Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017

VỊNH SƯ TỬ

VỊNH SƯ TỬ
[Zui zui-Tiệt hạ]

Thúc Sinh lễ phép dạ thưa bà 
Léng phéng cho vui chút vậy mà 
Cũng mới ti toe thì lại đã
Vừa đâu lọc chọc bỗng như đà 
Gặp hoa ai chẳng dê nòi thả
Đụng bướm kẻ mô miệng chả và
Chớ dữ mà truy hồn lụy á
Hoạn Thư ngữ ấy giống như là

Hoạn Thư ngữ ấy giống như là
Dữ tợn ghen tuông ác độc và
Lắm bận gió gào dường lúc đã 
Mấy phen sấm động có khi đà
Lu loa chót lưỡi thời mong á 
Thơn thớt đầu môi ấy vậy mà 
Tội nghiệp em Kiều thân chẳng khá 
Thúc Sinh lễ phép dạ thưa bà

HANSY

HOẠN THƯ BIỆN HỘ

Rằng tôi cũng chút dạ đàn bà
Nhỏ mọn lòng ghen lẽ thế mà
Tại bởi chêm lời trăm nỗi quá
Ngờ đâu để tiếng vạn năm đà
Chồng nhu nhược tiếp ươn hèn đã
Gái lỡ làng thêm đẹp giỏi và
Lỗi phải xin Kiều tha thứ ạ
Dù sao có tội lẫn công là...

Dù sao có tội lẫn công là...
Lúc để nàng đi cuỗm bạc và
Chỉ cốt cho chừa xong rẽ cạ
Hòng mong sẽ hết khỏi theo đà
Xin cầu lượng thứ làm ơn cả
Hãy mở lòng tha đáng mặt mà
Phách lạc hồn xiêu lời lẽ trả
Rằng tôi cũng chút dạ đàn bà

+Minh Hien

PHẢI NGỌT

Ứ chịu này ông phải nựng bà
Thời yêu thủa mới ngọt cơ mà
Lời sao gắt giọng lòng ngơ đã
Tiếng lại gằn hơi dạ xoắn đà
Phạt đấy ai này âu yếm thả
Đền đi ấy phải dịu ngon và
Không thì giận lúc gầm lên á
Sư tử chào thua bởi giống là

Sư tử chào thua bởi giống là
Mặt nhăn mày nhó trợn cau và
Rồi quay quắt trở cho hờn đã
Sẽ ngoảnh nhìn ngơ để dỗi đà
Nếu lỡ ba hoa đào mận á
Hay đơm lãng mạn gió trăng mà
Cười thôi chẳng đủ huề đâu nhá
Ứ chịu này ông phải nựng bà.

+Hà Thu Nguyen

ẤY CHÍNH EM

246.
ẤY CHÍNH EM
[Độc vận]

Văng vẳng như là
tiếng gọi Em
Hẳn đây có kẻ thích gần
Em
Nức thơm khắp cõi lừng vang
giọng
Cao giá nhất vùng ấy chính
Em
Hò hát bổng trầm
hay lắm khúc
Th
ơ tình bay bướm chẳng ngoài Em
Quân tử
có thương về hỏi cưới
Hễ mà léng phéng liệu chừng
E

HANSY 



THẰNG ÔNG 

Nhiều tay l
dở giữa thằng Ông
Thiên hạ gọi nhầm ấy bẩm
Ông
So tuổi xem ra
bằng ấy cậu
Đọ
cằm thì vẫn xứng là Ông
Ba hoa tếu táo chưa lời cụ
Nhậu nhẹt
chơi bời đáng mặt Ông
Nói xấu dân
thường hay trạo miệng
Nhì nhằng chẳng biết nó
chàng Ông

HANSY



VĨNH BIỆT EM 

Thôi thế nay
đành giã biệt Em 
Theo người phú quý sướng đời Em 
Họ sang lấy
mạnh ra đòn quỷ 
Ta khổ chịu
hèn mất dáng Em 
Xứ
lạ bồng môi vui nguyệt ái 
Phương này dõi mắt nhớ
tình Em 
Mấy dòng thơ
tàn trong gió 
Thôi thế nay
đành giã biệt Em 


HANSY 






HOÀI ÂM

HOÀI ÂM

Mùa xưa đến mà sao xa vắng
Nhớ thuở hồng vạt nắng lao xao
Mà nay tình dạt chốn nào
Để hồn cô lữ chênh chao phận người.

Mùa thương cũ vọng lời ước hẹn
Sóng sánh duyên cùng đến ngàn nơi
Để rồi kỷ niệm xa khơi
Tình thơ úa xám nhạo lời ước xưa.

Mùa trăng đến có mưa trong mắt
Thao thức hoài lạnh ngắt vành tim
Dõi song dáng cũ im lìm
Sương đêm lạnh lẽo nhấn chìm lòng ai.

Vọng nghe một chút u hoài
Thương ta bèo bọt thức dài hằng đêm…

HANSY

TÌNH KHÚC

TÌNH KHÚC
[Thuận Nghịch-Trắc bằng]

Vơi đầy duỗi mộng thương làn mới
Hỡi xuyến xao thề cung níu vợi
Rời khó mộng khao khát dạ
bời
Tới hoài mơ nhấp nhô lòng bởi
Cơi ngào ngọt lại nhớ mành
lơi
Khởi chứa chan về thương gió đợi
Trời vút bổng ân diệu
ngát lời
Khơi niềm giữa ái chan tình gởi


Gởi tình chan ái giữa niềm khơi
Lời ngát diệu ân bổng vút trời
Đợi gió thương về
chan chứa khời
Lơi mành nhớ lại ngọt ngào cơi
Bởi lòng nhô nhấp mơ hoài
tới
Bời dạ khát khao mộng khó rời
Vợi níu cung thề xao xuyến
hỡi
Mới làn thương mộng duỗi đầy vơi

HANSY

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

Kỳ 76 -BẠO CHÚA NHÀ MÌNH TRÁI LỜI CHA MUỐN XÂM LĂNG NƯỚC VIỆT

Kỳ 76
--------
BẠO CHÚA NHÀ MINH TRÁI LỜI CHA
MUỐN XÂM LĂNG NƯỚC  VIỆT

Thái độ của Minh Thái Tổ đối với Đại Việt không nhất quán, thay đổi theo hoàn cảnh. Từ lúc mới lập nên triều Minh, ông đã có ý muốn thôn tính nước ta. Tuy nhiên, vua Minh về sau nhận ra rằng nước Minh còn có nhiều vấn đề quan trọng hơn việc thôn tính Đại Việt. Nhân việc triều đình nhà Trần lúc này tỏ thái độ quá bạc nhược, thụ động, Minh Thái Tổ mới muốn dùng uy vũ hù dọa rồi qua đó hạch sách nước ta kiếm lợi, không đánh mà khiến Đại Việt phải dần trở thành nước lệ thuộc. Triều đình nhà Trần lúc này dưới sự cai trị kém cỏi của những người như Trần Nghệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông đã không đủ dũng khí để bảo vệ danh dự, lợi ích, quyền tự chủ của nước Đại Việt trước nước Minh.

Năm 1398, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương chết. Trước đó, ông đã viết Hoàng Minh Tổ Huấn để răn dạy các vị vua kế nhiệm. Trong tác phẩm này, Minh Thái Tổ đã nói rõ mối nguy mà các vua đời sau cần lưu tâm, cũng như những nước không nên đánh. Mặc dù văn phong trong tác phẩm này thể hiện sự tự tôn thái quá của một vị vua Trung Hoa, nhưng nó cũng thể hiện được tầm nhìn của Chu Nguyên Chương về giá trị của hòa bình:

“ … Những nước Di bốn phương đều núi ngăn biển cách, lánh tại một góc, lấy được đất họ không đủ để cung cấp, thu được dân họ không đủ để sai khiến. Nếu họ không tự biết suy xét mà đến gây nhiễu biên giới nước ta thì đấy là điều không may. Nhưng bên ấy không làm hại Trung Quốc mà ta lại dấy binh đi đánh họ thì cũng là điều không may vậy. Trẫm sợ con cháu đời sau cậy vào sự giàu mạnh mà tham chiến công một thời, vô cớ dấy binh dẫn đến tổn hại mạng người, hãy nhớ kĩ là không được làm như vậy ! Nhưng người Hồ - Nhung kề biên giới phía tây bắc, liền tiếp lẫn nhau, nhiều đời tranh chiến, thì phải chọn tướng rèn binh, lúc nào cũng nên phòng giữ cẩn thận. Nay đề tên những nước Di không được đánh, xếp đặt ở sau đây:

Phía đông bắc :
- Nước Triều Tiên
Phía chính đông lệch bắc :
- Nước Nhật Bản
Phía chính nam lệch đông :
- Nước Đại Lưu Cầu [Okinawa]
- Nước Tiểu Lưu Cầu [thuộc Okinawa]

Phía tây nam :
- Nước An Nam [Đại Việt]
- Nước Chân Lạp [Khmer]
- Nước Xiêm La [Sukhotai]
- Nước Chiêm Thành
- Nước Tô Môn Đáp Lạt [Sumatra]
- Nước Tây Dương
- Nước Trảo Oa [Java]
- Nước Bồn Hanh
- Nước Bạch Hoa
- Nước Tam Phật Tề [Srivijaya]
- Nước Bột Nê [Borneo]”

Hoàng Minh Tổ Huấn là chiêm nghiệm từ suốt cả một quá trình tạo dựng nên sự nghiệp của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Chung quy lại những lời trên, vị vua khai sáng nước Minh đã chỉ ra rằng lãnh thổ của Minh triều đã rất rộng lớn và trù phú, các vua kế vị nên tập trung bảo vệ đất nước khỏi những đe dọa bên ngoài để tạo dựng một đế chế thanh bình, vững chắc. Việc xâm lược những nước không gây hại đến nước mình chỉ là việc tham công nhất thời, đem lại những lợi ích nhỏ nhoi mà không phải là việc nên làm cho lợi ích lâu dài. Điều đó rất đúng với câu nói trong sách Tư Mã Pháp của tác giả Tư Mã Nhương Thư nước Tề thời Xuân Thu: “Nước tuy lớn, hiếu chiến tất vong”.

Chúng ta cần biết rằng việc cuối đời Chu Nguyên Chương từ bỏ ý tưởng xâm lược Đại Việt chủ yếu xuất phát từ động cơ bảo vệ lợi ích của nước Minh. Bởi kể từ khi Chu Nguyên Chương đánh đuổi Nguyên Mông về bắc đến khi ông chết, mối đe dọa từ đế chế Nguyên Mông ở phía bắc mà sử sách gọi là Bắc Nguyên vẫn luôn là mối đe dọa lớn của nước Minh. Mặc dù người Mông Cổ không có được sự đoàn kết cần thiết, bù lại quân đội Bắc Nguyên có thành phần là những chiến binh thảo nguyên thiện chiến, nhiều lần khiến quân Minh chịu thương vong lớn. Việc gây chiến với các lân bang thân thiện khác sẽ khiến cho nước Minh chuốc thêm thù oán, tăng nguy cơ quân đội bị sa lầy ở nước ngoài hoặc tự đặt mình vào thế lưỡng đầu thọ địch. Người Trung Hoa vốn không thiếu những bài học đắt giá về sự hiếu chiến, kể cả lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn. Rất tiếc rằng, đời vua sau của nước Minh đã không nghe theo lời của Minh Thái Tổ. Sau khi vua khai sáng của nước Minh chết, đất nước mới này xảy ra biến động lớn rồi từ đó một bạo chúa đã lên ngôi.

Minh Thái Tổ nhường ngôi cho hoàng thái tôn Chu Doãn Văn, tức Minh Huệ Đế. Vị vua này vì muốn tập trung quyền lực vào tay triều đình trung ương đã thi hành chính sách Bãi Phiên, tức bãi bỏ chế độ phân phong cho các phiên vương. Những phiên vương vốn là con cháu hoàng tộc họ Chu, được Minh Thái Tổ phong đất đai, có quân đội riêng trong lãnh địa.

Chính sách bãi phiên khiến cho các phiên vương nổi lên chống lại triều đình. Trong số đó, Yên vương Chu Đệ, con trai thứ thư của Chu Nguyên Chương là người có quân đội mạnh và có tài lãnh đạo. Chu Đệ cuối cùng đánh bại được Minh Huệ Đế trong cuộc nội chiến, cướp được ngôi vua nước Minh. Năm 1402, Chu Đệ lên ngôi vua, tức Minh Thành Tổ (hay Minh Thái Tông) trong sử sách.

Mặc dù là một vị vua có tầm nhìn, có tài năng nhưng Minh Thành Tổ cũng nổi tiếng là một con người tàn bạo. Dưới sự cai trị của ông, một mặt nước Minh nối tiếp đà phát triển mạnh từ thời Minh Thái Tổ, mặc khác cũng là một xã hội hà khắc với đủ thứ nghiêm hình dành cho những hành vi chống đối hay bị coi là chống đối.

Lúc bấy giờ tại nước ta, nhà Hồ đã thay thế nhà Trần, đặt tên nước là Đại Ngu, vua đương nhiệm là Hồ Hán Thương, con trai thứ của Hồ Quý Ly. Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly vẫn cùng con mình trông coi chính sự. Chiến tranh với Chiêm Thành vẫn dai dẳng, mặc dù Đại Ngu đã lấy lại được thế thượng phong. Minh Thành Tổ theo đuổi chính sách ngoại giao hiếu chiến với Đại Ngu, hoàn toàn trái ngược với lời di ngôn của Minh Thái Tổ trong Hoàng Minh Tổ Huấn.Sứ giả nước Minh liên tiếp sang Đại Ngu hạch hỏi về việc con cháu họ Trần còn hay không để uy hiếp vua nhà Hồ. Vua Hồ Hán Thương phải nói dối rằng con cháu họ Trần không còn ai, hòng được Minh triều công nhận làm An Nam Quốc Vương như một thông lệ ngoại giao.

Minh Thành Tổ không tin, lại phái Hành nhân Dương Bột sang đem thư chiêu dụ dân chúng, quan lại nước ta hỏi xem lời của Hồ Hán Thương có thật hay không. Vua Hồ phải sai sứ sang Minh nộp tờ cam đoan của phụ lão trong nước rằng vua Hồ Hán Thương nói thật. Bấy giờ Minh Thành Tổ mới phong tước cho Hồ Hán Thương làm An Nam Quốc Vương. Thực chất việc làm của Minh Thành Tổ chỉ là một bước đi hòng lung lạc tinh thần quân dân nước Đại Ngu, làm “chính danh” cho âm mưu xâm lược của mình.

Năm 1403, Đại tướng quân nước Đại Ngu là Phạm Nguyên Khôi nhận lệnh vua Hồ đem 20 vạn quân thủy bộ tấn công Chiêm Thành. Vua tôi nước Chiêm cho người sang cầu cứu nước Minh. Minh Thành Tổ Chu Đệ lệnh đem 9 thuyền chiến lớn sang cứu viện cho Chiêm Thành. Trong cuộc chiến này, tướng nước Đại Ngu dùng quân lệnh rất nghiêm nên quân lính liều mình chiến đấu, vây bức được kinh thành Chà Bàn. Tuy nhiên quân Đại Ngu vấp phải sự cố thủ kiên cường của quân Chiêm Thành. Thành Chà Bàn vẫn không bị hạ sau nhiều tháng. Cuối cùng, quân Đại Việt phải rút lui vì hết lương thực. Đến khi quân Đại Ngu rút về thì binh thuyền nước Minh mới đang trên đường tới Chiêm Thành.

Hai hạm đội của Đại Ngu và Đại Minh gặp nhau ngoài biển. Quân Minh ít hơn, vốn định sang phối hợp với quân Chiêm nhưng nay lại gặp quân Đại Ngu trong hoàn cảnh đơn độc. Tướng Minh mới cho người sang nói với Phạm Nguyên Khôi rằng đôi bên nên rút quân về, không nên ở lại. Thuyền của Đại Ngu đông mạnh hơn nhiều lần, nhưng tướng Phạm Nguyên Khôi không dám đánh vì sợ người Minh kiếm cớ động binh lớn. Rốt cuộc hai bên mạnh ai nấy thoái lui về nước mình. Khi Nguyên Khôi về triều báo việc gặp quân Minh ngoài biển mà không đánh, Thượng hoàng Hồ Quý Ly rất tức giận, quở trách Nguyên Khôi sao không giết chết quân Minh.

Rõ ràng nhà Hồ thực có chí tự cường, nhưng nội bộ không đồng nhất về hành động. Về phần Minh Thành Tổ Chu Đệ là một ông vua hiếu chiến hơn hẳn cha mình. Lời của Chu Nguyên Chương khuyên rằng không nên đánh nước ta, Chu Đệ đã không coi ra gì. Quãng thời gian từ năm 1403 về sau, tình hình ngày càng thêm căng thẳng. Tham vọng bành trướng của Minh Thành Tổ Chu Đệ sắp ném hai dân tộc vào một cuộc chiến tranh dai dẳng, tàn khốc. Đó là tai họa cho nước Đại Việt, cũng là tai họa cho nước Minh vậy.

Quốc Huy



Minh Thành Tổ Chu Đệ

HỒI TƯỞNG

28.
HỒI TƯỞNG
[Thuận Nghịch độc]

Vơi lặng diễm nguyền rã nhạt nơi
Tới cung huyền mộng thảo thơm ngời
Mời chan chứa điệu trầm hương gởi
Đợi ngọt ngon làn cảnh sắc chơi
Khơi ước hiệp lòng ngan ngát hỡi
Khởi thề chung ý dặt dìu ơi
Rơi tình lụn ái tàn đâu bởi
Trời giận buốt duyên phối nửa vời

Vời nửa phối duyên buốt giận trời
Bởi đâu tàn ái lụn tình rơi
Ơi dìu dặt ý chung thề khởi
Hỡi ngát ngan lòng hiệp ước khơi
Chơi sắc cảnh làn ngon ngọt đợi
Gởi hương trầm điệu chứa chan mời
Ngời thơm thảo mộng huyền cung tới
Nơi nhạt rã nguyền diễm lặng vơi

HANSY


TÌNH MỘNG

Vơi chiều nắng ngả hắt về nơi
Tới buổi vào đêm giấc mộng ngời
Mời gọi trăng suông lời nhắn gởi
Đợi mong mầm gió dạt mành chơi
Khơi tình rực lửa lòng đêm hỡi
Khởi ngọn thương yêu dạ tối ơi
Rơi rụng tim trào dâng khúc bởi
Trời sao mắt lộng ngát trong vời..

Vời trong ngát lộng mắt sao trời
Bởi khúc dâng trào tim rụng rơi
Ơi tối dạ yêu thương ngọn khởi
Hỡi đêm lòng lửa rực tình khơi
Chơi mành dạt gió mầm mong đợi
Gởi nhắn lời suông trăng gọi mời
Ngời mộng giấc đêm vào buổi tối
Nơi về hắt ngả nắng chiều vơi..


Hà Thu 

ẤP YÊU

ẤP YÊU

Ấp yêu một dáng huyền đêm 
Hình hài mỏng mảnh dậy êm dịu nhiều 
Lệ e thoáng ửng má chiều 
Niềm thương run khẽ mộng liêu xiêu cùng.

Hấp lòng hòa một tình chung 
Mùa cau lại trúng, rộn nhung nhớ tràn
Thương e ấp một khuôn làn
Như cô dâu mới ngập chan chứa tình.

Ơi trầu, cau ghé nồng xinh
Bồng lai hẹn ước thỏa minh thệ nào

Gió đùa cánh mộng lao xao
Thềm mơ quấn quyện phả ao ước nồng.

Hàm tiếu nở giữa vườn bông
Mà nghe xao xuyến những mong mỏi nguyền...

HANSY

CÁNH THƠ

CÁNH THƠ

Vẫn mãi ươm đời vạn cánh thơ
Nguyệt ơi sông nước lắm mong chờ
Cạn ly bằng hữu ngời phiên mộng
Nhấp chén nhân tình dậy cõi mơ
Biếc thắm tim lòng sao nhớ cội
Thảo thơm cật dạ bến mong bờ
Vàng xưa sắc diện nồng ân tứ
Lồng lộng trăng trời mượt níu tơ

Lồng lộng trăng trời mượt níu tơ
Phách tình ran gọi thẳm xa bờ
Giai nhân thoảng tứ vời cung lạc
Lãng tử du hồn ghé nẻo mơ
Trầm bổng khúc lòng man mác đợi
Nhặt khoan điệu múa ngát ngan chờ
Thân tằm vốn dĩ lâm trùng nghiệp
Vẫn mãi ươm đời vạn cánh thơ


HANSY

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

DÙNG SAI CẢ TIẾNG MẸ ĐẺ (Kỳ 2)

DÙNG SAI CẢ TIẾNG MẸ ĐẺ
(Kỳ 2)

Trên mặt báo, hoặc trong các chương trình truyền hình, ta luôn gặp trường hợp người Việt sử dụng sai tiếng Việt, tức tiếng mẹ đẻ.

Có một cụm từ rất thường xuất hiện trên mặt báo: "nguyên nhân là do..." hoặc "nguyên nhân chủ yếu là do...". Không thể được.

Nguyên nhân là cái gì thì nói thẳng ra, vậy là thừa từ "do" hoặc từ "nguyên nhân". Ví dụ: Tôi học dốt, nguyên nhân là lười; Tôi học dốt do lười.
Mỗi lần đọc báo hoặc nghe phát thanh viên trên tivi đọc cụm từ sai trên, tôi hiểu rằng bây giờ chả có ai chịu nhắc nhở họ.

Tiếng Việt có câu thành ngữ "Té nước theo mưa" nhưng không ít tờ báo khi sử dụng câu này lại chuyển thành "Tát nước theo mưa". Báo An ninh thế giới có lần rút tít "Trừng phạt Nga, châu Âu khó mà "tát nước theo mưa"...

Nghĩa của câu thành ngữ "Té nước theo mưa" là chỉ hành vi lợi dụng cơ hội, hoàn cảnh nào đó để vừa thủ lợi, vừa che giấu được mình, khó bị phát hiện. Nhìn chung hành vi này không phải là tốt, đối tượng thực hiện không phải người đàng hoàng.

Vấn đề cần bàn là chữ nghĩa khi một số nhà báo sử dụng thành ngữ này. Họ không hiểu chữ "té", một động tác tung, vung nước lên thành những giọt nhỏ, giống như hạt mưa, sự trà trộn này khó bị phát hiện, khó phân biệt đâu là nước mưa, đâu là nước té. Còn "tát" thì múc nước chỗ này đổ sang chỗ khác, cả một lượng lớn, chả liên quan gì đến mưa cả, lại càng không thể lợi dụng mưa để che giấu hành động của mình. Vả lại khi khô hạn thì người ta mới đi tát nước, chứ đã có mưa rồi thì xếp gầu ở nhà, đi tát làm chi cho mất công, đó là chưa kể cần phải tháo bớt ra bởi sợ úng ngập.

Thỉnh thoảng chúng ta thấy trong bài hoặc tin tức này nọ trên mặt báo có từ "phong phanh", ví dụ: nghe phong phanh ai nói. Dùng vậy là sai, từ chính xác phải là "phong thanh".

Phong thanh là một từ ghép có gốc Hán Việt, phong là gió, thanh là âm (tiếng, lời nói), cứ chiết tự ra thì có nghĩa âm thanh trong gió. Nghĩa bóng của từ này, theo Từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh là tin tức, còn mở rộng ra thì có nghĩa là thoáng nghe được, thoáng biết về điều gì đó chưa rõ ràng, chưa chắc chắn lắm. Trong văn cổ còn có cụm từ "phong thanh hạc lệ" (tiếng gió thổi, tiếng hạc kêu), khi mình có điều gì nghĩ ngợi trong lòng thì nghe cái gì cũng cảm thấy sợ, giống như nghe gió thổi hạc kêu cứ ngỡ có ai đang đuổi mình. Cụ Nguyễn Đình Chiểu có câu "Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa" là vậy.

Còn phong phanh là từ láy tượng hình thuần Việt, để chỉ vật chất dạng ít, sơ sài, mỏng manh, nói chung là chỉ trang phục, quần áo, nhất là khi trời rét lạnh, ví dụ: ăn mặc phong phanh thế kia thì làm sao chịu nổi.

Như vậy, phải viết là "nghe phong thanh" chứ không phải "nghe phong phanh" như nhiều người dùng sai bấy lâu nay.


Nguyễn Thông

THU HOÀI

245.
THU HOÀI

Trải tình thu mộng giữa tầng không 
Nát cánh hoa rơi thoáng chạnh lòng 
Mắt hạ ươm thề
thôi đượm biếc 
Nguyền xuân góp hẹn khó thơm hồng 
Mùa trăng huy
n ảo âm thầm vắng 
Góc ái yêu kiều
mải miết mong 
Gác vắng cung sầu ai chuốt lặng 
Mà nghe nhung nhớ dậy cơn nồng 

HANSY

ƯỚC AO 

Dấu ái
lèn nhau mãi đượm nồng 
Ân tình vạn kiếp khẩn cầu mong 
Nâng niu dáng ngọc tròn môi thắm 
Gìn giữ
làn hương đẹp má hồng 
Cánh gió diệu
ngời loang loáng dạ 
Mùa
yêu lừng ngọt chứa chan lòng 
Liêu trai vũ khúc nghê thường
dậy 
Chấp chới tim đời
biếc quãng không 

HANSY


ĐAU TÌNH PHỤ 

Cứ tưởng
hồng duyên được thắm nồng
Xuôi buồm thuận gió
khớp hoài mong
Nào hay lửa ái phai màu
đượm
Đến nỗi tình yêu nhạt sắc hồng
Xót hận
triền miên lun giữa dạ
Hờn đau ray rứt gặm trong lòng
Muốn quên mà vẫn
thầm
nhung nhớ
Tình phụ xô đời xuống rỗng không

HANSY

THẾ LÀ HẾT

THẾ LÀ HẾT 

Thế là hết một đoạn tình ngang trái 
Người lìa xa về cuối dải hồng hoang 
Còn chi đâu khi hồn vỡ trăm ngàn
Thôi, giấu kín lời than van huyết lệ. 

Thế là hết có còn ai mà  kể 
Hãy xóa nhanh lời dâu bể ngày nao 
Quên dáng xưa e ấp thưở mai đào 
Tung mùa nhớ bay vào trời ảo huyễn. 

Đừng khờ khạo mơ trời quay đất chuyển
Đã hết rồi câu chuyện của mùa mong 
Một mình về nghẹn đắng giữa phòng không 
Chông chênh quá khi cõi lòng bão gió. 

Chiều cuối hạ hững hờ nhành phượng đỏ 
Giấu vào đời khúc gõ buổi lầm si 
Trắng tay rồi ngoảnh lại có ích gì 
Giã biệt nhé, sá chi lời đồng vọng... 

HANSY

TỌA ĐỘ TÌNH YÊU

TỌA ĐỘ TÌNH YÊU
[Toán]

TỌA ĐỘ mừng reo giữa tiếng đàn
PHƯƠNG TRÌNH thẳng bước mặc lời can
Còn đây ẨN SỐ chưa từng nản
Với lại ĐẠO HÀM quyết tỏa lan
HỮU TỶ chia đều qua lắm quãng
TÍCH PHÂN gom lại biết bao giàn
Êm đềm PHÂN SỐ như tình bạn
VÔ CỰC tâm hồn lộng tỷ gian

MẶT PHẲNG ân nguyền phủ triệu gian
Nồng hương ĐIỂM xuyết dậy muôn giàn
TRÒN quay hồ thủy không hề cạn
VUÔNG vức núi đồi cứ dậy lan
Ngất ngưởng GÓC lùm ta mãi rán
Tưng bừng CẠNH khóe mộng hoài đan
BÌNH HÀNH qua lại nào chê chán

TAM GIÁC hồng tơ lảnh lót đàn

HANSY

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

Giai thoại HỒ TÔNG THỐC

Giai thoại
HỒ TÔNG THỐC

 Hồ Tông Thốc người làng Thổ Thành phủ Diễn Châu, (nay thuộc huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An), không rõ năm sinh năm mất, sống thời vua Trần Nghệ tông. Thưở nhỏ đã thơ hay, nhưng chưa được nổi tiếng lắm, gặp tết Nguyên tiêu, có đạo nhân là Lê Pháp Quan treo đèn đặt tiệc, mời khách văn chương đến dự làm vui. Thốc nhận thiếp xin đề thơ, làm xong trăm bài thơ ngay trên bữa tiệc. Mọi người xúm lại xem, rất thán phục. Từ đấy tiếng dậy kinh sư, vì giỏi văn học nên được người đương thời kính trọng, mà thơ rượu thì không ngày nào không có. 

 Ông đậu Trạng nguyên năm 1372 (đời Trần Nghệ tông), giữ chức Hàn lâm viện học sĩ. Ông có soạn tập thơ Thảo nhàn hiệu tần thi tập và đã có lần đi sứ Trung quốc. Có mấy giai thoại liên quan đến lần đi sứ đó.
1/
Đọc thơ chê Hạng Võ: 

 Tương truyền, một hôm thuyền của sứ bộ nước ta đi trên sông Ô giang, đến chỗ có miếu thờ Hạng Võ dựng ở trên bờ; người ta đồn miếu đó rất thiêng, hễ thuyền bè qua lại trên sông mà không ghé vào lễ bái thì sẽ bị đắm. 

Tuy có biết chuyện đó, nhưng khi qua miếu, Hồ Tông Thốc vẫn không cho thuyền ghé vào để đốt vàng. Quả nhiên, ngay lúc đó sóng gió bỗng nổi lên ầm ầm, chiếc thuyền tròng trành chỉ chực đắm. Hố Tông Thốc chẳng hề nao núng, ung dung ra đầu thuyền ngâm một bài thơ:

 Quân bất quân hề, thần bất thần,
 Như hà miếu mạo tại giang tân?
 Giang Đông tích nhật do hiềm tiểu,
 Hà tích thiên tiền bách vạn cân.

Dịch:
 Vua chẳng vua, mà tôi chẳng tôi,
 Bên sông miếu mạo để thờ ai?
 Giang Đông ngày trước còn chê nhỏ,
 Tiền giấy nay sao lại vật nài?

 Hồ Tông Thốc đọc xong, tự nhiên gió lặng sóng im, và người ta nói miếu từ đó mất thiêng, thuyền bè qua lại không phải đốt vàng thắp hương nữa.
 (Có thuyết nói thoại nầy của Mạc Đĩnh Chi)
2/
Chữa thơ Vương Bột : 

 Vương Bột (650-675) là một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Năm ngoài 20 tuổi, nhân dịp dự tiệc mừng tết Trùng dương (mùng chín tháng chín) ở Đằng vương các, ông có làm bài thơ và lời tựa về Đằng vương các rất nổi tiếng. Sau đó trên đường sang Giao Chỉ thăm thân phụ, ông bị đắm thuyền và chết đuối trên sông Chương giang. 

  Tục truyền, vì Vương Bột chết trẻ nên rất thiêng, từ đó ở khúc sông này, cứ vào khoảng đêm khuya canh vắng, người ta thường nghe văng vẳng tiếng ngâm hai câu thơ tả cảnh đặc sắc trong bài "Đằng vương các tự":

 Lạc hà dữ cô lộ tề phi,
 Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Nghĩa là:
 
Ráng chiều với con cò lẻ loi cùng bay,
 Nước thu cùng trời xanh một màu.

  Hồ Tông Thốc trong dịp đi sứ Trung quốc, một buổi chiều tà, nhân chèo thuyền dạo chơi trên khúc sông Chương giang nơi Vương Bột chết đuối, được nhân dân địa phương kể cho nghe câu chuyện nói trên, Hồ Tông Thốc nghe xong, bèn ra đứng ở mũi thuyền nói to lên rằng:

 Hà tất dữ, cộng nhị tự?
 Nghĩa là:
 Cần gì phải dùng hai chữ dữ, cộng (với, cùng)? 

 Mọi người hỏi tại sao ông lại bảo như vậy thì Hồ Tông Thốc giải thích rằng:
- Hai câu tuy hay, song thừa hai chữ dữ và cộng, vì đã nói "tề phi"
(cùng bay) thì mặc nhiên là có ý dữ (với) trong đó rồi; đã nói "nhất sắc" (một màu) thì mặc nhiên là có ý cộng
trong đó rồi!
  Sau đó ông sửa lại hai câu như sau:

 Lạc hà cô lộ tề phi,
 Thu thuỷ trường thiên nhất sắc.


  Mọi người nghe nói, đều phục ông bắt bẻ có lý, và hai câu của ông tuy về âm hưởng không bằng hai câu của Vương Bột, nhưng về mặt văn tự thì quả có gọn và hàm súc hơn. 

 Rôi từ đó, trên khúc sông ấy, người ta không còn nghe tiếng ngâm thơ của oan hồn thi nhân họ Vương nữa.


 (Cũng có thuyết nói thoại này của Mạc Đĩnh Chi)




HƯƠNG TÌNH

26.
HƯƠNG TÌNH
[Thuận Nghịch độc]

Quyên nựng gió tình thỏa tiết sang
Nhạc vui bừng rỡ ánh thơm vàng
Quên nào phút ước mơ thầm dậy
Ngóng mãi đêm thề luyến mộng loang
Duyên thắm thệ choàng mây nhớ nguyệt
Ái thơm nguyền đượm thiếp thương chàng
Uyên nồng đắm phụng loan ngời sắc
Thuyền gọi bến yêu hiệp gối màn

Màn gối hiệp yêu bến gọi thuyền
Sắc ngời loan phụng đắm nồng uyên
Chàng thương thiếp đượm nguyền thơm ái
Nguyệt nhớ mây choàng thệ thắm duyên
Loang mộng luyến thề đêm mãi ngóng
Dậy thầm mơ ước phút nào quên
Vàng thơm ánh rỡ bừng vui nhạc
Sang tiết thỏa tình gió nựng quyên

HANSY



HƯƠNG NHỚ

Quyên nồng phả ái gợi mùa sang
Gió dạo tình ru bản khúc vàng
Quên hỡi hôm thề trăng mộng ngõ
Nhớ nè mây hẹn thẫm nguyền loang
Duyên chờ ước nhạn xao hồng khách
Sáo đợi huyền mơ thổn thức chàng
Uyên thảo tương lòng ngan ngát lịm
Thuyền yêu sóng quyện sánh hương màn.

Màn hương sánh quyện sóng yêu thuyền
Lịm ngát ngan lòng tương thảo uyên
Chàng thức thổn mơ huyền đợi sáo
Khách hồng xao nhạn ước chờ duyên
Loang nguyền thẫm hẹn mây nè nhớ
Ngõ mộng trăng thề hôm hỡi quên
Vàng khúc bản ru tình dạo gió
Sang mùa gợi ái phả nồng quyên.

Hà Thu 

VẸN TÌNH

VẸN TÌNH

Ghé nàng một chút nồng hôn 
Cho thương trĩu nặng, cho dồn dập yêu 
Tình lâng ừ sớm đến chiều
Bao mong với nhớ khiến liêu xiêu đời.

Thương từ lúc mới ngỏ lời 
Qua bao nhiêu kiếp vẫn phơi phới tình
Vẫn nồng mặn, vẫn hoài xinh
Vẫn hương ái ngọc, vẫn bình minh loang.

Giờ đây gừng muối bao choàng
Hồng duyên hiệp một, dậy loang loáng ngời
Vẫn hoài môi đượm kề môi 
Mầm yêu rực cháy, mãi bồi đắp thêm.

Chiếu nghiêng nắng dọi qua thềm

Tình tang bướm mộng khiến êm ả lòng...

HANSY

KỶ NIỆM BUỒN

KỶ NIỆM BUỒN
[Ngũ độ]

Kỷ niệm buồn xo giữa bốn bề 
Xiêu lòng mặn chát phả ngùi mê 
Tình ơi mấy nữa mà ran kể
Ái hỡi còn chi để vọng thề 
Nhớ buổi cùng ai vào cuộc lễ
Thương chiều với cõi mộng hiền thê 
Mà ôi ước nguyện nào đâu dễ
Khiến mãi người xưa chẳng được kề

Khiến mãi người xưa chẳng được kề
Nên mình vỡ mộng cưới làm thê
Vì sao nghĩa rụi nhòe câu ước
Đến nỗi lòng sa nhạt nẻo thề
Khập khiễng ân nguyền gây nát bể
Ơ thờ ái cảm tạo tàn mê
Chiều nay hẻo vắng ngùi thương cũ
Kỷ niệm buồn xo giữa bốn bề 


HANSY