Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

Tiếng Việt: MẶT VÀ MẮT – Nguyễn Hưng Quốc

Tiếng Việt: MẶT VÀ MẮT 

Trong bài “Tiếng Việt: sự chuyển nghĩa của lớp từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể”, tôi chỉ dừng lại ở các từ: bụng, ruột, gan, mồm, miệng, đầu, cổ, tay, chân… Nhưng chưa kịp đề cập đến mặt, dù có nhắc thoáng qua hai từ ghép mặt mày và mặt mũi.

Bây giờ xin bàn tiếp.

Trên khuôn mặt có đôi mắt. Mắt và mặt có rất nhiều điểm gần nhau. Gần nhau về ngữ âm và cũng gần nhau cả về ngữ nghĩa nữa.

Ở chữ mặt, chúng ta có thể nhận thấy quá trình chuyển nghĩa ở đó con người là một cái trục để quy chiếu các nghĩa phái sinh. Trên thân thể con người, mặt là bộ phận phía trước và bên ngoài, từ đó, nảy sinh ra các chữ: mặt bàn, mặt nước, mặt đất, rồi xa hơn nữa, mặt trăng, mặt trời. Khái niệm “phía trước” và “bên ngoài” gắn liền với không gian, từ đó, dẫn đến khái niệm mặt trước, mặt sau, cuối cùng, được trừu tượng hoá thành một khía cạnh hay một phương diện của vấn đề: mặt tích cực và mặt tiêu cực; mặt tình cảm và mặt pháp lý, v.v...

Nhưng mặt còn một hướng chuyển nghĩa khác, quan trọng hơn, chỉ tình cảm, tư tưởng, thái độ cũng như danh dự của con người, từ đó, chúng ta có: đẹp mặt và xấu mặt, ê mặt và nể mặt, trở mặt và chừa mặt, nóng mặt và mát mặt, v.v...

Rất gần với chữ mặt là chữ mắt.

Chữ mặt và chữ mắt có nhiều kết hợp giống nhau nhưng ý nghĩa thì khác hẳn nhau. Ra mắt khác với ra mặt: cả hai đều hàm ý một sự xuất hiện hay bộc lộ công khai, nhưng trong ra mặt có cái gì liên quan đến thái độ: khinh ra mặt, ghét ra mặt, chống đối ra mặt, v.v...

Ðẹp mắt khác với đẹp mặt: trong khi đẹp mắt giới hạn trong phạm trù thẩm mỹ; đẹp mặt gắn liền với phạm trù danh dự.

Nóng mặt là cảm giác bất bình khi cá nhân bị xúc phạm, trong khi nóng mắt là cảm giác bất bình khi chứng kiến một điều gì không vừa ý, dù điều đó không dính líu gì đến quyền lợi cá nhân mình cả.

Đỏ mắt chỉ sự trông chờ mòn mỏi, trong khi đỏ mặt thì chỉ sự thẹn thùng, xấu hổ.

Ở trên, chúng ta bắt gặp một số từ ghép có cấu trúc ngược, theo kiểu chữ Hán, ở đó từ tố mang ý nghĩa chính đứng sau: đẹp mắt thay vì mắt đẹp; nóng mặt thay vì mặt nóng, v.v...

Có điều, như nhiều nhà ngôn ngữ học đã nhắc: trong cấu trúc thuận, danh từ có ý nghĩa cụ thể; trong cấu trúc ngược, danh từ trở thành trừu tượng, chỉ một phẩm chất hay một đặc điểm thay vì một vật nào đó. Mát tay khác với tay mát. Tay mát bao giờ cũng có nghĩa cụ thể, chỉ một bàn tay nào đó mát dịu; còn mát tay lại chỉ những thầy thuốc giỏi, chữa bệnh mau lành.

Tương tự như vậy, chúng ta có các cặp: mặt đẹp / đẹp mặt; bụng xấu / xấu bụng; bụng tốt / tốt bụng; miệng thối / thối miệng; đầu to / to đầu; gan to / to gan; v.v...

Và v.v...

Nhưng...mà thôi. Chuyện ngôn ngữ thì bàn biết bao giờ cho hết.

Mai mốt lại tiếp.


MƠ DÁNG EM VỀ

MƠ DÁNG EM VỀ

Em nghiêng dáng lụa thướt tha
Đi về dăm buổi làm ta sửng lòng
Tóc mây uốn gió bềnh bồng
Ước là hạt nắng thơm nồng đậu lên...

Em đi bóng nhỏ lênh khênh
Hây hây đôi má, đổ kềnh lòng Ta
Sớm mai cho chí chiều tà
Mắt mong tim ngóng gần xa dõi người.

Em về cùng hạt chiều rơi
Dáng non nã đó đầy vơi sóng tình
Biết Em chốn ấy một mình
Mà không dám ngỏ cái tình bấy lâu.

Em đi thơ viết vài câu
Nồng hương nhung nhớ, thầm sâu ý lời
Em về thơ ấy trao người
Tình trong phút chốc biển trời nở hoa...

HANSY

HOA TÍM LÀ TÍM HOA

136.
HOA TÍM LÀ TÍM HOA

He he he he he he

Chữ thương em gói đầu nằm
Đêm về nhung nhớ mở thăm rồi cười

Ru anh bằng áng thơ rơi
Ru người bằng cái nghịch đời cho vui

Nhìn xem trăng bước thụt lùi
Em dang tay hứng một nùi ông trăng

Bởi anh tánh ít lăng nhăng
Nên em thêu dệt chị Hằng ngồi mơ

Mẹ sinh cái tánh tự giờ
Chẳng trêu chàng khóc cũng vờ thiếp đau

Cửa tình chắn lối hoa cau
Ai vào vướng phải gam màu tím đây 

Hansy gọi Tím là thầy
Tưng bừng quậy phá bút này tung tăng

He he he 

Hoatim

GIỮ TÌNH

He he he he he he 

Rung đùi gió mát ta nằm 
Một trời hạnh phúc chứa chan tiếng cười 
Nghe lòng giọt nhớ tìm rơi 
Mà tim xao động vạn lời nồng vui.

Trái ngang cũng đã xa lùi 
Mùa nay thơm nắng, ngọt bùi ánh trăng 
Thế gian hiến cũng không màng 
Chỉ em thôi nhé, dáng Hằng trong mơ.

Yêu thầm từ bấy đến giờ 
Xin đừng ngang trái kẻo thơ nhuốm sầu 
Mộng lòng gieo hạt cùng cau 
Thời gian dồn lại, sắc màu mãi say.

Tình ta ngày một vun đầy 
Giao em giữ nhé, men say duyên nồng…

HANSY


♥♥


VỌNG QUÊ

VỌNG QUÊ
(NDT-Giao cổ)
 
Viễn xứ người ơi quặn buổi này
Chao lòng thẫm ước điệu trầm say
Hoài quê đượm dõi tìm xa ngái
Trở chốc lềnh loang vỗ mộng dày
Ngỡ đến mùa thu là trở lại
Đâu dè mấy hạ vẫn rời bay
Vàng xưa bỗng rụi sầu tuôn chảy
Lặng nỗi chầm thương phả kín ngày
 
Lặng nỗi chầm thương phả kín ngày  
Bao giờ ái cảm được nồng bay
Ân tình rộng nỡ nào tê tái
Chớ lẽ lìa tan kỷ niệm dày
Dưỡng dục ơn trời luôn tỏa cháy
Mong chờ nghĩa đất lộng lừng say
Từng đêm vọng mãi câu hò láy
Viễn xứ người ơi quặn buổi này
 
HANSY

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2016

KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI - Vũ Đức Sao Biển - PHẦN 2

KIM DUNG
GIỮA ĐỜI TÔI


***
Vũ Đức Sao Biển
***
PHẦN 2

11. Chất thơ
12. Ngôn ngữ bình dân
13. Những bộ sách
14. “Thời trang”
15. Những nhân vật quái dị
16. Nghề kỹ nữ
17. Con trâu
18. Người Tây dương
19. Kỹ thuật
20. Thức ăn Trung Hoa


TRẢ AI MÀU NẮNG

TRẢ AI MÀU NẮNG

Nắng mới xua đi những gam buồn
Cuốn lòng mơ lại nhẹ nhàng buông
Nồng xưa vẫn thắm làn môi ấy
Xin trả cho ai khúc nhạc nguồn.

Vẫn hoài chung thủy với tình thơ
Đừng để duyên xưa phải lạc khờ
Tim mộng mãi hoài thơm ngời sáng
Cho hồng tươi lại một dáng mơ.

Kìa Em, tóc gió lại bay bay
Bồng bềnh nô giỡn giữa trời mây
Dỗi nhau xa vắng Em nào biết
Một giọt sương đêm chạnh nhớ này.

Trả cho Em màu nắng mắt nai
Cho lúng liếng trời xuân hằng hữu
Cho gió tình ngát hương phối ngẫu
Trả Em về nồng mặn tim Ta…

HANSY

CƯỚI CHỒNG

135.
CƯỚI CHỒNG

Thu đi đông đến ai chờ?
Lá vàng cõng bạn giả vờ không yêu

Mỉm môi em đứng sau lều
Ừ thì! anh nói thương nhiều đó chi?

Đường tình đâu dễ phân li
Hột ân nở nụ gốc si đã già

Ai cười mặc kệ người ta
Trầu xanh em hái làm quà song thân

Ừ thì! con gái cưới chồng
Rước anh về với trời hồng đêm xuân

Hoa Tím

ƠN EM

Nghe em nói, lặng tim chờ 
Sao mình được phước phất cờ tình yêu 
Tim thương em cất thành lều 
Bê ta vào đó liêu xiêu xuân thì.

Mộng tình em chuốt từng li 
Gắp thương bỏ nhớ đến khi cuối già 
Cưng chiều lễ cưới cho ta 
Thương yêu đến vậy thiệt là sướng thân.

Dù gì ta vẫn là chồng 
Vẫn muôn năm mãi đượm nồng đuốc xuân
Khẽ khàng tim xích lại gần
Tại thương yêu quá đâu cần lễ nghi.

Cảm đời xương cốt khắc ghi
Tình em một thuở có khi mấy đời…

HANSY

♥♥


GIỮ NGÁT HƯƠNG ĐỜI

GIỮ NGÁT  HƯƠNG ĐỜI

Nài van có mấy chỉ hao lời
Sống giữ vui lòng bực thả trôi
Vẫn vọng hướng dương mà rảo tới
Chăm thùa ánh sáng chẳng hề thôi
Cùng bên nguyệt  lấp chìm  đau khổ 
Lừng trỗi hân hoan hát giữa trời
Gắng giữ tâm hồn không mệt mỏi
Ươm tình nhân ái chẳng nào vơi 

Ươm tình nhân ái chẳng nào vơi 
Số mệnh thành hư phó mặc trời
Hãy sống ngay hàng tâm nỏ hối
Và lòng trong sạch thiện nào thôi
Lượng nhân thế dạ thường tha lỗi
Tâm vẫn nhu hiền lộng mắt môi
Cõi trược thăng trầm như gió thổi
Nài van có mấy chỉ hao lời

HANSY

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

NỖI BUỒN THÀNH NGỮ - TỤC NGỮ - Nguyễn Đức Dân


NỖI BUỒN 
THÀNH NGỮ - TỤC NGỮ 

Trong kỳ chung kết cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia hôm 16-8, đáng buồn là tất cả học sinh giỏi của những trường tiêu biểu có học sinh giỏi này lại không phân biệt được thành ngữ và tục ngữ.

Trong kỳ chung kết cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia lần thứ 15 có một câu hỏi dành cho học sinh ở bốn đầu cầu truyền hình tại bốn trường có học sinh được vào vòng chung kết: Một câu thành ngữ tiếng Việt nói về kim loại dẫn nhiệt tốt?

Cả bốn đầu cầu đều đưa ra đáp án là Lửa thử vàng gian nan thử sức và tất nhiên đều sai bởi đơn giản đây là một tục ngữ chứ không phải thành ngữ.
Đáng buồn là sau 12 năm học tiếng Việt, học đủ những lý thuyết về ngôn ngữ học nhưng tất cả học sinh giỏi của những trường tiêu biểu có học sinh giỏi này lại không phân biệt được thành ngữ và tục ngữ. Thành ngữ là những cụm từ nêu lên những hình ảnh, những khái niệm. Tục ngữ là những câu nêu lên những triết lý, kinh nghiệm, nhận thức về những quy luật trong cuộc sống tự nhiên và xã hội của con người.

Lời giải đáp của cố vấn chương trình là thành ngữ lạnh như tiền. Vì tiền xưa bằng đồng, mà đồng dẫn nhiệt rất nhanh, tay nóng sờ vào tiền, nhiệt lập tức “hút” sang tiền nên tay thấy lạnh. Đó là cách hiểu thành ngữ này theo nghĩa đen. Câu “Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng” (Cung oán ngâm khúc) được hiểu theo nghĩa đen. Trong thực tế, nhiều thành ngữ được dùng theo nghĩa bóng, tức là nghĩa biểu trưng. Ai không thể hiện chút tình cảm gì, thái độ gì trong quan hệ giao tiếp với người khác thì được gọi là mặt lạnh như tiền. Đây là nghĩa bóng của thành ngữ này.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức là một tục ngữ gồm hai vế là hai câu ngầm so sánh với nhau: Lửa [dùng để] thử vàng [thật hay giả], tựa như gian nan [dùng để] thử sức [chịu đựng khó khăn, gian khổ của con người].

Thiết nghĩ trong chương trình “tích hợp” tới đây, Bộ GD-ĐT nên đưa vào những kiến thức tối thiểu, cơ bản, nặng tính thực hành để học sinh hiểu tiếng Việt, dùng đúng tiếng Việt, bắt đầu từ việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ.

NGUYỄN ĐỨC DÂN


LẠC

LẠC

Tình nhớ về chất ngất 
Dõi mắt cõi nguyền ca 
Người hỡi, tim bừng xa 
Nghe gió luồn sương trắng. 

Mắt môi sao mằn mặn 
Gió tiếc thương vô bờ 
Gởi hồn vào ngõ thơ 
Đầy nhòe thương kỷ niệm. 

Dáng nào đi biền biệt 
Quá vãng cứ reo về 
Tình ơi, sao mệt mê 
Để lòng này khánh kiệt. 

Mùa xưa giờ vỡ úa 
Giá rét đông quạnh sầu 
Tình xưa giờ góa bụa 
Lạc đời trong canh thâu.

HANSY

Ô LA LÀ LÁ LA

134. 
Ô LA LÀ LÁ LA

Ô la là lá la la
Trần tình chi đó cửa nhà lạnh teo

Chén cơm đỡ dạ phận nghèo
Nhường người một chút đói meo bụng rồi

Xuân về lấp lánh tinh khôi
No lòng chia sẻ nửa đôi gánh tình

À ơi nói nhỏ nghe mình
Cửa vườn rộng mở hương trinh gọi mời

Bạn bè chi đó một thời
Đem trăng chở hết cho đời thêm xuân

Mai sau dẫu có gian truân
Thuyền chèo anh lái người dưng cầm sào

Gió mưa dập cánh hoa đào
Xót lòng quân tử lẽ nào làm ngơ?

Chiều lên cánh én bơ vơ
Giăng mây anh bắt một bờ yêu thương

Hoatim

MÃI THƯƠNG

Ô la là lá la la 
Nghịch chi nghe phán lòng đà muốn teo 
Dạ nào có dám mỡ mèo 
Chuyện xưa nhắc lại lêu têu cũ rồi.

Giờ em tươi mới nguyên khôi 
Duyên lòng thắm đượm, bén hơi cuộc tình 
Khít đôi hai đứa chúng mình 
Nồng thơm trời mộng xinh xinh gọi mời.

Cùng nhau vui nhé, tứ thời 
Rộn ràng hương lửa, dậy lời tình xuân 
Dẫu mà có chút gian truân 
Chồng chèo vợ chống trầm luân thoát nàn.

Mình sinh cháu đống con đàn 
Bi bô lời trẻ hòa nàng ngâm thơ 
Giã từ thuở ngóng chơ vơ 
Nhà chung hợp lại vạn bờ yêu thương.

Dẫu đời vạn ngõ trăm đường
Cũng xin giữ mãi chút vương thuở đầu…

HANSY

♥♥


PHAI NHẠT

PHAI NHẠT
(Thuận Nghịch độc)

Mong đợi hết rồi hỏng nợ duyên
Tác tan lìa nuộc tủi hờn quyên
Lòng xơ xác vợi chiều hoen ước
Dạ thẫn thờ đau buổi bạc nguyền
Trông vẹn sắc tình lưu mộng thỏa
Vọng thầm hương ái kết đời nguyên
Đông hàn lạnh cảm sầu tê tái 
Dòng thảm biệt ân rệu rã chuyền

Chuyền rã rệu ân biệt thảm dòng
Tái tê sầu cảm lạnh hàn đông
Nguyên đời kết ái hương thầm vọng
Thảo mộng lưu tình sắc vẹn trông
Nguyền bạc buổi đau thờ thẫn dạ
Ước hoen chiều vợi xác xơ lòng
Quyên hờn tủi nuộc lìa tan tác
Duyên nợ hỏng rồi hết đợi mong

HANSY

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016

10. GHEN

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI


10.
GHEN

Ghen (jalousie) là một tình cảm tự nhiên của con người, đặc biệt là ở phụ nữ. Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, tuy trọng tâm phản ánh về những sinh hoạt võ lâm, cũng đã có những nhân vật ghen tuông, tình huống ghen tuông thú vị. Nhận định về tình yêu trong tiểu thuyết võ hiệp của ông mà không nhận định về cái ghen quả thật là một thiếu sót.
Một cách khái quát, Kim Dung dùng khái niệm rất cụ thể để nói về cái ghen. Ghe được gọi là “bình giấm chua” hoặc “ghè tương”. Còn cái binh giấm chua và ghe tương đó đổ bể trong tình huống nào, đổ bể ở đâu thì lại là chuyện khác.

Ở mức độ sơ cấp, người phụ nữ bày tỏ lòng ghen tuông một cách nhẹ nhàng, đôi khi không khỏi khiến độc giả buồn cười, thương hại. Đó là trường hợp Á bà bà (bà già câm) (Tiếu ngạo giang hồ). Ở tuổi đôi mươi, bà đã xuất gia đi tu và là một nữ ni xinh đẹp. Có một chàng đồ tể cảm mến sác đẹp đó, cứ theo tán tỉnh hoài. Và hắn cũng cạo đầu đi tu, tự đặt pháp hiệu cho mình là Bất Giới hoà thượng. Hắn cho rằng “chỉ có ông sư mới có thể yêu bà vãi” (?) Họ thành vợ chồng và sinh ra cô con gái xinh đẹp là Nghi Lâm. Một lần, Bất Giới nhìn thấy Ninh Trung Tắc, vợ Nhạc Bất Quần. Ông ta lỡ miệng khen Ninh Trung Tắc đẹp, thế là Á bà bà nổi cơn ghen vì “đã có vợ rồi, sao lại còn khen kẻ khác đẹp?”. Bà ta bỏ luôn Bất Giới, vào phái Hằng Sơn giả làm mụ già câm điếc, chuyên việc quét chùa, lau tượng trong 18 năm, báo hại Bất Giới đi tìm muốn chết!

Ở mức độ trung cấp, cái ghen bắt đầu có “bài bản” hơn. Đó là trường hợp ghen của Mai Phương Cô (Hiệp khách hành). Mai Phương Cô thầm yêu trộm nhớ Thạch Thanh nhưng Thạch Thanh chỉ yêu và cưới Mẫn Nhu. Họ sinh được hai đứa con trai song sinh: Thạch Trung Ngọc và Thạch Phá Thiên. Thạch Phá Thiên mới 6 tháng tuổi thì... mất tích. Ai bắt? Chính là Mai Phương Cô. Nàng đem cậu bé về hoang sơn dã lĩnh ở Triết Giang nuôi nấng, đặt tên cho bé là Cẩu Tạp Chủng (chó lộn giống) để mỗi khi lòng ghen tuông với hạnh phúc của Mẫn Nhu nổi lên, nàng kêu mấy tiếng “cẩu tạp chủng” cho đỡ buồn!

Cẩu Tạp Chủng lớn lên, thành một chàng trai tuấn tú, hiền lành nhưng hoàn toàn dốt nát. Nhưng chính nhờ đó mà chàng trở thành một con người đệ nhất võ công đắc thủ được trong bài thơ Hiệp khách hành, khác xa người anh ruột dâm ác và tàn bạo Thạch Trung Ngọc. Hiệp khách hàng - một bài thơ danh tiếng của Lý Bạch, đi vào tiểu thuyết Kim Dung, trở thành một tác phẩm tiểu thuyết ca ngợi lòng dũng cảm, đức hy sinh và tâm hồn trung hậu của chàng trai Cẩu Tạp Chủng Thạch Phá Thiên.

Ở mức độ cao cấp, cái ghen được Kim Dung nâng lên thành những âm mưu, thủ đoạn cao cường. Đó là cái ghen của Chu Chỉ Nhược, chưởng môn phái Nga Mi (Ỷ thiên Đồ long ký). Ở trên đảo hoang, để độc chiếm kiếm Ỷ thiên và đao Đồ long, cô đánh thuốc mê cho mọi người, lấy kiếm rạch mặt và giết Hân Ly, trói Triệu Minh và bỏ lên một con thuyền thả lênh đênh, mưu đồ để Triệu Minh chết đói vừa đổ vạ cho nàng. Trở về trung Nguyên, Chu Chỉ Nhược lập tức tiến hành hôn với Trương Vô Kỵ nhưng lại bị Triệu Minh phá ngang, làm Trương Vô Kỵ bỏ hôn lễ và chạy theo Triệu Minh để tìm nghĩa phụ tạ Tốn. Chu Chỉ Nhược vừa thẹn, vừa sợ bại lộ âm mưu, đã sử dụng một chiêu ác độc nhất trong Cửu âm bạch cốt trảo, định đánh vỡ sọ Triệu Minh để bịt đầu mối. Tuy nhiên Triệu Minh chỉ bị thương, và nhờ vết thương đó, Trương Vô Kỵ mới dần hiểu được rằng Chu Chỉ Nhược là người đánh cắp kiếm Ỷ thiên và đao Đồ long, luyện thành Cửu âm bạch cốt trảo giấu trong thân kiếm, bắt cóc cha nuôi của mình là Tạ Tốn và là người giết Hân Ly.

Cái ghen tuông không chỉ có trong những bậc nữ lưu bình thường. Cái ghen trong bậc nữ lưu quý tộc còn ghê gớm hơn. Đó là trường hợp của Đao Bạch Phụng, người tộc Bãi Di, vợ Đoàn Chính Thuần. Thân là Vương phi nước Đại Lý, giận chồng lăng nhăng, đã đem tấm thân ngàn vàng cho gã ăn mày dơ dái ân ái... “Mối tình” chớp nhoáng đó đã sinh ra vương tử Đoàn Dự, danh nghĩa là con Đoàn Chính Thuần nhưng huyết thống là con Đoàn Diên Khánh. Vương phu nhân, gốc người tộc Đảng Hạng (Tiên Ty), còn ghen ghê gớm hơn. Giận Đoàn Chính Thuần, hễ ai họ Đoàn nước Đại Lý lọt vào sơn trang của bà là bà ra lệnh giết để làm phân bón hoa.

Tuy nhiên, cái hay của Kim Dung là không biến những tình huống ghen tuông trong tác phẩm của mình trở thành những vụ án hình sự có nhà tan, người chết. Những nhân vật của ông chỉ ghen như một cách bày tỏ thái độ, chẳng có ai chết cả. Hên ly vẫn không chết do nhát kiếm của Chu Chỉ Nhược, thậm chí, nhờ đó mà độc tính của Thiên châu tuyệt hộ thủ theo máu thoát ra ngoài và cô... sống lại.

Đứng trên quan điểm hôn nhân của chế độ phong kiến, Kim Dung cho phép những nhân vật nam của mình có nhiều vợ, nhiều tình nhân. Đoàn Chính Thuần có một vợ và... 5 tình nhân (có kể lại!); Vi Tiểu Bảo có... 7 vợ và một tình nhân. Tuy nhiên, Kim Dung cũng đã để cho những nhân vật nữ của mình đấu tranh chống lại quan điểm đa thê sai trái đó. Một cách tích cực, ghen tuông được coi là một cách thể hiện phản ứng chế độ đa thê. Những Á bà bà, Đao Bạch Phụng... là những con người đã phản ứng như vậy.

Quả thật đáng buồn nếu có những nhân vật (và ngay cả những người thật) không biết yêu và cũng chẳng biết ghen. trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, người ta yêu tha thiết nhưng ghen tuông cũng cháy chòi lá! Rõ ràng, tuy lấy bối cảnh là xã hội phong kiến Trung Quốc nhưng tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung lại đi sát cuộc đời bởi vì tâm tình trong đó là tâm tình của xã hội phương Đông thời hiện đại.

GỌI TÌNH

GỌI TÌNH

Đêm đã về rồi, phải không Em?
Ta nghe sầu nặng rụng qua thềm
Tương tư một thuở lèn chăn nệm
Em ở đâu rồi, ơi hỡi Em?

Ngày đó Em đi nhạc úa màu
Một lần chia biệt, vạn lần đau
Tóc mây giờ có nồng yêu dấu
Hay cũng dần phai giữa nguyệt lầu.

Mơ có còn đến kịp không Em
Có còn ngọt đắm thuở môi mềm
Có còn hương ấm mùa hoan cũ
Hay đã ngủ vùi trên tóc Em?

Nghịch cảnh xin đừng vướng mắt ai
Đừng đem sương giá phủ u hoài
Triền xưa yêu hỡi thôi đừng ngoái
Để kỷ niệm buồn sớm nhạt phai…

HANSY

DUYÊN TIỀN ĐỊNH

133.

DUYÊN TIỀN ĐỊNH

Thơ già nên cũng sún răng
Miệng cười hô hố nuốc trăng khỏi tìm

Tỉ tê tiếng kéo đàn kìm
Ôi sầu não nuộc lại thèm song đôi

Bạn thơ rót chén trà môi
Cụng ly rớt mảnh giấy mồi nhân duyên

Mở ra mới thấy định tiền
Ông tơ bà nguyệt kết liền trúc mai

Hoatim

THƯƠNG HOÀI NHA KƯNG

Hứa thương cho đến rụng răng 
Bỏ công từ thuở theo trăng dõi tìm 
Tụi mình liền cánh như chim 
Phong ba đến mấy, chăn mền quấn đôi.

Ấp yêu môi gắn chặt môi 
Bưởi bồng ngọt lịm, tươi đời nồng duyên 
Trần mà nào khác chi tiên 
Bên nhau trọn kiếp, dệt miền bồng lai.

Em thương, đừng có nghe ai
Nghe tim anh nhịp một hai chung tình
Thích em có nụ cười xinh
Trái tim nồng ấm, lòng thành giao anh.

Trầu cau thắm mãi tình xanh
Thương hoài nghe nhỏ, tim anh lụy rồi…

HANSY

♥♥


THẦY LÚI*

THẦY  LÚI*
(Ô thước)

Thượng vàng hạ cám cái chuồng Phây
Núp lén sau lưng hét giọng tài
Đực rựa giả danh là giống cái
Lời hoang uốn lưỡi gọi văn bài
Nghiệp thơ rỗng tuếch hoa hòe trẩy
Lý lịch ba hoa nịnh nọt đầy
Chẳng bỏ bèn gì ba thứ ấy
Mà thêm mệt bụng có chi tày

Mệt bụng bầm gan chỉ uổng tày
Như là rác rưởi xả tèm đây
Thời nay xã hội nhiều cây dại
Hiện tại văn chương hiếm kẻ tài
Lắm chỗ ỏng èo nam dụ gái
Đôi miền chớt nhã nữ vờn trai
Thì thôi mặc họ ườn ra đấy
Kệ quách thờn bơn lõm “lúi thầy”*

HANSY
*lúi thầy=thầy lúi=thúi lầy

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Tiếng Việt: SỜ và RỜ - Nguyễn Hưng Quốc

Tiếng Việt: SỜ và RỜ 

Mấy ngày vừa qua, nhân lục lọi tài liệu để tìm hiểu về vai trò của các giác quan trong việc nhận thức cũng như về tính đẳng cấp trong các giác quan dưới nhiều quan điểm triết học và văn hoá khác nhau (ví dụ sự thiên vị rõ rệt đối với thị giác và thính giác, đặc biệt là thị giác, và sự rẻ rúng đối với các giác quan khác, từ vị giác đến khứu giác và xúc giác), tôi tò mò đọc lại các cuốn từ điển tiếng Việt. Và chú ý đến hai chữ quen thuộc: Sờ và rờ.

Dường như hầu hết các cuốn từ điển đều xem sờ và rờ là một, là hai từ hoàn toàn đồng nghĩa, hơn nữa, còn xem rờ chỉ là biến âm mang tính địa phương của sờ. Cả Nguyễn Văn Ái trong Từ điển phương ngữ miền Nam (nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1994) lẫn Nguyễn Như Ý trong Từ điển đối chiếu từ địa phương (nxb Giáo Dục, 1999) đều nghĩ như vậy. Ở nhiều cuốn từ điển khác, sau chữ “rờ”, người ta ghi chú: “phương ngữ” rồi bảo xem chữ “sờ”. Chỉ có Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ là làm ngược lại, sau chữ “sờ”, họ ghi: “xem rờ”. Có vẻ như với họ, “rờ” là từ chính, còn “sờ” chỉ là biến âm của chữ “rờ”. Không chừng cả Alexandre de Rhodes, trong cuốn từ điển Việt-Bồ-La (1651) và Huỳnh Tịnh Của, trong cuốn Đại Nam Quốc Âm tự vị (1895), cũng đồng ý như thế: Trong hai cuốn ấy, chỉ có “rờ” chứ không có “sờ”.

Có điều, không phải lúc nào “rờ” và “sờ” cũng thay thế cho nhau được. Chúng ta nói sờ sẫm hay rờ rẫm, nhưng chỉ nói sờ soạng chứ không nói rờ roạng; và cũng chỉ nói rờ rệt chứ không nói sờ sệt. Người miền Trung và miền Nam vừa nói “sờ” vừa nói “rờ”; có cả chữ “rờ rờ” (đưa tay thoa nhè nhẹ đâu đó) vừa có chữ sờ sờ (hiển nhiên, ngay trước mặt).

Theo tôi, hai chữ “rờ” và “sờ” là hai từ tương tự, gần gũi về ngữ âm và ý nghĩa, chứ không phải là hai từ hoàn toàn đồng nghĩa. Trong cảm nhận của tôi, “sờ” là đưa tay chạm vào một vật gì đó trong khi “rờ” không phải chỉ chạm mà còn xoa nhẹ. Bởi vậy, tôi nghĩ là Huỳnh Tịnh Của đúng hơn các nhà từ điển học khác khi định nghĩa “rờ” là “lấy tay mà thăm mà lần”. Tức là có sự chuyển động.

Cũng xin lưu ý là phần lớn các cuốn từ điển sau Huỳnh Tịnh Của đều định nghĩa chữ “rờ” hay “sờ” một cách rất ư buồn cười.

Ví dụ Văn Tân và Hoàng Phê đều định nghĩa sờ là “đưa bàn tay lên trên một vật gì để xem vật ấy thế nào”. Đưa bàn tay lên trên một vật gì? Ừ, thì được. Nhưng tại sao lại phải thêm “để xem vật ấy thế nào”? Chẳng lẽ sờ hay rờ chỉ có một mục đích duy nhất là để tìm hiểu một cách nghiêm trang và nghiêm chỉnh như thế ư? Một người ngồi buồn, không biết làm gì, lấy tay rờ/sờ râu, chẳng lẽ chỉ để biết râu mình như thế nào ư? Một cặp tình nhân, trong lúc âu yếm, rờ/sờ nhau, cũng chỉ để “nghiên cứu” xem cái vật mình rờ hay sờ ấy như thế nào ư? Trời, nói thế, ai cũng là những nhà nghiên cứu sinh học hết ráo!

Chưa hết. Văn Tân còn định nghĩa chữ “sờ mó” như sau: “Đụng không có mục đích vào một vật”. Dựa vào định nghĩa ấy, những kẻ bị buộc tội sờ/rờ mó bậy bạ ai đó có thể cãi lại các công tố viên: Họ không làm điều gì đáng bị coi là xâm phạm tình dục cả. Đó chỉ là một hành vi “không có mục đích”. Ối giời!

Nhưng định nghĩa của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ mới hài hước. Theo hai ông, “rờ” có hai nghĩa. Thứ nhất, là sờ, là dùng tay mó. Ví dụ: “Đêm nằm tơ tưởng tưởng tơ / Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu không”. Thứ hai, là “lén nậng, bóp vật kín của đàn bà khi người ta ngủ.”

Đọc định nghĩa thứ hai, thú thực, có ba điều tôi không thể nào hiểu được: Một, tại sao chỉ nậng (hay nựng) và bóp vật kín của đàn bà mới được gọi là rờ? Còn ngược lại, khi đối tượng là đàn ông và người thực hiện động tác “nựng” và “bóp” ấy là phụ nữ thì gọi là gì nhỉ? Hai, tại sao lại phải nhất thiết là “vật kín”? Với những vật không kín lắm, như tay, chân hay… nhũ hoa, chẳng hạn, thì sao? Và ba, tại sao phải đợi đến lúc “người ta ngủ”?

Tôi không nghi ngờ sự cẩn thận và uyên bác của hai ông Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, đặc biệt của ông Lê Ngọc Trụ, về phương diện ngôn ngữ. Nhưng đọc xong định nghĩa về chữ “rờ” của hai ông, tự nhiên tôi đâm ra phân vân và nghĩ ngợi: chả lẽ cả đời hai ông ấy chưa từng biết sờ hay rờ là gì cả?

Nếu đúng thế, thật tội nghiệp!



GIỌT TÌNH SẦU

GIỌT TÌNH SẦU

Từng giọt
Sầu rơi
Quánh đặc
Ngôn lời
Niềm đau thiêm thiếp ngủ vùi
Ru Ta giấc lỡ ngậm ngùi xót xa

Từng giọt
Tình vơi
Quấn chặt
Tim đời
Mù xa vạn thuở không người
Chiều hong tuổi nhớ xám trời hư vô

Từng giọt
Buồn ơi
Lấp kín
Môi cười
Vàng xưa bạc phếch cả rồi
Tìm dư hương cũ - ôi thôi huyễn tình!

HANSY


BÃO BIỂN

132.
BÃO BIỂN

Băm cho tan nát chòi hoa
Mua cây mua lá lợp nhà mới chơi

Cầu kì họa bút vẽ vời
Rồng bay phượng múa cho trời thâm đen

Nào đâu bởi tại gió ghen
Oánh tan cái ngói đốt đèn trông mưa

Võng tình lúc lắc đong đưa
Đứt dây rớt xuống cày bừa nồi yêu

Tìm gì ăn đỡ chợ chiều
Để dành tiền tuyển thơ yêu lưu đời.

Hoatim

GIÓ MƯA

Gió tình hẹn với mưa hoa 
Đem trăng đổi lấy mặn mà giỡn chơi 
Mày đưa mắt liếc tuyệt vời 
Pháo bông rộ nở giữa trời đêm đen.

Lắc lư cho đất phải ghen 
Múa may cho sóng cũng liền với mưa 
Nồng nàn mấy nhịp đò đưa 
Qua bao giang khúc mới vừa mộng yêu.

Dậy trời chớp sớm mưa chiều 
Trong nhau quyện một liêu xiêu góc đời
Ru tình thoang thoảng à ơi
Lửa lòng nhóm lại gọi mời bồng lai.

Nồng yêu đượm mắt ngọt tai
Nụ hồng ta ngậm, trang đài liêu phiêu…

HANSY

♥♥


ĐỜI LÃNG TỬ

ĐỜI LÃNG TỬ

Giang hồ tung cánh đã trăm đường
Nối kết anh hào khắp bốn phương
Trung trực luôn gìn nền đạo lý
Thẳng ngay mãi giữ đạo cang thường
Thi thư kỷ vật bao là tập
Nhạc họa lưu tình biết mấy chương
Nhất ngộ cuộc đời là hữu hạn
Tinh thần vẹn tiết sáng lừng gương

Tinh thần vẹn tiết sáng lừng gương
Xướng họa giữa đời mộng góp chương
Mong nguyện tâm linh hoài rạng suốt
Ước ao cuộc sống mãi bình thường
Giao tình bằng hữu tròn muôn lối
Kết nghĩa anh tài đủ vạn phương
Trăng sáng rượu đầy rung phách nhịp
Cùng nhau nhuận sắc dậy thơ Đường

HANSY

♥♫ -Hương Thầm


Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2016

9- CHẤT HÀI

VŨ ĐỨC SAO BIỂN
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI


9.
CHẤT HÀI

Trước nay, văn học thế giới đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm của các bậc thầy hài hước. Đưa nụ cười vào văn chương, tạo ra sự hứng thú cho người đọc đã có từ những vở Kỵch của Molière (Pháp), Azit Neshin (Thổ Nhĩ Kỳ), Slavemir Mrojek (Ba Lan). Và trong thời đại chúng ta, tiếng cười có nhiều trong các tờ báo chuyên hài hước, các tiểu phẩm trào phúng, châm biếm. Văn học Trung Quốc cũng đã trước bạ tên tuổi của các bậc thầy cười: Ngô Thừa Ân với siêu phẩm Tây Du Ký, Lỗ Tấn với tác phẩm A.Q Chính Truyện. Trên nền tảng cái cười Trung Quốc, Kim Dung tiên sinh cũng đưa nụ cười vào văn chương của ông, dù văn chương đó ở phạm trù văn chương kiếm hiệp.

Những tình huống trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung luôn luôn sôi động với tính chất đấu tranh, bạo lực, mưu toan, thủ đoạn. Vậy thì việc đưa tiếng cười vào trong những tình huống này quả là một điều khó thực hiện nhất là giữ làm sao cho chất cười đó không phá vỡ cái tổng thể của khái niệm võ hiệp tiểu thuyết. Kim Dung đã làm được việc đó với ngòi bút khéo léo của một bậc thầy và trong 12 bộ võ hiệp tiểu thuyết của ông, chất hài hước đã được dàn trải khắp các chương tạo ra niềm hứng thú cho độc giả.

Trong tác phẩm của ông, có những nhân vật khá hài hước về ngoại diện, tâm hồn thật trẻ thơ và hành sự rất tếu. Với bộ Xạ điêu anh hùng truyện, ta bắt gặp một nhân vật đáng yêu như vậy: Lão ngoan đồng Châu Bá Thông. Châu Bá Thông là nhân vật số 2 của phái Toàn Chân, sư đệ của Vương Trùng Dương, dưới tay có cả một đám sư điệt già nua cổ thụ nhưng tâm hồn ông vẫn là tâm hồn của một đứa bé ngây thơ, trong sáng. Ngay ngoại hiệu Lão ngoan đồng (ông già mà chơi như con nít) cũng đủ để mô tả đặc điểm tính cách nhân vật Châu Bá Thông. Theo sư huynh Vương Trùng Dương sang hoàng cung nước Đại Lý, Châu Bá Thông đã quan hệ tình dục với một cung phi của hoàng gia, đẻ ra một đứa con nhưng nuôi không được. Châu Bá Thông là một cao thủ, suốt đời chẳng biết sợ hãi ai nhưng mỗi khi nghe đến tên nàng cung phi đã lỡ thất thân với mình là ông ta chạy dài. Suốt đời Châu Bá Thông chuyên làm những việc cổ quái. Ngay đến môn võ công ông tự suy nghĩ ra cũng có cái tên kỳ dị không kém: Song thủ hỗ bác (hai tay vừa giúp nhau vừa đánh nhau). Đó là kết quả của một cách phân ý thật lý tưởng: tay trái vẽ hình vuông, tay mặt vẽ hình tròn cùng một lúc, sao cho vuông ra vuông, tròn ra tròn. Chỉ có Châu Bá Thông là làm được việc ấy và luyện thành công kỹ thuật Song thủ hỗ bác. Võ công ông ta đạt đến trình độ kinh người nhng chẳng hề giết chóc ai, hãm hại ai. Mỗi khi ông ta xuất hiện là tình huống trở nên vui nhộn.

Trong Tiếu ngạo giang hồ, ta gặp rất nhiều nhân vật hài hước. Đó là Lệnh Hồ Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, một nhân vật được mô tả là "lãng tử vô hạnh, thanh danh tàn tạ". Phái Hoa Sơn nổi tiếng về sự nghiêm khắc giữ gìn thanh quy giới luật nhưng khi cao hứng lên, Lệnh Hồ Xung sẵn sàng bỏ tất cả ra sau gáy. Anh đánh bạc với bọn du thủ, uống rượu xai quyền cùng anh em giang hồ hào sĩ, đánh cho bọn đệ tử Thanh Thành phải "thí cổ hướng hậu bình sa lạc nhạn" (chổng đít ra sau tan tác như nhạn rơi bãi cát). Bị mụ ni cô - vợ của Bất Giới hoà thượng, má của ni cô Nghi Lâm - cạo đầu và suýt bị thiến vì từ chối tình yêu của Nghi Lâm, Lệnh Hồ Xung đã 'trả thù" hết sức ngộ nghĩnh. Anh hướng dẫn cho Bất Giới đại sư cách điểm huyệt mụ, đưa mụ vào khách sạn và... cởi quần áo mụ ra làm sao mụ còn chạy thoát khỏi tay Bất Giới. Học được kinh nghiệm quái chiêu đó, Bất Giới đã quỳ xuống lạy Lệnh Hồ Xung, xưng tụng là Lệnh Hồ sư phụ, thậm chí là Lệnh Hồ gia gia!

Bất Giới hoà thượng cũng là nhân vật hài hước số một. Lỡ yêu một ni cô, ông ta cũng cạo đầu đi tu. Nhưng quy luật của Phật gia có ngũ giới cấm, trong đó có cấm tà dâm, mà mục đích của Bất Giới là đi tu để ăn ở cho được với người ni cô đó. Ông ta tự đặt cho mình ngoại hiệu là Bất Giới (chẳng cấm cản gì ráo), đã lấy được ni cô và đẻ ra Nghi Lâm. Nghi Lâm cũng đi tu, làm ni cô của phái Hằng Sơn. Cô thầm yêu trộm nhớ Lệnh Hồ Xung, ân nhân đã cứu mình ra khỏi tay dâm tặc Điền Bá Quang. Thế là Bất Giới phải đi tìm Lệnh Hồ Xung, ép buộc anh làm nhà sư để cưới Nghi Lâm vì trên đời này "chỉ có ông sư là cưới được bà vãi". Đối với Điền Bá Quang, Bất Giới trừng trị thẳng tay: cạo đầu buộc làm sư, đặt pháp hiệu là Bất Khả Bất Giới (không thể không cấm được), buộc Điền Bá Quang tôn Nghi Lâm làm sư phụ rồi buộc Điền Bá Quang làm mai "sư phụ" mình với Lệnh Hồ Xung.

Tuy nhiên, nói đến tiếng cười trong Tiếu ngạo giang hồ, người đọc vẫn nhớ đến Đào cốc lục tiên nhiều nhất. Đó là 6 anh em, tên là Đào Hoa Tiên, Đào Chi Tiên, Đào Điệp Tiên, Đào Thực Tiên, Đào Cán Tiên, Đào Căn Tiên. Họ gồm đủ hoa, nhánh, lá, cành, gốc, rễ nhưng bị cái tội hồ đồ, không phân biệt được ai là lão tam; ai là lão tứ ! Võ công cao cường, tâm ý tương thông, họ không sợ bất kỳ địch thủ nào trên đời. Suốt ngày họ đánh nhau, văng tục, cãi lộn.. Mà cái kiếu cãi lộn của anh em nhà họ Đào cũng rất hoạt kê, càng cãi câu truyện càng rối rắm. Nhìn dưới khía cạnh triết lý, Đào Cốc lục tiên chính là những nhà luận lý học hình thức (logique formelle) của phương Đông. Đào Cốc lục tiên mồm năm miệng mười, suốt ngày chỉ nói, nói và nói; đến vua nhà Tống cũng không cấm họ im miệng được.

Nhưng có một người duy nhất có thể buộc họ câm miệng. Đó là Sát nhân danh y Bình Nhứt Chỉ. Bình Nhứt Chỉ có lệ cứu được một người là ra lệnh cho người đó hoặc anh em người đó đi giết một người khác. Trong một lần Đào Thực Tiên bị trọng thương, bọn ngũ tiên bèn khiêng đến cho Bình Nhứt Chỉ chữa nhưng miệng vẫn nói thiên hô bách sát. Bình Nhứt Chỉ quát một tiếng im là năm lão im ngay bởi vì nếu không im, Bình Nhứt Chỉ sẽ buộc bọn tiên giết tên Đào Thực Tiên! Khi Lệnh Hồ Xung được đưa lên gò Ngũ Bá Cương, Bình Nhứt Chỉ thú nhận rằng không thể chữa thương cho chàng được. Bọn Đào Cốc lục tiên bèn trả thù, đặt ra câu hỏi: "Cứu một người thì giết một người. Nay không cứu được người thì giết ai?" Chính cái luận lý học hình thức của bọn lục tiên đã khiến Bình Nhứt Chỉ tự suy nghĩ và cuối cùng, tự vận kinh mạch cho đứt, chết đi để xứng với ngoại hiệu Sát nhân danh y!

Lệnh Hồ Xung, Bất Giới hoà thượng, Bất Khả Bất Giới Điền Bá Quang, Đào cốc lục tiên là cái trục hài hước của Tiếu ngạo giang hồ. Chung quanh cái trục đó còn có nhiều nhân vật hài hước khác như Hướng Vân Thiên, Quang minh tả sứ của Triêu Dương thần giáo; Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn; bọn quần ni phái Hằng Sơn; bọn giang hồ thảo khấu 36 động 72 đảo... góp thêm tiếng cười cho tác phẩm. Vì thế, Tiếu ngạo giang hồ tràn đầy tiếng cười lạc quan, ngay trong những tình huống bi thương nhất.

Chất hài hước trong kiếm hiệp Kim Dung thường xuất hiện trong những tình huống nghịch lý, thoạt tiên thì có vẻ kỳ quái nhưng đọc kỹ thấy thú vị vô cùng. Ta có thể tìm ra một hồi như vậy trong bộ Hiệp khách hành. Phái Tuyết Sơn có nội biến, bọn Tiêu Tự Lệ, Thành Tự Học, Tề Tự Miễn, Lương Tự Tiến bắt giam chưởng môn rồi quay ra đánh nhau để dành chức chưởng môn. Ai cũng tự khoe khoang võ công mình cao cường và họ đánh nhau với những chiêu thức độc ác nhất, tinh vi nhất. Giữa khung cảnh như vậy thì Trương Tam và Lý Tứ, hai sứ giả của đảo Mộc Long đến phát thiếp mời chưởng môn phái Tuyết Sơn đi ăn Lạp bát cúc ngoài biển Đông. Mà "ăn lạp bát cúc" có nghĩa là ra đi không có ngày về. Cả bọn Tề Tự Miễn, Lương Tự Tiến, Tiêu Tự Lệ, Thành Tự Học sợ quá, chẳng ai muốn tranh cái chức chưởng môn nữa. Trương Tam và Lý Tứ bó buộc bọn họ phải đấu võ cho phân thắng bại để xác định chưởng môn. Thế là anh nào anh nấy chỉ đấu cầu thua, thậm chí còn đưa tay chân của mình vào đao kiếm địch thủ để được bị thương và dĩ nhiên, càng bị thương nặng càng tốt. Trận đấu có kiếm bay, có máu chảy nhưng chất hài hước của bốn nhân vật cầu thua lại hoá giải được chất sắt máu kia và làm cho chương tiểu thuyết cực kỳ sống động, thú vị.

Trong truyện võ hiệp của Kim Dung, có những nụ cười rất nóng và có những nụ cười rất lạnh. Cười nóng là cười ha hả, cười đau cả ruột, mọi người cùng cười kể cả độc giả. Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi Tinh Tú hải lão ma Đinh Xuân Thu và bọn đệ tử của lão xuất hiện thì tiếng cười nóng lại rộ lên. Ấy bởi vì với phái Tinh Tú, thói nịnh là một thứ võ công hàng đầu so với những thứ võ công khác trên đời. Đã có những tên đệ tử phái Tinh Tú đem sư phụ Đinh Xuân Thu của mình so sánh với Đức Khổng Tử và kết luận Đức Khổng Tử thua Đinh Xuân Thu vì Khổng Tử không có võ công. Giá mà Đức Khổng Tử sống dậy, đọc được những dòng này, chắc hẳn ngài cũng phải bật cười khoan khoái. Ngược lại với cười nóng là cười lạnh, buồn mà cười, thương mà cười. Đó là mối tình của Du Thản Chi với A Tử.

Đoàn A Tử là cô bé ác độc, đệ tử của Đinh Xuân Thu, bắt được Du Thản Chi để hành hạ cho thoả tính tàn bạo. Cô đã ra lệnh đánh Du Thản Chi thừa sống thiếu chết rồi nướng cái lồng sắt đỏ chụp vào đầu y, biến y thành tên Thiết sửu giải trí cho cô. Nhưng oái ăm thay, ngay từ cái nhìn đầu tiên, Du Thản Chi đã say mê tấm dung nhan mỹ miều của A Tử. Hắn có thể hứng chịu cả trăm ngàn đau khổ để được nhìn thấy A Tử nở một nụ cười. Đôi mắt hắn long lên căm hờn khi có ai hướng về phía A Tử một cái nhìn thiện cảm. Hắn có một pho võ công rất kỳ bí là hàn khí của Kim tầm trùng độc làm nội công và đồ hình của Dịch Cân Kinh làm chiêu thức. Hắn đánh ai một chưởng thì người đó hoá thành băng tuyết ngay. A Tử đui hai mắt, không còn nhìn thấy gì trên đời. Thế là Du Thản Chi đi nhờ người ta tháo cái lồng sắt ra khỏi đầu mình và khuôn mặt của hắn trở thành khuôn mặt dị dạng của quỷ sứ. Hắn kiếm một cái khăn trùm đầu, tìm về với A Tử và tự đổi giọng nói, xưng mình là Trang Tụ Hiền; dẫn cô bé chu du giang hồ, khoe với cô rằng mình là kỳ nam tử, đẹp như Phan An, Tống Ngọc! Rõ ràng là khi có mặt A Tử, hắn đã đánh cho nhiều người thất điên bát đảo nên A Tử hết lòng tin cậy. Chính vì để bảo vệ bí mật cho những lời khoe khoang khoác lác đó, hắn đã phải năn nỉ nhiều người khen hộ hắn anh tuấn, đẹp trai để vừa lòng A Tử. Cái hài hước khi xây dựng cặp nhân vật A Tử - Du Thản Chi của Kim Dung tràn đầy nước mắt, bảo cười cũng được mà bảo khóc cũng không sai. Đó cũng là chất hài hước của Lỗ Tấn trong A.Q Chính Truyện khi A.Q được đưa ra pháp trường!

Được cười với những nhân vật của Kim Dung thật là một điều sảng khoái. Cái sảng khoái đó nằm trong những diễn tiến ngộ nghĩnh của câu chuyện, khiến người ta không tin cũng phải tin. Một thí dụ sinh động nhất là chuyện tuyển phu của công chúa Văn Nghi nước Tây Hạ. Công chúa Văn Nghi đã từng bị Thiên Sơn Đồng Mỗ bắt, cởi trần truồng và đem vào hầm nước đá tối thui cho nằm cạnh nhà sư Hư Trúc. Mục đích của Đồng Mỗ là phá giới Hư Trúc và quả nhiên, nhà sư trẻ đã không thoát qua khỏi vòng trần luỵ. Lòng anh vừa đau khổ nhưng cũng vừa cảm thấy hạnh phúc. Và suốt đời anh vẫn nhớ người trong mộng nhưng không biết nàng tên là gì, ở đâu. Đùng một cái, nước Tây Hạ ra bảng chiêu phu cho công chúa Văn Nghi. Những thế lực chính trị cảm thấy đây là thời cơ để phục hưng nền quân sự của quốc gia vì kẻ nào làm phò mã nước Tây Hạ là kẻ đó có thể nắm thực quyền về quân đội. Đoàn Chính Thuần nước Đại Lý buộc con là thế tử Đoàn Dự phải đi. Cô Tô Mộ Dung Phục cũng đi đến cầu hôn với hy vọng phục hưng binh lực nước Đại Yên. Hoắc Đô Vương tử nước Thổ Lỗ Phồn cũng đến tranh thủ. Chỉ có chàng Hư Trúc là đi chơi, hoàn toàn không nghĩ đến chuyện tuyển phu. Tất cả chương trình tuyển phu chỉ gồm có 3 câu: "Trên đời, người thích ai nhất? Người ấy tên gì, ở đâu?". Các Vương tử, thế tử đều đáp xong. Đến lượt, người ta đùa cợt, đẩy Hư Trúc vào. Đáp câu thứ nhất, Hư Trúc bảo: "Trên đời ta chỉ thích nàng nhất". Câu thứ hai: "Tối quá, ta không biết tên". Câu thứ 3:"Trong hầm nước đá" Và chỉ 3 câu đó, Hư Trúc tìm ra người tình nhân - Mộng Cô - của mình, trở thành phò mã nước Tây Hạ giữa sự ngạc nhiên của mọi người. Hoá ra, trò tuyển phu đó không phải là một đòn phép chính trị nhằm đối địch với ai cả. Đó chỉ là một cách để tìm ra người đàn ông mà công chúa đã từng yêu dấu và trao thân gửi phận.

Thế nhưng, không có tác phẩm nào tập trung cao độ tính hài hước bằng bộ Lộc Đỉnh ký. Từ cách xây dựng nhân vật trung tâm đến tình huống diễn tiến câu chuyện, đến ngôn ngữ nhân vật, Lộc Đỉnh ký là một bộ hài Kỵch lớn. Không chương nào của tác phẩm thiếu tiếng cười. Chuyện bắt đầu khi Vi Tiểu Bảo, một tiểu lưu manh trong động điếm Lệ Xuân viện thành Dương Châu được Mao Thập Bát, một hào khách giang hồ đem lên Bắc Kinh. Bằng thủ đoạn ma mãnh, Vi Tiểu Bảo đã giết được Tiểu Quế Tử thái giám, hoá thân làm Tiểu Quế Tử. Từ đó, hắn thân cận được với vua Khang Hy, trở thành bạn nhỏ của nhà vua, giúp vua giết được loạn thần Ngao Bái, gia nhập thiên địa hội và hoạt động gián điệp. Hắn trở thành Chánh đô thống hoàng kỳ, phong tặng tước hiệu Ba Đồ Lỗ; Khâm sai đại thần đi công cán Vân Nam; Tứ hôn sứ; Bá tước; Nguyên soái cầm quân chinh phạt quân La Sát! Công lao hắn lớn hơn bất kỳ một vị cố mệnh đại thần nào của triều Khang Hy.

Để đạt được tột đỉnh vinh quang đó, hắn chỉ áp dụng hai thứ kinh nghiệm: một là kinh nghiệm sống trong động điếm và hai là những câu chuyện truyền kỳ trong bộ Anh Liệt Truyện mà hắn nghe được thủa còn ở Dương Châu. Thông qua nhân vật Vi Tiểu Bảo, người ta nhận ra một định đề bất ngờ: "Trên đời nầy, kỹ viện và hoàng cung là hai nơi trá nguỵ nhất". Đắc thủ kinh nghiệm từ kỹ viện đến hoàng cung, Vi Tiểu Bảo trở thành nhân vật đệ nhất trá nguỵ. Nhân vật trá nguỵ ấy đã trở thành Hối minh hoà thượng, sư đệ của Hối Thông, phương trượng chùa Thiếu Lâm; rồi sau đó lại trở thành trụ trì chùa Thanh Lương trên Ngũ Đài Sơn ! Nhân vật ấy đủ sức "trị" tên đại Hán gian Ngô Tam Quế; trở thành cố vấn đặc biệt cho Sa hoàng Nga La Tư; thay mặt Khang Hy Hoàng đế quan hệ giao hảo với Mông Cổ và Tây Tạng.
Thế nhưng, nhân vật quan trọng ấy không biết chữ. Trong 3 chữ họ tên của mình, Vi Tiểu Bảo chỉ đọc được chữ Tiểu vì chữ này dễ nhận ra với 3 nét. Ấy thế mà bọn nhà văn có tên tuổi trong lịch sử văn học triều Thanh như Cố Viêm Võ, Tra Y Hoàng phục lăn phục lóc, hết lời ca ngợi. Nhân vật ấy đưa vào trong văn chương một mớ ngôn ngữ thoá mạ bình dân, tục tĩu như "con mẹ nó", "tổ bà quân rùa đen", "phường chó đẻ"... Vi Tiểu Bảo "sáng tạo" ra những thuật ngữ mà chưa một thời đại nào người ta dám đem gán ghép cho những nhân vật cao quý trong xã hội phong kiến: công chúa Kiến Ninh được coi là con đượi non, thái hậu được gọi là mụ điếm già. Mớ ngôn ngữ ấy đã được "truyền bá". Trần Cận Nam, thầy của Vi Tiểu Bảo, cũng biết gọi thái hậu là "mụ điếm già". Vua Khang Hy cũng học thứ ngôn ngữ bình dân của Vi Tiểu Bảo mà mở miệng thoá mạ "con mẹ nó". Chẳng những thế, nhà vua cũng sẵn sàng làm những việc làm hết sức "bình dân", chẳng ra thể thống một Đại Thanh Hoàng đế chút nào. Tôi cho rằng đoạn trích sau đây có thể nói lên chất hài hước cao đó của Lộc Đỉnh ký:

"Sách thánh hiền đọc nhiều quá, toàn những đoạn khô khan. Đột nhiên, nhà vua được nghe những câu "Tổ bà nó", "Té đái vãi phân", tuy thô tục nhưng cũng thấy vui vui liền bắt chước nhưng chỉ khi nói với Vi Tiểu Bảo mới đưa ra. Hôm nay, nhà vua gặp phụ hoàng, vừa hoan hỉ vừa bi thương, nhưng thân cận cha được nửa giờ đã bị đẩy ra ngoài cửa chẳng biết từ nay còn có dịp nào gặp lại, trong lòng rất là khó chịu. May có Vi Tiểu Bảo nói năng thú vị làm vơi nỗi uất ức đi nhiều. Khi bàn tới đại sự trừ phản dẹp loạn, ngài lại nổi hùng tâm.
Nhà vua đứng dậy đi ra ngoài sân mấy bớc, hai tay bê mấy hòn đá bày ra dưới đất, miệng nói:
- Hán quân có tứ vương, nào Đông Vương, nào Tây phiên, nào Bắc biên, phải phân chia ra không thể để chúng liên hiệp với nhau được. Lại còn Định Nam Vương Khổng Hữu Đức nhưng may thằng cha này chết rồi, chỉ để lại một đứa con gái thì cách đối phó chẳng khó khăn gì.
Nhà vua dứt lời, vung chân đá một hòn đá ra ngoài rồi nói tiếp:
- Cảnh Tinh Trung thần dũng hơn đời nhưng lại là kẻ vô mưu nên chẳng có chi đáng ngại. Chỉ cần làm cho hắn không liên minh được với họ Trịnh ở Đài Loan là xong.
Nhà vua lại đá một hòn đá nữa đi rồi nói tiếp:
- Thượng Khả Hỷ thì phụ tử bất hoà. Giữa hai cha con hắn cũng thành thế nước lửa nhằm khuynh loát nhau, chắc chẳng làm nên trò trống gì.
Khối đá thứ ba bị hất tung đi. Chỉ còn một khối đá lớn nhất. Nhà vua nhìn chằm chặp vào khối đá này, ngơ ngẩn xuất thần.
Vi Tiểu Bảo cất tiếng hỏi:
- Tâu Hoàng thượng ! Phải chăng đây là Ngô Tam Quế ?
Vua Khang Hy gật đầu.
Vi Tiểu Bảo mắng liền:
- Thằng giặc thối tha này. Sao mi không chết đi khiến cho Đức Hoàng Đế phải vì mi mà tổn thương cân não. Tâu Hoàng thượng ! Xin Hoàng thượng đái vào người hắn.
Vua Khang Hy cười ha hả, nổi dạ trẻ thơ, vạch quần đái vào phiến đá.
Ngài cười nói:
- Ngươi cũng đái vào đi.
Vi Tiểu Bảo cười rộ. Gã vừa đái vừa nói:
- Hồi sách này kêu bằng Vạn tuế gia cao sơn lưu thuỷ. Tiểu Quế Tử ... Tiểu Quế Tử ...
Gã chợt nhớ thầy đồ nói chuyện Tam Quốc có một hồi kêu bằng "Quan Vân Trường thuỷ yếm thất quân" liền nói tiếp:
- "Tiểu Quế Tử thuỷ yếm thất quân"
Vua Khang Hy không nín được, lại cười ha hả. Ngài vừa thắt quần lại vừa nói:
- Sau nầy mà ta bắt được tên giặc thối tha kia thật sự thì sẽ đái hẳn vào người hắn.
Vi Tiểu Bảo thấy Tiểu Hoàng Đế ra chiều căm hận Ngô Tam Quế thì trong bụng mừng thầm tự nhủ:
- Ta cùng bọn Mộc Vương phủ đánh cuộc về vụ này. Thế là phe mình ăn chắc đến quá nửa rồi."
-
Và gần như không có nhân vật nào trong Lộc Đỉnh ký không có tính hài hước. Công chúa Kiến Ninh cũng biết chửi tục "Con mẹ nó, té đái vãi phân" và gây ra một hành động kinh thiên động địa mà không phải người phụ nữ nào cũng dám làm: lấy súng bắn nát bộ phận sinh dục của chồng chưa cưới. Hối Thông đại sư, trụ trì chùa Thiếu Lâm, ca ngợi sư đệ của mình là Hối Minh (tức Vi Tiểu Bảo) định lực cao cường khi đối đầu với bọn Cát Nhĩ Đan Vương tử mà chẳng biết Vi Tiểu Bảo sợ quá, thở cũng không nổi và đã “đi” ra đầy cả quần. Trừng Quang đại sư cầm đầu Thập bát La hán chùa Thiếu Lâm ngây thơ đến nỗi nghe Vi Tiểu Bảo đi chơi kỹ viện (động điếm) cũng cho rằng kỹ viện là một "viện" tương đương với Đạt Ma viện của chùa Thiếu Lâm. Thậm chí khi Trừng Quang đại sư nghiên cứu võ công cũng phải nhờ Vi Tiểu Bảo chỉ điểm, hướng dẫn!

Có người cho rằng Lộc Đỉnh ký là tác phẩm của thời đại chúng ta, Vi Tiểu Bảo là con người sống trong thời đại chúng ta. Tôi nghĩ là nhận định đó hết sức nghiêm túc và hợp lý. Với chất hài hước của Lộc Đỉnh ký, thế kỷ 20 hiện thân rành rành trong tiểu thuyết võ hiệp, với những con người, những tình huống, những suy nghĩ của nó.

Không dễ đưa chất hài hước vào văn chương như đưa vào sân khấu hay thơ ca. Tôi đã đọc Kim Dung nhiều lần trong đời. Với Du Thản Chi trong Thiên Long bát bộ, tôi nhỏ nước mắt. Với Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh ký, tôi cười ha hả. Nhiều đêm, chợt tỉnh giấc ngủ, nhớ đến Vi Tiểu Bảo, tôi bật cười một mình. Con người ngộ nghĩnh, thú vị, sống rất chân thật đó đã trở thành một biểu tợng hài hước của thế kỷ thứ 20 chứ không riêng gì trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung.

Trong hoàn cảnh đất nước chưa hoà bình, chiến tranh vẫn còn tiếp diễn nhiều nơi, lòng người hoang mang ly tán như xã hội miền Nam trước năm 1975, tác phẩm võ hiệp Kim Dung với những màn hài hước đặc sắc vụt trở nên phương tiện giải trí đắt giá. Tâm trạng chung của bạn đọc lúc đó là tìm ra một cái gì vui trong một đời sống có nhiều bế tắc và niềm bi thảm. Ta không thấy làm lạ khi người đọc đón nhận từng chương, từng hồi của tác phẩm Kim Dung đăng trên báo dưới dạng feuilleton. Tôi chưa nói đến giá trị văn học, giá trị tư tưởng, giáo dục. Chỉ một chức năng giải trí, văn chương Kim Dung đã đáp ứng đầy đủ cho người đọc. Hài hước trở thành một thang thuốc bổ, đem lại cho đời nụ cười ý vị.