thì tài hoa nhưng viết phê bình về một tác giả hay một trào lưu, một thời đại văn học thì lại hay hớ hênh, không hụt chỗ này thì lại hẫng chỗ khác.

Mà thật ra, không phải chỉ trong văn chương. Hình như ở đâu cũng vậy. Như trong thể thao, chẳng hạn. Mức chuyên nghiệp hóa càng cao, mảnh đất để người ta có thể trổ tài càng hẹp. Cũng chạy nhanh, nhưng hầu như mọi người chỉ chạy nhanh nhất trong một cuộc chơi nhất định nào đó. Người thì chạy xa, người thì chạy gần. Chạy cự ly gần, có người chỉ vô địch ở hạng 100 mét nhưng lại thất bại ở hạng 200 mét hay 400 mét. Hay ngược lại. Trong các lãnh vực khác cũng vậy. Cũng chơi với quả bóng, nhưng mỗi người dường như chỉ hợp với một loại bóng: với người này, bóng rổ; với người kia, bóng chuyền; với người nọ, bóng đá. Trong bóng đá, ngay cả các cầu thủ thượng thặng cũng chỉ phát huy hết tài năng của mình ở một vị trí nhất định nào đó. Ra khỏi vị trí ấy, họ bị mờ nhạt ngay tức khắc.

Trong thể thao, các huấn luyện viên đóng vai trò quyết định trong việc phát hiện sở trường của từng người và sắp xếp họ vào vị trí tối ưu trong đội hình, nếu đó là trò chơi tập thể. Trong sân chơi văn học, không có những huấn luyện viên như thế. Việc phát hiện ấy là nhiệm vụ của chính người cầm bút. Chứ không có ai giúp được ai cả.

Nhưng phát hiện ra sở trường của mình không phải là điều dễ.

Có nhiều cái khó. Thứ nhất, những cái gọi là mặt mạnh hay mặt yếu khi cầm bút chỉ hiện hình rõ nét qua tác phẩm, nghĩa là sau khi các thử nghiệm đã hoàn tất. Thứ hai, trong việc đánh giá tác phẩm của mình, người ta rất dễ chủ quan, và thường không tránh khỏi ảo tưởng. Chuyện đó, ngày xưa, cha ông chúng ta đã biết rõ: “Thế gian có thói đa tình / Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay”.

Nhưng khó nhất là, nỗ lực phát hiện sở trường trong văn chương, ở một phương diện nào đó, cũng là nỗ lực phát hiện chính con người của mình. Trong cái gọi là con người ấy, có những yếu tố chính như sở thích, tính cách và nhất là, năng lực.

Trong văn học, người ta hay khen người này, người nọ thông minh. Nhưng cái gọi là thông minh ấy cũng có năm bảy loại. Có người giỏi về nhớ, có người giỏi về lý luận. Nhớ, có người chỉ nhớ giỏi các sự kiện; có người lại nhớ giỏi các ý niệm. Nhớ các ý niệm, có người có khuynh hướng nhớ các chi tiết, các ý lẻ; có người có khuynh hướng nhớ cả hệ thống với các mạch lý luận đan xen chằng chịt với nhau. Trong cái gọi là khả năng lý luận cũng vậy. Có người thiên về phân tích, có người thiên về tổng hợp, lại có người thiên về khái quát hóa.

Mỗi năng lực phù hợp với một kiểu viết nhất định. Nhớ giỏi nhưng thiếu khả năng tổng hợp, người ta chỉ viết được các giai thoại hay từng ý nghĩ rời. Nhớ giỏi và tổng hợp giỏi, người ta dễ phát huy các mặt mạnh khi đi vào lãnh vực nghiên cứu. Nhớ giỏi và và khái quát hoá giỏi, người ta dễ thành công khi đi vào các lãnh vực ít nhiều mang hơi hướm lý thuyết.

Trong văn học Việt Nam cũng như thế giới, không hiếm người có trí nhớ trở thành giai thoại. Họ đọc và nhớ đủ thứ chuyện. Họ kể chuyện hay vô cùng. Có cảm tưởng cái gì họ cũng biết. Nhưng họ chỉ giỏi xuất bản miệng. Khi viết, họ chỉ biết đánh du kích. Có cả hàng chục ngàn quân mà cũng vẫn chỉ chơi trò bắn tỉa. Chứ không bao giờ bày ra được một thế trận địa chiến cho đàng hoàng, đừng nói gì là lẫm liệt. Đọc họ, không thể không thấy tiếc: hoặc họ thiếu một cái gì đó hoặc họ chưa tìm ra một cái gì đó vốn có ở họ.

Nhưng trong văn chương, nhớ và lý luận chưa đủ. Cần có một thứ năng lực khác nữa: có trực giác mạnh, nghĩa là, thực sự nhạy bén.

Nhạy bén có nhiều mức độ. Và cũng có nhiều loại. Có người nhạy bén về tâm lý. Có người nhạy bén về các vấn đề chính trị xã hội. Nhưng cần nhất, trong lãnh vực văn học nghệ thuật, là sự nhạy bén về thẩm mỹ: Biết phân biệt được cái đẹp và cái đèm đẹp; cái đẹp vừa mới chớm và cái đẹp đã bắt đầu già cỗi; cái đẹp của hoa và cái đẹp còn trong nụ.

Phát hiện những vẻ đẹp còn trong nụ bao giờ cũng ít nhiều có tính phiêu lưu. Ở đây người ta cần không phải chỉ sự nhạy bén mà còn cả sự dũng cảm nữa. Để dám thách thức lại tập quán và đám đông. Xin lưu ý: Cả tập quán lẫn đám đông đều là những thứ quyền lực: Chúng thường được/bị chính trị hóa, do đó, chúng trở thành những thứ quyền lực chính trị, nghĩa là có khả năng vùi dập con người.

Việc tìm kiếm sở trường trong viết lách, do đó, ngoài việc tự phân tích và tự đánh giá năng lực của chính mình, còn có nghĩa là việc xác định bản lĩnh khi cầm bút: Rất nhiều người đầu hàng trước khi khởi sự tìm kiếm hay thử nghiệm.

Bài này, tôi chỉ viết chay mà không nêu một ví dụ nào cả. Lý do: Dễ quá. Bạn đọc có thể tìm thấy dễ dàng.



♥♥


GỞI ĐẾN EM YÊU



GỞI ĐẾN EM YÊU

Tình đến vừa kịp lúc
Để ta mãi bên nhau
Thời gian đừng qua mau
Để lắng nhìn hạnh phúc.

Yêu là như ngọt mật
Tỏa kín cả lòng ta
Là niềm thương bao la
Núi mòn, tình không cạn.

Yêu là rất lãng mạn
Trên Net hay ngoài đời
Cũng vẫn chỉ một lời:
"Ta yêu nhau lắm lắm".

Cuộc tình dài hay ngắn
Đều do bởi nghiệp duyên
Nếu trời định chung thuyền
Thì muôn năm vẫn một.

Xin môi hôn ngọt mật
Được sóng sánh trong ta
Xin hạnh phúc hoan ca
Trong nhau hoài người nhé!

HANSY

TRÒN NGUYỆN ƯỚC


93.
TRÒN NGUYỆN ƯỚC

Chúng mình... còn nữa không anh?
Chiều thu man mác dỗ dành giấc ru
Cái hôm mưa gió quên dù
Về nhà dưỡng bệnh chạy ù...thuốc ơi

Mấy viên thuốc cũ buông rơi
Của anh ngày ấy... một thời yến oanh
Nụ tình giữ mãi mầm xanh
Cầu cho ai đó để dành trong tim

Mộng vàng lạc lối em tìm
Một trời nhung nhớ... mỗi đêm giao hòa
Câu thơ ngày ấy thiết tha
Tình xuân nở nụ món quà tình quân

Bao giờ cũng nhớ người dưng
Bao giờ trái đắng sẽ ngừng yêu ta?
Trách ai cái thuở trăng già
Ngự trên vòm lá để mà trêu ngươi

Bây giờ nguyệt đã lỡ thời
Cuội ta vẫn gọi ới ời yêu em
Sửa sang mắt phấn... trầu têm
Một lời tạc dạ êm đềm trăng mơ

Trong tay cắt mối tơ chờ
Trầu cau một thể quấn thơ chung tình
Yêu em! yêu nhé hỡi mình
Trăm năm tóc rối quyện hình bóng chung

Lập đông sẽ hết lạnh lùng
Trăng non ôm lấy anh hùng để yêu
Trầu xanh chải tóc mĩ miều
Định tiền đôi lứa thương nhiều nha anh

Hoatim
*

VẸN NGUYỀN

Dáng em vẫn mãi trong anh 
Vẫn mơ cuối nẻo mình thành lời ru 
Tim này còn một chút thơ 
Vẫn dành em hết, vô bờ ngươi ơi.

Đừng hững hờ, kẻo tình rơi
Mặn nồng em nhé, rót lời yến oanh 
Trong nhau ước vọng biếc xanh 
Đậm đà hương lửa, chạm vành con tim.

Tội chi cứ ngóng cứ tìm 
Bên em có sẵn một thiên mơ hòa 
Chỉ cần em chịu cùng ta 
Thì dâng suốt kiếp cho hoa yêu kiều.

Sẽ thương, sẽ nhớ, chuộng chiều
Dắt em đến cõi mỹ miều, gấm hoa 
Yêu thương đến tận hạc già 
Dẫu sang kiếp khác cũng là của em.

Ta nay một bóng cuối thềm 
Mơ hoài nương tử là em đó mà…

HANSY

XUYÊN HỒN

XUYÊN HỒN

Mây chiều man mác lặng hồn xuyên
Mê ảo ngàn xa chấp chới huyền
Trí lậm sang hèn ân oán chuyển
Tim rời nồng mặn nghĩa tình nghiêng
Vòng tay ngày ấy hoài thương chuyện
Khúc ái hôm nào mãi nhớ duyên
Phai cội trầm hương người có luyến
Hay là bạc bẽo tảng lờ quên    

Hay là bạc bẽo tảng lờ quên    
Mù mịt khung trời tản mác duyên
Nuối tiếc dòng thơ ngày trỗi quyện
Đau buồn vạt phú buổi trầm nghiêng
Bao lời ước hẹn giờ tê huyễn
Những phút thề dâng chợt hão huyền
Cô lữ giang hồ tan tác nguyện
Mây chiều man mác lặng hồn xuyên

HANSY

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

20- TẠ TỐN


20
Bi kịch
TẠ TỐN

Hãy tưởng tượng cảnh trời chiều trên Băng Hỏa đảo, một hòn đảo xa xôi hoang vắng vùng cực Bắc, giữa những làn gió lạnh cắt da, một trung niên thân hình khôi vĩ, râu tóc vàng rực, mặc áo khoác da thú, đôi mắt trắng dã mù loà, tay cầm thanh đại đao lấp lánh trong ánh trời chiều, đứng cô liêu trầm mặc như một nhà sư nhập định, rồi bỗng nhiên cất lên tiếng rú làm kinh động cả bầu thái hư lạnh buốt. 

Không phải là tiếng hú giác ngộ Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư của một Không Lộ thiền sư [1] mà là tiếng rú cực kì đau thương và bi phẫn của con mãnh sư bị thương: Kim mao Sư vương Tạ Tốn.

Một tuyệt đại cao thủ với kiến văn vô cùng uyên bác, một con người văn võ kiêm toàn, Phó giáo chủ của Minh giáo, một tài năng hãn hữu trong võ lâm, chỉ vì một phút nông nỗi hồ đồ, bị biến thành vật hiến tế trong trò chơi tai ác của Định Mệnh. Ông đã trải qua cảnh đoạn trường trong cuộc sống: vợ bị hãm hiếp rồi bức tử, đứa con trai yêu duy nhất bị giết chết. 

Oái ăm thay, kẻ gây ra thảm kịch cho gia đình Tạ Tốn không ai khác mà chính là vị ân sư mà ông đã hàm nặng ơn sâu và coi như cha đẻ: Hỗn nguyên Phích lịch thủ Thành Khôn. Gây án xong, Thành Khôn tuyệt tích giang hồ. Từ đó, để tìm ra tung tích Thành Khôn, Tạ Tốn lao vào những cuộc đồ sát phi lí điên cuồng. Mỗi khi giết người xong, ông lại đề tên Thành Khôn với hi vọng ngây thơ là Thành Khôn sẽ xuất đầu lộ diện để cùng mình tương kiến.

Trong khi đó, Thành Khôn lại âm thầm nấp trong bóng tối và tiếp tục gieo rắc ngộ nhận thương đau cho đồ đệ của mình, tiếp tục đẩy Tạ Tốn vào những cuộc sát nhân vô cớ. Và tội lỗi ngày càng kéo Tạ Tốn lún sâu vào tội lỗi. 

Một nỗi đau sâu sắc khác của Tạ Tốn là cái chết của Không Kiến đại sư, một cao tăng chùa Thiếu Lâm, người tự nguyện đứng ra hoà giải mối cừu hận giữa hai thầy trò và hi vọng cứu vãn sát kiếp cho võ lâm. Hình ảnh Không Kiến đại sư, dù chỉ xuất hiện rất ngắn và chỉ qua lời kể của Tạ Tốn, đã để lại ấn tượng vô cùng cảm động trong lòng người đọc: đem tính mạng mình ra để điều hoà mối xung đột bất khả vãn hồi bằng tình yêu bao la và lòng dung nhẫn mênh mông. Một hình ảnh xả thân hi sinh phi thường với tinh thần vô ngã tuyệt đối mà ta thỉnh thoảng chỉ thấy trong nền văn hoá phương Đông. 

Thủ đoạn của Thành Khôn và cái mẹo vặt của Tạ Tốn đã đẩy vị thần tăng chùa Thiếu Lâm vào chổ chết. Môn Kim cương thần công hộ thân của Không Kiến chỉ bảo vệ được cho vị thần tăng đáng kính kia trước những ngọn Thất Thương quyền cực kì tàn độc nhưng lại không bảo vệ được ông trước mưu mô âm hiểm của con người!

Từ đó, cả hai phe hắc bạch đều xem Tạ Tốn là kẻ tử thù, khiến ông không còn đất dung thân dù giang hồ rộng bao la. Cái lí do tồn tại cuả Tạ Tốn trên cõi đời này, cái raison d’ être của ông giờ đây chỉ còn là sự hờn căm và rửa hận. Tạ Tốn có cái lí của mình trong những cơn đồ sát vô nghĩa và Thành Khôn cũng có cái lí của chính ông: trả thù cho một mối tình tuyệt vọng. Cõi giang hồ đầy dẫy ân oán thị phi đã đẩy dần hai thầy trò vào chốn tận cùng chốn diêu mang phi lí cõi tồn sinh.

Rồi vì để chiêm nghiệm cho ra cái điều huyền mật trong thanh bảo đao Đồ long nhằm tìm ra một môn võ công lợi hại để giết được kẻ thù là ân sư Thành Khôn, Tạ Tốn đã ép buộc vợ chồng Trương Thuý Sơn cùng mình lưu lạc trên Băng Hoả đảo. Do Tạ Tốn tâm trí thất thường nên đã giao đấu với Trương Thuý Sơn. Và Hân Tố Tố đã ném kim châm làm mù mắt Tạ Tốn để hổ trợ chồng. Vốn đã mang bao tâm sự u uất khổ đau, giờ đây sự cuồng điên trong tâm hồn Tạ Tốn lại lên đến cực điểm. Vì võ công ông quá cao siêu nên vợ chồng Thuý Sơn, dù là hai tay cao thủ, cũng phải luôn luôn trốn tránh Tạ Tốn trên hoang đảo chỉ có ba người.

Khi Hân Tố Tố chuẩn bị lâm bồn, Thuý Sơn, do lo sợ, phải đào sẵn một cái hố trước hang động đang trú ẩn để đề phòng Tạ Tốn. Qủa nhiên ông đã tìm đến và rơi xuống hố. Khi nhảy ra được khỏi hố với thanh kiếm do Thuý Sơn đâm sâu trên trán, Tạ Tốn giận dữ tột độ, toan xông vào hang để giết luôn cả hai vợ chồng Thuý Sơn thì đúng lúc Vô Kỵ cất tiếng khóc chào đời. Tiếng khóc hài nhi giữa đêm khuya thanh vắng như một tiếng chuông cảnh tỉnh bỗng nhiên đánh thức lương tri của con hùng sư cuồng điên trong cơn tuý sát: dĩ vãng lại hiện về với hình ảnh đứa con trai yêu bị thảm tử. 

Một chi tiết dù rất nhỏ nhưng làm cho ta vô cùng cảm động. Nếu không thế thì ta sẽ vì đời mà giận dỗi Kim Dung biết mấy! Tính nhân bản, và chỗ cao diệu của ngòi bút Kim Dung là ở điểm đó. Một tâm hồn hời hợt với bút lực tầm thường sẽ không bao giờ thể hiện nỗi những cái u uẩn khuất khúc vô cùng phức tạp trong tâm lí con người[**]. 

Hình ảnh hài nhi, trong truyền thống Viễn Đông, vẫn thường tượng trưng cho đức Sinh của Tạo hoá. Chỉ có những tác giả có cái nhìn sâu thẳm vào bản chất con người, những đôi mắt trông thấu sáu cõi, những tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời mới có được bút lực tinh tế dường kia! Có khi chỉ vì một sự cố rất nhỏ vô tình trong đời mà cuộc đời ta lại chuyển sang hướng khác.


Đồ tể buông đao là thành Phật. Đọc đến đây ta chợt hiểu vì sao tác phẩm Kim Dung lại có sức cuốn hút độc giả đến thế trong bao năm qua. Hãy gạt bỏ đi những môn võ công không thực, hãy gạt bỏ đi những chiêu thức hoang đường, cái cốt lõi trong tác phẩm Kim Dung hiện ra vẫn là hình ảnh con người phù du tư diệt phải một mình khoắc khoải đối diện với bao ân oán thị phi rối rắm chằng chịt giữa cõi đời phi lí mênh mông! 

Con người, ngay cả bậc anh hùng, nhiều khi vẫn là trò chơi trong bàn tay tai quái của Định Mệnh mà mọi nỗ lực vượt qua đều dường như vấp phải một bức tường bất khả tư nghì! Đôi tình nhân hạnh phúc Trương Thuý Sơn và Hân Tố Tố phải cùng nhau tự vẫn ngay trước mặt bao vị tôn trưởng để thành tựu mộng đầu oan nghiệt và con hùng sư khổ đau Tạ Tốn lại phải tiếp tục sống để rửa sạch mối hờn căm.

Trên Băng Hoả đảo, Tạ Tốn nhận Vô Kỵ làm nghĩa tử và truyền thụ toàn bộ võ công siêu việt, với hoài vọng đứa con nuôi thông minh và đôn hậu kia sẽ thành toàn được những gì mà ông còn để dỡ dang trong tâm nguyện. Người anh hùng trong một phút nông nỗi hồ đồ đã để lại mối hận ngàn năm! Anh hùng di hận kỉ thiên niên (Nguyễn Trãi).

Trải qua bao gian khó, Tạ Tốn lại một mình tìm về được Trung thổ để tiếp tục tầm thù. Cuối cùng, ông cũng hội diện được với cừu nhân dưới lốt nhà sư Viên Chân trên đỉnh Thiếu Lâm và rửa được mối hận bình sinh. Thù xưa đã trả. Ân oán đã tan. Lẽ ra Tạ Tốn phải thấy lòng ung dung thanh thản nhưng giờ đây ông lại đối diện với những hang hố đen ngòm của cuộc tồn sinh: mọi sự việc trên đời bỗng trở nên hư huyền trống rỗng.

Trong cuộc đấu tranh tầm thù dài dằng dặc đó, kẻ thất bại đã bị chết, nhưng kẻ chiến thắng lại rơi vào sự cô đơn. Và chính trong nỗi cô đơn ấy, cái tận cùng phi lí của nhân gian lại hiện nguyên hình: Thị phi thành bại chuyển đầu không. Chuyện đúng sai hay thành bại ở trên đời, khi đã trải qua rồi và quay đầu nhìn lại, mới hay chỉ là hư không trống rỗng.

Không biết tự bao giờ, ở Viễn đông, con người thường đem bao nhiêu chuyện thương tâm trong suốt bình sinh hướng về cửa Không để mong nhờ Phật pháp tiêu giải [****] và những người anh hùng khi đến đường cùng lại thường xuống tóc đi tu. Anh hùng mạt lộ bán vi tăng. 

Tạ Tốn dù không là anh hùng mạt lộ, nhưng cơ duyên đủ chín mùi để ông nhận chân ra được những tấn tuồng hư huyễn của nhân gian, nên ông tự phế bỏ võ công, xin qui y cửa Phật và tự nguyện chịu đựng mọi thứ đờm rãi nhơ bẩn khạc nhổ lên người và mọi sự thoá mạ của những người có người thân bị ông giết chết. 

Ta tin rằng trong suốt bình sinh, có lẽ chưa bao gìơ tâm hồn Tạ Tốn lại thấy thanh thản bằng lúc quì gối để chịu đựng nỗi nhục hình ghê gớm đó, nỗi nhục hình mà bất kì một người học võ nào cũng đều thấy đau đớn hơn là cái chết. “Tạ Tốn hay đống phân bò cũng chẳng có gì khác nhau!”. Câu nói cuối cùng đầy minh triết của con hùng sư một thời chọc trời khuấy nước, làm khuynh đảo cả giang hồ, đã khép lại tấn thảm kjch của một đại cao thủ kiêu hùng nhưng, trong tác phẩm Kim Dung, lại tiếp tục mở ra những trang bi kịch khác của võ lâm.

HUỲNH NGỌC CHIẾN

[1] Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
( Có khi lên thẳng đỉnh núi cô liêu
Cất tiếng hú dài làm lạnh buốt cả bầu trời
 


♥♥


THÔI NHÉ, TÌNH ƠI!

 
THÔI NHÉ, TÌNH ƠI!

Nghe vọng lại giữa muôn trùng thẳm vắng 
Tiếng người xưa bầm cay đắng rền vang 
Duyên tình ơi, sao  chua xót bẽ bàng 
Tim tức tưởi hồn hoang ngày rẽ lối.

Nào có biết cuộc đời nhiều ngõ tối 
Khi lòng tin phản bội khiến chia ly
Mình xa nhau chưa nói được những gì 
Sâm Thương ấy giờ cách chia diệu vợi. 

Một người đi, một người mòn mỏi đợi 
Dẫu biết rằng Ô Thước chẳng còn đâu 
Tan nát lòng giữa thế cuộc bể dâu 
Đời tệ mạt hay trầu cau bạc bẽo? 

Ta – lữ khách – chốn giang hồ vạn nẻo 
Ngóng trông gì một rẻo tối chiều hoang
Mà đời Em thì điện ngọc cung vàng 
Nên xa cách hai phận đời dâu bể. 

Thôi nhé Em, duyên tình mình không thể 
Gối trăng lòng như ước thệ ngày xưa 
Hãy quên đi quá vãng thuở giao mùa 
Mùa hạnh ngộ chỉ đòng đưa ảo ảnh… 

HANSY

ĐƯỜNG VỀ


92.
ĐƯỜNG VỀ

Hôm nay em trở lại nhà
Thăm anh một tẹo để quà trước hiên
Không vào vội quá đi liền
Anh ngồi trong bếp để chiên cá vàng

Một đời sẩy bước hành lang
Là xem như đã lỡ làng một duyên
Buồn cho tiếng hát chim quyên
Sao mình lẻ bạn truân chuyên đường tình

Cái ngày anh gánh bình minh
Đem sang hàng xóm bán tình mua vui
Là ngày ánh sáng nguyệt lùi
Nửa vầng trăng khuyết bùi ngùi khóc than

Đi xa em vẫn cầu an
Cho anh được phút ngút ngàn bình yên
Em mang bao nỗi niềm riêng
Giấu vào nỗi nhớ muốn điên cội tình

Đời sao lắm kẻ thân chinh
Phút yêu phút nhớ chẳng gìn trung can
Vì ai nước mắt lệ chan?
Cái câu chung thủy anh đan người rồi

Nếu mai lỡ gặp thì thôi
Ngoảnh nhau như thể trầu hồi ban trưa
Tình em giờ đà lỡ thừa
Đem làm kỷ niệm để chừa lối yêu

Mai sau bóng ngã về chiều
Cây tùng hết phép chõng lều nát tan
Em xin làm cầu hóa dang
Rước anh về lại mộng vàng hấp hôn

Hoatim
*
CÒN CÓ ANH

Mừng em trở bước lại nhà 
Ngó chừng công chuyện phiền hà, ít vui 
Tiếc là dưới bếp lui cui 
Không ra đón tiếp, ngồi chơi với nàng.

Đời này ít lắm tân lang 
Lòng yêu thì mỏng, ngó ngàng kém duyên 
Ơ thờ xót dạ chim quyên 
Nhãn lồng không hái, niềm riêng hẻo tình.

Ít người mang tới bình minh 
Trầu cau giỡn mặt, tơ hồng đùa vui 
Chệch lòng chút xíu chực lùi 
Hy sinh chưa mấy lắm lời van than.

Gia đình lắm mối bất an 
Cái tôi quá lớn nào màng bình yên 
Thương em tha thắt niềm riêng 
Không nơi tâm sự cho quên bạc tình.
……
Thôi thì, kết nối chúng mình 
Trầu cau dù héo, niềm tin vẫn đầy 
Thân cau trấu quấn một dây 
Quãng đời còn lại tháng ngày có nhau.

Tình mình có trước có sau 
Tào khang muối mặn gừng cay mãn đời…

HANSY


HƯƠNG TÌNH

 
HƯƠNG TÌNH
(Thuận Nghịch độc)

Quyên dỗ gió tình duỗi bước sang
Nhạc vui choàng rỡ ánh thơm vàng
Quên nào phút nguyện mơ thầm dậy
Ngóng mãi đêm thề ước mộng loang
Duyên thắm thệ cùng mây nhớ nguyệt 
Ái thơm nguyền nhé thiếp thương chàng
Uyên làn đắm phượng loan ngời lửa
Thuyền gọi bến yêu hiệp gối màn

Màn gối hiệp yêu bến gọi thuyền 
Lửa ngời loan phượng đắm làn uyên 
Chàng thương thiếp nhé nguyền thơm ái 
Nguyệt nhớ mây cùng thệ thắm duyên
Loang mộng ước thề đêm mãi ngóng
Dậy thầm mơ nguyện phút nào quên
Vàng thơm ánh rỡ choàng vui nhạc
Sang bước duỗi tình gió dỗ quyên

HANSY

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Kinh nghiệm viết văn: HƠI VĂN



Kinh nghiệm viết văn:
HƠI VĂN

Khi viết, một trong những điều tôi quan tâm nhất là hơi văn. Theo tôi, một bài văn hay, ngoài các yếu tố khác, cần phải có một yếu tố này nữa, cực kỳ quan trọng: “nhất khí quán hạ”. Nghĩa là từ đầu đến cuối phải liền mạch. Xin nói ngay, khái niệm “nhất khí quán hạ” đã có từ lâu. Tuy nhiên, phần lớn nó chỉ được dùng trong thơ: Nó là cơ sở để người xưa xây dựng bố cục gồm bốn phần Khai, Thừa, Chuyển và Hiệp trong thơ Đường luật truyền thống. Ở đây, tôi chỉ nói về văn xuôi, chủ yếu là văn xuôi nghị luận.

Tôi biết có nhiều người viết theo kiểu lắp ghép. Hôm này, rảnh, họ viết vài ba đoạn. Hôm khác, nhân đọc một cuốn sách nào đó, nổi hứng, họ viết thêm vài ba đoạn khác. Những đoạn ấy nhiều khi không có quan hệ gì mật thiết với nhau cả. Cuối cùng, họ ráp tất cả lại thành một bài. Thỉnh thoảng có những bài hay. Thật hay.

Biết hay, nhưng tôi thì tôi chịu. Không cách gì tôi viết như vậy được. Viết, tôi thường viết một lèo từ đầu đến cuối. Bài ngắn thì viết trong vài ba giờ. Bài dài hơn, vài ba ngày. Dài hơn nữa, có thể vài ba tuần, thậm chí, vài ba tháng. Nhưng bao giờ cũng liên tục. Bị ngắt quãng lâu, mất trớn, tôi thường bỏ luôn. Muốn viết tiếp, cũng không viết tiếp được. Có lúc, viết xong, chợt loé lên một ý hay hay hoặc đọc sách, tìm ra thêm một tư liệu thật thú vị liên quan đến đề tài của bài viết, muốn thêm vào; nhưng sau khi thêm vào, thấy ý văn như bị lệch, nhịp văn như bị gãy, tôi luôn luôn lựa chọn: Thà mất đi một ý hay một tư liệu nhưng giữ được sự “nhất khí”.

Tôi thích bài văn giống như một đường kiếm: Từ lúc rút ra khỏi vỏ đến lúc vung lên, hạ sát đối thủ, rổi đút lại vào vỏ, nó chỉ đi một đường. Loáng một cái là xong.

Muốn giữ được sự nhất khí, cần nhất là sự mạch lạc trong lập luận và sự thống nhất trong giọng điệu.

Về sự mạch lạc, giữa các câu trong đoạn và giữa các đoạn trong bài cần phải có quan hệ thật chặt chẽ với nhau. Mỗi câu hay mỗi đoạn phải vừa là sự tiếp tục vừa là sự khai triển của câu hay đoạn trước đó. Không có sự khai triển, hơi văn sẽ bị quẩn. Không có sự tiếp tục, hơi văn sẽ bị đứt. Một bài văn nhất khí là một bài văn, thứ nhất, không có câu hay đoạn nào thừa hay lệch; và thứ hai, tất cả đều được nối kết lại với nhau thành một chỉnh thể thống nhất. Bảo đảm sự chặt chẽ trong quan hệ giữa các câu và các đoạn, thật ra, không khó. Chỉ cần tính duy lý và sự thận trọng. Nói chung, có một nguyên tắc: Tư duy mạch lạc thì viết văn cũng mạch lạc; cái gì sáng trong trí thì cũng rõ trong câu chữ. Ở phương diện này, luyện viết văn thực chất là luyện khả năng lý luận.
Lập luận mạch lạc, giọng điệu trong bài cũng cần phải thống nhất. Đó phải là tiếng nói của một người trong một tình huống nhất định với một thái độ nhất định. Giọng, có khi ẩn, có khi hiện. Người thì thích nó ẩn để bài viết có vẻ trung tính, đáp ứng một trong những yêu cầu quen thuộc của loại văn nghị luận: khách quan. Người thì thích nó hiện để bài viết trở thành hoặc hùng hồn hoặc tha thiết, từ đó, tác động trực tiếp đến cảm xúc của người đọc. Riêng tôi, tôi không thích che giấu cái giọng của mình. Bởi vậy, tôi thích dùng những câu tu từ vốn, bình thường, tương đối ít được các cây bút chuyên về nghị luận sử dụng. Khác với các câu ngữ pháp vốn lúc nào cũng tròn trịa hay ngay ngắn với những chủ ngữ và vị ngữ, câu tu từ thường là câu đặc biệt hoặc được đảo ngữ hoặc cắt ngắn, chỉ có vị ngữ hoặc một phần của vị ngữ. Ví dụ, trong bài “Từ nhà phê bình đến một blogger” đăng trên blog này vào ngày 17 tháng 7, 2009, tôi dùng nhiều câu đặc biệt (không có chủ từ, như “Ở Việt Nam, dạy học”, “Như cái số, đành chấp nhận”, “Ừ thì làm” hoặc nhiều ngữ khí từ, như “A!” hay trợ từ, như “vui chứ?”):

“Chỉ có điều, sau khi nhận ra mình nói dở, tôi chỉ thích chọn những nghề…ít nói nhất. Vậy mà tôi lại sa vào nghề dạy học. Cả đời tôi dạy học. Ở Việt Nam, dạy học. Ra đến nước ngoài, cũng dạy học. Như cái số, đành chấp nhận. Nhưng nếu có cái nghề thứ hai nào cần làm và có thể làm, tôi dứt khoát chọn cái nghề ít nói; thậm chí, không nói: càng tốt.

May, nó tới: lần này Ban Việt ngữ đài VOA không mời tôi làm phát thanh viên mà lại làm một…blogger!
A! Cái chuyện này mới thú vị đấy. Chữ blog mới đến độ chưa có trong tiếng Việt.
[…]
Được tham gia vào diễn đàn có tính tiên phong như thế, vui chứ?
Ở diễn đàn ấy, mình chỉ cần viết chứ không cần nói: càng vui nữa.
Thế thì tôi đâu có lý do gì để từ chối. Ừ thì làm. Từ nhà phê bình đến blogger, không chừng đó cũng sẽ là cuộc hành trình chung của nhiều người, sau này: một cuộc xuống đường của trí thức.”

Tự sự, viết thế; phê bình, tôi cũng viết thế. Ví dụ, phân tích chữ “nhuộm” trong câu “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng” trong bài “Tương tư” của Nguyễn Bính, tôi viết, cũng bao gồm nhiều câu tu từ:

“Thử bỏ đi động từ ‘nhuộm’ hoặc thế động từ ‘nhuộm’ bằng một từ nào khác, ví dụ như chữ ‘giờ’, ‘lá xanh giờ đã thành cây lá vàng’, thì câu thơ sẽ ra sao? Nó sẽ nhẹ hẳn đi. Tức khắc. Không có chữ ‘nhuộm’, câu thơ chỉ có một nghĩa: hiện tượng chuyển mùa; trước là mùa xuân (hay mùa hạ?), nay là mùa thu. Thêm chữ ‘nhuộm’, một động từ, ngoài ý nghĩa trên, câu thơ còn có ý nghĩa khác: đó là quá trình chuyển mùa. Giữa hai thời điểm xuân và thu, xuất hiện đôi mắt người con trai không ngừng khắc khoải trông ngóng. Anh đếm từng ngày, từng ngày. Ròng rã. Anh quan sát mùa thu về, từ từ, từ từ. Một chiếc lá vàng. Hai chiếc lá vàng. Ba chiếc lá vàng. Rồi cả cây, điệp điệp lá, vàng hực lên. Cho nên, sau chữ “nhuộm” là tấm lòng của người con trai tương tư đang mòn mỏi. Bài thơ, như vậy, cứ xoáy sâu vào khoảng cách. Từ khoảng cách vời vợi của không gian đến khoảng cách đằng đẵng của thời gian.”

Viết văn có tính luận chiến, tôi càng hay sử dụng các câu tu từ. Ví dụ một đoạn trong bài “Chủ nghĩa mình-thì-khác”:

“Biểu hiện của chủ nghĩa mình-thì-khác rất dễ nhận thấy. Nó bàng bạc ở khắp nơi. Từ trong nước ra đến tận hải ngoại. Từ giới bình dân đến cả giới trí thức. Từ những giao tiếp hàng ngày đến những sinh hoạt chuyên môn. Ở đâu giọng điệu của nó cũng khá giống nhau. Về phương diện chính trị, nước người ta dân chủ và tôn trọng nhân quyền ư? Ừ, thì cũng hay, nhưng... mình-thì-khác. Về phương diện xã hội, mọi thứ ở người ta đều được tổ chức một cách duy lý và hợp lý ư? Ừ, thì cũng hay, nhưng... mình-thì-khác. Về phương diện nghệ thuật, người ta hết lao vào thử nghiệm này đến thử nghiệm khác khiến thế giới sáng tạo lúc nào cũng trăm hoa đua nở ư? Ừ, thì cũng hay, nhưng... mình-thì-khác. Về phương diện văn học, từ lâu người ta đã bước vào giai đoạn hậu hiện đại chủ nghĩa với những quan niệm mới mẻ và vô cùng lý thú ư? Ừ, thì cũng hay, nhưng... mình-thì-khác. Thậm chí, cả đến thơ tự do vốn đã phổ biến khắp nơi trên thế giới, ở Việt Nam nó vẫn còn bị rất nhiều người, kể cả giới cầm bút, xem không phải là thơ. Lý do? Tại... mình-thì-khác. Cả đến những yêu cầu tối thiểu đối với văn chương nghị luận, từ tính chính xác trong tư liệu đến tính nhất quán trong lập luận và tính nghiêm túc trong cách thức diễn đạt, chúng ta cũng bất chấp. Lý do: mình-thì-khác.”

Trong cái gọi là các câu tu từ, tôi hay sử dụng nhất là cấu trúc câu bắt đầu bằng một liên từ. Thường, cho đến nay, liên từ (hay còn gọi là kết từ, quan hệ từ hoặc từ nối) thường được dùng để nối liền các từ hoặc ngữ hoặc mệnh đề trong nội bộ một câu. Chỉ trong một câu mà thôi. Những liên từ quen thuộc gồm có: của (Trời xanh đây là của chúng ta), bởi/vì/do/tại/ (Bởi ông hay quá, ông không đỗ / Không đỗ ông càng tốt bộ ngông), để (Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi), mà (Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát), với (Với áo mơ phai dệt lá vàng), thì (Thì con người ấy ai cầu mà chi), v.v… Rất hiếm khi liên từ được dùng ngoài phạm vi một câu. Có. Nhưng hiếm. Thật hiếm. Riêng tôi, tôi sử dụng thật hào phóng. Những câu như “Mà thật., “Thì cũng đúng.”, “Chứ không phải sao?”, v.v… xuất hiện khá nhiều. Thường thì chúng đứng để đầu một đoạn văn. Để cho hơi văn từ đoạn trên có thể chảy tràn xuống đoạn dưới.
Ví dụ hai đoạn trong bài “Báo Tết và văn hoá Tết” in trong cuốn Văn hoá văn chương Việt Nam (Văn Mới xuất bản, 2002) của tôi:

“Nhưng đặc điểm nổi bật nhất ở các tờ báo Tết chính là nền văn hoá nhìn lại. Báo Tết, thực sự là báo Tết, trong cảm quan của cả người viết lẫn người đọc, bao giờ cũng là một sự nhìn lại, hoặc chủ yếu là một sự nhìn lại. Nhìn lại một năm. Nhìn lại một giáp. Nhìn lại một thế kỷ. Nhìn lại những thành công và những thất bại của một đất nước hoặc một lãnh vực nào đó. Nhìn lại những nếp cũ, những tục cũ. Nhìn lại những vang bóng một thời. Nhìn lại. Số báo Tết nào cũng thường nặng trĩu quá khứ và cũng man mác tâm sự u hoài.
Thì cũng hay thôi. Mỗi số Tết là một dịp ôn bài. Ôn tập thể. Và thú vị. Như nhắp một hớp trà hay nhâm nhi một miếng mứt. Có lẽ phần lớn những kiến thức của chúng ta về phong tục tập quán của dân tộc cũng như những dấu mốc quan trọng trong lịch sử đất nước nếu không đến từ, thì cũng được củng cố bởi, các dịp ôn bài như thế.”

Hoặc một đoạn trong bài “Tiến tới một nền cộng hoà văn chương”:
“Có thể nói số phận văn học Việt Nam gắn chặt với một chữ: chữ "làng". Làng văn và làng thơ. Chữ "làng" ấy, nghe thì rất thân thương, nhưng chính vì vẻ thân thương như thế, người ta dễ quên nó là một khái niệm cũ. Không những cũ, nó còn lỗi thời. Không những lỗi thời, nó còn có hại: nó khiến chúng ta lẫn lộn giữa kỷ niệm và hiện thực, từ đó, buộc chặt tâm hồn của chúng ta vào những hình ảnh đã hoá thạch trong quá khứ, làm chúng ta mất hẳn khả năng thích nghi và thay đổi. Hậu quả là, bước sang thế kỷ 21, sinh hoạt văn học Việt Nam, từ trong lẫn ngoài nước, vẫn thấp thoáng hình ảnh của những sinh hoạt làng xã ngày xưa.

Thì cũng thói quen dị ứng với mọi cái mới. Thì cũng tâm lý chiếu trên chiếu dưới. Thì cũng những cung cách hào lý, ở những người ít nhiều thành công và thành danh; cung cách trương tuần, ở những kẻ bất tài và nhiều tham vọng; cung cách thằng mõ, ở tuyệt đại đa số những kẻ chỉ có một đam mê duy nhất: lặp lại không mệt mỏi những điều ai cũng biết. Thì cũng một thứ văn hoá: văn hoá làng.”

Cấu trúc câu bắt đầu với chữ “thì” như thế được lặp lại lần nữa trong bài “Vài ý nghĩ về phê bình văn học”:

“dù đứng bên này hay bên kia ‘chiến tuyến’, dù ở trong nước hay ở ngoài nước, dù theo cộng hay chống cộng, giới cầm bút Việt Nam cũng thường có một số thói quen giống nhau, một số cách suy nghĩ và cảm xúc giống nhau, đều có một số ưu điểm khá giống nhau và đều gặp phải một số những trở ngại và những hạn chế giống nhau. Thì cũng khát vọng làm những chứng nhân của lịch sử. Thì cũng niềm tin là văn chương, muốn cao cả, phải phục vụ một cái gì; muốn trường cửu, phải gần gũi với đại chúng và được đại chúng chấp nhận; muốn cảm động, phải xuất phát từ đáy lòng, nghĩa là phải thiết tha và thành thực; muốn đẹp, phải có thật nhiều... chất thơ; và muốn mới lạ, phải thêm chút ngổ ngáo trong ý tưởng, chút khinh bạc trong giọng điệu và chút gân guốc trong ngôn ngữ. Thì cũng lửng lơ giữa truyền thống và hiện đại: thích làm ra vẻ ‘Tây’ để che giấu một tâm hồn thật ‘chân quê’.”

Khi viết những câu có cấu trúc lặp lại như vậy, bao giờ tôi cũng thích để các ý mạnh phía sau; càng về sau càng mạnh; ở câu chấm dứt là một ý mạnh nhất.
Thích thế nên viết thế. Còn hay hay dở lại là chuyện khác.
Tuỳ sự đánh giá của bạn đọc.

Nguyễn Hưng Quốc