Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2018

DÙNG SÁCH CHƯA CHUẨN DẠY 800.000 HỌC SINH


DÙNG SÁCH CHƯA CHUẨN
DẠY 800.000 HỌC SINH

Sách "Tiếng Việt Công nghệ Giáo dục lớp 1" với thay đổi về cách đánh vần, nhiều bài học bị cho là có nội dung thiếu chuẩn mực với học sinh lớp 1, được áp dụng ở 49 tỉnh, thành.

Khi xem cuốn sách "Tiếng Việt - Công nghệ giáo dục (CNGD) lớp 1" do NXB Giáo dục Việt Nam xuất bản, nhiều phụ huynh "té ngửa" với những nội dung bài học gây bức xúc.

Dạy trẻ những thói xấu

Nhiều giáo viên (GV), phụ huynh cho rằng có những bài học nội dung không phù hợp trẻ. Ví dụ bài "Quả bứa" (trang 87, sách "Tiếng Việt - CNGD lớp 1, tập 2") kể câu chuyện 2 cháu Năm và Sáu đi qua vườn quả. Năm thấy quả liền la (hô) to và Sáu nhặt quả bứa. Hai cháu giành qua giành lại, cậu Cả đi qua và phân xử.

Cậu Cả bổ quả bứa và phán: "Năm, mày thấy quả bứa, hãy nhận lấy nửa vỏ này. Sáu, mày nhặt quả bứa, hãy nhận lấy nửa vỏ này. Dành phần ruột trả thù lao cho quan tòa phân xử, của tao. Cậu Cả vừa ăn vừa bỏ đi".

Theo đánh giá của một GV, lời lẽ trong câu chuyện rất phản cảm, gọi nhau bằng mày - tao, ý nghĩa thì chỉ dạy các cháu cách sống tiểu xảo. Chưa hết, sách còn có nhiều bài học mà trong câu chuyện lại ẩn hiện ý nghĩa "mớm" cho trẻ những thói xấu như tọc mạch, xu nịnh, nói dối, châm biếm người khác…

Nhiều từ ngữ mang tính tiêu cực chứ không có ý nghĩa giáo dục. Một GV tại trường Tiểu học An Dương (TP Hải Phòng) phàn nàn có lần dạy đến câu "Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen", một học sinh (HS) đã hỏi cô "đánh ghen" là gì khiến cô giáo lúng túng không biết phải giải thích thế nào cho các em HS lớp 1 hiểu.

Bộ sách giáo khoa (SGK) được triển khai tới 49 tỉnh, thành trên cả nước nhưng lại dùng quá nhiều từ địa phương như "bể" (biển), "gà qué", "quả chấp", "bé huơ", "khươ mũ". Một GV phản ánh trang 47, quyển 1 sách "Tiếng Việt -  CNGD lớp 1" có bài "Nghỉ hè cả nhà đi bể". Rất nhiều HS không biết đi bể là đi đâu vì trẻ em miền Nam chỉ biết đi biển.

Bộ sách này cũng bị chính các GV phản ánh có nhiều từ láy khó với cả người lớn chứ đừng nói đến HS lớp 1 như "thia lia", "thìa lìa", "chon chót", "sứt sát", "quằm quặp", "khuýp khuỳm khuỵp"… Câu thành ngữ, tục ngữ HS không hiểu mà chỉ học vẹt như "trăm thứ bà giằn", "bạt ngàn san dã", "đổ vỡ tóe loe"…

Tranh cãi vì cách đánh vần lạ

Với cách đánh vần được dạy trong "Tiếng Việt - CNGD lớp 1", HS được dạy cách phân biệt giữa âm và chữ. Âm là vật thật, âm thanh, chữ là vật thay thế, dùng để ghi lại, cố định lại âm.

Theo đó, không phải lúc nào cũng có sự tương ứng 1-1 giữa âm và chữ. Thông thường, một âm được ghi lại bằng một chữ cái (a, b, d, đ, e, l, m...) nhưng ở sách này, một âm ghi lại bằng một chữ, nghĩa là các chữ ghi âm có vai trò như nhau.

Do đó, một âm /chờ/ được ghi lại bằng một chữ ch (chữ: chờ) chứ không phải được ghép lại từ 2 chữ c và h. Có những trường hợp một âm không phải chỉ được ghi lại bằng một chữ mà có thể là 2, 3, 4 chữ, do đó cần có căn cứ luật chính tả.

Ví dụ : Âm "ngờ" được ghi bằng 2 chữ ng và ngh (ngờ kép). Âm "cờ" được ghi bằng 3 chữ: c (cờ), k (ca) và q (cu). Âm "ia" được ghi bằng 4 chữ: iê, ia, yê, ya…

Về phát âm, theo sách "Tiếng Việt - CNGD lớp 1", HS đánh vần theo âm, không đánh vần theo chữ. Ví dụ "ca: /cờ/ - /a/ - ca", "ke: /cờ/ - /e/ - /ke/", "quê: /cờ/ - /uê/ - /quê/"… Do đánh vần theo âm nên khi viết phải viết theo luật chính tả: Âm "cờ" đứng trước âm /e/, /ê/, /i/ phải viết bằng chữ k (ca). Âm "cờ" đứng trước âm đệm phải viết bằng chữ q (cu), âm đệm viết bằng chữ u…

Bà Nguyễn Thị Thanh Loan, Trung tâm Công nghệ Giáo dục - NXB Giáo dục Việt Nam, đơn vị biên soạn sách "Tiếng Việt - CNGD lớp 1", cho hay mục tiêu của bộ môn là HS phải đọc thông, viết thạo, nắm vững cấu trúc ngữ âm của tiếng, nắm vững luật chính tả, từ đó HS không thể tái mù.

Bà Loan khẳng định với phương pháp này, HS được học luật chính tả rất kỹ, theo nguyên tắc gặp ở đâu sẽ giải quyết ở đó. Nhờ đó, HS sẽ nắm luật rất kỹ và không bị viết sai chính tả.

Bà Loan nói thêm với môn "Tiếng Việt - CNGD lớp 1", các em sẽ học cấu trúc ngữ âm của tiếng, không phải đi từ chữ rồi trở lại âm như chương trình hiện hành, mà CNGD đi từ âm đến chữ, tức là đi từ trừu tượng đến cụ thể.

GS.TS Nguyễn Văn Lợi - nguyên Phó viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam - cho rằng đây là vấn đề khoa học và cần thận trọng khi đánh giá. GS Lợi cũng băn khoăn khi cho rằng không thể đưa ra câu trả lời đánh giá đúng - sai và tính hiệu quả trong giáo dục của chương trình cải cách.

Tuy nhiên, ông cho rằng nếu đưa chương trình dạy đại trà, phụ huynh chắc chắn sẽ thấy khó, vì người ta không hiểu khái niệm để dạy cho con được. Ngay cả khái niệm "chữ" và "âm", thế nào là âm đầu, thế nào là âm cuối, thế nào là phần vần, âm đệm, đâu là nguyên âm chính, âm cuối… đều rất khó đối với các phụ huynh và họ lo lắng là điều dễ hiểu.

Cuốn sách đã được vào trường học như thế nào?

Chương trình CNGD của GS Hồ Ngọc Đại được thí điểm năm 1978, sau đó năm 1985 được mở rộng ra các tỉnh. Đến năm 2000, chương trình được áp dụng tại 43 tỉnh, thành nhưng sau đó bị tạm dừng vì Luật Giáo dục 2005 quy định thực hiện một chương trình, một bộ SGK thống nhất trong cả nước.

Năm 2008, chương trình này được quay lại thực hiện ở 8 tỉnh. Năm học 2010-2011, Bộ trưởng GD&ĐT lúc đó là ông Phạm Vũ Luận đã cho phép thí điểm bộ sách này trong nhà trường. Đến nay, chương trình đã được áp dụng tại 49 tỉnh, thành với hơn 800.000 HS.

GS Nguyễn Minh Thuyết, Tổng chủ biên chương trình phổ thông mới, cho biết sách "Tiếng Việt - CNGD lớp 1" là tài liệu thực nghiệm khoa học, được phép dạy trong một số trường tiểu học. Do được chỉ đạo ghép với mô hình trường học mới (VNEN), nhiều tỉnh, thành muốn áp dụng VNEN đã tiếp nhận sách này, đưa vào một số trường tiểu học ở địa phương.

GS Thuyết khẳng định đây không phải SGK nằm trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, cũng không phải sách viết theo chương trình giáo dục phổ thông mới.

Đầu năm 2017, Bộ GD&ĐT đã cử một số đoàn công tác đi khảo sát, đánh giá hiệu quả thực hiện cuốn "Tiếng Việt - CNGD lớp 1" tại các địa phương trên toàn quốc. Dựa trên kết quả khảo sát thực địa này, ngày 19/4/2017, bộ trưởng GD&ĐT đã ban hành quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia thẩm định cuốn "Tiếng Việt - CNGD lớp 1".

Trên cơ sở kết luận của Hội đồng Quốc gia thẩm định, NXB Giáo dục Việt Nam đã tổ chức chỉnh sửa tài liệu và xin lại ý kiến góp ý của hội đồng. Sau khi được hội đồng góp ý, tài liệu này đã được chỉnh sửa, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu giáo dục ở cấp tiểu học. 

Bộ sách “Tiếng Việt - Công nghệ giáo dục lớp 1” gây tranh cãi. Ảnh: Hà Nguyễn/Người Lao Động.

Nhiều chuẩn mực bị phá vỡ

Nhiều GV cho rằng nhiều chuẩn mực bị phá vỡ trong cuốn sách nhất là khi được dạy cho HS ở độ tuổi tiểu học.

Hiệu trưởng một trường tiểu học tại quận 1, TP.HCM nói nguyên tắc cơ bản của SGK phải là tính phổ thông, dễ hiểu, không phân biệt vùng miền. Tuy nhiên, nhìn vào bộ sách, có vẻ những người biên soạn chỉ soạn sách cho một địa phương nào đó.
Chẳng hạn, bài học về vần "oe", trong sách công nghệ minh họa bằng hình ảnh và 2 từ "gà qué" và "ngóe". Nhiều phụ huynh kêu trời vì không hiểu con "gà qué" và "con ngóe" là con gì. "Điều này đi ngược với quy chuẩn về ngôn ngữ và tính đại trà trong giáo dục" - vị này nói.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Thúy (TP Đà Nẵng) từng đặt ra nhiều câu hỏi đề nghị bộ trưởng GD&ĐT làm rõ trách nhiệm trong việc thử nghiệm bộ sách này. Cuối tháng 10/2017, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã có văn bản phúc đáp về kết quả đánh giá tài liệu này.

Theo đó, bên cạnh những ưu điểm, hội đồng quốc gia thẩm định tài liệu này cũng chỉ ra nhiều nhược điểm như mục tiêu giúp HS phát triển kỹ năng nói và nghe chưa được thể hiện trong tài liệu. Các hướng dẫn, hoạt động giúp HS đọc hiểu bài đọc như tìm hiểu nghĩa của từ, nội dung của câu và đoạn văn, trả lời câu hỏi đọc hiểu chưa được chú trọng. Vì vậy, HS có thể đọc thành tiếng văn bản nhưng không hiểu nghĩa.
Bên cạnh đó, tài liệu cũng chưa đáp ứng tốt mục tiêu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, hạn chế này thể hiện rõ nhất qua phần ngữ liệu. Việc rèn luyện cho HS kỹ năng phân tích cấu trúc âm tiết và luyện phát âm đối với HS bản ngữ (tiếng Việt) là không thật sự cần thiết và không phù hợp với phương pháp học bản ngữ….

Theo Yến Anh - Đ. Trinh - L. Anh / Người Lao Động


GS HỒ NGỌC ĐẠI NÓI VỀ CÁCH ĐÁNH VẦN LẠ

GS HỒ NGỌC ĐẠI 

NÓI VỀ CÁCH ĐÁNH VẦN LẠ
18:08 30/08/2018

Trước ý kiến cách đánh vần lạ gây hoang mang, GS Hồ Ngọc Đại cho rằng nhiều phụ huynh không can thiệp việc học của con, kệ chúng học ở trường, không áp đặt cách của mình lên con.

CÁCH ĐÁNH VẦN LẠ TRONG SÁCH CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC


CÁCH ĐÁNH VẨN LẠ
TRONG SÁCH CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

Cách đánh vần theo sách Tiếng Việt Công nghệ Giáo dục lớp 1 phân biệt rõ âm và chữ. Ngoài ra, mọi tiếng chỉ đánh vần qua hai bước.









Theo Zing


NGƯU LANG – CHỨC NỮ [Toàn truyện]

NGƯU LANG – CHỨC NỮ
[Toàn truyện]
1.
THẤU CẢM SAO TRỜI

Vào tháng Bảy hàng năm mưa lạ
Rơi nhùng nhằng khắp cả Bắc-Trung
Thượng tuần mưa-tạnh lung tung
Tiếp thì dai dẳng kiểu vùng vằng nhau.

Nhìn lên thấy chòm sao Ngưu-Mã
Trước xa rời nay đã gần hơn
Ngân Hà ly biệt tủi hờn
Hai ngôi sao sáng dỗi đơn chiếc kìa.

Vì đâu phải cách chia tội nghiệp
Mà tháng này lại hiệp thành đôi?
Giữa sông một dãy sao bồi
Giống y cầu bắc kiểu môi giới tình.

Ở dưới trần thấy tinh tú hợp
Thấu cảm lòng, choáng ngợp thành thơ
Kỳ diệu thay, ngưỡng vô bờ
Vô tri còn thế, đẫm tơ tóc nguyền…
2.
NGỘ TÌNH CỜ

Theo cổ tích, ở miền hạ giới
Có một chàng tên gọi Ngưu Lang
Chăn trâu là việc của chàng
Tinh mơ thức dậy, hát sang sảng lời.

Trâu đầu đàn, thót ngồi lên trước
Tiêu sau lưng, cất bước cùng đi
Khi nhàn ghé đá phẳng lì
Tiếng tiêu huyễn hoặc đắm thi vị nồng.

Ngộ tình cờ, tiên hồng lấy nước
Cởi xiêm y, đuổi rượt đùa vui
Chàng Ngưu nấp kỹ dòm chui
Chờ tiên xuống tắm lại lui cui tìm.

Lấy được bộ áo xiêm, rút vội
Lui nhà sau lén gởi góc bồ
Xếp nhanh quần áo vừa khô
Chạy ù ra vũng, dậy vô kể mừng…
 
3.
TAO PHÙNG

Cũng vừa lúc nắng rừng xuống thấp
Tiên về trời, Ngưu nấp dòm xem
Một nàng sắc nước hương kèm
Người không mảnh vải, khiến thèm khát ghê.

Liền quăng vội áo về phía ấy
Tiên ngay liền nhìn thấy mặc vô
Chàng Ngưu xuất hiện, hỏi vờ:
Mặt trời sắp lặn sao thơ thẩn này?

Tiên thú thật, chẳng bay lên được
Bởi áo thần gió ngược mù tăm
Hai người tìm kiếm lăm xăm
Trời thêm tối mịt, áo thăm thẳm nào.

Lại ngán sợ mưa rào bất chợt
Ngưu ngỏ lời, ghé một đêm thôi
Tới đây nhà cũng gần rồi
Ngày mai sáng sủa hãy thôi thúc tìm…
4.
KẾT DUYÊN

Cực chẳng đã đành im tiếng nói
Tiên theo về giữa nỗi niềm lo
Qua đêm một giấc ngủ khò
Sáng mai thức dậy lại dò dẫm đi.

Ba ngày suốt chẳng khi ngừng kiếm
Cuối cùng nàng điềm tĩnh khai ra
Vốn tên Chức Nữ ấy mà
Út yêu Ngọc đế tính đa cảm lòng.

Ngưu để nghị tơ hồng đính ước
Nghĩa muối gừng xin được bền lâu
Cả nhà xúm lại thêm vào
Khiến tiên cũng thấy trỗi dào dạt thương.

Âu phận số nhan hường đã định
Xin cùng chàng ước tính ngàn năm
Vừa hay gặp buổi trăng rằm
Cùng nhau dệt ái, mộng đằm thắm duyên.
 5.
HẠNH PHÚC

Làm đám cưới, thệ nguyền mãn kiếp
Trầu cau này vôi quệt làm tin
Cùng nhau nồng mặn giữ gìn
Tào khang gắn bó, dạ tin cậy hoài.

Dù cuộc sống sắn khoai đạm bạc
Vẫn luôn ngời hoan lạc nồng mê
Nghĩa tình vẹn cả trăm bề
Dù tiên với tục mãi kề cận yêu.

Chàng hai  buổi sớm chiều chăn giữ
Nàng ở nhà lo đủ ngoài trong
Mẹ cha thấy mát cả lòng
Họ hàng khen mãi, thật trong trẻo hời.

Được một năm, ra đời chú nhóc
Kháu khỉnh nà, ít khóc, nhiều vui
Vợ chồng chia ngọt sẻ bùi
Cùng nhau hiệp lực, tạo vui vẻ nhà.
6.
TRẮC TRỞ

Bỗng một hôm nàng ra lấy thóc
Lại quơ nhằm một bọc vải con
Mở ra, sửng sốt kinh hồn
Thấy xiêm y cũ chợt dồn dập đau.

Tức một nỗi chàng sao dối gạt
Không cho nàng áo khoác về cung
Nhớ cha nhớ mẹ vô cùng
Nhớ miền tiên cảnh, dậy nung nấu lòng.

Đôi cánh trắng khoảng không lướt nhẹ
Phút chốc đà khe khẽ rời xa
Giữa trời mây gió bao la
Tự do vùng vẫy, gặp cha mẹ mừng.
…….
Ngọc Hoàng giận, bảo ngừng cấp phép
Tiên đành lòng gác xép ngùi thương
Chồng con xa cách trăm đường
Lia thia quen chậu… nhớ hương lửa nào…
7.
ĐOÀN VIÊN

Ngưu tới nhà, nghẹn ngào hối hận
Khúc tiêu sầu lắm bận tìm quên
Lời đau vẳng đến trăm miền
Vọng vào thượng giới, thảm phiền muộn loang.

Chức Nữ phải nhặt khoan nhờ mẹ
Nói vua cha giảm nhẹ tội hình
Cho cùng tái ngộ triều kinh
Nợ duyên nối lại, vẹn tình nghĩa xưa.

Nàng khóc mãi, gió mưa chẳng ngớt
Cha xiêu lòng lệnh rước chàng lên
Dẫu cho kết hợp tâm nguyền
Vẫn đày hai đứa, chớ huyên náo nhiều.

Sông Ngân đó, sớm chiều cách trở
Chỉ mỗi năm, chồng vợ gặp nhau
Quạ đen chung sức bắc cầu
Từ Ba đến Bảy đủ âu yếm rồi… 
8.
SỰ TÍCH MƯA NGÂU

Và từ đó, mưa trời đổ xuống
Tháng Bảy về, cuồn cuộn dòng thương
Nước mắt hai kẻ chung giường
Mà nay chia biệt, tủi vương vấn đầy.

Mưa sùi sụt dưa dây chẳng ngớt
Ấy chính là những giọt tình chung
Khóc than giữa buổi tương phùng
Tình trao chưa trọn, nuối vùng vẫy cao.

Nơi dương thế nhìn sao thấu cảm
Thương đôi tình thê thảm buồn chau
Đã thề ngọt mặn trầu cau
Trời xanh ghét bỏ thậm đau đớn hoài.

Mong đôi trẻ nguôi ngoai ngấn lệ
Còn gặp thời cũng kể là may
Vài câu đồng cảm phô bày
Mưa Ngâu sự tích khiến say đắm lòng…

HANSY
------------
Chú thích:
--------------
Ngưu Lang Chức Nữ (
牛郎织女), còn có tên gọi khác theo ngôn ngữ Việt Nam là Ông Ngâu Bà Ngâu, là một câu chuyện cổ tích rất nổi tiếng có xuất xứ từ Trung Quốc.
Truyện cổ tích này có liên quan đến các sao Chức Nữ (Vega) và sao Ngưu Lang (Altair), dải Ngân Hà và hiện tượng mưa ngâu diễn ra vào đầu tháng Bảy âm lịch ở Việt Nam.

Truyện thơ này viết theo phiên bản Việt Nam.


TỪ HÁN VIỆT, TỪ THUẦN VIỆT CÓ THỂ VÀ KHÔNG THỂ


TỪ HÁN VIỆT, TỪ THUẦN VIỆT
CÓ THỂ VÀ KHÔNG THỂ

Trên báo Văn Nghệ (Hội nhà văn Việt Nam), mục “Nói chuyện chữ nghĩa” có bài “Thay từ Hán-Việt bằng từ thuần Việt” của Phan Điển Ánh. Tác giả đưa ra một số  trường hợp cho rằng không thể thay thế và có thể thay thế từ Hán-Việt bằng từ thuần Việt. Xin có đôi lời trao đổi:

Từ “cá nhân” Phan Điển Ánh xếp vào những từ “không thể dùng từ nào khác thay thế được” là không đúng. Bởi theo tôi, trong từng trường hợp cụ thể vẫn có thể thay thế. Ví dụ “cá nhân” có thể thay bằng một người/một mình (Câu: Lợi ích cá nhân không thể đặt trên lợi ích tập thể = Lợi ích của một người không thể đặt trên lợi ích của nhiều người, hoặc: Cá nhân tôi không thể quyết định = Một mình tôi không thể quyết định; hay: Chiếc giường cá nhân = Chiếc giường một (giường cỡ hai người nằm là "giường đôi") v.v…Những từ thay thế từ “cá nhân” đều là từ tạm gọi  thuần Việt và có ý nghĩa tương đương, không hề khiên cưỡng.

Với những từ Hán Việt Phan Điển Ánh đề xuất có thể thay thế bằng "từ thuần Việt"cũng không hợp lý, cho dù tác giả lưu ý: “những từ cần thay đi và những từ cần thế vào không hoàn toàn tương đương ở mọi trường hợp” (Đã không thể thay thế hẳn từ Hán Việt bằng từ  thuần Việt trong "mọi trường hợp", thì đặt ra vấn đề "thay thế" làm gì thêm rắc rối?).

Ví dụ:
- Từ “quan sát” không thể thay bằng “xem xét” . Mặc dù khi giải nghĩa từng từ tố, quan có nghĩa là xem, sát có nghĩa là xét (như giải thích của Đào Duy Anh trong “Từ điển Hán Việt”). Trong thực tế, từ “quan sát” được hiểu là cách nhìn mang tính đại thể, tổng quát, nhìn từ xa, để thấy được, nắm được tình hình hoạt động hay tình trạng (thường là bề ngoài) của một sự vật, hiện tượng nào đó. Trong khi “xem xét” lại có nghĩa tìm hiểu, xét đoán một cách cặn kẽ, thấu đáo sự việc, bản chất vấn đề nào đó (không đơn thuần là bề ngoài) để rút ra nhận xét, kết luận cần thiết. Ví dụ, ta không thể thay thế từ "quan sát" trong "Đài quan sát" = "Đài xem xét", hoặc "Địch quan sát thấy mục tiêu..." = "Địch xem xét thấy mục tiêu...".  Ngược lại ta không thể viết: "Toà xem xét lá đơn kêu oan..." = "Toà quan sát lá đơn kêu oan...". Như vậy, “quan sát” và “xem xét” không phải là hai từ có nghĩa tương đương, không thể hoán đổi vị trí cho nhau trong mọi trường hợp.

-Từ “khiếm thị” , không thể thay thế bằng “kém mắt” như Phan Điển Ánh khẳng định. Bởi “khiếm”  đây có nghĩa là thiếu (trong từ khiếm khuyết), “thị” , có nghĩa là "nhìn", sự cảm nhận của con mắt đối với sự vật (trong từ thị giác, thị lực).  Từ“khiếm thị” 欠視 thường chỉ những người dị tật bẩm sinh, không có khả năng nhìn thấy. Bởi vậy, trong mọi trường hợp, từ “khiếm thị” không thể thay thế bằng  từ “kém mắt”, (hay mắt kém) với nghĩa thị lực kém hoặc mắt không nhìn thấy rõ lắm. Từ“khiếm thị” có thể thay thế bằng một từ khác, đó là  mù (chỉ chung những người không có, hoặc không còn khả năng nhìn thấy, do dị tật bẩm sinh, do tai nạn hoặc lão hoá). Tuy nhiên, cần lưu ý, người ta có thể gọi người khiếm thị là mù, nhưng không phải ngườimù nào cũng có thể gọi là khiếm thị. 

-Từ “phát biểu” không thể thay thế bằng từ “nói” trong mọi trường hợp như  Phan Điển Ánh đề xuất. Bởi vì, “phát biểu” thường chỉ ý kiến của người nào đó trước một tập thể, hội nghị, buổi toạ đàm hay cuộc họp, nhằm khẳng định, bày tỏ quan điểm chính thứccủa mình. Trong khi từ “nói” thiên về nghĩa giao tiếp thường ngày nói chung. Sẽ là khiên cưỡng nếu thay thế từ “phát biểu” trong câu: "Phát biểu ý kiến trước Quốc hội" = "Nói ý kiến trước Quốc hội".

Ngoài ra, còn rất nhiều từ, cụm từ Phan Điển Ánh đề xuất thay thế bằng từ, cụm từ thuần Việt khác, chưa hợp lý. Ví dụ  “người và phương tiện” không thể thay thế bằng“người và xe”, vì phương tiện không nhất thiết phải hiểu là xe, mà có thể là tàu thuyền, ngư cụ hoạt động trên sông biển. Hoặc “người tham gia giao thông” không thể thay thế bằng“người đi đường”, bởi "người đi đường" có khi không bao hàm ý nghĩa "tham gia giao thông", ví dụ người đi đường một mình, đi bộ trên đường đê, đường mòn vắng vẻ. Trong khi đó, "người tham gia giao thông" được hiểu là đi trên đường có nhiều người và phương tiện giao thông khác, chịu sự ảnh hưởng, tác động qua lại. Hoặc từ “giải thích” không thể thay bằng “phân bua”, vì "phân bua" không chỉ có nghĩa giải thích, mà còn bao hàm ý thanh minh cho một hành động, việc làm hay sự hiểu lầm nào đó (đồng nghĩa "phân trần"). Mặt khác, cơ sở nào để Phan Điển Ánh khẳng định từ “phân bua” là "từ thuần Việt"?,v.v...

Cần thấy rằng, việc thay thế "từ Hán Việt" bằng "từ thuần Việt", hoặc đã được Việt hoá là để nói và viết hay hơn, chính xác, dễ hiểu và đại chúng hơn... Ví dụ thay thế những từ khó hiểu, tạo hiệu quả rõ rệt trong mọi trường hợp như: thu ngân nên thay bằng thu tiền; đáo hạn nên thay bằng đến hạn; phân ưu nên thay bằng chia buồn... Không có lý do gì bỗng dưng cố tìm từ "thuần Việt" để thay thế cho "từ Hán Việt", ngay cả khi không cần thiết, hoặc khiên cưỡng. Thậm chí thay thế cả những từ đã được Việt hoá, phổ thông và không có nghĩa tương đương trong mọi trường hợp, như: “cường điệu = thổi phồng; vĩ đại = to lớn; thiếu nhi/nhi đồng = trẻ em/trẻ nhỏ; giải thích = phân bua; chưa chính xác = chưa đúng”, v.v…như cách đề xuất của Phan Điển Ánh. Trong khi đó, những từ thay thế không hay hơn, không ngắn gọn hoặc dễ hiểu hơn, thậm chí trở nên ngô nghê, thô thiển, thiếu chính xác.

HOÀNG TUẤN CÔNG
29/06/2008

VẠT NẮNG PHAI


158
VẠT NẮNG PHAI
[Thuận Nghịch độc]

Pha sắc lộng trời ảo huyễn loang
Lịm mê huyền khúc phả mơ đàn
Ngà trăng hẹn ước ngời tim trải
Xế nắng ươm thề ngát dạ loang
Hoa lá thẫm tình len chạm nẻo
Cỏ cây nồng ái quyện mơn làn
Hòa thơm giữa gió nguyền ân vọng
Xa ngút thẳm lời mải miết vang

Vang miết mải lời thẳm ngút xa
Vọng ân nguyền gió giữa thơm hòa
Làn mơn quyện ái nồng cây cỏ
Nẻo chạm len tình thẫm lá hoa
Loang dạ ngát thề ươm nắng xế
Trải tim ngời ước hẹn trăng ngà
Đàn mơ phả khúc huyền mê lịm
Loang huyễn ảo trời lộng sắc pha

HANSY

KHÚC RU CHIỀU

Pha màu huyễn lộng thắm trời loang
Phả gió hồn phiêu lịm bổng đàn
Ngà mắt đượm say mềm ngát vọng
Lả môi nồng đắm diệu trầm loang
Hoa tình quyện quấn lòng mơ quãng
Đóa mộng ròng quanh dạ xuyến làn
Hòa bước nhịp hoan lời ngọt lãng
Xa người gửi nhớ điệu thầm vang

Vang thầm điệu nhớ gửi người xa
Lãng ngọt lời hoan nhịp bước hòa
Làn xuyến dạ quanh ròng mộng đóa
Quãng mơ lòng quấn quyện tình hoa
Loang trầm diệu đắm nồng môi lả
Vọng ngát mềm say đượm mắt ngà
Đàn bổng lịm phiêu hồn gió phả
Loang trời thắm lộng huyễn màu pha.

Hà Thu

TÌNH THƠ GIỮA NET


TÌNH THƠ GIỮA NET

Ngọt ngào thay ân tình giữa Net
Chẳng chạm người, chết mệt cùng nhau
Còn hơn hứa hẹn trầu cau
Hồng nhan lãng tử dệt phau phau lòng.

Nào những lúc hương nồng luyến ái
Quấn quyện đời lúc trải nguyền thương
Dẫu khi cáp bị cắt đường
Cũng không ngăn nổi dạ vương vấn tình.

Mầm yêu ấy hồng xinh phả ngọt
Ấp môi thề thoáng lọt vào tim
Đi qua bao cảnh nổi chìm
Dù trên mạng ảo chẳng im ỉm lời.

Và cứ thế mộng đời thơm tỏa
Những vui buồn chan khỏa thời gian
Sóng âm đượm ngát bao làn
Chở hương tình tự đẫm ngan ngát nồng…

HANSY

HOANG LÒNG


HOANG LÒNG
[Thuận Nghịch độc]

Nhiều xót lặng đau phả sạm đời
Yểu lòng chao giọt đắng nguyền rơi
Tiêu tùng hận nẻo mơ tàn vợi
Thiếu hụt sầu cơn mộng dạt vời
Điều ước thuở xưa tình giận dỗi
Điệu buồn tim nhão giọng chìm vơi
Xiêu hồn dạ buốt tê nguồn cội
Chiều vọng khúc thương phủ tím trời

Trời tím phủ thương khúc vọng chiều
Cội nguồn tê buốt dạ hồn xiêu
Vơi chìm giọng nhão tim buồn điệu
Dỗi giận tình ôi thuở ước điều
Vời dạt mộng cơn sầu hụt thiếu
Vợi tàn mơ nẻo hận tùng tiêu
Rơi nguyền đắng giọt chao lòng yểu
Đời sạm phả đau lặng xót nhiều

HANSY