Thứ Năm, 31 tháng 1, 2019

AI MÀ NÓI DỐI VỚI AI


AI MÀ NÓI DỐI VỚI AI

Từ ngày xưa hẳn đã bao thế hệ người Việt không khỏi mỉm cười khi nghe câu ca dao:

Ai mà nói dối với ai
Thì trời giáng họa cây khoai giữa đồng

Ở nông thôn Việt Nam ngày xưa, người ta một khi thề thốt mà đã phải gọi đến cả ông trời, tức là câu chuyện đã đến lúc nghiêm trang hoặc rất gay cấn. Một số cách thề thốt nặng lời thường gặp là: Nếu như thế… như thế… thì trời tru đất diệt (trời đánh thánh vật, trời làm ốm làm đau, trời làm mù hai mắt, trời làm…), hoặc: Trời giáng hoạ đứa nào mà…

Thử tưởng tượng tình huống của câu ca trên: Giữa đống hoang tàn của những bát đĩa vỡ và trong những bề bộn của những ngôn từ chì chiết chát chúa vì ghen tuông, bỗng ỏn ẻn một giọng điệu mô phỏng và bóp méo lời thề thốt quen thuộc: Nếu mà ai nói dối với ai đó thì trời sẽ “giáng họa” vào cây khoai giữa đồng… Cái ngược đời là ở chỗ: Tình thế thì cực kỳ nghiêm trọng (đến mức phải thề gọi đến cả trời), mà dưới cái vỏ "thật thà" kia lại là một nội dung hết sức ỡm ờ!

Sự thể là: Trong lời thề thốt “Ai mà nói dối với ai…”, thì ai ở vị trí thứ nhất (ai mà…) có thể là chỉ người nói, còn ai ở vị trí thứ hai (… với ai) có thể chỉ người nghe. Nhưng cũng có một cách hiểu khác rằng “ai” ở vị trí thứ nhất là người nghe, còn “ai” kia là người nói. Thậm chí còn có thể nghĩ rằng “ai” ở cả hai vị trí đều là những người khác nào đó, là bất kỳ người nào (chứ không phải là ai trong hai người)… Chính sự không rõ ràng đó đã tạo nên vẻ ỡm ờ trong lời thề thốt có vẻ thật thà ấy.

Nhưng chưa hết: Vẻ ỡm ờ còn ở vế thứ hai của câu ca “Thì trời giáng họa cây khoai giữa đồng”. Cây khoai giữa đồng nào đó cũng là một sự vật hết sức kém xác định, và nhất là nếu nó lại bị "giáng họa" thật thì phỏng có liên quan gì đến ai!

Nhân đây xin được bàn thêm rằng cái hình ảnh “cây khoai giữa đồng” tội tình vì bị đòn oan nọ rất dễ làm liên tưởng tới một lời thanh minh khác có vẻ thật thà hơn trong câu ca dao:

Anh đang vác cuốc thăm khoai
Nào anh có dám thăm ai ngoài đồng

Tạ Văn Thông


MỐI TÌNH ĐẦU


MỐI TÌNH ĐẦU

Năm mười bốn, tim lòng chớm nở
Ngác ngơ hồn, bỡ ngỡ vườn yêu
Sét  rơi từ một thiên kiều
“Tình trong như đã…” muốn liều lĩnh nhe…

Tuy là vậy, e dè tình tỏ
Khó khăn sao mở ngõ nên lời
Thế rồi phép lạ liền khơi
Tặng thơ tình ái, nàng phơi phới kìa…

Rồi một buổi sáng kia chạm mặt
Cứ như là ngọt mật vờn quanh
Tim yêu xao xuyến chọng chành
Mà nghe ngan ngát  lượn quanh quẩn lòng…

Nào những lúc bên dòng Thạch Hãn
Gió sông vờn thỏa mãn tình hương
Sóng yêu lả lướt nghê thường
Hàng tre ngọt trỗi, nàng ngường ngượng nha…

Hay lắm dịp la đà Thành Cổ
Ngón tay tình mớm dỗ bồng lai
Thầm mơ huyễn ảo trang đài
Ngàn say lịm phả chờ mai mối về…

Mùa lũ đến, cận kề trên gác
Ngoéo tay thề tóc bạc cùng nhau
Mai này trầu hiệp với cau
Tào khang gừng muối dậy màu mỡ thương…
…………..

Nào ai biết, đoạn đường phía trước
Gió giông về ngáng ngược, người ơi
Sang sông, sáo hẳn quên lời
Để ta quạnh quẽ giữa rời rã tim…

HANSY

MỘNG CHIỀU BAY LẢ


MỘNG CHIỀU BAY LẢ
[Thuận nghịch độc]

Vương chiều lộng nắng thuở tình ngơ
Cảm xúc mùa say ngát đợi chờ
Trường lớp nhớ nao thời đắm dạ
Ấy mơ hoài mộng dáng in bờ
Thương ngùi quãng lộng mây trời thắm
Mãi nuối hồn chao cảnh bóng mờ
Hương diễm tuyệt nồng thơ vẫy gọi
Đường xưa ngoái vọng dỗi mi hờ

Hờ mi dỗi vọng ngoái xưa đường
Gọi vẫy thơ nồng tuyệt diễm hương
Mờ bóng cảnh chao hồn nuối mãi
Thắm trời mây lộng quãng ngùi thương
Bờ in dáng mộng hoài mơ ấy
Dạ đắm thời nao nhớ lớp trường
Chờ đợi ngát say mùa xúc cảm
Ngơ tình thuở nắng lộng chiều vương

HANSY

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2019

GIAI THOẠI BÙI GIÁNG [3]


GIAI THOẠI BÙI GIÁNG
[3]
7)
Ông mê Truyện Kiều, thơ Huy Cận. Có lần ông nói với thi sĩ Trần Tuấn Kiệt là ông viết về triết học, bàn về tư tưởng hiện đại là để cuối cùng nêu lên mấy câu về Kiều hay của Huy Cận chơi! Thế mà không hiểu tại sao ông rất ghét Xuân Diệu! Có lần Xuân Diệu diễn thuyết trong khuôn viên Trường Mỹ Thuật Gia Ðịnh, ông đi tới đi lui ngoài cổng trường và lầm bầm chửi rủa! (3)
8)
Một hôm, vào khoảng 1980, ông ngồi uống cà phê, mơ màng nhìn sang bên kia là đường Ðặng Thị Nhu, đột nhiên đôi mắt ông sáng lên . Té ra ông nhìn thấy một cuốn sách tiếng nước ngoài, bị chủ quầy đem lót dưới kệ sách thay cho gạch bởi vì từ lâu không có ai hỏi mua. Ông cuống quít móc những đồng bạc cuối cùng nài nỉ mua - vì không đủ tiền - rồi ông ngồi đọc say mê như người bị thôi miên, hoàn toàn không biết gì về mọi chuyện xung quanh!
9)
Một giai thoại chót: Giữa chợ trời đông như hội cuối đường Trương Minh Ký Sài Gòn sau tháng 4/75, đến trước một hàng bán phụ tùng xe đạp cũ, ông nhẩn nha vớ lấy cái "ghi đông" xe rồi tỉnh bơ bỏ đi. Bà chủ quán chạy theo la thất thanh nhờ thiên hạ bắt giùm "thằng ăn cắp". Chẳng đợi ai bắt, ông quay lại trả cái ghi đông vào chỗ cũ và từ tốn phân bua đại để rằng: "Bà con thấy chưa, mất tất cả . . . mà phải câm, mất có cái ghi đông thì la rầm trời! Kỳ khôi quá!". Hành động ấy là điên hay tỉnh đây!!  

T. V. Phê


VỌNG CỐ HƯƠNG


225
VỌNG CỐ HƯƠNG

Thăm thẳm ơi người dõi ngút xa
Hồn mơ xin gởi tận quê nhà
Nhớ hoài thuở ấy mùi rơm rạ
Thương lắm hôm nào dáng mẹ cha
Mưa nắng ruộng đồng đau xác lả
Sớm chiều nương rẫy nhọc người ra
Làm sao con được đền ân trả
Một chút lòng thôi để gọi là

Một chút lòng thôi để gọi là
Của tình con trẻ với hồn cha
Giờ ai tiếp mẹ chiều đơm cá
Nào kẻ cùng tay buổi phụ nhà
Ruộng hỡi bao mùa luôn mượt nhá
Quê hời lắm nguyệt mãi ngời nha
Tình son sắt vẹn dù muôn ngả
Vẫn thắm trong tim đĩa muối cà

HANSY

ÂM VỌNG

Hương chiều đượm ngát gợi miền xa
Quặn xuyến người ơi nỗi nhớ nhà
Dạ luyến mơ màng trông dáng mạ
Lòng da diết gợi giõi hình cha
Mà nghe rát bỏng cung chờ thả
Lại thấy ran bừng khúc đợi ra
Đảo mắt trông về phương ấy ngả
Ngàn thương gởi đến tựa như là

Ngàn thương gởi đến tựa như là
Con ở ngay gần với mẹ cha
Những buổi đi quần bên ruộng thả
Từng hôm bước lội dưới đồng ra
Thầm ơi mãi ước đùa thôn rạ
Dạ hỡi hoài mơ nghịch xóm nhà
Kỷ niệm dâng trào tim xuyến lạ
Hương chiều đượm ngát gợi về xa.

Hà Thu

NHẮN GỞI TÌNH NƯƠNG


NHẮN GỞI TÌNH NƯƠNG

Tình nương ơi, hỡi tình nương
Niềm yêu một thuở bền vương vấn hoài
Mông lòng khởi độ ngô khoai
Mà nghe thức dậy ước thoai thoải lòng.

Tình nương à, chén tình chung
Trao em một chút thỏa nhung nhớ người
Yêu thương giờ đã gọi mời
Một mai hạnh ngộ chẳng dời đổi đâu.

Duyên trầu quyện với tình cau
Trăm năm chỉ một, giữ màu sắc thơm
Thương chiều ở chốn rạ rơm
Trầm mê níu gọi dậy thơm thảo hồn.

Thì xin gởi đến nụ hôn
Tào khang kết tóc, mãi dồn dập yêu
Chờ nghe, giữ lấy thân kiều
 Một mai sum hiệp sẽ liêu xiêu nè…

HANSY 

HỎI NGÃ SẮC HUYỀN


HỎI NGÃ SẮC HUYỀN
[zui zui-Chơi chữ-Ngũ độ]

\-Huyền mơ gả cưới toại nhan hồng
~-Ngã lịm bên chàng phảng phất đông
.-Nặng cõi mê tình ra trước cổng
=-Bằng vai phải lứa dậy sau chồng
!-Than ghì lửa ái ân cần lộng
?-Hỏi ướm chăn màn rộn rã trông
/-Sắc quãng trời yêu hoài lịm bổng
_-Ngang tài khó cảnh chịu nằm không

_-Ngang tài khó cảnh chịu nằm không
/-Sắc loãng nhiều khi phải lụy chồng
?-Hỏi giữa trần gian tình có lộng
!-Than rằng hiệp cẩn ái nào trông
=-Bằng nhau oánh lộn om sòm cổng
.-Nặng gánh kiêu kỳ ủ rũ đông
~-Ngã sắc tàn hương mờ nẻo mộng
\-Huyền mơ gả cưới toại nhan hồng

HANSY

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2019

LIÊN HOÀN


LIÊN HOÀN

Sai không phải ở phần nội dung, mà ở hình thức, sai về ngôn ngữ, kể cả những tờ lâu nay khá chỉn chu, chính xác tiếng Việt, như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, VnExpress, Vietnamnet...

Các bản tin đều tường thuật, chiếc xe hơi ấy đã lao đâm liên tục vào nhiều xe máy đang chờ khi đèn đỏ, rồi lao tiếp đâm vào một chiếc taxi mới chịu dừng lại. Có nghĩa chỉ mình nó đâm vào những xe khác, nhưng báo chí đều giật tít, đều phản ánh đó là tai nạn liên hoàn, vụ đâm xe liên hoàn.

Không phải chỉ vụ này, rất nhiều vụ tai nạn giao thông khác, khi xảy ra trường hợp đâm đụng liên tiếp dạng vậy, nhiều báo thích dùng từ “liên hoàn”. Chỉ cần gõ từ này trên Google sẽ ra rất nhiều kết quả. Chẳng hạn báo Thanh Niên ngày 17.10.2018 đăng tin “Tai nạn liên hoàn trên đèo Bảo Lộc”, phần sa pô ghi rõ “Đang lên đèo Bảo Lộc (Lâm Đồng), chiếc xe tải va chạm với ô tô lưu thông cùng chiều, sau đó va chạm tiếp trực diện với chiếc xe khách đang lưu thông theo chiều ngược lại”. Những va chạm ấy, phóng viên viết là liên hoàn. Vậy có phải là liên hoàn hay không?

Không cần phải rườm rà, ta vẫn biết “liên hoàn” là từ Hán Việt. Từ này gồm hai thành tố “liên” và “hoàn”. “Liên” nghĩa là tiếp với nhau, liền nhau, gắn với nhau. Liên bang là nhiều bang hợp lại với nhau thành một quốc gia. Liên Hợp Quốc để nói về tổ chức quốc tế gắn kết nhiều nước lại theo hiến chương chung. Súng liên thanh là súng bắn cả tràng đạn, tiếng nổ liên tiếp nhau. Liên lụy là cái lụy của người này lây sang, ảnh hưởng sang người khác, v.v..

“Hoàn” theo Từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh cũng như nhiều cuốn từ điển Hán Việt khác, nghĩa là cái vòng tròn, vật tròn. Trong đông y có 4 cách bào chế thuốc cơ bản: cao, đan (đơn), hoàn, tán; có nghĩa: thuốc ở dạng dẻo (cao), dạng từng vị (đan), dạng viên tròn (hoàn) và dạng bột (tán). Hoàn mỹ nghĩa là vẻ đẹp tròn trịa, đầy đủ. Liên hoàn kế để chỉ loại kế trong 36 kế sách quân sự cổ đại, gồm nhiều kế gắn với nhau, kế này tác động tới kế kia, rồi kế kia lại tác động tới kế kia nữa, cái này làm nẩy sinh cái khác. Trong thơ cổ có thể thơ liên hoàn, ý hoặc dòng cuối của khổ này thì lại được dùng làm câu đầu của khổ tiếp theo. Danh nhân Nguyễn Trãi thế kỷ 15 có bài thơ Tùng làm theo thể liên hoàn:

Thu đến cây nào chẳng lạ lùng
Một mình lạt thuở ba đông
Lâm tuyền ai rặng già làm khách
Tài đống lương cao ắt cả dùng.

Đống lương tài có mấy bằng mày
Nhà cả đòi phen chống khỏe thay
Cội rễ bền dời chẳng động
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày
Có thuốc trường sinh càng khỏe thay
Hổ phách phục linh nhìn mới biết
Dành còn để trợ dân này.

Đưa ra những ví dụ như vậy để hiểu rằng khi các bộ phận làm thành một vòng, cái này nối tiếp với cái kia thì gọi là liên hoàn; nói chung là liền nhau nhiều thành phần như dây chuyền khép kín.

Quay trở lại với những vụ tai nạn giao thông. Nếu xảy ra trường hợp xe A đâm vào xe B, xe B đâm tiếp xe C, xe C lại đâm vào xe D… thì đó là tai nạn liên hoàn. Cứ nối vào với nhau thì mới mang tính “hoàn”. Chứ ở hầu hết những vụ tai nạn giao thông mà báo chí tường thuật, một xe nào đó đâm hết xe này tới xe khác, chỉ mình nó gây ra, thì không thể gọi là “liên hoàn” được, mà phải dùng từ “liên tiếp”. Liên tiếp có nghĩa cứ vừa xong cái này thì lại tác động tiếp tới cái khác.

Điều đáng nói, phóng viên dùng từ sai vẫn không được tòa soạn chỉnh sửa cho đúng. Khi lên mặt báo, báo sai nhưng bạn đọc cũng vẫn chấp nhận, không cần biết dùng thế có đúng hay không. Tiếng Việt cứ thế bị sai và tạo thành thứ lập luận “sai mà được chấp nhận sẽ trở thành đúng”. Thực ra đó là cách làm nghèo, méo mó tiếng Việt chứ chẳng phải phát triển, mở rộng gì.

Nguyễn Thông


Hiện trường vụ tai nạn giao thông ở ngã tư Hàng Xanh (TP.HCM)




CHÚT TÌNH TRONG GIÓ


CHÚT TÌNH TRONG GIÓ

Định mệnh an bài, em biết chăng?
Người đi, ta ở dạ thương thầm
Ô hay, năm tháng ngoài song cửa
Quạnh quẽ loan phòng, dõi xa xăm.

Nè Em  ngày đó ngọt môi hồng
Nào biết trần gian lắm đoạn trường
Cứ ngỡ yêu thương hoài mãn kiếp
Trời đày hai đứa lụy bi thương.

Tình chúng mình đẹp tựa bài thơ
Vỡ yêu thương rạn cả niềm mơ
Tim gắn bó hòa chung một nhịp
Tiếng lòng xao động khỏa bến bờ.

Gởi trong gió nhớ thương của Ta
Mang về bên ấy chút tình xa
Em ơi, giấc mộng tình tan vỡ
Giữa cảnh phòng côi nuối ngọc ngà

HANSY

KHÂM LIỆM CUỘC TÌNH


KHÂM LIỆM CUỘC TÌNH
[Thuận nghịch độc-Láy]

Đêm vắng lặng sầu giữa bóng côi
Liệm chôn thề ước đảo chao rồi
Kềm hiu hắt rã đời hoen cội
Nếm ngẩn ngơ vùi kiếp bạc vôi
Chêm loạn vỡ tình đau đớn trỗi
Diễm xiêu tàn ái dở dang bồi
Thềm tê tái vọng tim đâu lối
Thêm xót dạ buồn rã rượi ôi

Ôi rã rượi buồn dạ xót thêm
Lối đâu tìm vọng tái tê thềm
Bồi dang dở ái tàn xiêu diễm
Trỗi đớn đau tình vỡ loạn chêm
Vôi bạc kiếp vùi ngơ ngẩn nếm
Cội hoen đời rã hắt hiu kềm
Rồi chao đảo ước thề chôn liệm
Côi bóng giữa sầu lặng vắng đêm

HANSY

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2019

VÌ SAO THƠ MẤT MÙA


VÌ SAO THƠ MẤT MÙA

Cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI, có nhiều ý kiến cho rằng, dường như một thế kỷ “vàng son” của thi ca Việt Nam đã đi qua, và rằng thời đại của thi ca đã dần tắt trước sự “xâm lăng” của các loại hình văn hoá mới, trước thời đại văn minh hội nhập toàn cầu của công nghệ thông tin và các phương tiện nghe - nhìn. Có lý lắm, khi cộng đồng văn hóa Việt hôm nay không mấy người chú ý đến thơ đương đại và sự phát triển lặng lẽ của nó trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam trong hai thập kỷ gần đây.

Phải chăng tình yêu thơ ca không còn đất sống trong tâm hồn con người hiện đại, khi “cơn lốc” của đời sống công nghiệp, đời sống đô thị và cái gọi là lối “sống gấp” đang nghiền thời - gian - sống của chúng ta thành từng mảnh vụn? Đã có lúc tôi tự hỏi: “Thơ cần cho ai - cần cho mọi người hay chỉ cần cho riêng ta?”.

Nếu nói thơ cần cho mọi người thì đấy là một điều không thực tế, vì số đông hôm nay không đọc thơ (cũng không phải vì không đọc thơ mà đời sống tinh thần của họ nghèo nàn). Trong cộng đồng văn hóa Việt hôm nay chỉ có một thiểu số còn đọc thơ (đa phần là học sinh, sinh viên và người làm thơ đọc thơ của nhau). Vậy thơ sống thế nào trong thời đại “kỹ thuật số”, trong thời “điện tử hoá” đang rút dần đất sống của thơ?

Có thể nói, sự xuất hiện của các cây bút trong những năm gần đây đã làm cho diễn đàn thơ trẻ có thêm một luồng sinh khí mới. Bước đầu, những tác giả trẻ này với bút pháp tìm tòi đang thể hiện một khuynh hướng mới trong thi ca. Nhưng liệu khuynh hướng tìm tòi này có thể trở thành một trào lưu, một phong cách mới ghi được dấu ấn riêng trong sự phát triển của thơ Việt Nam đương đại hay không thì vấn đề ấy vẫn đang là một câu hỏi chưa có lời giải. Tôi có cảm giác, một số tác giả thơ trẻ hiện nay đang coi trọng, đang đề cao việc tìm kiếm “cái lạ” và tìm cách biểu đạt “cái người khác chưa dám nói tới hoặc né tránh” trong thi ca nhiều hơn là việc tìm tòi, xây dựng một hệ thống thi pháp mới có khám phá về mặt nghệ thuật để làm giàu có cho ngôn ngữ thơ Việt.

Có ý kiến cho rằng, phải chăng với họ, thơ “cần phải lạ” chứ không “cần phải hay”? Có một thực tế, nhiều bài thơ tìm tòi của một số cây bút trẻ hiện nay không nhận được sự hưởng ứng đồng thuận của nhiều người trong giới văn chương chứ chưa nói tới độc giả thơ. Nhưng không vì thế mà chúng ta không ghi nhận những dấu hiệu “biến đổi” mới mẻ này ở nhiều tác giả trẻ, nó cho thấy nền văn học đương đại của chúng ta đang có những chuyển động, đang khai mở cho một giai đoạn mới của thi ca.

Các tác giả trẻ này thường trình bày khá sinh động, khá đa dạng cái tôi-hiện-đại của mình trong một cuộc chơi nhằm đổi mới ngôn ngữ thơ, nó mang hơi thở buồn vui của đời sống đô thị hôm nay. Một số cây bút trẻ không chú ý tới việc xây dựng tứ thơ, vì thế các bài thơ của họ mang một cấu - trúc - lỏng, nó mới chỉ dừng lại ở một mức biểu đạt thông thường của ngôn ngữ nhằm chuyển tải một nỗi niềm, một tâm sự, một ghi nhận, một khắc họa đời sống…

Và khi ấy, bài thơ chỉ là một tập hợp của những mảnh vụn đời sống được mô tả, được sắp đặt bằng những con chữ mà đáng lẽ ra nó phải được nhà thơ kiến tạo và xác lập bằng một ý tưởng mới, một cấu trúc mới mang lại cho bài thơ một đời sống một tư duy cao hơn cái đời sống tầm thường đang diễn ra mỗi ngày.

Một cái - tôi - đặc - trưng của thơ trẻ hiện nay là cái tôi gai góc, cái tôi cực đoan, cái tôi xa lạ, cái tôi khác người luôn được thể hiện, được hướng tới, được nhìn nhận, được khẳng định ở nhiều khía cạnh khác nhau trong nhiều bài thơ của họ.

Có một thực tế thơ ca mà chúng ta nhận thấy trong những thập niên cuối của thế kỷ XX vừa qua, người đọc đã quá quen tai với những vần điệu du dương mòn mỏi. Sự lạm phát đến “quá tải”, đến bão hoà của thơ tình (xin nhấn mạnh là loại thơ tình không hay) đã gây cảm giác nhàm chán, làm người đọc thất vọng và làm công chúng quay lưng lại với thơ. Giờ thì tất cả mọi người đều có thể bỏ tiền túi để công bố những tâm sự “nỉ non lai láng” của mình, hoặc những “triết lý vặt” theo kiểu “đánh đố” bằng thơ.

Có lẽ thơ hay không cần phải giải thích, lĩnh hội nhiều, cứ đọc lên là ta thấm ngay được cái phần tâm linh của câu chữ. Thú thật, là một người làm thơ, nhưng tôi rất ngại đọc những bài thơ tình nhạt nhẽo, đọc thấy nhang nhác giống nhau về nỗi niềm, tình ý với những hình ảnh xưa cũ hoặc làm duyên câu chữ với các loại thơ tình vật vã, thơ tình trái ngang, thơ tình cô liêu, thơ tình u uất, thơ tình phá phách đề cao dục vọng thân xác… đua nhau lạm phát các kiểu “tình tang muôn thuở”.

Thứ thơ dễ dãi “đong đưa” này dường như không có sức sống cùng thời gian. Hành trình khắc nghiệt của thơ ca sẽ loại bỏ những thứ thơ đó. Thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo. Trong thơ Việt thời gian qua, không ít những bài thơ vui rất giả, rồi buồn cũng rất giả. Ngôn ngữ thơ ấy như một thứ hàng “giả” làm người đọc khó chịu. Phải chăng độc giả của thơ ngày một ít đi cũng bởi lẽ ấy (?).
Thời gian trước đây tôi cho rằng, thơ hay (giống như một tấm gương phản chiếu) là loại thơ soi vào thấy mình, thấy cuộc sống con người hiện lên sinh động với các chiều kích khác nhau ở trong đó, còn thơ dở thì có soi vào mãi cũng không thấy gì. Còn thời gian gần đây tôi lại nhận ra rằng, thơ hay là thứ thơ làm cho người ta phải kinh ngạc và thật sự rung động bởi một ý tưởng mới, một suy tưởng mới, một sức sống mới đang làm nên những dạng thức mới của ngôn ngữ thơ.

Và một trong những tiêu chí của thơ hay là phải làm người đọc ngạc nhiên về tư duy thẩm mỹ mới và hiện đại, để thơ vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu và thắp lên những hình tượng thơ mới. Trong mỗi bài thơ hay, không gian thơ được mở rộng hơn, mở sâu hơn, với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao.

Và, trong trường - thẩm - mỹ này, những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái quát lên từ những cái rất tầm thường, nhỏ bé của đời sống quê hương máu thịt hằng ngày.

Theo tôi, trong quá trình cách tân thi ca, điều quan trọng là tác giả phải biết cách giữ được đặc thù của ngôn - ngữ -thơ trong chuyển động đổi mới của những con chữ. Đây chính là sự khác biệt giữa một số cây bút cách tân đã nhân danh cái mới để “lạ hoá” thơ đến mức phản - thơ với những tác giả có xu hướng tìm tòi nhằm nâng cao vẻ đẹp của ngôn- ngữ- thơ bằng những ý tưởng mới.

Theo tôi, bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ nhiều khi không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều thế kỷ qua, các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân.

Điều khác biệt (và khu biệt nhất) để có thể nhận ra được các nhà thơ cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại ấy đã được phản ánh, khắc hoạ trong một trường - thẩm - mỹ nào.

Trong thơ trẻ gần đây, đời sống đường phố và nhịp điệu sống đô thị hiện lên khá ngột ngạt và căng thẳng với những nỗi lo âu của con người thời hiện đại. Thơ văn xuôi của họ ít chất thơ nhưng nó chứa đựng những ẩn ức và quẫn bách của một tâm trạng đang tìm lối thoát và sự chia sẻ, khi con người đang trở nên mông muội và ký thác tâm trí mình vào những điều hoang tưởng.

Và trong số những nhà cách tân đầy nhiệt huyết này, ở một số cây bút, nhiều khi phẩm chất tài năng, phẩm chất thi sĩ không theo kịp phẩm chất đổi mới, nên có thể những bài thơ “non lép” của họ mới chỉ dừng lại ở mức có dấu hiệu của sự tìm tòi mà chưa làm nên sự khác biệt của một phong cách thơ mới được khẳng định bởi một tài năng thơ đích thực. Bởi một trong những thể hiện rõ nét nhất của phẩm chất thi sĩ chính là cách tìm tòi về mặt ngôn ngữ và cách xử lý câu chữ theo một phong cách riêng để tạo nên một tứ thơ mới cho mỗi bài thơ, và cái mới trong thơ nhiều khi không cần đến sự trình diễn cầu kỳ bằng một hình tượng lạ, một cấu trúc lạ, một biểu đạt lạ mà điều nó hướng tới phải là một phát hiện mới về tính suy tưởng của thơ.

NGUYỄN VIỆT CHIẾN
Nguồn: Văn Nghệ Công An

VỀ NGOẠI XƯA


224
VỀ NGOẠI XƯA
[Ngũ độ]

Ngày xưa biết hỡi còn quay lại
Buổi giỡn hồn nhiên ngoài láng trại
Bạn hữu bây giờ chẳng có ai
Người thân thuở nọ ôi mờ bãi
Triền miên kỷ niệm dõi thăm hoài
Phảng phất ân tình xuyên vọng mãi
Những nẻo làm ăn cứ miệt mài
Lâu rồi cái buổi xa làng ngoại

Lâu rồi cái buổi xa làng ngoại
Biệt cõi trăng rằm thương tiếc trải
Chẳng nữa câu hò xáo mộng trai
Đâu còn giọng sáo vang từng bãi
Đìu hiu dốc cũ lặng chân hài
Rả rích mưa buồn lem quãng trại
Ngõ mịt mù chao thở nuối dài
Ngày xưa biết hỡi còn quay lại

HANSY

HOÀI VỌNG

Lối cũ chiều ơi còn trở lại
Cùng ta dệt ước bên lều trại
Ơi lòng nặng nhớ ngập tràn ai
Hỡi dạ mong nhiều dâng ngút bãi
Mấy điệu hò duyên giữ nhịp hoài
Từng câu vọng cổ gìn cung mãi
Người xa lối hẹn chốn mây dài
Hãy thả mơ về nơi xóm ngoại

Hãy thả mơ về nơi xóm ngoại
Hòa theo nhịp gió đan tình trải
Cho nồng hạnh phúc lộng bờ ai
Để thắm duyên lành hoan bến bãi
Nối nhịp trăng thề giữa dậu mai
Lồng câu liễu hẹn bên lùm trại
Và xây ước mộng đến lâu dài
Lối cũ chiều ơi còn trở lại.

Hà Thu

NIỀM HẠNH NGỘ


NIỀM HẠNH NGỘ

Được lời như cởi tấc lòng
An tâm nẻo nhớ  vẫn nồng mặn xưa
Ví dầu có nắng lẫn mưa
Vẫn trao trọn cả lời mưa móc tình…

Mà thương biếng lược soi mình
Ngày Ta xa vắng giữ minh thệ vàng
Mắt buồn dõi bước mùa sang
Môi sầu nhạt mộng níu vang vọng lời.

Nơi này ngàn dặm chơi vơi
Thương Em biết mấy buổi rời rã tim
Lẻ hồn chết lặng đi tìm
Vì đâu nên nỗi mộng chìm nghỉm xa

Nhớ khi nồng mặn đôi ta
Tình lên chất ngất, đẫm ma lực nào
Cau à, tương ngộ trầu nao
Gìn lòng thương nhớ chơ81 lao xao lòng…

HANSY 

DIỄM ẢO MÊ BỒNG


DIỄM ẢO MÊ BỒNG
[Điệp ngữ]

Khúc huyễn tình tang khúc huyễn đờ
Diễm nồng ảo diệu diễm nồng thơ
Nghê thường giấc dỗ nghê thường nhớ
Ái cảm hồn ru ái cảm chờ
Đà đượm sắc lồng đà đượm nở
Dạt dào hương luyến  dạt dào mơ
Giao tình nguyệt gió giao tình chở
Thắm quyện huyền mê thắm quyện bờ

Thắm quyện huyền mê thắm quyện bờ
Ái tình ngát lịm ái tình mơ
Nồng thơm hạnh phúc nồng thơm mở
Ngát lịm trầu cau ngát lịm chờ
Nhiều rịt ràng thơm nhiều rịt cỡ
Lắm ngào ngọt đẫm lắm ngào thơ
Hồng duyên số đỏ hồng duyên vớ
Khúc huyễn tình tang khúc huyễn đờ

HANSY

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2019

“GIA GIA” TRONG THƠ BÀ HUYỆN THANH QUAN


VỀ CÁI “GIA GIA” TRONG THƠ
BÀ HUYỆN THANH QUAN

Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ “Qua Đèo Ngang” là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ “cái gia gia”(1).

Sự tranh luận này có chiều hướng phủ nhận quan điểm cũ của các tiền bối cũng như những người tin theo họ để bảo vệ cho cách đọc “cái đa đa”. Thế nhưng, theo chúng tôi, tranh luận đã không đi đến tiến bộ và sự thật với các bằng chứng có giá trị thuyết phục mà ngược lại đã gây ra nhiễu loạn về học thuật, làm mất cảm hứng cho người yêu thơ và gây hoang mang cho sự học tập, giảng dạy của thầy và trò.

Bài viết này là một cố gắng tìm hiểu lại vấn đề một cách khách quan trên tinh thần khoa học với các chứng cứ xác đáng. Hy vọng có thể trả lại giá trị nghệ thuật và ý nghĩa vốn có của những vần thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan.
I.
“Gia gia” và văn bản chữ quốc ngữ

“Cái gia gia” trong câu thơ thứ 6 ở bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan được phiên âm và viết chữ quốc ngữ sớm nhất có lẽ là từ tác giả Phạm Quỳnh, 1917(2) và sau đó đến các nhà nghiên cứu văn học khác như Tuyết Trang Trần Văn Ngoạn, 1918(3); Trần Trung Viên, 1925 - 1930(4); Ôn như Nguyễn Văn Ngọc, 1927(5); Georges Cordier, 1933(6); Ngô Tất Tố, 1941(7); Dương Quảng Hàm, 1941(8); Hạo Nhiên Nghiêm Toản, 1949(9); Trần Trọng Kim, 1946(10); Nguyễn Tường Phượng, 1953(11) và các nhà khác cho đến nay cũng vẫn là “cái gia gia”.

Về ý nghĩa “cái gia gia”, cụ Nguyễn Văn Ngọc, lần đầu tiên đã chú giải tường tận:“Gia gia = đáng lẽ cũng viết da da, hay đa đa; chỉ một giống chim thuộc về loài gà, loài công, lông đỏ, trắng, xám, hay đen, ở những nơi quang đãng, không đậu trên cành cây bao giờ và người ta hay săn bắn, mới đúng, nhưng cũng vì đây tuy mượn đến con da da mà thực ý lại nói đến gia ăn với chữ quốc ở trên và nghĩa là nhà”.

Như vậy, theo đó “gia gia” chính là “da da”, một biến âm dân gian của “đa đa” nhưng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, “da da” phải đọc là “gia gia” (nhà) để ứng đối với “quốc quốc” ở câu trên vì cụ Ôn Như cũng đã giảng về “quốc quốc” ở câu thơ thứ 5: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” như sau: “Đáng lẽ viếtcuốc cuốc, nhưng vì đây tuy mượn đến con cuốc mà thực ý lại nói đến quốc nghĩa là nước. Ngô Tất Tố còn trích thơ của di thần đời Lê là Trần Danh Án: “ , , , , Gia cô minh “gia gia”, Đỗ Quyên minh “quốc quốc”, Vi cầm thượng hữu” quốc” “gia”, thanh. Cô thần đối thử tình nan cực” (Gà gô kêu gia gia, con cuốc kêu quốc quốc, loài chim nhỏ còn có tiếng kêu “quốc” “gia”, kẻ bề tôi chơ vơ đối với những tiếng ấy đau lòng khôn xiết” và cho là có thể Bà Huyện Thanh Quan đã chịu ảnh hưởng “minh quốc quốc”, “minh gia gia” để viết thành “con quốc quốc” và “cái gia gia”. Các nhà khác về sau, nói chung đều cũng hiểu ngay “gia gia” là nói đến loài chim đa đa hay gà gô, tên chữ Hán là giá cô 鷓鴣.

Tóm lại, 2 chữ cuối của câu thơ thứ 6 trong bài thơ Qua Đèo Ngang, từ trước đến nay đều được đa số các nhà nghiên cứu đọc hiểu là “gia gia” ám chỉ con chim đa đa và cũng liên tưởng đến ý niệm “nhà” như một thủ pháp “chơi chữ” trong thơ ca. Nhưng một số nghi vấn có thể nảy sinh từ đó: Tại sao chỉ là “gia gia” mà không phải là “da da” hay “đa đa”? Liệu có một dị bản nào khác thay cho “gia gia”?
II.
“Gia gia” và văn bản chữ Nôm

Trong tất cả các sách báo viết về bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (kể các các bài tranh luận gần đây), điều đáng tiếc là thiếu vắng bản Nôm gốc (dù là truyền bản) để làm bằng chứng khi luận giải, nguyên nhân có thể là do trở ngại về việc in chữ Nôm hay thói quen xem thường bản gốc và cũng vì việc tìm đọc các văn bản Hán Nôm quý hiếm (lại không được sao chụp, in ra để phổ biến) rất khó khăn. Dù vậy, thông qua các tài liệu quốc ngữ xưa nay do các nhà nghiên cứu uy tín về văn học Hán Nôm biên soạn, ta nhận thấy không một tác giả nào đã đưa ra một dị bản nào khác ngoài “gia gia”.

Tuy nhiên Thanh Nghị, 1967(12) có thể là người đầu tiên đọc là “đa đa” thay vì “gia gia”: “Thương nhà mỏi miệng cái đa đa” nhưng lại không cho biết nguồn trích dẫn, có thể là ông tự suy đoán theo tri thức riêng mình. Rồi mới gần đây An Chi cũng tin tưởng và quả quyết cách đọc “đa đa”(13) là đúng nhưng lại cũngkhông đưa ra được bằng chứng về chữ Nôm, một thiếu sót quan trọng khi nghiên cứu, bàn luận. Nhưng cách đọc “đa đa” liệu có đúng theo văn bản chữ Nôm nào đó không?

Theo PGS. TS Đỗ Thị Hảo(14), những bài thơ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan có chép rải rác trong 5 văn bản: 1. Liệt truyện thi ngâm, AB.147; 2. Quốc âm thi tập, AB.649; Thi ca quốc âm tạp lục, VHv.266; Quốc văn tùng thư, VHv.2248;Quốc văn tùng ký, AB.383, Đỗ Thị Hảo cho biết trong 5 văn bản này, chỉ có bản AB.383 là đáng tin cậy còn các bản khác đều chép tùy tiện, chữ có nhiều dị biệt. Bản Quốc văn tùng ký do Nguyễn Văn San tự là Vân Sơn tên hiệu là Hải Châu Tử biên soạn, ông là người sống cùng thời với Bà Huyện Thanh Quan. Các bài thơ này được Đỗ Thị Hảo khảo cứu với phương pháp: “...mỗi bài thơ chúng tôi sẽ so sánh, đối chiếu những dị biệt ở từng câu chữ với những bài thơ đã từng được công bố trước đây” và bài Qua đèo Ngangđã được Đỗ Thị Hảo phiên âm và chú thích cẩn thận, đáng chú ý là có kèm theo chữ Nôm, tuy nhiên, đây không phải chữ Nôm gốc nhưng lại là font vi tính nên không biết có thật chính xác? Câu thứ 6 như sau:“Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, hai chữ “gia gia” được ghi là 家家. Chúng tôi đã tìm thấy bản chép tay văn bản Quốc văn tùng ký 國文 AB.383 từ thư viện gia đình của Maurice Durand(15), phần Phụ Nhàn Khanh thi tập  có chép bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan và 2 chữ cuối câu thứ sáu được chép chữ Nôm là [家鳥], người chép tay đã phiên Nôm là “gia gia”. Chữ Nôm có phần biểu âm là gia  và phần biểu ý là điểu . Chữ Nôm trong sách của Đỗ Thị Hảo và của Maurice Durand tuy khác nhau nhưng dù sao phần thanh phù vẫn chỉ là gia  và từ âm gia chỉ có thể đọc là dahay gia mà thôi, không thể đọc ra “đa” được.

Cụ Trần Văn Kiệm(16) cũng đã từng dẫn ra chữ 2 chữ Nôm [家鳥] và [ ] (thanh phù gia) và đọc là “gia” (mỏi miệng cái gia gia). Chúng tôi đã tra cứu trong các bộ tự điển chữ Nôm loại lớn như Đại tự điển chữ Nôm (Vũ Văn Kính)(17), Tự điển chữ Nôm(18) (Nguyễn Quang Hồng), Tự điển chữ Nôm trích dẫn(19) (Viện Việt Học) thì thấy âm “gia” được viết bằng chữ Nôm như , , , , , , , , , , , (thanh phù gia, già, da)… và âm “đa” được ký âm bằng đa,, , [飠它] (thanh phù đa, đà). Riêng chữ , tự điển Nguyễn Quang Hồng cho là có âm đa (trongcây đa) nhưng theo chúng tôi thanh phù gia phải đọc là “da” mới đúng âm xưa. Thật ra xưa là cây “da” (= cây đa) như tự vị của P. Béhaine (1772 - 73)(20), Huỳnh Tịnh Của(21) (1895 - 96) đã ghi nhận và viết Nôm là (da), đến tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức(22) (1931) mới ghi nhận cây da = cây đa. Như thế, cách đọc “đa đa” của Thanh Nghị và An Chi không xác đáng vì thiếu chứng cứ văn bản cũng như về phép đọc chữ Nôm, cho đến nay chưa phát hiện ra một dị bản nào chép chữ Nôm là hay [ ] và dĩ nhiên như trên đã nói, [家鳥], trong bản AB.383 (và các bản khác) không thể đọc ra “đa đa”.
III.
“Gia gia” và tiếng kêu của chim giá cô (đa đa)

Tên gọi tiếng Việt của loài chim giá cô 
鷓鴣 xuất hiện sớm nhất trong tự điển Việt - Bồ - La (1651)(23) của Đắc Lộ với tên gọi là chim “đa đa” và từ đó về sau hầu hết các tự điển, tự vị quốc ngữ đều chỉ ghi nhận “đa đa”. Về chữ Nôm của tên gọi loài chim “đa đa”, trong các văn bản Nôm như Tam thiên tự(24), Ngũ thiên tự (26), Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca(27), Đại Nam quốc ngữ(28) và các tự vị, tự điển của P. Béhaine, Huỳnh Tịnh Của, J.F.M. Génibrel(29)… đều ký âm là 多多, không có tự dạng nào khác nữa. Hiện vẫn chưa tìm ra tài liệu nào ghi nhận chim đa đa còn gọi là da da hay gia gia nhưng vì các tự vị, tự điển xưa không thể thâu thập hết tiếng Việt nên không biết đến và rất có thể trong dân gian (ở địa phương nào đó) đã từng gọi tên như vậy? Tiếng Việt (hay trong phương ngữ miền Trung) từng có sự biến đổi qua lại giữa D và Đ như đao/dao; đĩa/dĩa; da/đa… vậy khả năng đa đa có thể được nói là da da như cụ Nguyễn Văn Ngọc đã giảng? Nguyễn Ngọc San(30) giải thích về “gia gia”: “Đây là cách chơi chữ của tác giả. GIA GIA là đa đa, giống gà nhỏ sống ở ven rừng (…) Đa đa có thể biến âm thành DA DA, giống như các trường hợp sau:

Đình→Dừng
Đao→Dao
Đốc (tâm)→Dốc (lòng)
Đẩy→Dẩy...

Giữa DA DA và GIA GIA không có gì khác nhau vì lúc này đã có sự xoá nhãn giữa đối lập D > < GI. Phiên là DA DA hay GIA GIA là do người phiên âm, và cũng để phô tài chơi chữ của tác giả”.

Nếu dân gian gọi tên “đa đa” theo tiếng kêu của loài chim giá cô như: “Tiếc rổ tép đa đa! Tiếc rổ tép đa đa!” thì cũng có thể còn các tên gọi khác dựa vào những âm nhại dân gian từ tiếng kêu chim đa đa như“Bát cát quả cà”, “hành bất đắc dã ca ca” để gọi là “gô”, gà gô (nguyên âm a thành ô như nam/nôm, hạt/hột), “gô” gọi tắt từ “giá cô” như chim “quyên” gọi tắt từ “đỗ quyên”. Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San trong Ngữ văn Hán Nôm (tập 2, Nxb. Giáo dục, 1988) lại nhìn nhận, giá - cô (là từ gốc phương Nam) của gà gô; vậy lẽ nào tiếng kêu “gia gia” như trong thơ Trần Danh Án đã từng viết “Giá cô minh gia gia”lại không được dùng để gọi tên: chim gia gia? Cụ Quách Tấn(31) đã cho biết thơ Tàu cũng có “gia gia”: “Đỗ vũ than đầu minh quốc quốc, Giá cô giang thượng khiếu gia gia” (Cuốc cuốc đầu gềnh kêu quốc quốc, Đa đa bờ nước gọi gia gia), “Dạ thính đỗ quyên minh quốc quốc, Nhật văn cô điểu hoán gia gia” (Cuốc kêu quốc quốc canh dài, Gia gia ngày những sụt sùi tiếng đa).

Theo Nguyễn Đổng Chi(32) và Đỗ Đức Hiểu thì “gia gia” là tiếng kêu của chim giá cô như sau: “Bất thực túc Chu gia”, vì dựa theo điển tích Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn cơm gạo nhà Chu, rồi bỏ lên núi và hai ông nhịn ăn rồi chết đói, lòng mãi u uất, “Oan hồn hai ông biến thành một con chim kêu ra rả: “Bất thực túc Chu gia... Bất thực túc Chu gia... Chu gia...gia, gia...” có nghĩa là “Không ăn lúa nhà Chu... Không ăn lúa nhà Chu...” và tiếng cuối cùng “gia gia” âm vang trong núi. Mọi người bảo đó là con chim đa đa còn đầy uất hận” (33). Chắc tiếng kêu này chỉ là theo khẩu ngữ tục truyền từ dân gian Trung Quốc thôi chứ trong thành ngữ Hán chỉ có: “Bất thực Chu túc 不食周粟”(34) liên quan đến điển tích này.

Thông thường chim giá cô trong thư tịch Hán tục truyền có tiếng kêu là “hành bất đắc dã ca ca 行不得也哥哥” (xíng bù dé yě gē gē) nhưng ít ai biết rằng vẫn còn có tiếng kêu khác nữa đó là: “Áo não trạch gia 懊惱澤家” (ào nǎo zé jiā), trong bài thơ Giá cô 鷓鴣 của Vi Trang 韋莊 (đời Đường) có câu: “Áo não trạch gia phi hữu hận 懊惱澤家非有恨” và “Áo não trạch gia” theo bộ Từ Nguyên (36) chính là tiếng kêu của chim giá cô. Nguyễn Văn San trong Đại Nam quốc ngữ(37) đã chú giải về chim đa đa (giá cô) như sau: “Chim đa đa, vua Nghệ Tông gọi nó là Hoài Nam, lại có tên Việt trĩ, nó thường kêu “áo não trạch gia,“câu chu cách trách”, hành bất đắc dã ca ca”. Như thế, các âm “jiâ”, “gia” và “gia gia” cũng là một cách tượng thanh của tiếng kêu của chim đa đa chứ không nhất định chỉ là “gē gē”, “ca ca” hay “đa đa”.

Nếu chưa tìm thấy tài liệu chữ quốc ngữ nào ghi nhận chim da da/gia gia cũng không thể khẳng định là không có vì chính tiếng kêu “jiâ”, “gia” và “gia gia” và quan trọng hơn, đó là cách viết , [家鳥] trong văn bản chữ Nôm AB.383 đã là những bằng chứng chắc chắn cho tên gọi chim da da/gia gia. Trừ phi tìm ra được một văn bản chữ Nôm có niên đại sớm nhất, trước bản Nôm AB.383 khắc hay viết là hay [ ] mới có thể quả quyết Bà Huyện Thanh Quan dùng “cái đa đa” chứ không phải là da da/gia gia. Đây cũng là sự phủ định đối với ý kiến vô căn cứ của An Chi khi ông viết một cách võ đoán, trịch thượng: “Gia gia” cũng đâu có phải là tiếng kêu của con đa đa! Đúng như thế và đây là một căn cứ tối quan trọng: Con đa đa đâu có kêu “gia gia” (…) Thế mà người ta đã chấp nhận nó một cách thụ động hàng trăm năm nay và còn hân hoan khen lấy khen để, hoàn toàn không biết rằng “cái gia gia” chỉ là một cấu trúc rỗng tuếch về ngữ nghĩa và sai bét về ngữ pháp. Khôi hài nhất là hàng trăm năm nay, từ cái cấu trúc dỏm đó, các “nhà có uy tín” kia đã suy ra được những cái ý dễ làm rung động lòng người về gia đình, đất nước”(36).
IV.
 “Gia gia” và nghệ thuật dùng chữ của Bà Huyện Thanh Quan

Với tình hình văn bản hiện nay như chúng tôi đã dẫn ra, cho phép ta tin rằng Bà Huyện Thanh Quan thực sự viết [
家鳥], (thanh phù gia) va sẽ có thể đọc là:

1/ DA DA: “Thương nhà mỏi miệng cái da da”. “Da da” có thể hiểu là biến âm của “đa đa” và câu trên “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc” (cuốc chứ không phải là quốc). Nhưng nếu chỉ có thế (da da chẳng qua chỉ là đa đa), 2 câu thơ sẽ trở nên rất bình thường và không có gì đáng tranh luận. Cho nên, ta có thể suy luận hợp lý: nhà thơ cố ý một cách khác thường để nhất định dùng “da da” mà không dùng “đa đa” như muốn người đọc phải liên tưởng đến một âm khác đó là:

2/ GIA GIA:

“Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Tại sao là “gia gia”? Đây chính là một vấn đề lý thú. Nhưng trước hết cần phải đặt dấu hỏi: Tại sao nhà thơ không dùng ĐA ĐA, một tên gọi quá quen thuộc, phổ biến toàn quốc ít nhất từ thế kỷ 17 cho đến ngày nay mà lại như cố ý dùng GIA GIA? Sao không có một bản Nôm nào truyền lại viết là 多多 hay [鳥多] [鳥多] để đọc thành 2 câu thơ rất bình thường, dễ hiểu như: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc. Thương nhà mỏi miệng cái đa đa”? và sẽ chẳng có gì đáng phải tranh cãi hay khen chê cho mất thời gian, tốn giấy mực cả. Đây là một phản đề rất quan trọng để đi đến khẳng định về từ ngữ “gia gia” là một cách chọn lọc chữ nghĩa rất tinh tế của nhà thơ. Bà Huyện Thanh Quan nếu viết [家鳥], la có dụng tâm, dụng ý về tu từ, theo chúng tôi cảm nhận, nhà thơ đã chọn âm “gia gia”, vừa giống với “da da” - chim đa đa - (thật ra trong tiếng Việt ngày xưa, các phụ âm D và GI hòa lẫn, không phân biệt rõ như ngày nay) vừa liên tưởng đến tiếng kêu “gia gia” như văn, thơ chữ Hán (Việt - Hoa) đã từng dùng và gợi đến ý niệm gia/nhà theo ý “thương nhà: mỏi miệng”. Không chỉ có thế, GIA GIA sẽ ứng đối với QUỐC QUỐC ở câu trên. “cuốc cuốc” là tên chim cuốc, nhưng ở đây dùng điệp tự cho ứng với con da da/gia gia như một bài thơ trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập từng viết: “Ðậu lá võ vàng con bướm bướm. Ấp cây gầy guộc cái ve ve”(37), con bướm/ bướm bướm, con ve/ve ve là bình thường trong tiếng Việt xưa nay. “Cuốc” đồng âm “quốc” nên sẽ là QUỐC vì QUỐC vừa giống với “cuốc” (chim) vừa liên tưởng đến tiếng kêu “cuốc cuốc/quốc quốc” như thơ chữ Hán (Việt - Hoa)(38) và sẽ gợi ý niệm quốc/nước theo ý “nhớ nước: đau lòng” ở đầu câu.

Đây chính là tài năng làm thơ độc đáo của Bà Huyện Thanh Quan. Khi đọc ngâm 2 câu thơ 5 và 6, tiếng Việt sẽ như sau:

“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái da da”

Nhưng ngẫm ra mới thấy thủ pháp chơi chữ tài tình: cuốc/quốc và da/ gia và như vậy khi viết chữ Việt cần phải viết QUỐC và GIA nhằm thể hiện rõ phép tu từ của tác giả.

“Nhớ nước đau lòng con QUỐC QUỐC.
Thương nhà mỏi miệng cái GIA GIA”

V. Thay lời Kết 

Qua những tìm hiểu và luận chứng ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng cách đọc “gia gia” từ các bậc tiền bối là hoàn toàn hợp tình hợp lý vì văn bản chữ Hán, Nôm truyền lại cũng như các bằng chứng về ngữ âm lẫn tiếng kêu của chim đa đa đã chứng minh một cách xác đáng. Sự cảm thụ cũng như nhận thức thấu đáo của tiền nhân về nghệ thuật dùng chữ của Bà Huyện Thanh Quan là đáng trân trọng. Chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm một vài ý quan trọng như tái khẳng định quan điểm của các tiền bối: Nhà thơ nhất định không viết chữ Nôm là
多多 hay [ ] [ ] (không hề có dị bản viết hay [ ]) nghĩa là từ chối âm đọc “đa đa” rất phổ biến trong tiếng Việt trước và ngay trong thời đại của mình nhưng đã chọn lựa tinh tế âm đọc “da da/gia gia” và viết chữ Nôm là [家鳥], như muốn gợi ý cho người đọc liên tưởng ngay đến tiếng kêu “gia gia” của chim đa đa, hơn nữa, “gia” còn gợi ý niệm nhà và thể hiện sự ứng đối với “cuốc cuốc/quốc quốc” ở câu trên. Cho nên, cuối cùng, vẫn là CÁI GIA GIA, hiểu như một tên gọi khác của chim da da/ đa đa. Bằng chứng cho cách đọc GIA GIA chính là tiếng kêu “jiā”, “gia” và “gia gia” của chim giá cô trong thư tịch Hoa - Việt và cách viết , [家鳥] trong văn bản chữ Nôm AB.383. Vậy thì, 2 câu thơ đặc sắc trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan xưa nay vẫn là:

“Nhớ nước đau lòng con QUỐC QUỐC.
Thương nhà mỏi miệng cái GIA GIA”

Rất mong rằng, bài viết này sẽ đem lại sự yên tâm và vẻ đẹp của thi ca đến với các bạn yêu thích thơ, văn học Việt Nam và các thầy cô cùng các sinh viên, học sinh.

ĐINH VĂN TUẤN
-------------------------
1. An Chi:
Cái “gia gia” chẳng là… cái gì cả! (http://vienngonnguhoc.gov.vn).Vẫn cứ là cái đa đa (Tạp chí Đương Thời số 11/2009)(http://tunguyenhoc.blogspot.com).Không thể không là cái đa đa (http://www.vanhoahoc.vn). Không nên lẫn lộn các giống chim (http://nhavantphcm.com.vn).
2. Nguyễn Quảng Tuân, “Cuốc cuốc - da da” hay “Quốc quốc - gia gia” (http://www.honvietquochoc.com.vn).
3. Vương Trung Hiếu.
Cái gia gia là … cái nhà! (http://www.vanhoahoc.vn).Trao đổi về giống chim (http://www.vanchuongviet.org).
Lại bàn về giống chim (http://www.vanchuongviet.org).
Nam phong Tạp Chí số 5, 1917; số 7, 1918.
4. Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, Nxb. Văn Học 2004.
5. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Nam thi hợp tuyển, Vĩnh Hưng Long Thư Quán, 1927, Xuất Bản Bốn Phương (Tái bản), 1952.
6. Georges Cordier, Etude sur la littérature annamite, Saigon 1933.
7. Ngô Tất Tố, Thi văn bình chú, Nxb. Văn Học, Trung tâm Văn hóa Đông tây (tái bản theo bản in lần đầu 1941). 2010.
8. Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử yếu, 1941, Chương thứ IV, Trung tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục (in lần thứ 10), Sàigòn, 1968.
9. Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu (tập 1). Nhà Sách Vĩnh Bảo Sài Gòn 1949
10. Lệ Thần Trần Trọng Kim, Việt Thi, Nxb. Tân Việt. 1949.
11. Nguyễn Tường Phượng - Phan Văn Sách - Bùi Hữu Sung, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX,. Tài Liệu Giáo Khoa, Hà Nội, 1953.
12. Thanh Nghị, Việt Nam tân từ điển minh họa, nhà sách Khai Trí. 1967.
13. Xem chú thích 1, An Chi.
14. Đỗ Thị Hảo (chủ biên), Các nữ tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH. 2010.
15. Maurice Durand, Quốc văn tùng ký, AB.383 (nguồn http://findit.library.yale.edu).
16. L.m An-tôn Trần Văn Kiệm, Giúp đọc Nôm và Hán Việt, Nxb Đà Nẵng & Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ, Đà Nẵng. 2004.
17. Vũ Văn Kính, Đại tự điển chữ Nôm, NXB Văn Nghệ TPHCM 1999.
18. Nguyễn Quang Hồng (chủ biên), Tự Điển Chữ Nôm, Nxb. Giáo Dục 2006.
19. Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Đặng, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Uyên Thi, Tự điển chữ Nôm trích dẫn, Viện Việt Học ấn hành, 2009.
20. P.J. Pigneaux, Dictionarium Anamitico - Latinum, (bản thảo viết tay) (1772 - 1773). Nguồn: bản pdf của NNT trong Diễn đàn VVH (viethoc.com).
21. Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc âm tự vị, Tom I-II Sài Gòn 1895-1896, Nxb. Trẻ, tái bản 1998.
22. Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển, Hà Nội, 1931, Mặc Lâm tái bản, 1968.
23. Alexandro de Rhodes (1651), Dictionarivm Annnamiticvm Lvsitanvm et Latinvm, bản dịch tiếng Việt của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, Nxb. Khoa học Xã hội, 1991.
24. Tam thiên tự giải dịch quốc ngữ (ký hiệu R.1667), Liễu Văn Đường Tàng Bản, khắc in năm 1915, (Nomfoundation.org).
25. Nguyễn Bỉnh, Ngũ thiên tự dịch Quốc ngữ, bản khắc in năm 1909, ký hiệu R.1554 (Nomfoundation. org).
26. Phan Đăng (dịch), Thơ văn Tự Đức (tập 3), Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1996.
27. Lã Minh Hằng (khảo, phiên, dịch chú), Khảo sát từ điển song ngữ Hán -Việt, Đại Nam quốc ngữ (Nguyên bản Nguyễn Văn san), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013.
28. J.F.M Génibrel, Dictionnaire Annamite - Français, Deuxième édition, Tân Định, Saigon 1898, nguồn sách phổ biến từ books.google.com.
29. Nguyễn Ngọc San, Thử bàn về vấn đề phiên Nôm, Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm.2004, Thư viện Quốc gia Việt Nam - Hà Nội.
30. Quách Tấn, Nét bút giai nhân, Nxb. Phụ Nữ 1998.
31. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Sự tích chim đa đa, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2000.
32. Đỗ Đức Hiểu, Mai Thục, Nguyễn Văn Khỏa, Điển tích văn học: 100 truyện hay Đông Tây kim cổ, Nxb. Khoa Học Xã Hội - Mũi Cà Mau, 1990.
33. Hán Điển, (nguồn http://www.zdic.net).
34. Từ nguyên (tu đính bản) Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh 1998.
35. Lã Minh Hằng (khảo, phiên, dịch chú), Khảo sát từ điển song ngữ Hán -Việt, Đại Nam quốc ngữ (Nguyên bản Nguyễn Văn san), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2013.
36. An Chi, Không thể không là cái đa đa, (nguồn: http://www.vanhoahoc.vn).
37. Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên, Hồng Đức quốc âm thi tập, (in lần thứ hai có sửa chữa) Nxb. Văn học, Hà Nội., 1982.
38. Tiếng chim cuốc kêu “cuốc cuốc” đã xuất hiện trong bài thơ “Lại vịnh nắng mùa hè” trong Hồng Đức quốc âm thi tập(sđd), ở câu: “Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mõ cuốc”.
http://tapchisonghuong.com.vn/uploads/news/size500/news16/2/bai-tho-qua-deo-ngang-15156.jpg