Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

Bình VỀ ĐI ANH -Jana Phung


VỀ ĐI ANH

Noel này
anh có trở về không
Cầu tình bắc trên dòng sông còn đó
Với bóng dáng một người con gái nhỏ
Vẫn đêm ngày cứ vò võ đợi mong.

Về đi anh
cho rực ấm mùa đông
Cùng dạo phố ngắm hàng thông lóng lánh.
Khăn quàng cổ em giả vờ như chảnh
Tựa thuở đầu ta dưới ánh trăng đêm.

Về đi anh
Kẻo nỗi nhớ dài thêm
Rồi thấm đẫm cả giọt mềm môi mắt
Khiến má thắm cũng tàn phai tái nhạt.
Bản ca tình chẳng thể hát trong khuya.

Về đi anh
Cho thôi cảnh cắt chia
Bình minh nở đón từng tia nắng mới
Tim rộn rã mình cùng vui phấn khởi
Thật yên bình chẳng chấp chới mông lung.

Về đi anh
Cho thỏa ước mộng chung
Hoàng hôn khép nhánh lan rừng ta ngắm
Niềm vui tỏa buông ra từ sâu thắm
Hạnh phúc... nồng nàn... đằm thắm.... dịu êm.


Jana Phung
------------------------
*
Mùa đông về kéo theo tiết trời se lạnh, càng vào giữa mùa đông, càng gần lễ Noel, càng  khiến lòng người thêm thấy rõ nỗi cô đơn, trống trải… giữa căn phòng đơn chiếc, để mà thương , mà nhớ, mà trông ngóng… một ai kia đangbiền biệt phương nào… Nỗi khát khao hạnh ngộ tương phùng khiến tận đáy lòng bật lên những âm vang thê thiết, mời gọi: VỀ ĐI ANH mà Nàng thơ JANA PHUNG đã thay bao người nói lên cái khát vọng chờ mong hơi ấm cũ về sưởi lòng băng giá mới.

Noel này
anh có trở về không
Cầu tình bắc trên dòng sông còn đó
Với bóng dáng một người con gái nhỏ
Vẫn đêm ngày cứ vò võ đợi mong

Dòng suy tưởng dần trôi vào vùng kỷ niệm. Ở đó, mỗi góc đường,  mỗi con phố dẫu cảnh vật vẫn y hệt ngày nao nhưng giờ thiếu bóng người tình đã biến thành hoang mạc trong thức cảm tình yêu.  

Về thao thức canh chầy tìm trở lại
Bốn chân trời người đứng ở nơi nao
[Bùi Giáng]

Người ở đâu sao không trở lại cùng ta, cho cảnh vật bừng lên cùng hoa lá, cho mùa đông không còn là lạnh lẽo, để quá vãng tình thắm ngọt lại bờ môi. Nào những chiều ánh phố rực đón đưa, lẫn những đêm trăng khuya nghiêng đầu hò hẹn…

Về đi anh
cho rực ấm mùa đông
Cùng dạo phố ngắm hàng thông lóng lánh.
Khăn quàng cổ em giả vờ như chảnh
Tựa thuở đầu ta dưới ánh trăng đêm.

Nỗi chờ mong quặn xé cả tim lòng. Sao tình tự lại vướng nhiều cách biệt? Để một người biệt biền nơi cuối gió, kẻ đầu sông đồng vọng khúc tương tư. Để từng khuya nghe nỗi nhớ thì thầm, ray rức mãi khi gối chăn quạnh quẽ…

Em chờ anh không biết có hoa tàn
Có trăng khuyết, có sương chiều, mưa tối
Em chỉ biết có nỗi lòng mong đợi
Em chờ anh không ngại kém dung nhan 
……
Em chờ anh không nghĩ đến thời gian 
[Tế Hanh]

Chờ đợi là hình phạt khủng khiếp của những trái tim đang yêu nhau. Càng rã rời, dã dượi hơn khi không biết đến bao giờ mới đến cuối đường mong ngóng. .. Ngục tù chờ đợi không chỉ giam hãm tuổi thanh xuân mà còn làm nhạt phai đi cái hương nồng tình tự, bởi ai mà biết được nửa kia có chung thủy tựa nửa này?

Về đi anh
Kẻo nỗi nhớ dài thêm
Rồi thấm đẫm cả giọt mềm môi mắt
Khiến má thắm cũng tàn phai tái nhạt.
Bản ca tình chẳng thể hát trong khuya.

Dẫu vậy, niềm tin không hề lay chuyển dẫu có đôi lúc ngần ngừ. Người phương này vẫn “dụ khị” kẻ phương kia bằng những viễn cảnh thần tiên từ ngoại vật đến cái tâm hồn đang rướm lệ, nhưng sẽ bừng rỡ niềm hoan trong buổi đón ai về…

Về đi anh
Cho thôi cảnh cắt chia
Bình minh nở đón từng tia nắng mới
Tim rộn rã mình cùng vui phấn khởi
Thật yên bình chẳng chấp chới mông lung.

Nhưng thực tại ê chề luôn vặt dằn tâm trạng, bởi cái lạnh của mùa đông nào thấm thía gì so với cái băng giá đang đặc quánh trong nỗi lòng cô phụ. Nhắc làm chi kỷ niệm xa vời đang có nguy cơ chìm vào quên lãng khi người đi chẳng sót lại chút hơi ấm nào sưởi kẻ cô liêu…


Nhắc làm chi? Ôi! nhắc làm chi nữa?
Anh đi rồi, mưa gió suốt trang thơ
Mây lìa ngàn, e lệ cánh chim thu
Con bướm ép thoát hồn mơ giấc ngủ . 
[Đinh Hùng]

Rồi trong mệt nhoài cùa cơn tra tấn của ngóng mong, chờ đợi, trước khi thiếp vào hư vô phiền muộn trái tim yêu vẫn cố gởi đi thông điệp nặng tình.

Về đi anh
Cho thỏa ước mộng chung
Hoàng hôn khép nhánh lan rừng ta ngắm
Niềm vui tỏa buông ra từ sâu thắm
Hạnh phúc... nồng nàn... đằm thắm.... dịu êm.

Nhưng cuối cùng cũng phải đối diện với thực tại  đau lòng. Dẫu vắt cạn tâm tư trong tiếng gọi nhưng hình như đó chỉ là những âm thanh lạc lõng giữa khung trời bẽ bàng giá buốt của đất trời và cả lòng người…

Rồi từ đó về sau mang trái đắng
Bàng hoàng đi theo gió thổi thu bay
Em chờ anh không biết tự bao ngày
Để thấy mãi rằng thơ không đủ gọi
[Bùi Giáng]

Điệp khúc Về Đi Anh cứ vọng vang mãi như tiếng lòng thiết tha réo gọi một khúc tình ca đang bị bỏ lửng khiến tâm hồn của khách cũng trờ thành đồng điệu với xúc cảm thiết tha, dằn vặt này.

Thơ Jana Phung mang âm hưởng nồng nàn, da diết… xoáy tận tâm can người đọc với những vần điệu cháy bỏng độ rung xao xuyến tâm lòng…


HANSY





MỪNG CHÚA GIÁNG SINH

MỪNG
CHÚA GIÁNG SINH
[Ngũ độ]

Thiên đường nhã nhạc vút tầng không
Cõi mới bình yên phủ mọi đồng
Quãng mộng chan về trong nẻo tuyết
Khung trời ấm lại giữa mùa đông
Niềm tin rộn rã đầy vui sướng
Nỗi ước êm đềm thỏa đợi mong
Lẽ phải nhân từ thơm vị Christ
Trần gian hưởng phúc ngọt ân hồng

Trần gian hưởng phúc ngọt ân hồng
Thỏa mãn mơ cầu dậy ước mong
Đẫm vẻ tươi nồng xua lạnh giá
Loang niềm đượm ngát chẳng hàn đông
Trên trời  rạng rỡ cùng thiên sứ
Giữa thế mừng vui tỏa cộng đồng
Cảm tạ ơn lành trong cõi Chúa
Thiên đường nhã nhạc vút tầng không

HANSY

ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG

Ánh lửa soi ngời rực quãng không
Bài ca Thánh Lễ rộn vang đồng
Trời ban tặng Chúa từ hang cỏ
Buổi hạ sinh Người giữa tiết đông
Cứu rỗi muôn loài trong cảnh tội
Xin cầu vạn phước cả đời mong
An lành cuộc sống cho toàn cõi
Rực rỡ đèn hoa chén tửu hồng

Rực rỡ đèn hoa nến đỏ hồng
Đêm trường đã hết cảnh chờ mong
Hồi chuông dõng dạc khua rền chốn
Chuỗi nhạc êm đềm khoả ấm đông
Khắp nẻo vui mừng ơn rạng cõi
Toàn gia phấn khởi mạ xanh đồng
Theo đường chỉ dẫn về bên Chúa
Ánh lửa soi ngời rực quãng không

Minh Hien


“THƯỢNG ĐIỀN” và “HẠ ĐIỀN”


“THƯỢNG ĐIỀN” và “HẠ ĐIỀN”


Thi cấy lúa tại Lễ hội Xuống đồng ở Hà Nam (Quàng Yên- Quảng Ninh) năm 2007 -Ảnh: báo Quảng Ninh
“Thượng điền” là nghi lễ nông nghiệp của những cư dân trồng lúa nước. “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh giải thích rõ ràng như sau: “thượng điền上田 Đám ruộng tốt nhất, khác với trung-điền, hạ-điền; Tục lệ nhà nông khi bắt đầu ra làm ruộng, mỗi năm có lệ tế Thần-nông, tế xong mới rủ nhau ra cày ruộng, gọi là lễ Thượng-điền”.

Về nghĩa thứ nhất của “thượng điền”, không có gì phải bàn cãi. Tuy nhiên, cách  giải thích nghĩa thứ hai, theo chúng tôi là ngược với thực tế. Vì “thượng điền” là lễ cúng khi vụ cày cấy đã xong, chứ không phải “bắt đầu ra làm ruộng”. Chúng ta có thể tham khảo cách giảng đúng của các cuốn từ điển sau đây:

- “Từ điển Hán-Việt” (Nguyễn Văn Khôn): “thượng điền 上田 Ruộng tốt nhứt. Lễ cúng thần nông khi đã cấy xong”.
- “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức): “thượng điền dt. Hạng ruộng tốt nhứt (theo bản sắp của nhà-nước để đánh thuế) • Tên cuộc lễ tế Thần-nông sau khi cấy xong: Lễ thượng-điền.”.
- “Từ điển Việt Nam phổ thông” (Đào Văn Tập): “thượng-điền (tl. Thượng-đẳng điền) Ruộng tốt nhất. • Lễ cúng Thần-nông khi đã cấy xong (đối với Hạ-điền)”.
- “Việt Nam tự điển” (Hội khai trí Tiến đức): “thượng-điền Lễ tế Thần-nông khi đã cấy xong <> Làm lễ thượng-điền”.
- “Từ điển tiếng Việt” (Trung tâm từ điển học Vietlex): “thượng điền d. lễ cúng thần nông sau khi cấy xong, theo phong tục thời trước: “(...) nhân ngày ‘thượng điền’ làng có sửa một con lợn, trước là tạ ơn thần thánh, sau nữa cả làng ăn uống cho vui.” (Ngô Tất Tố)”.

Trái với “thượng điền” là “hạ điền”, tức lễ xuống đồng bắt đầu một vụ cày cấy. “Hán Việt từ điển” (Nguyễn Văn Khôn) giảng: “Hạ điền 下田 Lễ bắt đầu làm ruộng. Ruộng xấu”. Các cuốn từ điển mà chúng tôi dẫn trên đây cũng có cách giải nghĩa tương tự.

Thông thường, lễ “hạ điền” làm long trọng hơn “thượng điền”. Tuy nhiên, trong thực tế cũng có khi người ta chỉ tổ chức “hạ điền” mà không làm “thượng điền”, hoặc thu hoạch xong mới “thượng điền”, cảm tạ Thần Nông, trời đất (cần phân biệt với lễ “thường tân”, cúng cơm mới, tạ ơn thần thánh, tổ tiên). 

Trong "Việc làng", Ngô Tất Tố phân biệt rõ ràng giữa "thượng điền" và "hạ điền":
"Thì ra trưa hôm kia, làng ấy làm lễ "thượng điền".

Đó là cái lễ để trình với vua Thần Nông và các cụ tiên nông trong làng đời xưa biết rằng: làng mình cày cấy đã xong. Cũng như lễ "hạ điền" cử hành khi bắt đầu cắm cây lúa xuống ruộng, lễ này tại các thôn quê làng nào cũng có. Bởi vì làng B.X năm nay trời cho mưa nắng thuận hoà, suốt một vụ cấy, không nhà nào phải tát một khau nước nào, hơn nữa, hễ cấy đến đâu lúa cứ xanh tốt ngùn ngụt đến đấy, không cần phân tro gì hết. Người ta tin rằng, nhờ có quỷ thần ủng hộ mới được như thế. Cho nên, nhân ngày "thượng điền" làng có sửa một con lợn, trước là tạ ơn thần thánh, sau nữa cả làng ăn uống cho vui".

Cúng lễ "hạ điền" của dân gian -Ảnh: FB Kiều Mai Sơn
Bài “Nghi thức rước sắc và hồi sắc trong lễ Kỳ yên ở Cần Thơ” của Trần Phỏng Diều (báo Cần Thơ - 29/5/2010) cho chúng ta biết thêm: “Lễ Hạ điền tổ chức vào đầu mùa mưa, có ý nghĩa như là lễ xuống đồng, khai trương việc cày cấy. Lễ Thượng điền cử hành vào cuối mùa mưa, lúc đã thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp. Do lễ Kỳ yên và lễ Thượng điền, Hạ điền có nghi thức cúng tế gần giống nhau nên các ngôi đình ở Cần Thơ đã nhập hai kỳ lễ này thành một, gộp lại để cúng chung. Trong các dịp cúng đình, ban tế tự thường ghi trên thiệp mời là lễ Kỳ yên Thượng điền hoặc lễ Kỳ yên Hạ điền”.

Ở Thanh Hoá, “thượng điền” (còn gọi “lên đồng” theo cách nói dân gian), có khi được dùng với nghĩa “cấy xong”, chứ không gắn gì với lễ nghi. Ví dụ, nông dân hỏi thăm nhau: “Nhà bà đến hôm nào thì thượng điền?”.

Trong lễ "hạ điền" (xuống đồng) thường có thi cấy -Ảnh: FB Kiều Mai Sơn
Có lẽ, đây chỉ là một trong những “sự cố”, nhầm lẫn của Học giả Đào Duy Anh trong “Hán Việt từ điển”, bởi ở mục “hạ điền下田”, chính sách này lại đưa ra lời giảng “Cái lễ cúng Thần-nông ngày đầu năm để bắt đầu làm công việc nhà nông”.

Vấn đề sẽ không có gì đáng nói lắm, nếu như sau “Từ điển Hán Việt” của Đào Duy Anh (1931), ít nhất có thêm 3 cuốn từ điển nữa lặp lại nhầm lẫn này.

Thứ nhất “Từ điển tiếng Việt” (Văn Tân chủ biên-NXB Khoa học xã hội, 1991) giảng: “thượng điền Lễ hằng năm tế Thần nông để bắt đầu làm ruộng (cũ)”. Đây là cuốn từ điển mà GS Nguyễn Lân cùng Nguyễn Văn Đạm, Lê Khả Kế, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Ngô Thúc Lanh, Nguỵ Như Kon Tum, Trần Văn Giáp, Nguyễn Thạc Cát, Đoàn Hựu, Trần Văn Khang, Long Điền, Hoa Bằng tham gia biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1967.

Hơn 20 năm sau (năm 1989), nhầm lẫn của “Từ điển tiếng Việt” (Văn Tân chủ biên), lại được GS Nguyễn Lân chép gần như nguyên xi vào sách “Từ điển từ và ngữ Hán Việt”: “thượng điền (thượng: trên; lên cao; tiến lên; điền: ruộng) Nói buổi lễ cúng Thần nông đầu năm trước khi làm ruộng (cũ): Theo truyền thuyết, ngày xưa, trong ngày lễ thượng điền, vua ra ruộng cày tượng trưng, sau đó nhân dân mới làm ruộng”.

Hơn 10 năm sau (2000), cũng chính GS Nguyễn Lân lại chép tiếp cái sai này vào “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”: “thượng điền dt (H. điền: ruộng) Nói buổi lễ cúng Thần-nông đầu năm trước khi bắt đầu làm ruộng: Ngày xưa, trong ngày lễ thượng điền, vua ra ruộng cày tượng trưng, sau đó nhân dân mới làm ruộng”.

Mô phỏng lễ “tịch điền” 籍田; theo phong tục thời phong kiến, hàng năm, nhà vua tự mình cày cấy trên ruộng tịch điền biểu thị sự quan tâm đối với nghề nông (khác với lễ “hạ điền” của nhà nông). -Ảnh:ST
Cũng cần nói thêm, ở đây GS Nguyễn Lân đã giảng sai chữ “thượng”, bởi “thượng” trong “thượng điền” là bước lên, chứ không phải “dâng lên, ngồi lên”. Mặt khác, lễ “hạ điền” (tức “thượng điền” theo sự nhầm lẫn của GS Nguyễn Lân) và lễ “tịch điền” (“vua ra ruộng cày tượng trưng” như cách giảng của GS Nguyễn Lân) là hai nghi lễ khác nhau, chứ không phải là một.

Hoàng Tuấn Công
7/2017


THẪN THỜ


217
THẪN THỜ
[Áp cú]
1.
Điều gì khiến ái bỗng mờ tiêu
Tiêu tán màn chăn rã chuộng chiều
Chiều vậy mà sao lòng dạ mếu
Mếu hoài khiến tủi chốn tình yêu
Yêu chi nhuốm khổ tèm lem xiếu
Xiếu mãi để buồn toét roẹt phiêu
Phiêu lãng tim này ai có hiểu
Hiểu đây xa xót biết bao điều
2.
Điều này héo hắt lặng tàn tiêu
Tiêu biệt người thương một buổi chiều
Chiều xót mê lầm loang vạn chiếu
Chiếu sầu úa nhạt nản đời yêu
Yêu trùm huyễn ảo tim mờ thiếu
Thiếu dõi xa mù ái mịt phiêu
Phiêu khúc tình lơ buồn tẻ điệu
Điệu khuya gối chiếc tủi bao điều
3.
Điều làm ngát thệ giữa làn tiêu
Tiêu thánh thót vang vọng ráng chiều
Chiều xuống nghiêng mình chen dáng liễu
Liễu thầm phả mộng ướp tình yêu
Yêu nồng để dạ hoài hoan tiếu
Tiếu nhộn cho đời chút lãng phiêu
Phiêu thỏa cung nguyền man mác diệu
Diệu thơm hoa bướm ngát ngan điều

HANSY

KHẼ ĐIỀU
1.
Điều mãi say lòng chẳng rã tiêu
Tiêu rền bổng vút đượm cung chiều
Chiều đan ý nhạc xây tình liễu
Liễu dệt thơ tình ghép mộng yêu
Yêu gởi mắt nồng tha thiết kiểu
Kiểu trao hồn đắm miệt mài phiêu
Phiêu bồng lãng mạn làn môi diệu
Diệu khẽ buông lơi ngọt mát điều.
2.
Điều ấy trao về dệt quãng tiêu
Tiêu lồng môi mắt lãng du chiều
Chiều mây quyện quấn nồng cung điệu
Điệu gió chan hòa đượm quãng yêu
Yêu nẻo nhớ ngời hoan lãng diệu
Diệu nơi chờ lộng thắm bồng phiêu
Phiêu từng nốt nhạc người ơi kiểu
Kiểu xuyến lòng ai rộn rã điều.
3.
Điều gởi hương ngàn quyện quấn tiêu
Tiêu hòa nhịp sóng quẫy ran chiều
Chiều ơi trải mãi ngàn thương điệu
Điệu hỡi ghim hoài vạn nhớ yêu
Yêu nhé đừng phai tàn sắc diệu
Diệu nè chớ nhạt loãng màu phiêu
Phiêu cùng mộng nhé say hồn liễu
Liễu thỏa niềm mơ lịm ngất điều.

Hà Thu

MÙA TRĂNG ẤY


MÙA TRĂNG ẤY

Mùa trăng ấy vàng gieo ngấn nước
In vào lòng những bước chân ai
Xao tình thương nhớ canh dài
Tương tư mấy nỗi đêm ngày ngóng trông.

Mùa trăng ấy nhớ nhung chất ngất
Ấp e tim ngọt mật niềm mơ
Dỗ lòng viết những câu thơ
Gởi em một chút bến bờ trong ta.

Mùa trăng ấy bao la tình mộng
Nhớ ngày nao lọng cọng trao thơ
Để rồi trăm nhớ ngàn chờ
Tiếng yêu bỗng đến thấy thơ thái lòng.

Mùa trăng ấy….
………..

Mùa trăng nay hư không chiếc bóng
Một mình ta mãi ngóng tình xưa
Bởi vì trời đổ cơn mưa
Khiến cho đôi ngã vẫn chưa nối tình…

HANSY

KHƠI NGUYỀN


KHƠI NGUYỀN
[Thuận Nghịch độc]

Êm đường mật ngọt đẫm dòng khơi
Đếm thỏa lòng thơm quấn quyện đời
Thềm phả nhớ thương vằng vặc đợi
Nệm bừng mơ ước dạt dào lơi
Thêm hoài nghĩa lịm mê huyền tới
Nếm mãi tình ân ái huyễn ngời
Mềm diệu khách si quỳnh đắm khởi
Đêm nguyền hẹn ước dặt dìu ơi

Ơi dìu dặt ước hẹn nguyền đêm
Khởi đắm quỳnh si khách diệu mềm
Ngời huyễn ái ân tình mãi nếm
Tới huyền mê lịm nghĩa hoài thêm
Lơi dào dạt ước mơ bừng nệm
Đợi vặc vằng thương nhớ phả thềm
Đời quyện quấn thơm lòng thỏa đếm
Khơi dòng đẫm ngọt mật đường êm

HANSY

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2018

Kỳ 126 -BỊ BAO VÂY QUÂN MINH ĐƯỜNG CÙNG RÚT GIẬU


Kỳ 126
BỊ BAO VÂY
QUÂN MINH ĐƯỜNG CÙNG RÚT GIẬU

Giai đoạn nửa đầu thế kỷ 15, sau cuộc chiến Minh – Đại Ngu vốn đang là thời kỳ các loại súng thần công đặt trên mặt thành phát triển rất mạnh mẽ, trong khi các loại dã pháo cơ động ngoài chiến trường vẫn còn chưa phát triển mạnh. Bởi vậy, thành trì của quân Minh có ưu thế về hỏa lực rất lớn. Ngoài lợi thế về hỏa lực, quân Minh vẫn còn trong tay trên 5 vạn quân. Điều nguy hiểm hơn nữa là chúng là tự đặt mình vào thế cùng, sẵn sàng liều chết với quân Lam Sơn chứ không còn dễ dàng tan chạy như thuở nghĩa quân mới nổi lên chống giặc nữa.

Thực ra nếu quyết định công phá Đông Quan, quân Lam Sơn vẫn có cửa thắng cao, nhưng thương vong sẽ là rất khó lường. Trong bối cảnh quân ta còn phải chờ đón đánh viện binh, việc hạ thành quả là hạ sách. Bình Định vương Lê Lợi sau khi cân nhắc đã quyết định củng cố vòng vây thành Đông Quan. Nhiệm vụ đặt ra là không chỉ uy hiếp Đông Quan từ một vài hướng, mà còn phải tổ chức bao vây thật kín kẽ, không cho Vương Thông có đường hành quân đào thoát hay phối hợp với các khối quân Minh khác.

Bình Định vương Lê Lợi đã chia quân làm 4 hướng, đóng doanh trại ngay trước 4 cửa thành Đông Quan để bao vây :

- Hướng cửa đông do Thiếu úy Trịnh Khả thống lĩnh
- Thái giám Lê Chửng (hay Lê Cực) cầm quân Thiết Đột giữ cửa tây
- Hướng cửa nam do Tư đồ Đinh Lễ chỉ huy
- Thiếu úy Lý Triện được giao trọng trách trấn giữ cửa bắc

Tuyến sau của bốn doanh này là ba doanh trại Cảo Động (Từ Liêm, Hà Nội ngày nay) nằm phía tây bắc, trại Sa Lôi (thuộc Từ Liêm, Hà Nội) nằm phía tây, Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội) nằm hướng nam thành Đông Quan.

Vòng vây hai lớp này đảm bảo quân Minh trong thành Đông Quan hoàn toàn bị cô lập. Để có thể bố trí thế trận này, Bình Định vương Lê Lợi đã phải dùng rất nhiều binh lực. Cùng với việc bố trí lực lượng vây Đông Quan, Lê Lợi cũng dời đại doanh đến đóng ở Bồ Đề (Phú Viên, Gia Lâm, Hà Nội ngày nay). Đại doanh nằm dọc theo dòng sông Hồng, trong doanh dựng một vọng lâu nhiều tầng, cao bằng tháp Báo Thiên (khoảng hơn 90 mét) để nhìn vào trong thành. Ngày ngày, Vương ngự trên tầng cao nhất quan sát động tĩnh quân Minh trong thành. Nguyễn Trãi lúc bấy giờ nhờ có nhiều công lao nơi màn trướng, được tiến phong Triều liệt đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư kiêm hành Khu mật viện sự là chức quan cao nhất văn ban. Trãi được vinh dự cho ngồi tầng dưới, cùng Bình Định vương thảo luận kế sách và phụ trách soạn thư thảo hịch gởi ra ngoài doanh, phân tích thư từ các nơi gởi đến.

Sở dĩ Lê Lợi trọng dụng một văn nhân như thế, là vì giai đoạn này quân Lam Sơn đã cai quản một vùng lãnh thổ rộng lớn, và cần phải biết cách điều hành bài bản, hòng huy động tối đã nhân tài, vật lực cho trận chiến sinh tử. Nguyễn Trãi là người từng có kinh nghiệm làm quan cho nhà Hồ, lại là một danh sĩ trước khi tham gia vào hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn. Với việc tin dùng Nguyễn Trãi, Lê Lợi vừa phát huy được tài trí của nhân vật này, vừa được lòng hiền sĩ các nơi.

Tại dinh Bồ Đề, Lê Lợi đã xuống những chiếu thư cầu hiền, truyền hịch kêu gọi nhân dân càng chung sức hơn nữa. Một chiến lũy cao ngang mặt thành Đông Quan được dựng lên ở bờ bắc sông Nhị (sông Hồng chảy qua hướng bắc Hà Nội ngày nay), nhờ vào sự đóng góp to lớn về sức người và của cải của nhân dân các xứ gần Đông Quan. Những trại ngoài vây quanh thành Đông Quan cũng đều dựng lũy mà kiềm chế giặc. Chiến thuật lấy lũy vây thành càng làm quân Minh gần như hết đường đào thoát. Quân Lam Sơn đêm ngày tuyển mộ đội ngũ, tập dợt thủy chiến, rèn thêm chiến cụ …

Tuy nhiên Vương Thông cũng không phải là một tướng tay mơ. Mặc dù không có khả năng lật ngược tình thế, tướng giặc vẫn cố gắng điều quân đánh phá vòng vây của quân ta, tìm kiếm những chiến thắng cục bộ hòng khích lệ tinh thần binh sĩ.

Ngày 4.3.1427, quân Minh từ trong thành quan sát thấy cánh quân ở Cảo Động bố phòng sơ hở. Phương Chính bèn cầm quân tinh nhuệ ra đánh úp. Cảo Động là tuyến bao vây vòng ngoài, còn cách thành Đông Quan một vòng vây. Bởi thế mà một số tướng sinh chủ quan, cho rằng giặc kéo ra thành tất gặp phải quân vòng trong trước, rồi quân vòng ngoài mới điều động ứng cứu. Nhưng không ngờ tướng giặc bạo gan lựa chỗ khoảng hở giữa các khối quân ta, dẫn quân luồng sâu xuyên qua trận địa. Lý Triện, Đỗ Bí cùng quân dưới trướng bị đánh bất ngờ nên thương vong lớn. Lý Triện cố sức đánh trả rồi tử trận. Đỗ Bí bị giặc bắt sống làm con tin.

Ngày 13.3.1427, quân Minh vẫn theo chiến thuật luồng sâu thình lình đánh vào trại Sa Đôi. Lần này quân Lam Sơn đã có phòng bị, cố sức chống trả. Hết sạch tên đạn, quân ta dùng cả vò lọ, gạch nấu bếp liệng vào quân Minh. Giặc không tiến được, phóng hỏa đốt nhà dân làm kế hỏa công. Các quân đa phần sợ lửa, nhảy xuống sông bơi trốn, chết đuối rất nhiều. Chỉ có quân Thiên Quan nhiều người không biết bơi, ở lại tử chiến với quân Minh. Khí thế của những người lính cùng đường đã bất ngờ đánh lui được giặc.

Sau hai trận đột kích ra ngoài của quân Minh, Lê Lợi bèn chỉnh đốn các quân, tăng cường phòng bị hơn nữa. Trong cuộc duyệt binh ở Vĩnh Động (Kim Thi, Hưng Yên ngày nay), Vương đã lệnh chém đầu Chánh đốc Nguyễn Liên vì hàng ngũ chiêng trống trễ nải. Nhờ tăng cường nghiêm lệnh, các quân bớt chủ quan hơn với giặc.

Ngày 6.4.1427, Vương Thông đem quân tinh nhuệ đích thân đánh vào trại Tây Phù Liệt. Thái giám Lê Nguyễn cố sức dựa vào lũy mà cầm cự, quân Minh không công phá được. Đến lúc Đinh Lễ, Nguyễn Xí thấy động, liền tức tốc đem 500 quân Thiết đột và tượng binh đến cứu. Tinh binh gặp tinh binh, Vương Thông bỗng chốc trở nên thất thế vì bị hai hướng đánh kẹp lại. Thông liệu thế không chống nổi, bèn hạ lệnh thu quân. Đinh Lễ, Nguyễn Xí ham đánh quá, cứ cưỡi voi đuổi theo bất chấp việc quân của Vương Thông vẫn còn đông. Đuổi đến Mi Động, Thông ngoái lại thấy Lễ và Xí ít quân, liền hô quân đánh quật lại. Voi bị sa lầy, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị giặc bắt. Nơi trướng giặc, Đinh Lễ không ngớt lời mắng chửi. Vương Thông giận quá đem giết đi. Nguyễn Xí thì dù mưu mẹo lừa quân canh, vượt ngục trốn thoát được về.

Những trận tập kích của Vương Thông tuy không làm thay đổi được thế trận chung, nhưng đã khiến quân Minh hăng hái hơn, và làm quân ta tổn thất nhất định. Mỗi một nghĩa quân ngã xuống đều đáng tiếc thương. Trong số những tổn thất đặc biệt phải kể đến là hai danh tướng Lý Triện, Đinh Lễ. Hai ông đều là tướng tài ba, đặc biệt trong chiến cuộc Ninh Kiều đã cùng nhau lập công lao rất hiển hách. Sự hy sinh của hai ông là mất mát rất lớn đối với nghĩa quân.

Những tổn thất ở Cảo Động, Sa Đôi, Mi Động cho thấy rằng tâm lý kiêu binh đã lan truyền trong quân Lam Sơn, sau những ngày dài kinh qua quá nhiều chiến thắng. Bình Định vương Lê Lợi sau khi hay tin Đinh Lễ bị giặc giết rất đau xót, than rằng : “Lỗi tại Lễ quen thắng rồi khinh địch, ta đã nhiều lần răn bảo rồi, quả nhiên bị hại” (theo Đại Việt Thông Sử). Đinh Lễ vốn là cháu gọi Lê Lợi bằng cậu, ngoài nghĩa vua tôi còn có tình thân huyết nhục. Trước đây, Đinh Lễ đại phá quân Minh ở Tốt Động, oai danh lẫy lừng. Quân tướng các doanh đều ca tụng Lễ là giỏi. Duy chỉ có Lê Lợi là răn bảo: “Trăm trận đánh được cả trăm trận không phải là tốt đâu, hắn cậy lanh giỏi quen mùi được luôn, thất bại có thể đứng trông thấy ngay” (theo Đai Việt Sử Ký Toàn Thư). Có thể thấy tâm lý khich địch mà Bình Định vương răn bảo Đinh Lễ cũng là lời nên dành cho toàn quân Lam Sơn vào lúc này.

Một điều may mắn cũng nên kể đến là sự trở về của danh tướng Nguyễn Xí. Ông bị bắt cùng với Đinh Lễ, nhẫn nhịn tìm thời cơ. Cuối cùng dùng mưu lừa được quân canh mà trốn về doanh trại. Khi Xí về đến nơi, Lê Lợi đang dùng bữa, buông đũa chạy vội ra đón mừng. Vua tôi mừng rỡ khôn xiết, Lê Lợi reo lên: “Thực là sống lại !” (theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí). Kế đó, Bình Định vương Lê Lợi lại sai đi cầm quân.

Trong lần thứ ba dẫn quân xuất thành đột kích quân Lam Sơn, Vương Thông đã không còn giữ được yếu tố bất ngờ nữa. Việc bắt được tướng của ta chỉ là tận dụng sai lầm cá nhân. Sau trận Mi Động, quân Lam Sơn đã rành mưu của giặc, càng bố trí phòng bị chặt chẽ hơn. Khi các tướng Minh khuyên Vương Thông tiếp tục xuất thành giao chiến, hắn đã bác bỏ vì biết chiến thuật cũ đã không còn dùng được. 

Quốc Huy



TRĂNG – GIÓ


209
TRĂNG – GIÓ
[Bát điệp]

Toả sáng TRĂNG ngời duỗi rặng cây
Treo nằm diệu lửng gió TRĂNG vầy
TRĂNG lèn khóm liễu nồng theo buổi
Cuội níu vầng TRĂNG huyễn với bầy
Phượng dỗi u sầu TRĂNG ái thảm
TRĂNG hờn ủ rũ khúc tình ngây
Nguyền ơi mấy dịp thềm TRĂNG tỏ
Tắm giữa mùa TRĂNG phả ngọt đầy

GIÓ thoảng ngoài xa diệu mát đầy
Êm mùa GIÓ lộng khỏa tình ngây
GIÓ mang âm hưởng chèn trong nắng
GIÓ sưởi hồn yêu lẫn giữa bầy
Hỡi GIÓ đi về tim nhớ vậy
Ơi em nhắn gởi GIÓ thương vầy
Ngàn mơ ủ GIÓ vào thơ mộng
GIÓ mãi bông đùa với ngọn cây

HANSY

NẮNG - MƯA

Ơ kìa NẮNG quyện xỏa hàng cây
Tỏa ánh vàng tươi giọt NẮNG vầy
NẮNG trải mơ màng theo nhịp vẫy
NẮNG đơm huyễn ảo sóng cơn bầy
Nồng êm NẮNG rũ bừng hương ngậy
Thắm dịu NẮNG xòe bổng sắc ngây
Mộng luyến sang hè tia NẮNG chẩy
Hồn say uống nhịp NẮNG thơm đầy

Màn MƯA xoải lượn lãng du đầy
Lãng mạn MƯA đùa tựa sóng ngây
Gió dệt cung tình MƯA xoắn quẩy
MƯA thùa khúc mộng khói xuyên bầy
MƯA nè quyện ước say nồng quậy
MƯA hỡi hòa mơ đắm diệu vầy
Thả áng ru chiều MƯA lướt đẩy
MƯA trườn nhịp bổng quấn vào cây.

Hà Thu

ƯỚC VỌNG


ƯỚC VỌNG

Ta gặp em thật tình cờ trên sóng Net
Sao giữa bao người vốn dĩ đã thân quen
Lại nhớ nhiều trong lòng chỉ mỗi một mình em
Hay là có chút duyên tình mùa tương ngộ?

Ta nghĩ về em một dáng hình chưa rõ
Chưa đậm đà nhưng khó lắm để mà quên
Và đôi lần thầm lặng nỗi nhớ bâng khuâng
Giá như... uhm... giá như em đừng hờ hững.

Ta đoán em mơ hồ vì chỉ toàn tưởng tượng
Chứ chúng mình đâu một lần cùng uống café
Làm sao biết thật về ngồn ngộn xuân thì
Khi tơ hồng mảnh mai đung đưa mờ nhạt.

Thì em hỏi lại lòng mình cho kỹ càng đi nhé
Con tim nào cũng có những lý lẽ rất riêng
Và nếu trời thương tình buộc lại một chữ duyên
Thì gặp nhau, gặp nhau – dẫu một lần – em nhé!
Ta vẫn mong, mãi hoài – thật mong – như thế...

HANSY

ĐƠN CHIẾC


ĐƠN CHIẾC

Hạ chiếc thu mòn lạnh buốt đông
Thầm thương dạ tủi úa phai nồng
Lu mờ lãng tử ngùi duyên trống
Lỡ cỡ thuyền quyên nhạt má hồng
Ngõ phúc ê càng xuân rã mộng
Cung tình lụn bước thệ rời song
Gia đình chẳng vẹn đìu hiu sống
Con trẻ ngàn năm chả được bồng

Con trẻ ngàn năm chả được nồng
Tịt ngòi pháo nổ lạc ngoài song
Nàng xuân õng ẹo đùa tim trống
Ả ái chua ngoa ngắt nụ hồng
Sớm ứa mơ hoài đâu biếc bổng
Khuya thèm thích suốt chả thơm nồng
Phòng đơn tẻ ngắt đời vô vọng
Hạ chiếc thu mòn lạnh buốt đông

HANSY

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

KHÔNG NÊN HỒ ĐỒ VỚI "THẤU CẢM"

KHÔNG NÊN HỒ ĐỒ
VỚI "THẤU CẢM"

Tuần qua, báo chí và mạng xã hội bình luận sôi nổi về đề thi ngữ văn THPT năm 2017, với đoạn văn đọc hiểu, trích dẫn từ sách “Thiện, Ác và Smartphone” của tác giả Đặng Hoàng Giang (NXB Hội nhà văn, 2017). Xin trích:

 “Thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ.

Giống như cái lạnh thấu vào tủy hay cái đau thấu xương, thấu cảm là sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ, và tất cả xảy ra mà không có sự phán xét.

Khả năng đọc được tâm trí và tâm hồn của người khác là một khả năng phát triển ở những người mẫn cảm”.

Rất nhiều ý kiến tranh luận trái chiều, nhưng có thể tổng hợp thành mấy quan điểm chủ yếu như sau:

-Thứ nhất: “Thấu cảm” là một “từ lạ”, không có trong tiếng Việt, cũng không có trong tiếng Hán, và không được bất cứ cuốn từ điển tiếng Việt nào ghi nhận. (“Một thạc sỹ công tác tại Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam thú nhận: “Chưa từng nghe từ này bao giờ”- báo “Tiền phong”). Vì tiếng Việt không có cái gọi là “thấu cảm”, nên cách hiểu, cách giảng về “thấu cảm” của TS Đặng Hoàng Giang là vô nghĩa.

-Thứ hai: Từ “thấu cảm” tuy không thông dụng, nhưng đã được dùng trong thực tế và được từ điển tiếng Việt ghi nhận. Tuy nhiên, cách giải thích của tác giả Đặng Hoàng Giang mang nặng tính suy diễn, chủ quan, phi lý.

- Thứ ba: Không có vấn đề gì đáng phải bàn cãi trong đoạn văn đọc hiểu và đề thi môn ngữ văn.

 Trước tiên, xin nói về từ “thấu cảm”.

Có thể nói, “Từ điển tiếng Việt” của Trung tâm từ điển học Vietlex (Vietlex) là cuốn từ điển duy nhất (đến thời điểm này mà chúng tôi biết) có ghi nhận từ “thấu cảm”. Sách này đưa ra hai cách giải thích như sau: “thấu cảm • 透感 đg. thấu hiểu và cảm thông một cách sâu sắc” (theo bản có chú chữ Hán cho những từ Hán Việt, NXB Đà Nẵng, 2015); “thấu cảm • đg. cảm nhận và thấu hiểu một cách sâu sắc : thấu cảm lòng nhau” (bản không chú chữ Hán, NXB Đà Nẵng, 2007).

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, việc Vietlex thu thập và chú chữ Hán cho từ “thấu cảm” là thiếu thận trọng, thậm chí không đúng, vì đây không phải là từ có trong tiếng Hán. Mặt khác, cách giải nghĩa của Vietlex theo kiểu lắp ghép máy móc, tuỳ tiện của “từ điển Vũ Chất” (kiểu như “giao hợp” = giao lưu và hợp tác!). Nghĩa là theo quan điểm này, thì ngay cả khi “thấu cảm” đã được từ điển tiếng Việt ghi nhận, cũng không có nghĩa là đúng.

Vậy, nên nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Theo chúng tôi, cần thấy rằng, từ Việt gốc Hán không dứt khoát phải là một từ có trong tiếng Hán, được dùng với nghĩa của tiếng Hán. Từ gốc Hán còn là những từ “có sự vay mượn hoàn toàn hay một phần ý nghĩa từ tiếng Hán. Khi vay mượn và biến đổi theo những nghĩa không có trong tiếng Hán thì ngữ tố đó được gọi là Hán Việt Việt dụng” (ví dụ các từ: lịch sự, tử tế, thông cảm-HTC chú); “Những từ được người Việt tạo thành từ việc kết hợp các từ tố gốc Hán (với ba mặt hình-âm-nghĩa) theo kiểu của người Việt và chỉ có người Việt sử dụng. Những đơn vị này không xuất hiện trong từ vựng của tiếng Hán, tiếng Hàn, tiếng Nhật cũng như khối từ vựng văn ngôn của các nước này thì được gọi là từ Hán Việt Việt tạo.” (“Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển”-Trần Trọng Dương, NXB Từ điển bách khoa-2014).

Như vậy, căn cứ tiêu chí mà các nhà ngôn ngữ nói chung, tác giả Trần Trọng Dương nói riêng đưa ra để phân loại, thì “thấu cảm” thuộc nhóm từ “Hán Việt Việt tạo”. Quá trình sản sinh từ “Hán Việt Việt tạo” diễn ra cách nay ít nhất cũng đã hơn nửa thiên niên kỷ. Cụ thể, theo tác giả “Nguyễn Trãi quốc âm từ điển”, thì (cho đến thời điểm này) từ “Hán Việt Việt tạo” xuất hiện trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi được coi là sớm nhất.

Về từ “thấu cảm”, Nhà nghiên cứu ngôn ngữ, Ts Hán Nôm Trần Trọng Dương cũng chia sẻ ý kiến với chúng tôi như sau: “Xét về mặt lý thuyết, "thấu cảm" không có gì sai về từ pháp (cấu trúc từ) của Hán văn, và không có gì sai về cơ chế sản sinh từ vựng của tiếng Việt. Nguyên lý này dựa trên cảm thức ngôn ngữ, và tri thức Hán văn của người bản ngữ, để có thể tiếp tục làm giàu thêm kho từ vựng phong phú của tiếng Việt. Ví dụ: về cấu trúc tương đương, thấu hiểu >>> thấu cảm >>> thấu thị >>> thấu đáo. Giống như, lâm tặc> hải tặc> tin tặc> cát tặc”.

Quả vậy, về từ “thấu hiểu”, “Từ điển tiếng Việt” (Vietlex) giảng như sau: “thấu hiểu • 透曉 đg. hiểu một cách sâu sắc, tường tận: thấu hiểu lòng nhau”; “Hán ngữ đại từ điển” giảng: “thấu hiểu: hiểu một cách triệt để, tường tận” (nguyên văn: “triệt để hiểu ngộ    ”). Theo đó, với từ “thấu cảm”, thì “thấu” ở đây là “thông thấu” 通透 (Hán điển giảng: “thông thấu = thấu hết; hiểu rõ” [nguyên văn “通透 (penetrating): 通徹明白”]; “cảm”   nghĩa là sự rung động, nhận biết bằng giác quan, hoặc bằng cảm tính về sự vật, hiện tượng nào đó. Bởi vậy, “thấu cảm” có thể được hiểu là sự cảm nhận, hiểu biết một cách sâu sắc, tường tận về trạng thái tâm lý, hoặc cảnh ngộ… của ai đó. Tuy nhiên, “cảm” trong “thấu cảm” là cảm nhận mang tính chất cảm thông, chia sẻ, chứ không phải là cảm nhận nói chung. Theo đó, phương pháp định nghĩa phổ biến trong từ điển giải thích là dùng “từ bao”. Nghĩa là phải thể hiện được mối quan hệ trực tiếp của nội dung định nghĩa với yếu tố thể hiện ở đầu mục từ. Bởi vậy, từ cách tạo từ đến lời giảng của Vietlex: “thấu cảm: cảm nhận và thấu hiểu một cách sâu sắc”; hoặc “thấu hiểu và cảm thông một cách sâu sắc”, hoàn toàn không có gì là bất thường, ngô nghê. Ví dụ thêm, từ “cân xứng” 斤稱 (Hán ngữ = tương xứng相稱) là một từ “Hán Việt Việt tạo” (đã có trong thơ quốc âm của Nguyễn Trãi). Từ điển của Vietlex giảng: “cân xứng • 斤稱 cân đối và phù hợp với nhau. Đn: tương xứng”. Tuy nhiên, “cân xứng” cũng có thể được giảng là “cân đối và tương xứng”, mà không bị xem là cách ghép từ và giải thích theo kiểu máy móc của “từ điển Vũ Chất”. Hoặc “cách điệu” 格調, được “Hán Việt từ  điển” của Đạo Duy Anh giảng là: “cách-thức và thanh-điệu của văn-chương”…

Theo ngữ liệu của Vietlex, thì “thấu cảm” đã xuất hiện trong văn học xuất bản từ năm 1941. Đó là truyện ngắn “Những nỗi lòng” (nằm trong tập truyện ngắn “Nằm vạ” của Bùi Hiển):

 “Anh viên chức đạc điền trước nhà, bác thợ may hàng xóm, chị bán cháo bánh canh thường ngày cung cấp cho tôi món quà sáng thơm ngon ngầy ngậy, họ sống ra sao, lo nghĩ những gì, họ yêu ai và ghét những ai? Tại sao cô em gái tôi thương yêu nhất đời lặng lẽ khóc hai lần giữa ngày mồng một Tết? Tôi không hề biết, không hề biết!
Tâm hồn tôi trở nên lo lắng. Tôi sống chăm chú, vểnh tai và giương mắt như con nai rừng rậm, tôi muốn cho linh giác thẳng căng, để mà THẤU CẢM, một cách lẹ làng tế nhị, sự thầm kín ủ trong những nỗi lòng”.

Ngoài ra, cũng theo ngữ liệu (do Trung tâm từ điển học Vietlex cung cấp cho chúng tôi), “thấu cảm” còn xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm khác, như:

-“Tối đen, yên ắng. Bóng tối trở nên lạnh. Đã đến lúc phải về rồi, Kiên thầm nghĩ và phóng tay ngồi dậy. Chẳng hiểu sao cậu cảm thấy một nỗi tiếc nuối cay đắng, cảm thấy cái việc phải rời đây ra về là nặng nề quá sức mình. Như THẤU CẢM được lòng Kiên, Phương khẽ nói:

- Chẳng sợ đâu. Đằng nào cổng trường cũng đóng rồi. Đợi tối khuya cụ lao công gà gật, ta trèo tường biến”. [Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh”. 1990].

-“Thuật lắng nghe một vấn đề, không phải chỉ bằng tai mà còn cả bằng mắt, để ý những cử chỉ nhỏ của người nói, để dễ tạo cho mình một THẤU CẢM về sự kiện, tâm trạng và âm vang trong cơ thể người kể”. [Thế Bảo Tịnh. Hà Nội mới cuối tuần. 1996]

-“Không nhận thức rõ ràng nguồn gốc tư tưởng nhân đạo đậm đà bản sắc dân tộc này thì sẽ dẫn tới sự đối lập cực đoan giữa cá nhân và xã hội, giữa cái tôi và cái ta, giữa chủ thể đạo đức và chủ thể trí tuệ, không dễ gì THẤU CẢM được “sự thật bên trong” của những câu thơ “Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng.” [Nguyễn Thanh Hùng. Văn nghệ. 1996]

-“Cha mẹ lại cũng cần THẤU CẢM với trẻ, nhớ lại cái thuở tuổi mới lớn của mình để hiểu những phản ứng của trẻ bây giờ, nhưng vẫn phải có trách nhiệm giám sát, cố vấn”. [Đỗ Hồng Ngọc. Kiến thức ngày nay. 1997]

-“Thiên nhiên thật thiên vị, dường như đã dồn hết cả tinh tuý của đất trời về phía Tây Hồ. Đã có biết bao mùa thu đến rồi đi qua, vậy mà cứ mỗi một mùa thu về lại dậy trong tôi những cảm giác mới lạ, THẤU CẢM bằng cả tâm hồn”. [Báo Doanh nghiệp chủ nhật. 1997]

-“Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về giao tiếp quản lý. Đó là sự giao tiếp luôn hướng vào quần chúng, đồng cảm ở mức độ THẤU CẢM với họ, để ứng xử phù hợp - sáng tạo và cách mạng, như đồng chí Phạm Văn Đồng nhận xét: “Hồ Chí Minh rất giản dị trong lời nói và bài viết vì muốn cho quần chúng hiểu được, nhớ được, làm được”. [Nguyễn Liên Châu. Giáo dục & Thời đại chủ nhật. 1999].

Dĩ nhiên, ngữ liệu thống kê trên đây của Vietlex không có nghĩa năm 1941 là thời điểm (hoặc mới là thời điểm) xuất hiện từ “thấu cảm”; hoặc đến nay chỉ chừng ấy tác giả, tác phẩm sử dụng từ này.

Như vậy, có thể “thấu cảm” chưa được sử dụng rộng rãi và biết đến nhiều trong đời sống hàng ngày, hãy còn xa lạ với học sinh phổ thông, nhưng không phải là quá xa lạ với nhiều người, đặc biệt là người cầm bút, càng không phải là “từ lạ” do TS Đặng Hoàng Giang “sáng chế” ra.

Trở lại hai chữ “thấu cảm”. Tiếng Việt mượn nhiều từ gốc Hán vào kho tàng từ vựng của mình, đồng thời cũng tự tạo ra nhiều từ mới bằng các từ hoặc yếu tố gốc Hán. Qua quá trình sử dụng, có những từ bị “rụng” bớt nghĩa, hoặc chuyển nghĩa (thêm nghĩa mới). Những từ này nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, trở thành tài sản của người Việt, mà không dứt khoát phải phụ thuộc vào người Hán. Người Hán nói “cảm thông”, ta cũng nói “cảm thông” với nghĩa tương đương, nhưng lại có thêm từ “thông cảm” với nghĩa khác cách dùng của Hán. Hán nói “tương xứng”, ta cũng nói “tương xứng”, nhưng lại có thêm “cân xứng”. “Tương xứng” và “cân xứng” của ta cũng không đồng nghĩa trong mọi trường hợp.

Tiếng Việt uyển chuyển và phong phú là thế. Bởi vậy, ngay cả khi “thấu cảm” không có trong tiếng Hán, hoặc chưa có bất cứ cuốn từ điển tiếng Việt nào ghi nhận từ “thấu cảm”, thì điều đó hoàn toàn không có nghĩa là từ này không có trong tiếng Việt. Điều đáng hoan nghênh là “Từ điển tiếng Việt” của Trung tâm từ điển học Vietlex đã bám sát, phản ánh kịp thời đời sống ngôn ngữ, sưu tầm ngữ liệu một cách bài bản, rồi bổ sung từ “thấu cảm” vào từ điển từ năm 2007[1].

 Tóm lại, theo chúng tôi, dù thông dụng, hay chưa thông dụng, chúng ta cũng nên nhìn nhận từ “thấu cảm” một cách công bằng như bao từ “Hán Việt Việt tạo” đã sinh ra trong quá trình phát triển, làm giàu thêm cho tiếng Việt. Nghĩa là nếu đoạn văn đọc hiểu trích từ “Thiện, Ác và Smartphone” có vấn đề, hãy đưa ra lý lẽ để bác bỏ, phê phán chính nó, chứ không nên và không thể “tẩy chay”, loại trừ luôn từ “thấu cảm”[2].

Hoàng Tuấn Công
6/2017
Chú thích:
[1] Công bằng mà nói, nếu so sánh cách dùng từ “thấu cảm” trong kho ngữ liệu của Vietlex, với cách “tán” của TS Đặng Hoàng Giang, thì “thấu cảm” thực ra mang nghĩa giản dị, dễ hiểu hơn nhiều. Nghĩa là tác giả “Thiện, Ác và Smartphone” đã gán thêm cho “thấu cảm” nhiều nghĩa rất bí hiểm, linh diệu. Ví dụ, đoạn văn trong “Nỗi buồn chiến tranh”, khi “thấu cảm được lòng Kiên”, thì Phương vẫn quan sát và cảm nhận bằng giác quan của chính mình, chứ đâu phải nhìn bằng “con mắt của người khác”? Hay, Phương chỉ “thấu cảm” trạng thái tâm lý của Kiên trong cảnh ngộ cụ thể (“cảm thấy một nỗi tiếc nuối cay đắng, cảm thấy cái việc phải rời đây ra về là nặng nề quá sức mình”), chứ đâu phải là “sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn” của Phương về con người Kiên (tức hiểu biết tất cả tâm tính, niềm vui, nỗi buồn, hay thiện ác trong một con người). Từ chỗ “thấu cảm” được “nỗi tiếc nuối cay đắng” trong lòng Kiên, Phương đã nói lời chia sẻ, an ủi, cảm thông.
Hoặc trong đoạn văn của Thế Bảo Tịnh: “Thuật lắng nghe một vấn đề, không phải chỉ bằng tai mà còn cả bằng mắt, để ý những cử chỉ nhỏ của người nói, để dễ tạo cho mình một THẤU CẢM về sự kiện, tâm trạng và âm vang trong cơ thể người kể”, chúng ta thấy rõ, cách lắng nghe đế thấu cảm là vận dụng cùng lúc các giác quan (tai mắt) của chính mình; và cũng chỉ “thấu cảm” về “sự kiện, tâm trạng” của người kể chuyện trong lúc đó, chứ đâu phải hiểu “thấu đáo, trọn vẹn” người đang kể chuyện! Ấy là chưa kể đến những ví dụ về sự thấu cảm của tác giả Đặng Hoàng Giang cũng chưa thể gọi là “thấu cảm” được.
Ý kiến riêng của tôi, đề thi môn ngữ văn THPT năm 2017 có "vấn đề", Trường hợp lấy đoạn trích trong “Thiện, Ác và Smartphone” và yêu cầu thí sinh chỉ ra những điểm chưa hợp lý trong cách hiểu từ “thấu cảm” của tác giả, lại là chuyện khác. Tuy nhiên, đó không phải là yêu cầu phù hợp với trình độ của học sinh THPT.
[2] Xin tham khảo thêm một số ngữ liệu do Vietlex thu thập (chúng tôi viết hoa THẤU CẢM là để nhấn mạnh và dễ quan sát):
-Tức là, đối với một nhà lãnh đạo, THẤU CẢM không có nghĩa là việc cố gắng hùa theo cảm xúc của những người khác, lấy cảm xúc của họ làm cảm xúc của mình, với mục đích làm hài lòng mọi người; trái lại, nó mang ý nghĩa chỉ về việc trong tiến trình đưa ra các quyết định sáng suốt, nhà lãnh đạo ấy biết ân cần quan tâm đến những tâm tư tình cảm - cũng như đến nhiều yếu tố khác nữa - của các nhân viên mình. [misa.com.vn. 17/12/2012.]
-Nét khác biệt giữa hai người quản lý kia chính là sự THẤU CẢM. Người thứ nhất quá đỗi lo lắng về "số phận" của chính bản thân, đến độ không thiết đoái hoài gì đến nỗi lo âu của các nhân viên mình. Người thứ hai thì bằng trực giác mà biết được những cảm giác của các nhân viên anh, hiểu được những nỗi lo sợ họ đang mang trong lòng, và anh đã tìm cách dùng lời lẽ mà động viên họ. [misa.com.vn. 17/12/2012.]
-Những người có khả năng THẤU CẢM đều bắt nhịp được với những gì tinh tế được biểu hiện qua ngôn ngữ cơ thể; họ có thể nghe ra được thứ thông điệp nằm sâu bên dưới lớp vỏ ngôn từ. Trên hết, họ có được một cách nắm bắt sâu xa về cả sự tồn tại lẫn tầm quan trọng của những nét khác biệt giữa các nền văn hoá hay giữa các dân tộc với nhau. [misa.com.vn. 17/12/2012.]
-Bạn đời sẽ thể hiện cảm xúc dễ tổn thương nhiều hơn thay vì cảm xúc phản ứng (ví dụ tức giận), từ đó càng gợi lên sự THẤU CẢM giữa hai vợ chồng.
Điều này cũng giúp các cặp vợ chồng biết tìm hiểu và cảm thông hơn về hoàn cảnh gia đình của nhau. Nó gợi lên sự THẤU CẢM về các nhu cầu chưa đạt được và lý do tại sao hoàn cảnh hiện tại dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ. Các cặp vợ chồng cũng cần tò mò về nhau trong vấn đề này vì tò mò cũng tạo điều kiện để tăng sự THẤU CẢM giữa đôi bên. [doanhnhansaigon.vn. 22/11/2015].
-Bổ sung thêm một số thông tin khoa học giúp các bạn nhỏ nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa của những vận động tự nhiên đối với cuộc sống loài người, thông qua những tình tiết suy tư của ếch xanh, tôi mong cuốn sách gợi dậy những hạt mầm THẤU CẢM với tự nhiên, biết rung động trước một chiếc lá chao nghiêng, một hạt mưa rơi lan toả sóng trên mặt nước… [Kim Yến. tiepthithegioi.vn. 30/11/2016]
-Nghe tiếng loài vật, con người nhận ra loài vật có sinh mệnh, tâm hồn, tình cảm, cảm giác, ngôn ngữ do vậy, các nhân vật trong truyện THẤU CẢM với động vật, chia sẻ cảm giác bị đau với chúng. [Trần Thị Ánh Nguyệt. tapchisonghuong.com.vn. 16/01/2017]