Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

Giai thoại NGUYỄN CÔNG TRỨ

Giai thoại 
NGUYỄN CÔNG TRỨ

    Ông Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778 mất năm 1859, đỗ Giải nguyên, làm quan trải ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông có tài thơ văn, đặc biệt sở trường về lối ca trù. Ông là một trong những thi nhân có nhiều giai thoại văn chương. Dưới đây là một trong những giai thoại rất mực phong lưu.

      Thuở thiếu thời, lúc còn là học trò nghèo, ông đã rất thích nghe hát ả đào. Gần miền có một ả đào tên Hiệu Thư nhan sắc xinh đẹp lại nổi tiếng hát hay, nhưng tính nết kiêu kỳ. Không phải vương tôn công tử, chưa ai thưởng thức được giọng hát lời ca của cô ta. Ông muốn gần mà không thể gần được, bèn nghĩ ra một kế là đến xin theo Hiệu Thư làm kép. Đàn đáy ông rất hay, mỗi khi Hiệu Thư đi hát đình đám, ông thường cùng một tiểu đồng quảy gánh mang đàn theo sau. 

Một hôm có đám ở huyện bên mời Hiệu Thư sang hát, ông cố ý để quên dây đàn ở nhà. Đi được vài dặm đến chỗ đồng không quãng vắng,ông giả vờ luống cuống. Hiệu Thư gạn gỏi,ông nói: "Vội vàng bỏ quên dây đàn ở nhà, bây giờ biết làm thế nào? " 

Hiệu Thư phàn nàn rồi sai tiểu đồng chạy trở về lấy. Lúc ấy bốn bề vắng vẻ, chỉ còn hai người, ông liền đến ôm lấy, Hiệu Thư chỉ kêu ứ hự… chứ cũng chẳng cự tuyệt nhiếc mắng gì. Sau lần đó, ông bỏ đi không trở lại
nữa.

Hơn mười năm sau, ông làm Tổng Đốc Hải Dương. Gặp ngày sinh nhật, ông mở tiệc ăn mừng, cho tìm ả đào danh ca các nơi về hát. Tình cờ Hiệu Thư lại ở trong đám ca nhi ấy. 

  Ngồi vào chiếu hát, nàng liếc nhìn thấy ông quan trang nghiêm đang cầm roi chầu ngồi trên sập kia chính là anh kép đàn năm xưa đã trêu ghẹo mình ở chỗ đồng không quãng vắng, liền bắt đầu bài hát nói bằng hai câu mưỡu rằng :

Giang sơn một gánh giữa đồng,
Thuyền quyên ứ hự… anh hùng nhớ chăng?


   Ông nghe hát sực nhớ chuyện cũ, liền ngừng tay trống hỏi:
- À , té ra cố nhân đó ư? 

    Rồi ông đọc luôn một bài thơ rằng:

Liếc trông giá đáng mấy mười mươi,
Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười.
Trăng xế nhưng mà cung chưa khuyết,
Hoa tàn song lại nhụy còn tươi.
Chia đời duyên nọ đà hơn một,
Mà nét xuân kia vẹn cả mười.
Vì chút tình duyên nên đằm thắm,
Khéo làm cho bận khách làng chơi.

  Ông hỏi ra mới biết nàng vẫn còn chờ đợi, không chịu lấy ai, liền cưới làm tiểu thiếp. Ông có nhiều vợ, mà đối với vợ nào cũng tỏ ra nặng tình. Tuy nhiên, Hiệu Thư vẫn là người được ông yêu thương thắm thiết hơn cả. 


   Sau đó ít lâu, ông phụng chỉ đem quân dẹp giặc ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, xông pha nơi lâm sơn chướng khí. Những khi việc quân nhàn hạ, chạnh thương ai phòng không chiếc bóng, vò võ năm canh, ông làm
bài thơ "Tương tư" theo lối "thủ vĩ ngâm" như sau rồi cho người mang về :

Tương tư khôn biết cái làm sao?
Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào!
Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện
Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao
Trăng soi trước mặt, ngờ chân bước
Gió thổi bên tai, tưởng miệng chào
Một nước một non, người một ngả
Tương tư khôn biết cái làm sao?

Hiệu Thư cũng là người đa sầu đa cảm, đọc bài thơ lời lẽ thấm thía như vậy thì không đành lòng ở nhà được. Một hôm ông cùng các tướng đang chỉ huy tập trận ngoài bãi, chợt thấy Hiệu Thư tìm đến. Nghĩ thương nàng đi đường xa xôi vất vả, ông ngâm hai câu thơ :

Đành nhẽ bút nghiên mà kiếm mã,
Thương ôi kim chỉ cũng phong trần.


CẦU AN TỊNH

8.
CẦU AN TỊNH

Bình tâm tĩnh trí chẳng lưu đày
Hãy để thơ lòng mải miết bay
Kệ quách thói đời diêm dúa nhảy
Mặc cho dục vọng quẩn quanh bày
Đời như chớp bể trời nhay nháy
Kiếp tựa mưa nguồn đất hảy hay
Thi phú địch đàn tâm diệu khảy
Cầu mong cuộc sống nhẹ qua ngày

Cầu mong cuộc sống nhẹ qua ngày
Nhặt nhạnh cho mình những ý hay
Nỗi sợ nhanh vù theo nước chảy
Niềm vui thẳng lướt tựa vuông cày
Thì đem oán giận mà thiêu cháy
Lại viết tâm tình để bổng bay
Sách vở thánh hiền luôn giảng dạy
Bình tâm tĩnh trí chẳng lưu đày

HANSY

GIỮ LÒNG

Gạn chắt niềm ưu xóa nỗi đày
Xây nồng điệp khúc trải hồn bay
Lời yêu cứ thả tung hoành nhảy
Điệu nhớ hoài đơm rộn rã bày
Gửi ấy duyên lòng môi nhấp nháy
Trao người ái mộng mắt hày hay
Rồi câu tuyệt diễm buông đàn gảy
Vũ khúc nồng say lịm giữa ngày

Vũ khúc nồng say lịm giữa ngày
Đôi lời muốn gửi đến người hay
Thề xưa đã hẹn hoài luôn chảy
Nguyện cũ đà mơ cứ mãi bày
Hết giận tim trào tươi mộng cháy
Còn thương dạ mở thắm nồng bay
Cùng đêm ghép đoạn tình đang dở
Gạn chắt niềm ưu xóa nỗi đày.

Hà Thu

CUỐI DỐC TÌNH

CUỐI DỐC TÌNH

Cuối nẻo tình ai nào biết được
Có phẳng bằng đảo ngược gì không
Trở chao chính ở tim lòng
Mà gây oan nghiệt khiến chòng chành yêu.

Ngày gặp gỡ nắng chiều thoáng rợp
Trái tim mong dậy lớp nguyền thương
Mải mê vũ khúc nghê thường
Mầm yêu vẫy gọi khiến vương vấn đời.

Rồi xướng họa lả lơi tình ái
Ngọt ngào thay mọng trái nồng hoan
Đêm dài ngây ngất phụng loan
Mà nghe cuộc sống dậy khoan khoái hồn.

Nào ai biết hoàng hôn chợt xuống
Cuối dốc tình khúc muộn màng chau
Thôi rồi lỡ ước trầu cau
Người về xứ lạ khiến đau đớn lòng…


HANSY

HOAN KHÚC

HOAN KHÚC
[Tập Hoa Quả ẩn-Ngũ độ]

Vũ điệu nghê thường nẻo mốt MAI
Tiền duyên hiệp cẩn biếc TRANG đài
Tơ HỒNG quấn quyện tình loang ngải
ĐẠI nghĩa êm đềm ý thỏa tai
Ngất ngưởng tim lòng ân HUỆ nãi
Tùm lum kỷ niệm bướm ong NHÀI
La đà SỨ mệnh tròn vuông mãi
ĐIỆP ngữ yêu kiều tỏa thắm ai

Rộn rã MƠ màng gởi đến ai
ĐÀO nguyên rạng rỡ đắm hương nhài
LIÊN hoàn đẫm dạ bừng cây trái
CÚC dục thâm tình thỏa lỗ tai
Nhỏ nhặt CAM đành nơi bến bãi
Triền miên BÍ ẩn cõi LAN đài
THƠM nồng quá vãng mùa xưa lại
Vẫn nguyện song HÀNH thỏa mối mai


HANSY

Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017

TỪ HÁN-VIỆT HAY NHẦM LẪN

TỪ HÁN-VIỆT 
HAY NHẦM LẪN

Có một số từ gốc Hán Việt mà nhiều người thường nhầm khi sử dụng, cụ thể là là giả thiết - giả thuyết, thập niên - thập kỷ. Nghe qua thấy chúng có vẻ gần nghĩa nhau, nhưng nên dùng chính xác trong mỗi trường hợp thì vẫn hơn.

Trước hết nói về cặp từ GIẢ THIẾT - GIẢ THUYẾT. “Giả thiết” có nghĩa là điều gì đó, một vấn đề gì đó được nêu ra tạm coi như có, rồi có thể căn cứ vào đó mà suy luận, mà tìm ra sự thực. Khi nêu giả thiết nào đó, người ta thường căn cứ vào một số sự vật, hiện tượng có thực nhưng chưa chắc chắn lắm. Đó chỉ là dạng phỏng đoán. Chẳng hạn giả thiết vụ nổ mìn ở tỉnh Q là do mâu thuẫn cá nhân bởi trước đó có biểu hiện mâu thuẫn cá nhân giữa những người liên quan. Nhưng cũng lại có giả thiết khác cho rằng có thể do quan hệ nam nữ bởi nạn nhân từng bị nhắn tin đe dọa này nọ sau khi từ chối tình yêu… Cơ quan điều tra nêu ra nhiều giả thiết từ một vấn đề, vụ việc để từ đó điều tra, loại trừ, tìm ra sự thực.

“Giả thuyết” khác giả thiết ở chỗ nó là cách giải thích một hiện tượng hoặc một vấn đề nào đó, dù chưa phải là đúng nhưng tạm được chấp nhận. Khi nêu giả thuyết, người ta có cơ sở lý luận, sự tìm hiểu, phân tích, lý giải có hệ thống, thậm chí có căn cứ khoa học, chứ không phải chỉ phỏng đoán này nọ. Ví dụ, giả thuyết về cái chết của ông Tạ Thu Thâu lãnh tụ troskist sau CMT8 dù chưa được thừa nhận là đúng nhưng có nhiều cơ sở để tin như vậy; hoặc giả thuyết vụ nổ ghê gớm ở Tunguska (Siberia, Nga) năm 1908 là do thiên thạch bởi các nhà khoa học phát hiện được những vật thể lạ, khác với vật chất trái đất xung quanh nơi phát nổ.

Nói tóm lại, nhiều nhà báo hay nhầm khi dùng từ "giả thuyết" mà lý ra phải là "giả thiết" mới đúng.

Cũng thường thấy trên báo chí và tivi, người ta hay dùng từ THẬP KỶ, với ý để chỉ khoảng thời gian 10 năm. Có người còn diễn giải, thập là 10, kỷ là thế kỷ, thập kỷ tức là 10 năm của thế kỷ. Mà chẳng riêng nhà báo (phóng viên, biên tập viên), ngay cả một số cán bộ to, trí thức lớn cũng vẫn dùng “thập kỷ” theo nghĩa ấy. Tuy nhiên dùng thế là sai. Vì sao?

“Kỷ” là từ Hán Việt, có nhiều nghĩa: Để chỉ thời gian địa chất từ ngàn năm trở lên, ví dụ kỷ phấn trắng, kỷ Jura, kỷ băng hà...; Là khoảng thời gian gồm 12 năm theo quy định tính của người xưa, cứ 12 năm gọi là một kỷ; Kết hợp với một từ nào đó, chỉ thời gian nhất định, ví dụ: thế + kỷ = thế kỷ (100 năm), kỷ nhà Lê, kỷ nhà Nguyễn... Từ điển Hán Việt của học giả Đào Duy Anh cũng giải nghĩa rất rõ: kỷ là 12 năm.

Như vậy, muốn chỉ 10 năm thì phải viết thập niên (niên là năm) chứ không phải thập kỷ, bởi thập kỷ tính ra những 120 năm. Sau đây là một ví dụ về cách viết chính xác của người xưa (tôi trích nguyên đoạn không sai một chữ nào):

"Hoàng tử thứ sáu là Nhật Duật. Trước có đạo sĩ ở cung Thái Thanh tên là Thậm làm lễ cầu tự cho vua. Khi đọc sớ xong, Thậm tâu với vua rằng: Thượng đế đã y lời sớ tâu, sẽ sai Chiêu Văn đồng tử giáng sinh, ở trần thế này 4 kỷ. Rồi thì hậu cung có mang, quả nhiên sinh con trai, trên cánh tay có chữ "Chiêu Văn đồng tử", nét chữ rõ ràng, vì thế đặt hiệu là Chiêu Văn (tức Trần Nhật Duật). Đến khi lớn lên chữ mới mất đi. Năm Chiêu Văn vương Nhật Duật 48 tuổi, ốm nặng hơn 1 tháng, các con Duật làm chay, xin giảm bớt tuổi của chúng để cha được sống lâu. Đạo sĩ đọc sớ xong, đứng dậy nói: Thượng đế xem sớ, cười và bảo rằng: "Sao lại quyến luyến trần tục ở lại lâu thế. Song các con thực là có hiếu, vậy cho Duật được sống thêm hơn 2 kỷ nữa". Rồi khỏi bệnh. Đến khi Duật mất, tuổi 77, được đủ 6 kỷ lẻ 5 năm" (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 5, kỷ nhà Trần).

Sau này người ta còn sáng tạo ra từ mới, như THIÊN NIÊN KỶ, ví dụ mục tiêu thiên niên kỷ, nhưng viết như vậy cũng không chính xác, đúng ra chỉ cần viết thiên kỷ hoặc thiên niên là được, để áng chừng 1 nghìn năm.


Nguyễn Thông

MÔI HOANG

230.
MÔI HOANG

Nghiêng ly
Kưng nhé trộn mơ đầy
Chấp chới giữa hồn lả lướt bay
Ngóng trải hương trầm tha thiết gọi
Dõi tìm ái cảm rộn ràng quay
Đuốc hoa lộng rỡ bung ngời rạng
Chăn gối thơm nồng níu đượm say
Duyên tửu chan tình lâng nguyệt quế
Chạm môi ran mộng lả bao ngày

Chạm môi ran mộng lả bao ngày
Sóng sánh mơ lòng diệu ngát say
Hòa quyện liêu trai mùa thắm trỗi
Tan nhòa nhân ảnh cuộc nồng quay
Chương thơ ân ái hòa thơm lượn
Phiên khúc phiêu bồng dệt thẫm bay
Ngả ngớn cho đời hoan lạc mãi
Nghiêng ly
Kưng nhé trộn mơ đầy

HANSY

 KIẾP GIANG HỒ

Thời gian đi miết mộng vơi đầy 
Ngất ngưởng thân đời giữa tỉnh say 
Ngó lại đường xưa mù mịt nẩy
Nom về nẻo tới lửng lờ quay 
Trường giang oải bến bờ chi vậy
Phên giậu đâu nào trí não cay 
Một nhúm lửa hùng ôi phải đậy
Tìm vui thơ thẩn để qua ngày 

Tìm vui thơ thẩn để qua ngày 
Đàn địch xua làn nước mắt cay 
Dốc tửu bên triền hoang hoải dậy
Ca tràn giữa thế ảo mờ quay 
Trầm hương lộng nỏ cần xưa ngoái
Chả thiết mai chờ nguyệt sắc say
Tóc bạc giang hồ thân trắng mãi
Thời gian đi miết mộng vơi đầy 

HANSY 



MƠ MÀNG

MƠ MÀNG

Một thuở lạc đường xa mất người thương 
Ngồi ôn lại tiếc hoài khung trời tím 
Em xa khuất biết đâu mà tìm kiếm 
Ta khóc tình dang dở, dậy hồn đau. 

Giấc mơ chúng mình là đẹp trầu cau
Trời hạnh phúc là nơi đôi ta cùng đến 
Vai kề vai, thuyền tình yêu cập bến 
Hát ca vang lừng huyền thoại tình yêu. 

Tâm hồn mình lấm tấm những niềm phiêu 
Bao yêu dấu gửi về nơi thương cảm
Giữa bão giông luôn cùng chung một trạm

Mơ mộng vĩnh hằng một ánh nắng mai.

Thơ trong hoa và ngây ngất trong ai. 
Đêm lặng lẽ vật vờ như chiếc bóng 
Lẽ nào yêu rồi biến thành vô vọng 
Giấu trong tim mãi miết một dáng hình. 

HANSY

VỌNG ÂM DIỀU

VỌNG ÂM DIỀU

Vẳng nghe nẻo gió vọng âm diều
Xáo động tâm hồn giữa tịch liêu
Quê cũ bao ngày đan mộng chiếu
Làng xưa lắm thuở gọi mơ khiều
Tưng bừng lễ hội trong mờ diễu
Ngất ngưởng ân tình giữa lãng phiêu
Cơn nhớ chao ôi nồng ảo diệu
Chứa chan kỷ niệm luyến lưu nhiều

Chứa chan kỷ niệm luyến lưu nhiều
Quá vãng hôm nào rộn rã phiêu
Nọ gốc sim già tim rỡ xiếu
Kìa đêm nguyệt vắng dạ hoan khiều
Mà nay cách trở đành hoang thiếu
Để phải âm thầm rước quạnh liêu
Thao thức mãi hoài ân nghĩa diệu
Vẳng nghe nẻo gió vọng âm diều


HANSY

Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

Giai thoại ĐÀO DUY TỪ

Giai thoại
ĐÀO DUY TỪ

 Đào Duy Từ (1572 – 1634) người làng Hoa Trai huyện Ngọc Sơn, nay là huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá. Thân phụ là Đào Tá Hán. 

Lúc còn là học trò nghèo, gặp lúc Lê Mạc đánh nhau, Tá Hán đầu quân theo giúp vua Lê. Nhân lúc Trịnh Kiểm thống lĩnh quan quân vừa chiếm được Thanh Nghệ làm căn cứ vững chắc cho nhà Lê, Tá Hán cao hứng làm bài ca kể công họ Trịnh, có những câu như sau:

Trang quốc sĩ ai bằng Trịnh Kiểm,
Tỏ thần uy đánh chiếm hai châu.
Thẳng đường dong ruổi vó câu,
Phò Lê diệt Mạc trước sau một lòng…


 Viên Xuất đội đem bài ca ấy tố cáo Tá Hán đem tên huý của quận công đại tướng ra hò hát. Tá Hán lo sợ vô cùng. Quan Trung quân nhận được giấy tố cáo, đòi Tá Hán vào hầu, thấy diện mạo khôi ngô, lại còn ít tuổi, nghĩ thương tình mới cho sửa lại hai câu đầu:

Trang quốc sĩ ai bằng họ Trịnh,
Tỏ thần uy bình định  hai châu.

 Dù vậy, Tá Hán vẫn bị phạt 20 roi và đuổi không cho làm lính. Không có kế sinh nhai, Tá Hán phải đi theo một gánh hát, sau mấy năm trở thành nghệ nhân hát chèo nổi tiếng.

Đào Duy Từ rất thông minh, học giỏi, lại có tài thao lược, nhưng khi nạp đơn đi thi với nhà Lê, bị phát giác là con nhà hát xướng nên bị đuổi khỏi trường thi, đau buồn thành bệnh nặng, nằm mê mệt ở nhà trọ, không về làng được. Ngay lúc ấy, Đoan quận công Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hoá, phụng mệnh vua Lê Thế Tông và chúa Trịnh Tùng về Thanh Hoá bàn việc nước. Nguyễn Hoàng đến thăm quan Thái phó Nguyễn Hữu Liêu, Hữu Liêu đưa cho xem văn bài của Đào Duy Từ và kể việc bị đuổi (Nguyễn Hữu Liêu là chủ khảo kỳ thi đó). Nguyễn Hoàng xem văn biết Duy Từ có tài kinh bang tế thế. Nguyễn Hoàng vốn có chí hùng cứ một phương, liền đến tận nhà trọ giúp đỡ tiền bạc cho Duy Từ uống thuốc và có ý định mời vào nam giúp mình. 

  Một hôm Duy Từ vừa khỏi bệnh, Nguyễn Hoàng đến chơi, nhân thấy trên vách có treo bức tranh ba anh em Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi dầm mưa dải tuyết vào Long Trung tìm Gia Cát Lượng; Nguyễn Hoàng và Duy Từ vịnh một bài thơ liên ngâm để bày tỏ chí mình.

 Nguyễn Hoàng đọc trước:
Vó ngựa sườn non đá chập chùng,
Cầu hiền lặn lội biết bao công.


Duy Từ tiếp:
Đem câu phò Hán ra dò ý,
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng.


Nguyễn Hoàng tiếp hai câu "thực":
Lảnh thổ đoán chia ba xứ sở,
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông.


Duy Từ kết:
Ví chăng không có lời Nguyên Trực, (1)
Thì biết đâu mà đón Ngoạ Long. (2) 

(1) Nguyên Trực: tức Từ Thứ
(2) Ngoạ Long: Gia Cát Lượng


Hai người hiểu ý nhau rất tương đắc. Nhưng Nguyễn Hoàng không dám đưa Duy Từ theo vào ngay, e tiết lộ cơ mưu, nên chỉ ân cần dặn: 

- Lão phu về trước, xin đắp đài bài tướng chờ đợi tiên sinh. Năm nay lão phu hơn 70 tuổi, nếu có thất lộc, cũng để di ngôn lại cho con cháu sau nầy phải rước tiên sinh vào. 

 Duy Từ bái tạ nhận lời mà từ biệt.

 Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hoá và mất năm 1613. Mãi đến khoảng năm 1625, Duy Từ mới tìm cách vào Nam với ý định giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên chống họ Trịnh. Nhưng gặp lúc chúa đi kinh lý nơi xa nên không gặp. Duy Từ hết tiền lưng, phải xin vào chăn trâu cho nhà phú hộ ở làng Tài Lương tỉnh Bình Định để đợi thời. Con trai phú hộ mở Tùng Châu thi xã, lấy Duy Từ làm người hầu hạ các bạn văn chương.

Thỉnh thoảng ông làm gà cho những hội viên trong thi xã những bài thơ rất hay, dần dần đến tai quan Khám lý Trần Đức Hoà. Biết ông là bậc tài cao học rộng, Trần Đức Hoà mời Duy Từ về nhà dạy học và gả con gái cho.

Trong thời kỳ ở Bình Định, Đào Duy Từ có làm bài "Ngoạ Long cương vãn",
tự ví mình với Gia Cát Lượng, nhưng chưa gặp thời:

Ngọa Long cương vãn ( trích )

Cửa xe chầu trực sớm trưa
Thấy thiên Võ cử đời xưa luận rằng
An, nguy, trị, loạn, đạo hằng
Biết thời sự ấy ở chưng sĩ hiền
Hán từ tộ rắn vận thuyền
Ba phân chân vạc, bốn bên tranh hùng
Nhân tài tuy khắp đời dùng
Đua chen trường lợi áng công vội giành
Nào ai lấy đạo giữ mình
Kẻ đua với Nguỵ, người dành về Ngô
Nam Dương có kẻ ẩn nho
Khổng Minh là chữ, trượng phu khác loài
……….
Hưng vong bỉ thái có thì
Chớ đem thành bại mà suy anh hùng
Chốn này thiên hạ đời dùng
Ắt là cũng có Ngoạ Long ra đời
Chúa hay dùng đặng tôi tài
Mừng xem bốn bể dưới trời đều yên.


 Sau đó, do Trần Đức Hoà tiến cử Đào Duy Từ và dâng bài "Ngọa Long cương vãn" lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Chúa xem khen là có chí lớn, sực nhớ lời thân phụ căn dặn nên trọng dụng Duy Từ, phong cho chức Nha uý nội tán, tước Lộc Khê hầu.

 Năm Kỷ tị 1629, sau khi đuổi được nhà Mạc, Trịnh Tráng được vua Lê phong làm Thanh vương. Nhân đó, Trịnh Tráng muốn lấy danh nghĩa nhà Lê bắt chúa Sãi phải hàng phục.Chúa Trịnh sai sứ mang sắc phong Nguyễn Phúc Nguyên chức Thái phó quốc công, dụ chúa Nguyễn cho con ra chầu và nộp 30 thớt voi, 30 chiến thuyền.
  Chúa Sãi tiếp sứ, nhưng không muốn thụ phong, cũng không muốn tuân theo yêu sách của chúa Trịnh. Chúa bèn hỏi Đào Duy Từ cách đối phó. 

  Duy Từ khuyên chúa cứ nhận sắc phong rồi sẽ có cách. Ông sai làm một cái mâm đồng có 2 đáy, để đạo sắc phong của vua Lê vào giữa 2 đáy, kèm theo một mảnh giấy viết một bài thơ. Chúa Nguyễn sai xếp lễ vật vào chiếc mâm và sai sứ là Văn Khuông mang ra Thăng Long tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh.

 Chúa Trịnh chỉ thấy có lễ vật mà không có biểu tạ về việc được vinh phong, lấy làm nghi ngại lắm. Sau có người quan sát thấy cái mâm dày và nặng, mới khám phá ra là mâm có hai đáy. Tờ sắc và mảnh giấy được lấy ra dâng lên chúa. Chúa Trịnh thấy trên mảnh giấy có chép 4 câu thơ như sau:

矛而無腋
覔非見蹐
愛落心腸
力來相敵
Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm tràng
Lực lai tương địch.

  Chúa và quần thần không hiểu nghĩa làm sao, mới triệu quan Thái uý Phùng Khắc Khoan vào hỏi. Khắc Khoan ngẫm nghĩ một lúc rồi bẩm rằng đây là ẩn ngữ cho biết rằng họ Nguyễn ở Nam trấn chẳng chịu nhận sắc phong. Ông tiếp tục giảng giải:

"Câu thứ nhất: Chữ Mâu mà không có nét phẩy ở bên nách là chữ Dư
Câu thứ hai: Chữ Mịch mà bỏ chữ kiến đi thì còn lại chữ Bất
Câu thứ ba: Chữ Ái mà rơi mất chữ Tâm ở trong ruột là chữ Thụ
Câu thứ tư : Chữ Lực đứng ngang với chữ Lai là chữ Sắc

 Cả 4 câu thơ ghép lại là 4 chữ 予 不 受 勑 : Dư bất thụ sắc, có nghĩa là 'Ta không nhận sắc mệnh'. Họ Nguyễn không chịu thần phục triều đình nên làm ra 4 câu thơ đó. Người soạn ra bài thơ phải là bậc hào kiệt của phương nam"

 Chúa Trịnh tức lắm, sai quan quân đuổi theo bắt sứ giả lại, nhưng Văn Khuông đã đi xa rồi. Chúa Trịnh muốn cất quân vào đánh, nhưng ở Cao Bằng và Hải Dương đương có quân nhà Mạc lại rục rịch chực đánh phá nên phải hoãn lại.

  Thực ra, giai thoại trên thiếu chính xác về mặt lịch sử,  vì lẽ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan mất năm 1613 và sự kiện chúa Nguyễn trả sắc xảy ra vào năm 1629.
Đó cũng là tình trạng của một số giai thoại văn chương khác.

 Sau khi đã biết rõ chính Đào Duy Từ là tác giả 4 câu thơ, Trịnh Tráng bực tức lắm, nhưng cũng rất phục tài Đào Duy Từ, nên đã sai kẻ tâm phúc đem nhiều vàng bạc và một bức mật thư vào thuyết Duy Từ, để hòng thu phục ông về làm quân sư cho mình. Xem xong thư, Duy Từ mỉm cười, trả lại số vàng bạc và lấy giấy bút viết một bài ca, dặn đưa về cho chúa Trịnh. Bài ca như sau:

Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu!
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?


  Trịnh Tráng nhận được bài thơ, biết Từ không đổi ý chí, nhưng vẫn kiên trì phái người vào dụ dỗ Từ một lần nữa. Từ thấy vậy, lại nhờ người gửi ra cho Trịnh Tráng hai câu thơ nữa:

Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa kẻo chồng em ghen!


 Dụ dỗ, mua chuộc mãi mà không được, Trịnh Tráng tức lắm; từ chỗ mến phục chuyển sang căm ghét Duy Từ. Chúa tôi  họ Trịnh đặt ra những bài hát như sau để đả kích ông:

Có ai về tới Đàng Trong,
Nhắn nhe "bố đỏ" liệu trông đường về. (1)
Mải tham lợi, bỏ quê quán tổ,
Đất nước người dù có cũng không …

(1) Nói "bố đỏ" cũng có ý ám chỉ rằng Duy Từ họ Đào

hoặc:
Rồng khoe vượt gió tung mây, (2)
Biết đâu rồng đất có ngày xác tan …

(2) Duy Từ là tác giả bài văn "Ngoạ Long cương vãn", tự ví mình với con rồng nằm, có ngày sẽ vượt gió tung mây.

  Duy Từ hay biết các câu hát ấy chỉ cười khảy và càng quyết tâm nghiên cứu kế hoạch phá Trịnh.


  Đào Duy Từ có công mặt ngoài thì chống đánh Trịnh, mặt trong mở đất Chiêm Thành làm cho dân giàu nước mạnh. Về mặt nghệ thuật, ông sửa lại các lối hát và các điệu múa cổ, đặt ra các điệu múa Song quang, Nữ tướng quân, Tam quốc, Tây du,… dùng khi quốc gia đại lễ

CAY LÒNG

7.
CAY LÒNG
(Thuận Nghịch độc)

Cay lòng đắng dạ khiến chùng hương
Dỗi hận loang hồn bợt nhớ thương
Này khổ lụy nghiêng lời héo rũ
Ấy mê trầm lụn cõi bi thường
Ngày lơ tháng nản buồn hư mịt
Vạn nuối lòng ngơ vọng huyễn tường
Vay trả kiếp đời thân nhuốm lệ
Thay tình tủi ái phận sầu vương

Vương sầu phận ái tủi tình thay
Lệ nhuốm thân đời kiếp trả vay
Tường huyễn vọng ngơ lòng nuối vạn
Mịt hư buồn nản tháng lơ ngày
Thường bi cõi lụn mê trầm ấy
Rũ héo lời nghiêng lụy khổ này
Thương nhớ bợt hồn loang hận dỗi
Hương chùng khiến dạ đắng lòng cay

HANSY


NGÀO NGỌT 

Cay đắng dịu nồng ngát tỏa hương
Ngọt ngào môi thắm gọi mời thương
Này ân dệt nhé say thuyền mộng
Đó ái cùng xây lịm giấc thường
Ngày đợi nhớ ơi người thấu hiểu
Tháng chờ trông hỡi ấy hay tường
Vay tình góp lại chung nguyền ước
Thay hẹn gửi thề trọn kiếp vương .

Vương kiếp trọn thề gửi hẹn thay
Ước nguyền chung lại góp tình vay
Tường hay âý hỡi trông chờ tháng
Hiểu thấu người ơi nhớ đợi ngày
Thường giấc lịm xây cùng ái đó
Mộng thuyền say nhé dệt ân này
Thương mời gọi thắm môi ngào ngọt
Hương tỏa ngát nồng dịu đắng cay.

Hà Thu

BUỒN TÌNH

 BUỒN TÌNH

Mộng lòng ủ đượm cánh thu 
Mùa loang tuổi nhớ lặng dỗi bù đắp quanh 
Thương ai chúm chím duyên lành 
Niềm yêu vỡ rụi, khó thanh thản lòng.


Bình minh rồi dậy thức hồng 
Mùa trăng đã lặn khiến mông quạnh hoài
Vẫn là nhớ thuở sắn khoai
Mà sao ta chẳng được thoai thoải nè.

Nhớ lần hẹn dưới hàng tre

Thề non hẹn biển gió khe khẽ luồn
Bây giờ ước thệ đà buông
Sâu cho phận kiếp đã ruồng rẫy nhau.

Thôi rồi ước mộng trầu cau

Tình xa mất hút dạ đau đớn cuồng...

HANSY

PHIÊU TÀN

PHIÊU TÀN
[Thuận Nghịch độc]

Thơ nhòa nhạt mãi khóc tình ê
Thẫm úa choàng quây vỡ nát thề
Khờ dạ ám tim đày đọa khởi
Tủi lòng đau trí dặc dằng khê
Ơ thờ mộng ấy hôm rời rã 
Mệt mỏi lời nao buổi rạn kề
Lờ lặng ước duyên sùi sụt nuối
Tơ tằm dứt nuộc xót nguyền tê

Tê nguyền xót nuộc dứt tằm tơ
Nuối sụt sùi duyên ước lặng lờ
Kề rạn buổi nao lời mỏi mệt
Rã rời hôm ấy mộng thờ ơ
Khê dằng dặc trí đau lòng tủi
Khởi đọa đày tim ám dạ khờ
Thề nát vỡ quây choàng úa thẫm
Ê tình khóc mãi nhạt nhòa thơ


HANSY

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

BỊ 5 KIỂU NGƯỜI DƯỚI ĐÂY VAY TIỀN HÃY ỨNG XỬ KHÔN NGOAN

BỊ 5 KIỂU NGƯỜI DƯỚI ĐÂY VAY TIỀN
HÃY ỨNG XỬ KHÔN NGOAN

Trong cuộc sống, "vay tiền" là một từ ngữ tương đối nhạy cảm. Phạm trù tiền bạc luôn nằm trong số những nguyên nhân gây sứt mẻ các mối quan hệ xã hội.

Nếu có người hỏi vay tiền bạn, bạn có sẵn sàng tương trợ, giúp đỡ? Nếu đó là người chẳng mấy khi liên lạc, nhưng lại bất chợt tìm đến bạn khi gặp khó khăn, liệu bạn có thẳng tay đem tài sản của mình ra giúp họ hay không?
Dưới đây là những cách ứng phó giúp bạn tham khảo mỗi khi gặp những đối tượng này hỏi vay tiền.
1.
"Bạn không thân" vay tiền: Tốt nhất nên từ chối!

"Bạn không thân" là người suốt một thời gian dài không liên lạc với bạn, nhưng đột nhiên một ngày lại xuất hiện và hỏi vay tiền bạn.
Với đối tượng trên, bạn tốt nhất nên tìm cách khéo léo từ chối, không cần cưỡng ép bản thân giúp đỡ họ.

Bởi kiểu bạn bè này tìm đến mọi người với một tâm lý "cầu may", chỉ cần nhận thấy ai có điều kiện, tính cách rộng rãi, họ sẽ tìm cách vay  giật, mượn bợ nhiều thứ.

"Bạn không thân" còn là đối tượng mà chúng ta không hề hiểu rõ. Họ hoàn toàn có thể ôm của cải, tiền bạc của bạn lặn mất tăm.

Cuộc sống đôi khi rất tàn nhẫn. Chỉ một giây mủi lòng trước người không đáng tin, tình thương của bạn sẽ có lúc đẩy bạn vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan", thậm chí cho bạn một bài học nhớ đời về sự cả tin lầm  chỗ của mình.

2.
Bạn học vay tiền: Giấy trắng mực đen phải rõ ràng!

Bạn cùng lớp hỏi vay tiền, bạn luôn cảm thấy bản thân "không giúp không được". Nhưng việc "chọn mặt gửi vàng" trong trường hợp này buộc phải cân nhắc tới hai yếu tố.

Thứ nhất: Người hỏi vay có nhân phẩm thế nào?
Nếu nhân phẩm người đó tốt, bạn có thể cân nhắc tới việc giúp đỡ họ. Nếu đó là một người không đáng tin, thì đừng dại dột "gửi trứng cho ác".

Thứ hai: Giá trị mối quan hệ của hai người ở mức nào?
Nếu bạn và người bạn học này rất thân thiết, chuyện tiền nong hoàn toàn không thành vấn đề. Nếu sự quen thân của hai người ở mức tương đối, bạn có thể cho họ mượn số tiền vừa phải, nhưng cần yêu cầu ghi rõ giấy trắng, mực đen.

Bạn đừng nên cảm thấy đó là việc phiền phức. Bởi ngay cả khi giúp đỡ họ, bạn cũng cần tìm cách bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

3.
Đồng nghiệp vay tiền: Tìm người làm chứng!

Đồng nghiệp là những người công tác cùng nhau, sớm tối gặp nhau nơi công sở. Khi họ gặp phiền toái, bạn cũng khó có thể không tương trợ.

Nhưng để tránh tổn thương mối quan hệ của hai người, bạn nên đề nghị người vay viết giấy rõ ràng, ghi cụ thể ngày trả tiền.

Đồng thời, bạn cũng nên tìm một đồng nghiệp hoặc cấp trên thân thiết với cả hai người để làm chứng. Nếu tới hạn trả mà người kia chậm trễ, bạn có thể nhờ người làm chứng khéo léo nhắc nhở họ.

4.
Bạn chí cốt vây tiền: Đừng suy nghĩ nhiều!

Khi bạn thân hỏi vay ta tiền, đừng nên suy tính thiệt hơn mà hãy sẵn sang giúp đỡ họ. Bởi một người bạn tốt không bao giờ muốn để bằng hữu phiền lòng, họ chỉ tìm đến chúng ta khi thực sự lâm vào tình cảnh khó khăn.

Lúc này, bạn cần ý thức rõ ràng rằng, đời người rất dài, nhưng tìm được tri kỷ vốn chẳng phải chuyện dễ, cho nên chớ trọng của cải hơn bạn bè.

Khi bạn thân cần giúp đỡ dù về phương diện nào, hãy tương trợ họ hết sức có thể. Sau này, khi bạn lâm vào tình cảnh khó khăn, họ cũng sẽ giúp đỡ bạn bằng tất cả khả năng của mình.

5.
Người thân vay tiền: Nếu có thì hãy giúp!

Đối với trường hợp người thân hỏi mượn tiền, hầu hết chúng ta đều đã có kinh nghiệm trải qua.

Nhiều người cho rằng, khi họ hàng, ruột thịt cần giúp đỡ, ta nên lập tức tương trợ, chớ cân nhắc suy nghĩ nhiều. Tuy nhiên, bạn cũng nên cân nhắc đến tình hình kinh tế thực tại của mình để đưa ra sự tương trợ thích hợp, tránh rơi vào tình trạng cả nhà cùng túng quẫn.

Trên thực tế, ai cũng có đôi lần gặp phải tình huống cần kíp về mặt tiền bạc. Người nhà của chúng ta cũng không phải ngoại lệ. Giúp đỡ khi người thân gặp khó khăn, thứ ta nhận lại sẽ là lòng cảm kích.

Nhưng trong trường hợp họ hàng, ruột thịt vay hộ "người thứ ba", bạn cần nên cân nhắc. Đối với trường hợp này, bạn nên khuyên người thân để mình làm việc trực tiếp với đối tượng hỏi vay chứ không nên giao dịch qua trung gian.

Việc làm "mất lòng trước, được lòng sau" sẽ giúp bạn bảo toàn của cải của mình, đồng thời tránh để người thân vướng vào những rắc rối liên quan tới tiền bạc.

……...
Lưu ý:
Những cách ứng xử trên chủ yếu được đúc kết dựa trên kinh nghiệm và quan điểm của tác giả. Người đọc nên tham khảo và cân nhắc tới thực tế cuộc sống để ứng dụng một cách linh hoạt.




CHUYỆN RẮC RỒI TỪ “NGÀI” TRONG TIẾNG VIỆT

CHUYỆN RẮC RỒI TỪ “NGÀI”
TRONG TIẾNG VIỆT

Cùng một chữ mày ngài nhưng ở 2 trường hợp khác nhau, Nguyễn Du dùng 2 nguồn từ Hán khác nhau: mày ngài của Từ Hải là ngoạ tàm mi còn của kĩ nữ là nga mi.

“… Rỡ mình lạ vẻ cân đai,
Hãy còn hàm én mày ngài như xưa”

Hai câu thơ tả vẻ đẹp, vẻ oai nghi  của Từ Hải ngày gặp lại Kiều.

Đọc câu thơ, người đọc không khỏi băn khoăn bởi “hàm én” thì rõ rồi, đúng là để tả tướng mạo khách anh hùng, riêng chữ “mày ngài” thì lạ quá! Ba lần chữ “mày ngài” xuất hiện trong Truyện Kiều thì hai lần để tả Từ Hải và một lần…để chỉ gái buôn hương.

Một từ sao lại dùng tả tướng mạo hai đối tượng khác biệt nhau rất xa? Một là vẻ  oai nghi của võ tướng; hai lại dùng chỉ kĩ nữ.

Chỗ khúc mắc xin lí giải như sau:

Điều có thể khẳng định là chữ “mày ngài” Nguyễn Du dùng tuy có nguồn gốc từ chữ Hán nhưng không phải từ một chữ mà 2 chữ khác nhau.

"Mày ngài" Dùng tả dung mạo Từ Hải.

“…Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”
“… Rỡ mình lạ vẻ cân đai,
Hãy còn hàm én mày ngài như xưa”

 “mày ngài” trong 2 đoạn thơ trên xuất phát từ ngoạ tàm mi.

    “Ngoạ tàm mi” là lông mày hình con tằm ngủ?

Nếu chỉ xem nghĩa của từ hợp thành thì ngoạ tàm là con sâu tằm nằm (tàm: con sâu tằm); ngoạ tàm mi nghĩa là lông mày giống hình như con sâu tằm ngủ(1). Gần trăm năm nay, nhiều nhà nghiên cứu Truyện Kiều như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Phạm Kim Chi, Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Huệ Chi… cũng đã từng giải thích chữ “mày ngài” theo lối định danh này; riêng An Chi trên chuyên mục Chuyện Đông chuyện Tây, tạp chí Kiến thức Ngày nay số 117 và 565 thì ngược lại, đã phủ nhận các lí giải trên như sau:

“ Ngoạ tàm mi tuyệt đối không có nghĩa là “lông mày con tằm nằm”. Sở dĩ các nhà chú giải của ta cứ ngỡ và giảng như thế là vì họ chưa tìm hiểu cái cấu trúc đang xét cho đến tận ngọn nguồn. Lời dẫn của Phạm Kim Chi (“Diện như mãn nguyệt mi nhược ngoạ tàm”), ghi là lấy ở Tướng thư, thì chẳng qua chỉ là chép lại lời dịch câu “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” sang tiếng Hán trong bản Kiều Oánh Mậu 1902 chứ chẳng phải của sách “tướng thư tướng tịch” nào cả. Đến như hai tiếng tàm my (mày tằm), mà Nguyễn Thạch Giang đưa ra trong Truyện Kiều (chú thích và khảo đính) năm 1973, chẳng qua chỉ là một sự dịch ngược tuỳ tiện. Dĩ nhiên là ai kia có thể gặp may mà thấy được hai chữ tàm mi ở một chỗ nào đó, nhưng đây chỉ là một từ tổ tự do nên chỉ thuộc về lời nói chứ đâu có phải là một đơn vị cố định của ngôn ngữ.”

An Chi viết như trên quả là vì Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (1925) có giải thích “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” là xuất phát từ câu văn trong sách Tướng thư: “Diện như mãn nguyệt mi nhược ngọa tàm  滿 : mặt như mặt trăng tròn mà lông mi như con tằm nằm ngang. Đây nói cái tướng phúc hậu của cô Vân”.

Giải thích trên của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim cũng như của nhiều nhà nghiên cứu Truyện Kiều về sau như Đào Duy Anh, Phạm Kim Chi, Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Huệ Chi…đã căn cứ vào câu văn trong sách xem tướng của Trung Hoa mà khẳng định nét ngài, mày ngài là xuất phát từ chữ ngoạ tàm mi và đây là kiểu lông mi hình con tằm nằm.

Khi phủ định giải thích này, học giả An Chi đã có phần cực đoan khi cho rằng …“Diện như mãn nguyệt mi nhược ngoạ tàm”, ghi là lấy ở Tướng thư, thì chẳng qua chỉ là chép lại lời dịch câu “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” sang tiếng Hán trong bản Kiều Oánh Mậu 1902 chứ chẳng phải của sách “tướng thư tướng tịch” nào cả. 

Thật sự, ở Trung Quốc có nhiều sách tướng bàn đến các kiểu lông mày, trong đó có kiểu “ngoạ tàm mi”(2); có  sách còn vẽ hình lông mày đen đậm khởi đầu nhỏ rồi đến phần nhô cao, tiếp đến phần giữa hơi oằn xuống, phần đuôi sau lại hơi gồ lên rồi nhỏ dần, trông giống hình con sâu tằm đang nằm.

Tìm ở kho sách giấy cũng nhiều nhưng nay tiện nhất là tìm ở các trang điện tử của Trung Quốc bàn về tướng pháp như 成老師-面相學堂 Thành Lão sư -Diện tướng học đường (http://www.tiger168.com); 面相學之吉凶概要 Diện tướng học chi cát hung khái yếu (http://www.ccy22723095.com);  济南文眉 - 眉型的分 Tế Nam văn mi - mi hình đích phân loại (http://www.cnhszx.com)... Hoặc ví dụ vào trang điện tử 元亨利貞網 - Nguyên Hanh Lợi Trinh võng (http://www.china95.net), tìm đến mục 看相-眉与性格命运 Khán tướng - Mi dữ tính cách mệnh vận, sẽ thấy ngay một trang ảnh, kê các loại tướng lông mày, trong đó có “ngoạ tàm mi”. Vào mục ngoạ tàm mi sẽ thấy hình vẽ của kiểu lông mày này:


“Khán tướng-Mi dữ tính cách mệnh vận”đã kê cả thảy 14 kiểu lông mày:
Nhất tự mi; Tảo trửu mi; Điếu tang mi; Tân nguyệt mi; Bắc đẩu mi; Sư tử mi; Tiêm đao mi; Khinh thanh mi; Ngoạ tàm mi; Thụ tâm mi; Liễu diệp mi; Long mi; Quỷ mi; La Hán mi.
Sách tướng nước ta cũng hay bàn về mấy kiểu lông mày quen thuộc như: Mày chữ nhất (nhất tự mi); mày chổi xể (tảo trửu mi); mày lá liễu (liễu diệp mi); mày tằm (ngoạ tàm mi)…
* Hình trên, chữ ngoạ tàm mi có vòng son đỏ và mũi tên chỉ đến kiểu mày này.

Quan Vũ (Tam Quốc chí)http://www.thefullwiki.org/臥蚕眉
Quan Vũ được tả với kiểu lông mày ngoạ tàm mi. Để hình tượng thật rõ hình dạng lông mày giống con sâu tằm: người Trung Quốc đã vẽ lên một con sâu màu xanh nhạt trên lông mày bên phải.

“ngoạ tàm mi” cũng là kiểu lông mày đẹp

Cũng trong bài viết đã nêu, An Chi cũng viện dẫn giải thích của Từ nguyên tự điển và Vương Vân Ngũ đại từ điển: “Ngoạ tàm mi: Lông mày cong mà đẹp” để quyết đoán “ngoạ tàm mi” chỉ mang ý khẳng định vẻ đẹp của đôi lông mày.

Điều này nêu chứng cớ sách vở, song có thể đây là trường hợp của nghĩa phái sinh.
Trong kho từ vựng, một từ mới xuất hiện, ban đầu nó chỉ mang nghĩa gốc. Lúc này từ có thể chỉ được hiểu theo lối định danh nhưng dần dà theo thời gian, do nhu cầu biểu ý của cộng đồng, đã phát sinh nhiều nghĩa mới. Chính điều này đã sinh ra những nhập nhằng trong cách hiểu, dễ sinh ra nhiều ngộ nhận trong giao tiếp.

Có câu chuyện đứa cháu nhỏ chuyện trò với ông nội 80 tuổi:
-   Ông ơi! Ông nhắm mắt lại đi!
-   Gì vậy cháu?
-   Mẹ bảo ông mà nhắm mắt thì bố sẽ giàu to! (3)

Quả thực từ “nhắm mắt” trong câu nói của mẹ đứa bé đã không được dùng với nghĩa gốc mà dùng với nghĩa phái sinh. Cái nhập nhằng về nghĩa của từ đã khiến trẻ con bị nhầm.

Thực tế trên thế giới đã có nhiều trường hợp nghĩa phái sinh phức tạp, oái oăm hơn nhiều và cũng kèm theo nhiều câu chuyện kể cười ra nước mắt. Nghĩa phái sinh trong từ ngữ của nhiều dân tộc đôi khi chuyển biến rất xa, qua hàng ngàn năm rồi lấn át, có khi khiến người ta quên hẳn không còn biết gì đến nghĩa gốc ban đầu, việc tầm nguyên của nhà biên soạn từ điển có khi chưa chắc đã tìm đến.

Đến đây ta có thể nêu nghi vấn: từ ngoạ tàm mi mang nghĩa lông mày đẹp có thể là một trường hợp phái sinh? Hẳn từ đã xuất hiện trong nghề chăn tằm từ ngàn xưa, con tằm ngủ để chuẩn bị lột xác qua giai đoạn mới trông rất đẹp, rất sung mãn, bóng bẩy. Cái đẹp của tằm ngủ trong cái nhìn của người chăn tằm đã khiến họ liên tưởng đến đôi lông mày đen mượt, đường nét phân minh… và từ đó phát sinh ý niệm kiểu lông mày ngoạ tàm mi. Ngoạ tàm mi trong tướng pháp là quý tướng của nam giới. Kiểu lông mày này đẹp, hắc bạch phân minh chứ không có vẻ hung dữ đáng sợ như kiểu lông mày sâu róm mà GS. Nguyễn Huệ Chi có nhắc đến trong bài “Nét ngài” và “mày ngài”(4). Nguyễn Du dùng chữ “mày ngài” tả khuôn mặt của Từ Hải là đã vận dụng nghĩa này; hơn nữa viết Truyện Kiều hẳn Nguyễn Du chỉ nhờ vào vốn sách vở…kinh, sử, truyện… của nhà Nho. Điều kiện sách vở thời này chắc chắn không thuận tiện như hôm nay, lúc viết câu, dùng từ cho thơ hẳn nhà thơ cũng chẳng thể mở các từ điển tầm nguyên mà cân đong, viết thật sát nghĩa từ điển cho từng trường hợp.

Kết lại vấn đề: ta có thể tin được rằng trong tướng thư của Trung Quốc có kiểu ngoạ tàm mi  có hình dạng của con tằm ngủ. Nguyễn Du viết Truyện Kiều đã dùng kiểu dạng này để tả đôi lông mày đẹp và oai nghi của Từ Hải.

"mày ngài" dùng chỉ gái buôn hương

Nguyễn Du dùng phép hoán dụ của biện pháp tu từ: “Bên thì mấy ả mày ngài, / Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi”.

Để chỉ gái buôn hương, mày ngài dùng ở đây không cùng gốc với  trường hợp nêu ở phần trên (A/) mà lại xuất phát từ chữ 蛾眉(5) nga mi.

Hỗ động Bách khoa动百科 của Trung Quốc đã thích nghĩa chữ nga mi với 6 nghĩa, trong đó nghĩa thứ nhất ghi như sau: 蛾眉: 蚕蛾触须细长而弯曲,因以比喻女子美丽的眉毛… Nga mi : Tàm nga xúc tu tế trường nhi loan khúc, nhân dĩ tỉ dụ nữ tử mỹ lệ đích mi mao…( Nga mi:  Râu con bướm tằm dài mà cong, nhân lấy đó mà ví với lông mày đẹp của phụ nữ).

Vậy là cùng một chữ mày ngài nhưng ở 2 trường hợp khác nhau, Nguyễn Du dùng 2 nguồn từ Hán khác nhau: mày ngài của Từ Hải là ngoạ tàm mi (lông mày sâu tằm) còn của kĩ nữ là nga mi (lông mày râu bướm tằm).

Xin trích thêm ở đây một đoạn trong bài viết “Nét ngài-mày ngài” của GS. Nguyễn Huệ Chi để làm rõ thêm vấn đề : “…Trong tiếng Việt con ngài có hai nghĩa, nghĩa đầu tiên là con bướm tằm do con nhộng trưởng thành cắn kén chui ra; bướm tằm có hai loại đực và cái, sẽ giao phối với nhau đẻ ra trứng, trứng ấy lại nở ra thành con tằm. Vì ngài là một chặng trong quá trình sinh trưởng của giống tằm nên người ta cũng quen miệng gọi con tằm là con ngài. Nhưng nghĩa thứ hai này không phổ biến bằng nghĩa thứ nhất. Ở đây, “mày ngài” trước hết có nghĩa là lông mày của con ngài tức con bướm tằm rồi sau mới có thêm nghĩa là lông mày giống hình con tằm. Nếu ai đã sống ở những vùng trồng dâu nuôi tằm tất sẽ biết khi con ngài vừa ra khỏi kén, nhất là con cái, trên hai mắt có hai chiếc râu cong dài, đẹp như lông mày phụ nữ.” (6)


济南文眉 - 眉型的分
“TẾ NAM VĂN MI - mi hình đích phân loại” đã kê cả thảy 28 kiểu lông mày. Kiểu nga mi ở hàng thứ ba, bên trái (được đánh dấu bằng vòng tròn xanh lá). Kiểu ngoạ tàm mi khá đẹp ở hàng cuối, bên trái (được đánh dấu bằng khung đỏ).

Vậy là rõ, sở dĩ có chuyện rắc rối chẳng qua là do từ “ngài” trong tiếng Việt. Con sâu tằm cũng gọi là con ngài rồi con bướm tằm lại cũng gọi là con ngài, từ đó sinh ra từ mày ngài, mày tằm. “mày ngài, mắt phượng” rồi “mày tằm, mắt phụng”! Khi nào mày ngài được hiểu là mày như hình sâu tằm, khi nào mày ngài lại phải hiểu là mày như hình râu bướm tằm ? Quả là phức tạp!

NGUYỄN CẨM XUYÊN

Chú thích:
(1) Tằm ăn lá dâu lớn dần. Lúc chuẩn bị lột xác để sang giai đoạn sau, tằm nằm bất động. Lúc này người chăn tằm gọi là “tằm ngủ”.
(2) Khoa diện tướng còn gọi quầng da thịt dưới mắt người là ngoạ tàm. Đây là vấn đề khác, không liên quan gì đến kiểu lông mày ngoạ tàm.
(3) Kiến thức ngày nay số 789.
(4)-(6) http://www.talawas.org.
(5) Nga là con bướm tằm thuộc bộ “trùng” vẫn thường lẫn lộn với chữ nga thuộc bộ “nữ” nghĩa là đẹp, vì vậy “nga mi” lại còn được hiểu với nghĩa: Lông mày đẹp (của phụ nữ).