Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

TIẾNG VIỆT HÔM NAY CÓ CÒN TRONG SÁNG?

TIẾNG VIỆT HÔM NAY
CÓ CÒN TRONG SÁNG?

Tiếng Việt đang thay đổi khá nhanh chóng. Dư luận xã hội - đặc biệt là tại hội thảo khoa học “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng” (ngày 5-11 ở Hà Nội) lo lắng về chuyện dùng ngôn ngữ Việt cẩu thả làm “vẩn đục” tiếng Việt.

Những bức xúc như vậy không phải không có căn cứ. Đó là hiện tượng nói và viết tiếng Việt tùy tiện, bừa bãi trong đời sống hằng ngày và cả trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Sách báo thì in sai, in lỗi hoặc để cho nhiều phát ngôn kém văn hóa ngang nhiên tồn tại (ngày xưa báo, nhất là sách, lỗi in sai rất ít). Nhưng ngôn ngữ trên mạng mới thật sự đáng sợ. Từ chuyện nói năng văng mạng (nói cho hả, nói lấy được) đến chuyện viết văng mạng, bất chấp các chuẩn mực chính tả tối thiểu.

Vay mượn sáng tạo làm giàu tiếng Việt

Trên thực tế, cách hiểu “thế nào là trong sáng?” đang có sự phân hóa, chưa thống nhất. Thể hiện rõ nhất là thái độ đối với việc sử dụng từ nước ngoài.

Nhiều người cho rằng phải căn cứ vào nguồn gốc của nguyên ngữ mà dùng từ cho chuẩn. Như vậy có nhiều từ Hán - Việt ta mượn và dùng đúng theo nghĩa Hán (cả âm và nghĩa).

Chẳng hạn, theo quan điểm của một số tác giả, phải dùng cứu cánh với nghĩa là “mục đích cuối cùng” chứ không dùng như hiện nay là “chỗ dựa, để thoát khỏi một tình trạng không hay”; phải dùng trầm kha (hay bệnh nặng) chứ không được dùng “bệnh trầm kha”, tham quan chứ không phải “thăm quan”, Hợp Chúng Quốc Mỹ chứ không phải “Hợp Chủng Quốc Mỹ”... Nhưng có rất nhiều trường hợp trong quá trình thu nhận và sử dụng, tiếng Việt đã có điều chỉnh, sai lệch.

Chẳng hạn, “vô tình” ít dùng nghĩa “không có tình, bất nghĩa” như tiếng Hán, mà dùng “ngẫu nhiên, không chủ định, không cố ý”; “khiêm tốn” không chỉ với nghĩa chỉ “ý thức và thái độ đúng mực”, mà còn dùng chỉ sự “ít ỏi, nhỏ bé” (đồng lương khiêm tốn, chiều cao khiêm tốn...); lẽ ra viết “thống kế” nhưng từ trước đến nay vẫn viết là “thống kê”; “trụ ngụ” lại viết là “trú ngụ”; “trú sở” viết thành “trụ sở...

Đó là những lỗi quy về gốc là “sai”. Nhưng hiện tại chúng ta sử dụng trong giao tiếp đã hết sức quen thuộc đến mức không nhận ra lỗi sai và những cái sai đó đã được bình thường hóa (do không có sự hiểu lệch lạc, phù hợp với hiện tại).

“Khi ta mượn một từ nước ngoài thì với một ý nghĩa nào đó, chúng ta đã “tạo” một từ mới của ta: từ tiếng Việt này sẽ có một đời sống riêng của nó” (Hoàng Phê, Tuyển tập ngôn ngữ học, 2008). Tiếng Việt vay mượn khá nhiều.

Có từ do áp lực ta phải dùng. Có từ ta chưa có mà phải “vay” (vay mượn thuật ngữ là rõ rệt nhất). Hoặc nhiều từ ta có rồi nhưng vẫn mượn thêm để làm phong phú hơn cách sử dụng (tiếng Nga, tiếng Pháp là một ví dụ, vẫn mượn thêm từ tiếng Anh, sử dụng song song).

Khi ta mượn, có nhiều từ, dựa trên cơ sở âm và nghĩa gốc, người Việt đã uốn nắn lại (la plat = lập là, la clé = lắc lê, mangouste = măng cụt, casserol = xoong, caporal = cặp rằng, club = câu lạc bộ...). Từ show (sô) trong tiếng Anh có nghĩa là “buổi trình diễn nghệ thuật, suất diễn” nhưng hiện tại sô tiếng Việt còn thêm nhiều nghĩa: một phi vụ làm ăn (bể sô), một công việc nào đó đòi hỏi luân phiên, nhiều lần (chạy sô đi dạy, chạy sô đám cưới, chạy sô thuyết trình...). Từ “hủ hóa” nghĩa gốc tiếng Hán là “thối nát”, dùng để chỉ sự “hư hỏng, biến chất, sa đọa”, nhưng trong dân gian hay dùng để chỉ chuyện nam nữ “quan hệ bất chính, buông thả” (Anh ta mắc tội hủ hóa, làm cô hàng xóm mang bầu).

Như vậy nếu so sánh nhiều từ, ta thấy âm và nghĩa gốc có khi đã bị “mờ” đi. Đó là sự phát triển tự nhiên của ngôn ngữ vay mượn. Khi mượn đúng mức và có phần sáng tạo, người Việt đã thực hiện công cuộc Việt hóa triệt để nhiều từ ngữ, cách nói từ tiếng nước ngoài để làm phong phú vốn từ của mình.

Phải nói rằng tiếng Việt đã “giàu”, sinh động hơn nhờ vay mượn và Việt hóa một cách tuyệt vời một số lượng đáng kể từ ngữ gốc Hán và gốc Pháp.

Nguy cơ bị vẩn đục

Phát triển đúng hướng là tôn trọng những chuẩn mực (từ vựng, ngữ âm, chính tả...). Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không thể thoát ly vấn đề chuẩn hóa. Mà chuẩn hóa có nghĩa là “lựa chọn một biến thể hợp lý trong những biến thể đang tồn tại”. Nhưng thế nào là chuẩn? Chuẩn ngôn ngữ là một quá trình kiểm nghiệm, sàng lọc, chọn lựa.

Có những chuẩn cũ bị phá bỏ để thay bằng chuẩn mới và nhiều khi cả hai chuẩn này song song tồn tại trong một thời gian (lưỡng khả). Chuẩn là cái đã được định hình, truyền thống, nhưng có khi nó lại hình thành từ một “sự vi phạm chuẩn”. Sự sáng tạo ngôn từ của các nhà văn, nhà thơ là một ví dụ. Không ít những lối nói “phá cách” của các nhà văn đã đem lại hiệu ứng bất ngờ và trở thành một nhân tố mới, giúp ngôn ngữ phát triển đa dạng hơn.

Chuẩn luôn tôn trọng tính cộng đồng và dân chủ. Tuy nhiên, chính từ cách hiểu “dân chủ” kia mà hiện tại tiếng Việt đang đứng trước nguy cơ của sự vi phạm. Điển hình là cách nói lóng trong học đường. Rồi nói tiếp âm các từ với các tên nổi tiếng: yết kiêu vừa chứ, lỗ tấn to rồi, chớ hồng lâu mộng, vô lý thường kiệt...

Đáng ngạc nhiên (và đáng sợ) hơn cả là ngôn ngữ chat (tán gẫu trên mạng). Nếu ai từng vào mạng, xem các trang blog, email... sẽ thấy chính tả tiếng Việt biến dạng như thế nào. Có thể nói là bát nháo, thiên hình vạn trạng.

Cái lạ nhiều khi bị giới trẻ nhầm lẫn với cái tôi và “cái sáng tạo”, “cái hay”. Những cái mới lạ đó rất dễ lây lan, khi đã lây nhiễm rồi, nó cứ như một “con đỉa” bám rất chặt, rất khó gỡ bỏ.

Nhìn lại cả quá trình lịch sử, tiếng Việt hôm nay đã thay đổi rất nhiều về diện mạo: giàu hơn và đa năng hơn trong việc thể hiện công cụ giao tiếp ở mọi lĩnh vực. Tiếng Việt chưa đến nỗi rung chuông báo động, giương “đèn đỏ” về sự “mất trong sáng trầm trọng”. Nhưng rõ ràng tiếng Việt có nhiều vấn đề phải quan tâm, nếu không thì ngôn ngữ yêu quý này có nguy cơ bị vẩn đục do chính thái độ của chúng ta.

Lỗi ngày càng tăng

Thực tế vừa qua, trong một đợt khảo sát bài viết và bài thi của một số trường THPT tại Hà Nội, chúng tôi phát hiện rất nhiều lỗi được cho là “nằm ngoài kiến thức”. Đó là việc viết tắt, viết hoa, viết kèm tiếng nước ngoài vô lối, viết theo ngôn ngữ biến dạng xuất hiện (nhiều ít khác nhau) ở các văn bản học đường đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc trường quy. Và mức độ vi phạm ngày một tăng.

PGS.TS PHẠM VĂN TÌNH

(Viện Từ điển học và bách khoa thư VN)


ĐỜI

106.
ĐỜI

Trắng tay le lói giữa giông đời 
Rót mãi mà buồn chẳng chịu vơi 
Chán nản nhưng nào rên rõ tiếng 
Tủi thân đâu dám thốt ra lời 
Tình ơi sao nỡ chuồn vô góc
Ái hỡi cam đành lặng một nơi 
Trần trụi bô lô rầu phát khiếp 
Nhiều khi muốn sống quách cho rồi

HANSY



ĐÀNH THÔI

Vẫn luôn ngụp lặn giữa sông đời 
Giả tảng nhưng buồn cũng chẳng vơi 
Lắm buổi lặng thầm che trí não
Nhiều khi bặt giọng giấu tim lời 
Tình yêu đi ở rồi tan gió 
Sự nghiệp trụt sồi đã vẹt nơi 
Còn lại ngông gàn thơ lở dở
Thì thôi chơi tạm cũng vui rồi

HANSY



SỐ PHẬN

Buồn vui lắm chuyện ở trên đời 
Rã gánh dương trần lệ chẳng vơi 
Thiện nghĩa lu mờ đau mấy thuở
Tào khang trở nhạt xót bao lời 
Chìm trăm cội tác tan trong bão
Rũ rượi bên bờ tủi khắp nơi 
Ngán ngẩm ta bà gieo nỗi vọng
Đành cam số phận lửng lơ rồi

HANSY


C’EST LA VIE*

Ngẫm chuyện mà đau buốt cả đời 
Sao tình chẳng đắp lại còn vơi 
Chưa nồng tiếng ngọt ngào đâu thỏa
Khúc khuỷu dành cam khiến nhạt lời 
Dạ hỡi bông đùa loang lắm nẻo
Tim à tráo trở lượn nhiều nơi 
Thì ra cõi thế đều như vậy
Cũng phải trần thân chấp nhận rồi

HANSY
* Đời là thế!

LIÊU TRAI

LIÊU TRAI

Bát ngát mùa trăng tình tự
Của thời hoan lạc nồng thơm
Của yêu thương ngan ngát chờm
Dỗ miền ngàn hao đỉnh ngự.

Rộn ràng mùi hương khoái lạc
Cho say sưa nghệt mơ lòng
Cho đời vạn nẻo vàng son
Mỡ màng tình yêu phát đạt.

Lộng lẫy nữ hoàng ân ái
Dâng mơ cho thỏa cung tình
Liếc mắt để lộng triều xinh
Trầm mê khạo khờ ngây dại.

Bồng lai dậy nguồn quấn quyện
Đơm thương dệt nhớ vô cùng
Mãi hoài vẫn một tình chung
Nhé em – khải hoàn tâm nguyên…

HANSY

TÂM SỰ VỚI BẠN THƠ

TÂM SỰ VỚI BẠN THƠ
(Ngũ độ-Ô thước)

Thi từ Xướng-Họa mãi thành quen
Biếc nghĩa bằng giao chả nệ hèn
Cũng mộng mơ nguyền nhưng phải nén
Hay thờ thẫn ước lại mù khen
Trầm hương vướng lộng hàm râu kẽm
Ngũ sắc chan hòa cội mẻ men
Kĩu kịt thăng trầm hoan hỉ bén
Thơ Đường sản nghiệp cũng hoài chen

Sản nghiệp thơ Đường vẫn cố chen
Như rằng ở đó dậy luồng men
Rồi khi kiểm trí nhiều nơi lẹm
Bộn thuở soi mình ít chỗ khen
Chỉ sợ tài phiêu thành trớt trẽn
Thầm e sức mọn trở hư hèn
Làm sao chí cả vuông tròn vẹn
Đỡ hổ tâm lòng với bạn quen

HANSY

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

1. TRẦN GIA LẠC

1.


TRẦN GIA LẠC
“Dở lại hóa hay”

Trần Gia Lạc là nhân vật chính trong bộ tiểu thuyết đầu tiên của Kim Dung, đủ biết tác giả tốn bao tâm huyết cho nhân vật này. Kim Dung để cho Trần Gia Lạc là con trai thứ ba của Trần Thế Quan, một danh nhân lịch sử ở miền quê Hải Ninh, Triết Giang của tác giả, sau đó lại lợi dụng truyền thuyết dân gian ở Hải Ninh, nói Trần Gia Lạc là anh em cùng mẹ với Hoàng đế Càn Long nhà Thanh, từ đó mà cải biên cuộc đấu tranh giữa hai dân tộc Mãn, Hán thành xung đột mâu thuẫn phức tạp giữa anh em với nhau về mặt tình cảm, lễ giáo, dục vọng, pháp lý v...v...Xét từ góc độ kể chuyện mà nói, thật là tài tình.

Rõ ràng tác giả muốn miêu tả nhân vật Trần Gia Lạc thành hiện thân của một thứ lý tưởng hiệp nghĩa, cho nên Trần Gia Lạc không chỉ có lập trường đúng đắn, tư tưởng tiên tiến, mà còn tài mạo tuyệt, vời văn võ toàn tài. Trong bản in lần đầu, Trần Gia Lạc có công danh giải nguyên, chỉ vì tác giả cảm thấy mấy bài thơ mà tác giả làm cho Trần Gia Lạc có trình độ chưa đủ cao “thơ của một vị giải nguyên không thể kém cỏi như thế, cho nên khi sửa chữa lại, tôi đã bỏ đi danh hiệu giải nguyên” (Xem phần “Viết thêm” ở cuối sách Thư Kiếm ân cừu lục, Bắc Kinh, Tam Liên thư điếm, bản in tháng năm, năm 1994).

Sự sửa đổi này thật ra không làm lu mờ chút nào vầng hào quang bao quanh nhân vật này. Nói thẳng ra thì nếu loại bỏ vầng hào quang bao quanh nhân vật này đi, sẽ lập tức phát hiện hình tượng nhân vật này thực chất nhạt nhẽo, tự thân chẳng có tính cách hoặc đặc điểm gì đặc sắc làm xúc động lòng người.

Tôi sở dĩ nhắc đến nhân vật này, bởi vì trong tâm lý và cá tính của Trần Gia Lạc có một phương diện khác không hiện rõ, tôi thiết nghĩ, rất có thể là tác giả tả lệch mà trúng, hoặc nói là tình cờ “dở lại hóa hay”.

1.
Căn cứ để tôi nói vậy là kết cục đầy bi kịch của bộ tiểu thuyết Thư Kiếm ân cừu lục. Đối với nhân vật chính Trần Gia Lạc mà nói, đấy là một thứ bi kịch kép. Về phương diện sự nghiệp, Trần Gia Lạc chẳng những không thành công trong việc “phản Thanh phục Minh”, hoặc “phản Mãn phục Hán”, mà suýt nữa còn bị Hoàng đế Càn Long tiêu diệt sạch các thủ lĩnh Hồng Hoa hội.Về mặt tình cảm cá nhân, Trần Gia Lạc còn bị “thiệt lớn”, trước là làm cho Hoắc Thanh Đồng lâm vào cảnh thà chết còn hơn sống; rồi sau lại phải đem Hương Hương công chúa tiến cống cho Hoàng đế Càn Long, đẩy nàng vào tử lộ.

Đương nhiên, bi kịch của nhân vật chính trong Thư Kiếm ân cừu lục có một phần là thuộc bi kịch của số phận, nghĩa là sức người hữu hạn không chống nổi vận mệnh lịch sử, ví dụ như một bộ lạc nhỏ bé của dân tộc thiểu số Hồi Cương do anh hùng Mộc Trác Luân chỉ huy, cuối cùng khó bề chống chọi lại với đại quân hằng mấy chục vạn người của triều đình nhà Thanh, bị tiêu diệt sạch. Trong bi kịch cá nhân của Trần Gia Lạc cũng có sẵn nhiều nhân tố của một số phận khó lòng thay đổi.

Cuộc hôn nhân của cha mẹ Trần Gia Lạc là một trường bi kịch, mà kết cuộc của trường bi kịch đó là số phận của Trần Gia Lạc ắt phải mang tính bi kịch hết sức rõ ràng. Nếu theo ý muốn của người cha là đi học làm quan, thì sẽ trái với ước muốn của người mẹ; còn nếu theo ý muốn của người mẹ là hành tẩu giang hồ thì sẽ trái với ước muốn của người cha. Điều quan trọng hơn là, Trần Gia Lạc được nghĩa phụ là Vu Vạn Đình, cũng là người cha tinh thần của chàng, chọn làm Thiếu Tổng đà chủ của Hồng Hoa hội lý do thực ra không phải vì chàng tài cán hơn người, mà chỉ vì chàng có thân phận đặc biệt – chàng là anh em cùng một mẹ với Hoàng đế Càn Long, thân phận này rất có lợi cho đại nghiệp “phản Mãn phục Hán” của Hồng Hoa hội.

Chức vụ tuy quan trọng, nhưng mình không được làm chủ. Đó là một sức mạnh của số phận mà mỗi người không thể làm chủ, cái sức mạnh ấy thiếu chút nữa đã làm cho Trần Gia Lạc tan xương nát thịt. Bài này không bàn về bi kịch của số phận, nên không nói nhiều. Điều quan trọng chúng tôi muốn nói là bi kịch tính cách của nhân vật chính Trần Gia Lạc được thể hiện tập trung trong hai mối tình giữa chàng với Hoắc Thanh Đồng và Hương Hương công chúa. Mối tình bi thương thứ nhất của Trần Gia Lạc là thế này: Trần Gia Lạc dẫn anh hùng của Hồng Hoa hội đi giúp bộ lạc của Hoắc Thanh Đồng đoạt lại Thánh vật tôn giáo của họ là “Kinh Khả Lan”.

Hai người không thể nói là vừa gặp hau đã chung tình, nhưng rõ ràng cả hai đều thích nhau: ánh mắt chăm chú của Trần Gia Lạc nhìn Hoắc Thanh Đồng thế nào, hầu như hết thẩy mọi người có mặt đều hiểu; Hoắc Thanh Đồng hào sảng ngay trước mặt mọi người đã đem thanh kiếm tổ truyền của nàng tặng Trần Gia Lạc là vật “kỷ niệm”. Trần Gia Lạc cũng đã nhận kỷ vật đó. Cũng tức là nói rằng hai người do việc lấy sách kinh tặng bảo kiếm – nhan đề Thư Kiếm ân cừu lục là từ đấy mà ra – đã đính lập với nhau minh ước tình riêng. Nhưng chính lúc hai người đang tình ý dạt dào như thế, thì cô gái Lý Nguyên Chỉ cải nam trang lại có cử chỉ “thân thiết” với Hoắc Thanh Đồng, lòng Trần Gia Lạc lập tức đanh lại.

Chàng vốn đã bảo cho Hoắc Thanh Đồng cùng đi giúp Hồng Hoa hội, nhưng bây giờ liền đổi giọng, kiên quyết không đồng ý cho Hoắc Thanh Đồng đi cùng. Lúc chia tay, Hoắc Thanh Đồng thông minh sớm đã biết lý do tại sao, lựa lời nói khéo với Trần Gia Lạc, nhưng chàng không hề nghĩ cách xác minh chân tướng. Trong thực tế, tình cảm của chàng đối với Hoắc Thanh Đồng đã bị sự hiểu lầm nhỏ mọn kia bẻ cong đi. Chuyện thứ hai là Trần Gia Lạc đến báo tin cho Mộc Trác Luân người Hồi Cương, dọc đường chàng gặp Hương Hương công chúa vừa xinh đẹp, vừa hồn nhiên, hai người cùng đi một đường, thật là quá đẹp. Hương Hương công chúa hồn nhiên mau chóng có thiện cảm với “Bạch mã vương tử” – Trần Gia Lạc quả thực có cỡi con ngựa trắng – chàng trai tuấn tú ăn mặc như người Hồi Cương này.

Sau đó tại “Đại hội ôi lang” truyềng thống của bộ lạc này, Hương Hương công chúa xinh đẹp đã chủ động tựa vào người tình lang, công khai biểu thị tình yêu với Trần Gia Lạc, còn Trần Gia Lạc thì sau giây lát do dự, đã thích thú nhảy múa với Hương Hương công chúa. Hương Hương công chúa đẹp nhất bộ lạc đã có ý trung nhân, tất nhiên là đại hỷ sực của tất cả bộ lạc, không ngờ anh hùng Mộc Trác Luân lại ngấm ngầm khổ tâm, còn nàng Hoắc Thanh Đồng thì tưởng như sét đánh ngang tai, cơ hồ hộc máu mà chết! thì ra Hương Hương công chúa không phải ai xa lạ, chính là con gái út của Mộc Trác Luân, cũng là em gái cùng mẹ của Hoắc Thanh Đồng.

Phần lớn độc giả đọc đến đây đều nuối tiếc cho số phận của Hoắc Thanh Đồng. Xem ra trong bi kịch ái tình này, Trần Gia Lạc tựa hồ không chịu trách nhiệm gì, bởi vì chàng không hề biết Lý Nguyên Chỉ là gái giả trai, không biết rốt cuộc Hoắc Thanh Đồng có quan hệ thế nào với Lý Nguyên Chỉ, cũng không biết tại sao Hương Hương công chúa lại nhanh chóng và cả gan công khai biểu thị tình ý với chàng như thế, càng không biết Hương Hương công chúa lại là em ruột của Hoắc Thanh Đồng. Cũng tức là nói rằng bi kịch ấy là một thứ “bi kịch của số phận”.

2.
Tuy nhiên, nếu ta xem xét từ một góc độ khác, suy nghĩ sâu hơn một chút, thì sẽ phát hiện trong chuyện này sự khiếm khuyết hiển nhiên hoặc không lộ rõ về tính cách và tâm lý của nhân vật chính Trần Gia Lạc, mới là nguyên nhân chính dẫn tới “bi kịch của số phận”. Trước hết, chúng ta thấy dù là trong quan hệ tình yêu giữa chàng với Hoắc Thanh Đồng, hay là với Hương Hương công chúa, thì người chủ động đều là bên nữ. Hoắc Thanh Đồng là người đem bảo kiếm tặng chàng làm kỷ vật định tình trước, Hương Hương công chúa càng táo bạo tung giải lụa ái tình trước để quấn lấy Trần Gia Lạc, còn Trần Gia Lạc thì đều giữ vai trò thụ động. Điều này đương nhiên có thể giải thích do sự khác biệt về tập quán và quan niệm sinh hoạt giữa dân tộc Hán và đân tộc thiểu số Hồi Cương.

Thiếu nữ dân tộc thiểu số nói chung tính cách hào sảng; trong khi nam giới dân tộc Hán chịu ảnh hưởng nặng nề của truyền thống lễ giáo nên ở thế bị động. Nhưng đồng thời điều này cũng chưa đủ để giải thích tính chất khiếp nhược của Trần Gia Lạc là chàng không dám, cũng không biết cách biểu đạt tình cảm của mình, đương nhiên càng không dám chủ động biểu đạt một cách công khai. Cách giải thích hợp lý hơn, phải xét đến ảnh hưởng và sự chế ước của truyền thống văn hóa lịch sử dân tộc Hán đối với tâm lý thư sinh của Trần Gia Lạc, khiến cho chàng ta trở thành một gã trai không dám biểu đạt tình cảm của mình.

Thứ hai, ta lưu ý rằng sau khi phát hiện Hoắc Thanh Đồng và Lý Nguyên Chỉ có “cử chỉ” thân thiết với nhau, Trần Gia Lạc lập tức không cho huynh muội Hoắc Thanh Đồng đi theo, khiến cho đối phương mất đi cơ hội giải thích thanh minh. Dĩ nhiên có thể coi đây là sự mẫn cảm và đố kỵ của người yêu, dẫn đến quyết định sai lầm; nghiã là bảo rằng đây là biểu hiện tâm lý tình cảm có tính chất phổ biến. Nhưng chúng ta qua đó có thể thấy nhiều hơn: Trần Gia Lạc thì tự cho mình là đúng, tâm lý thì yếu đuối, và điều quan trọng hơn là chàng ta bụng dạ hẹp hòi.

Thứ ba, Hoắc Thanh Đồng lúc chia tay thực ra đã giải thích, nhắc nhở rất khéo và rõ, bảo Trần Gia Lạc hãy đi hỏi xem Lý Nguyên Chỉ là nam hay nữ, nhưng lạ thay Trần Gia Lạc từ đầu đến cuôí không hề hỏi dò bất cứ ai về tình hình của Lý Nguyên Chỉ. Nếu Trần Gia Lạc không nhận ra được Lý Nguyên Chỉ là nữ giả nam trang, thì chàng chưa đủ kinh nghiệm giang hồ. Nếu bảo chàng không dò hỏi Lục Phỉ Thanh, người của Hồng Hoa hội, về đồ đệ Lý Nguyên Chỉ của họ Lục, là vì chàng tuổi trẻ e thẹn, thì tại sao chàng không dò hỏi qua Dư Ngư Đồng?

Dư Ngư Đồng là sư điệt của Lục Phỉ Thanh, cũng là sư huynh đồng môn của Lý Nguyên Chỉ, đồng thời còn là huynh đệ trong Hồng Hoa hội. Hỏi dò họ Dư về tình hình Lý Nguyên Chỉ là một việc hết sức dễ dàng. Nhưng Trần Gia Lạc trước sau không hỏi, chẳng những không hỏi, mà chàng còn không muốn nghe bất cứ lời giải thích nào về Lý Nguyên Chỉ - trong đêm thành hôn của Từ Thiên Hoằng với Chu Khởi, Lý Nguyên Chỉ lẻn vào phòng của Dư Ngư Đồng, bấy giờ Lục Phỉ Thanh, Dư Ngư Đồng, lần lượt tới chỗ Trần Gia Lạc muốn giải thích rõ về vụ việc Lý Nguyên Chỉ, song Trần Gia Lạc không dành cho họ bất cứ một cơ hội nào để giải thích!

Điều đó chứng tỏ Trần Gia Lạc là một người hết sức cố chấp, chẳng “đàng hoàng” chút nào. Hơn nữa cũng không phải là một thứ “ưa thể diện”, mà thực chất là trò tự khép mình rất đáng sợ. Mà cái tính cố chấp tự khép mình kiểu này, một nửa là do di truyền về tính cách và tâm lý , một nửa là do địa vị và thân phận hiện tại của chàng – chàng đang là Tổng đà chủ Hồng Hoa hội, là minh tinh và anh hùng trẻ tuổi, dĩ nhiên không thể biểu hiện tình riêng, cho nên căn bệnh trong nội tâm càng thêm trầm trọng.

Cuối cùng, Trần Gia Lạc “quên biến” Hoắc Thanh Đồng mà tiếp nhận Hương Hương công chúa , rõ ràng không phải vì chàng không yêu Hoắc Thanh Đồng, thực ra cũng chẳng phải là vì sự hiểu lầm đơn giản về quan hệ giữa Hoắc Thanh Đồng với Lý Nguyên Chỉ, mà là do nguyên nhân tâm lý sâu xa hơn nhiều. Chúng ta thậm chí có thể nghĩ rằng, dẫu không có sự hiểu lầm về Hoắc Thanh Đồng, thì Trần Gia Lạc khi được Lý Nguyên Chỉ ném “quả còn” ái tình, chàng cũng sẽ quên ngay Hoắc Thanh Đồng để coi Hương Hương công chúa là người tình thật sự của mình.

Toàn bộ bí ẩn là ở chỗ, Thúy Vũ hoàng tụ Hoắc Thanh Đồng về mọi mặt, võ công, trí tuệ, hay ý chí, tính nết, phong thái đều thực sự là bậc nữ lưu hào kiệt, không thua gì đấng mày râu anh hùng. Vấn đề là ở đây, Hoắc Thanh Đồng càng xứng đáng, thì Trần Gia Lạc đối với nàng sẽ càng kính nhi viễn chi; Hoắc Thanh Đồng càng có khí phách, thì Trần Gia Lạc lại càng lùi xa.

CUỐI
Vì sao như vậy? Nguyên nhân thật ra hết sức đơn giản. Trần Gia Lạc về thân phận, không chỉ là một nam tử hán đại trượng phu, mà còn là một vị Tổng đà chủ, đại anh hùng, cả thiên hạ đều phải kính nể; song về mặt tâm lý chàng chỉ là một chàng trai bình thường, thậm chí còn là một gã thiếu niên chưa trưởng thành thực sự, còn là một “tiểu nam nhân” non nớt về mặt tâm lý. Xem ra chàng võ công càng cao, quyền lực càng lớn hơn người khác, thì tính cách trong thực tế và trong thâm tâm lại càng tự ti và yếu đuối hơn cả người bình thường.

Trần Gia Lạc đã quen như con công đứng giữa bầy gà luôn ở trong trạng thái tâm lý hơn hẳn người khác, làm sao chàng có thể chấp nhận một người nhận ra sự non kém của chàng như Hoắc Thanh Đồng? Để che dấu cái chân tướng của một “tiểu nam nhân”, cách tốt nhất là tránh tiếp xúc với một nữ anh hào. Trong thực tế, một “tiểu nam nhân”, nhất là một “tiểu nam nhân” về phương diện tâm lý không sao có thể tiếp nhận một nữ anh hào, giống như người mặt mày xấu xí không chấp nhận cái gương vậy. Hương Hương công chúa thì hoàn toàn khác. Nàng không chỉ trẻ hơn, có dung mạo xinh đẹp tuyệt trần, mà điều quan trọng nàng đã không biết võ công, lại không hiểu mưu lược. chỉ có mỗi sự hồn nhiên vô tri vô thức.

Dưới con mắt của Hương Hương công chúa, Trần Gia Lạc gần như là một nhân vật chỉ xuất hiện trong chuyện thần thoại, một vị anh hùng toàn năng. Mặc dù Trần Gia Lạc cũng thừa biết ấn tượng của Hương Hương công chúa về chàng có mấy phần ảo tưởng, vượt xa chân tướng, song cái cảm giác được anh hùng hóa ấy làm thỏa mãn cái tâm hư vinh của một “tiểu nam nhân”. Đây mới là bí mật lớn nhất về tính cách và tâm lý của Trần Gia Lạc.

Cuối cùng, Hoàng đế Càn Long thèm muốn sắc đẹp của Hương Hương công chúa, muốn lấy Hương Hương công chúa làm điều kiện trao đổi để phục hồi thân phận Hán tộc của mình, thì Trần Gia Lạc liền đồng ý ngay, hơn nữa còn đích thân nài nỉ Hương Hương công chúa, cô gái rất mực thâm tình với chàng, hãy đến với Càn Long, lý do là ưu tiên cho đại cục, vì đại sự quốc gia, sự nghiệp của dân tộc mà hy sinh tình cảm cá nhân.

Không riêng chàng phải hy sinh, mà còn muốn Hương Hương công chúa cũng hy sinh bằng cách hiến thân cho Càn Long. Thứ đại đạo lý này của người Hán đã khiến Hương Hương công chúa không còn gì để nói, cuối cùng đành lấy cái chết để tuẫn tình. Có thể nói Trần Gia Lạc đã chính tay đẩy Hương Hương công chúa vào chỗ chết. Cái lý do mà Trần Gia Lạc đưa ra nghe rất đường hoàng, một số đọc giả còn xúc động, tưởng rằng Trần Gia Lạc là một đại anh hùng chân chính. Thực ra, đấy còn bắt nguồn từ căn bệnh tâm lý. Có điều nó không chỉ là một căn bệnh tâm lý của một cá nhân Trần Gia Lạc, mà còn là cố tật tâm lý của truyền thống văn hóa dân tộc Hán.

Nguyên nhân của căn bệnh này, thứ nhất, dân tộc Hán luôn có một truyền thống dân gian, coi “người vợ như cái áo, anh em như thể chân tay”. Ngụ ý rất rõ ràng, quần áo có thể thay đổi tùy ý, còn anh em thì không thể chia cắt. Càn Long chính là anh em, chân tay của Trần Gia Lạc, còn Hương Hương công chúa thì chưa phải là vợ chàng, nên còn chưa bằng cái áo, chỉ như làn gió thoảng.

Thứ hai, dân tộc Hán luôn có một truyềng thống chính thức, coi “việc giang sơn” lớn, “việc cá nhân” nhỏ, ngụ ý cũng rất rõ ràng. Tức là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, thiên hạ, tất nhiên có thể hy sinh nguyện vọng cá nhân. Cái giá trị quan này có một hình thức biểu thuật cực đoan là “Tồn thiên lý, diệt nhân dục” ( để lại cái lý của trời, hủy diệt ý muốn con người). Trần Gia Lạc đã là thư sinh của dân tộc Hán, lại là lãnh tụ của Hồng Hoa hội, dĩ nhiên đã nhiễm cả hai thứ “vi khuẩn gây bệnh” nói trên, rõ ràng khó bề chạy chữa.

Nếu chúng ta đi sâu hơn nữa, còn có thể phát hiện, hành động này của Trần Gia Lạc thực ra còn có nguyên nhân thứ ba, ấy là chàng muốn phô diễn vai trò “đại trượng phu” của mình đến cùng, đem Hương Hương công chúa hiến thân cho Hoàng đế Càn Long, nàng sẽ vĩnh viễn không phát hiện được bí mật “tiểu nam nhân” của chàng, thế chẳng phải là bắn một mũi tên trúng ba con chim hay sao? Đương nhiên, chúng ta biết, cái gọi là bắn một mũi tên trúng ba con chim của Trần Gia Lạc thực chất chỉ là căn bệnh tâm lý hết phương cứu chữa. Căn bệnh tâm lý của Trần Gia Lạc, suy cho cùng còn là do chàng ta hoàn toàn mù tịt về tâm lý, tình cảm và tình người. Thân phận anh hùng, địa vị lãnh tụ, vòng hào quang ngôi sao sáng, khiến Trần Gia Lạc cứ phải diễn mãi cái vai nam tử hán, đại trượng phu, thế giới tâm lý của chàng cứ bị áp chế và bóp méo trong sự cô độc và trong bóng tối.

Nếu sớm đi khám bác sĩ tâm thần, hoặc tìm được phép cứu chữa sớm hơn một chút, thì may ra có cơ hội khỏi bệnh. Có người sẽ hỏi, thời đại Trần Gia Lạc có bác sĩ tâm thần chưa? Câu hỏi rất hay. Điều tôi suy nghĩ là giả dụ thời ấy đã có bác sĩ tâm thần, thì anh hùng đại trượng phu Trần Gia Lạc của chúng ta có đi khám bệnh hay không?

ĐAU LẮM TÌNH ƠI!

ĐAU LẮM TÌNH ƠI!

Vẫn biết thế nhưng lòng không nguôi nghĩ
Bởi đắng cay cứ rót tận trong hồn
Tạo hóa ban cho một con tim yêu thương
Nên lãng mạn giữa thuyền tình bể ái.

Tưởng là gần hóa ra là xa ngái
Khi yêu thương lại nhen nhóm chia ly
Nào có ai muốn nhận gánh ra đi
Nhưng con tạo tành hanh nên đành chịu.

Ta thương người, như chưa bao giờ thương thế
Người thương ta sao lại lắm phân vân
Vì sao tim yêu lại phải chia nhiều ngăn
Để bội phản có nơi mà ẩn giấu.

Đau tình vỡ nào có ai hiểu thấu
Xót chia tay gặm nát mảnh hồn đơn
Này em ơi, sao học chữ thay lòng
Để một kẻ cuối trời khóc dang dở…

HANSY

TẺO TẺO TEO

TẺO TẺO TEO
(Vỹ tam-thập cẩm)

Một đời nam tử t
o tèo teo
Hai cuộc tình duyên bẹo bẽo bèo
Ba dạo đi tìm treo trẹo tréo
Bốn lần dõi kiếm hẻo hèo heo
Năm miền bay nhảy vèo veo véo
Sáu chỗ gọi
mần chéo chẹo cheo
Bảy lượt ngần ngừ neo nẹo néo
Tám năm ở giá ngoẻo ngoèo ngoeo

Hớt ha hớt hải ngoẻo ngoèo ngoeo
Ngúng nguẩy nghi ngờ nghéo nghẹo ngheo
Là lượt lả lơi lò lỏng lẻo
Đòng đưa đùn đẩy đẹo đèo đeo
Rỗ riềng ra rã rồi ru réo
Lý luận lần khân léo lẻo lèo
Dai dẳng dãi dầu dư dặt dẹo
Thiên thời thong thả tẻo tèo teo

HANSY

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

LẠI NÓI CHUYỆN… XÔI

LẠI NÓI CHUYỆN… XÔI


Trong entry trước tôi có viết về món ăn dân dã xôi lúa (còn được gọi là xôi ngô, xôi bắp), hôm nay sắp cuối tuần rồi, nhân đây xin nói thêm ba điều bốn chuyện chữ nghĩa nữa về... xôi.

Ít nhất nói nghiêm túc xôi cũng có hai nghĩa (ở đây xin không bàn đến nghĩa... giang hồ). Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ (Hoàng Phê chủ biên),xôi được giải thích như sau:

- Xôi: I. danh từ: 1. món ăn bằng gạo nếp đồ chín. 2. (phương ngữ): cơm nếp.
          II. động từ (cũ): nấu xôi. Xôi một chõ xôi.

Chữ xôi ở đây (nghĩa thứ II.) có nghĩa là nấu, những từ đồng nghĩa: nấu, xôi, thổi. Như: nấu một nồi cơm, thổi một nồi cơm, thổi một nồi xôi, xôi một chõ xôi). Chữ xôi có nghĩa là nấu còn hiện diện trong câu nấu sử, xôi kinh (hay xôi kinh, nấu sử), cũng được viết là nấu sử, sôi kinh.

Trong Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội-1931), chữ xôicũng có hai nghĩa:

- Xôi: 1. Thứ đồ ăn bằng gạo nếp nấu cách thủy.
           2. Dôi ra, nở ra. Sinh xôi nảy nở.

Sau này chữ xôi ở nghĩa thứ 2. được viết dưới dạng sôi: Sinh sôi nảy nở.

Trong entry này tôi muốn nói đến từ xôi (danh từ), có nghĩa là món ăn được đồ từ nếp, và một số câu thành ngữ, ca dao nói về món xôi.

- Ăn mày đòi xôi gấc:  Là ăn mày đi xin người ta cho thứ gì thì biết thứ ấy, còn đòi xôi gấc (xôi gấc là thứ xôi thường được sử dụng trong đám cưới, đám giỗ), ý chỉ kẻ tham lam.

- Ăn xôi chùa ngọng miệng: đã ăn của người khác cái gì rồi thì không dám mở miệng chê bai phê bình nữa.

- Ăn xôi chùa, quét lá đa: Ăn xôi của chùa thì phải quét lá đa, ý nói khi đã được hưởng cái gì của người khác thì phải làm gì đó bù đắp lại, tựa như câu có qua có lại mới toại lòng nhau.

- Ăn xôi đòi đĩa: Có lẽ câu này có hai ý: 1. đã được cho ăn xôi còn đòi luôn cả đĩa đựng (chẳng hạn kẻ ăn mày ghé đám giỗ nhà người ta xin, được cho nắm xôi ăn, còn đòi phải đựng trong đĩa), ý nói kẻ không biết điều. 2. đựợc ăn xôi còn đòi (lấy) luôn cả đĩa đựng xôi, ý nói kẻ tham lam, tựa như câu được voi đòi tiên.

- Chết chẳng muốn, muốn ăn xôi: xôi là thứ thường có trong đám cúng giỗ, ý nói muốn hưởng nhưng lại không muốn đánh đổi lại cái gì.

- Cho xôi không bằng đòi đĩa: khi cho xôi thường xôi được đựng trong đĩa, đã có lòng tốt cho (biếu) ai xôi, lỡ người ta quên (hay chưa kịp trả đĩa), thì việc đi đòi đĩa là hành động khó khăn, không được tế nhị.

- Có thịt đòi xôi: Cũng tựa như câu ăn mày đòi xôi gấc.

- Có xôi nói xôi dẻo, có thịt nói thịt bùi: xôi dẻo, thịt bùi là thức ăn ngon, ý nói người thích khoe khoang, món nào mình có cũng cho là ngon.

- Cơm tẻ ăn no, xôi vò chả thiết: xôi vò là món ăn ngon, ngày xưa thường có trong lễ giỗ, lễ cưới, ý nói đã no (đầy đủ) rồi thì không thiết gì nữa.

- Hết xôi rồi việc: Hết xôi thì cũng xong chuyện, ý nói chỉ vì miếng ăn chứ không vì tình nghĩa, cũng tựa như câu hết cơm hết gạo hết ông tôi.

- Xôi giả vạ thật: ý nói lợi lộc đâu không thấy, chỉ thấy tai họa.

- Xôi hỏng bỏng không: xôi và bỏng là hai món ăn dân gian, xôi được đồ từ gạo nếp, bỏng là hạt thóc nếp (lúa nếp) rang nổ bung ra, bỏ đi lớp vỏ trấu bên ngoài, thường hạt bỏng được ngào thêm với mật, đường, nắm lại thành nắm tròn bằng nắm tay hay đóng thành bánh, là món ăn chơi trẻ con ngày xưa ưa thích. Câu thành ngữ ý nói xôi, bỏng cũng hỏng ăn (không được ăn), làm việc gì đó nhìn thấy có lợi mà cuối cùng không thu được kết quả gì.

- Xôi thịt nó bịt lấy miệng: cũng như ăn xôi chùa ngọng miệng.

- Xôi thịt thì ít, con nít thì nhiều: ý nói cái lợi thì ít mà có nhiều người giành giật, như mật ít ruồi nhiều.

Trong bài thơ Làm lẽ của nhà thơ Hồ Xuân Hương có câu:

Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm,
 Cầm bằng làm mướn, mướn không công.

 Chữ "hẩm" ở đây có nghĩa là đồ ăn bị thiu, ôi, mốc không còn ăn được (cơm hẩm, gạo hẩm, xôi hẩm).

Một vài câu ca dao liên quan đến xôi:

Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp một như đường mía lau.

- Chuối ba hương: chuối chín thắp ba tuần hương (Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam, Vũ Dung-Vũ Thúy Anh- Vũ Quang Hào, NXB văn Hóa-Thông Tin-1998). Chuối ngon chín tới.
- Xôi nếp một: xôi nấu bằng nếp một (nếp hạng nhất).
- Đường mía lau: mía lau là loại mía cây nhỏ hơn mía thường, có vị ngọt thanh chứ không ngọt gắt, cũng là vị thuốc, thường được nấu làm nước mát uống mát gan, giải nhiệt, giải độc cùng với một số cây cỏ vị thuốc khác như rễ tranh, mã đề, râu bắp, hoa cúc...

Câu ca dao trên không ví mẹ già với những gì sang trọng, xa vời, mà ví với những sản vật rất dân dã nhưng ngon ngọt, quen thuộc quanh ta...

Vài câu ca dao khác:
Có duyên lấy được chồng già,
Ăn xôi bỏ cháy, ăn gà bỏ xương.

Ăn trầu thì phải có vôi,
Cúng rằm thì phải có xôi có chè.

Có oản anh tính phụ xôi, 
Có cam phụ quýt, có người phụ ta.

Mẹ em tham thúng xôi dền, 
Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng.
Bây giờ kẻ thấp người cao,
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

- Xôi dền: xôi vừa chín đến, Việt Nam Tự Điển, Hội Khai Trí Tiến Đức. Xôi đồ vừa chín tới (cũng như chuối ba hương là chuối được thắp ba tuần hương vừa chín tới), những gì vừa chín tới đều ngon. Thúng xôi, con lợn béo, tiền Cảnh Hưng ngày trước được dùng trong sính lễ cưới, hỏi (Giúp em một thúng xôi vò/ Một con lợn béo, một vò rượu tăm - Tát nước đầu đình).

...

Chắc chắn còn thiếu nhiều, xin mời các bạn bổ sung.


Phạm Ngọc Hiệp

MẬT NGỌT LÀN MÔI

105.
MẬT NGỌT LÀN MÔI

Mật ngọt chan nồng buổi cuối thu 
Làm ta choáng váng giữa sa mù 
Bồng bềnh trời đất mùa hoang dại
Ấm áp tim lòng kẻ lãng du 
Hỡi ái mãi hoài thơm thảo lộng
Này duyên chớ chóng lửng lơ vù 
Suốt đời kỷ niệm vương thầm nhớ
Mật ngọt chan nồng buổi cuối thu 

HANSY

BĂN KHOĂN

Từ độ chia lìa đã mấy thu 
Đường tin thăm thẳm biệt xa mù 
Hương chờ sắp phải vào quên lãng
Góc nhớ e chừng cũng mộng du 
Hỡi nghĩa hãy đừng lơ lặng miết
Này duyên xin chớ lạc bay vù 
Trong lòng canh cánh niềm thương hỏi
Từ độ chia lìa đã mấy thu 

HANSY



NHÓI THẦM

Ái cảm xa rời giữa biệt thu 
Miền hoang huyễn ảo tựa sương mù 
Lòng ran gối lẻ sầu hương lặng
Nguyệt phả canh tàn nuối cõi du 
Thảng thốt nghe tình quay lẫn lộn
Trầm mê dõi ái chợt xoay vù 
Từng đêm cứ mãi buồn thân phận
Ái cảm xa rời giữa biệt thu 

HANSY


LÃNG ĐÃNG CHIỀU THU

Lãng đãng buông dài giữa cánh thu 
Miền hoang chấp chới những sa mù 
Quờ tay ngoái kiếm ngày thơ mộng
Vén dạ đi tìm khúc lãng du 
Một thuở vẫy vùng con sóng trỗi
Ngàn năm chao chác cánh mây vù 
Mình ta đứng lại bờ thương cũ
Lãng đãng buông dài giữa cánh thu

HANSY

THẲM VẮNG

THẲM VẮNG

Sợi tình chút nhớ vương vương
Nghiêng chao cánh nắng đậu thương giữa lòng
Dõi hồn về một khúc sông
Mà nghe vang vọng cuối dòng êm trôi.

Thu sang màu lá đổi dời
Tình ta ngày đó chơi vơi, chập chùng
Vẫn hoài tim giấu niềm mong
Ước ao là thế ngóng trông được gì.

Hanh chiều tiễn bước tình đi
Mùa sang úa xám còn chi phận người
Bao giờ kỷ niệm ngoai nguôi
Để trăng lại sáng đượm lời tình yêu.

HANSY

KHẮC KHOẢI

KHẮC KHOẢI
(Ô thước)

Người ơi kỷ niệm biệt vô hình
Chi nữa ân nguyền đón với nghinh
Đã hết trầu cau thời liệu tính
Còn đâu chăn gối buổi vương tình
Âm thầm ái rã tan đường chính
Phờ phạc duyên mòn rụi nguyệt minh
Có lẽ trời cao đà ước định
Nghiệt thay phận số tủi thân mình

Phận số giờ đây chịu lẻ mình
Đâu còn mơ tưởng ánh bình minh
Nào khi bủa sóng cồn loang vịnh
Hay lúc trùng khơi dậy loát tình
Cứ tưởng muôn đời luôn ái thỉnh
Đâu dè mấy bước chẳng nguyền nghinh
Trầm hương nhạt thếch tàn mơ vĩnh
Lặng lẽ đời ta bóng giễu hình

HANSY

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

LỜI NÓI ĐẦU


LỜI NÓI ĐẦU

Nhan đề chính của cuốn sách này là “ Cái tướng của chúng sinh” , bao hàm quan điểm “Chúng sinh bình đẳng” của nhà Phật. Đương nhiên trước hết phải nói rằng người bình đẳng nên không thể chia ra siêu nhân với phàm nhân, người được yêu với kẻ bị ghét, nhân vật lớn với nhân vật nhỏ, nhân vật lịch sử có thật với nhân vật truyền kỳ hư cấu. Thậm chí cũng không thể chia ra nhân vật chính với nhân vật phụ. Hễ cảm thấy đáng bàn thì bàn, e rằng nhân vật ấy chỉ là rất thứ yếu; cảm thấy không đáng bàn nên không đem ra bàn, e rằng đấy lại là nhân vật chính.

Đương nhiên do nhân vật chính trong tiểu thuyết là đối tượng miêu tả chủ yếu của tác giả, có nhiều chuyện cũ, tính cách có khi khá phức tạp, cho nên không những phải bàn nhiều, mà số trang sách phân tích cũng phải nhiều hơn. Gọi là Cái tướng của chúng sinh, không phải chỉ là cái tướng nói chung, mà là chỉ hình tượng cá tính của các nhân vật khác nhau. Chúng sinh trên thế gian thực tế là do vô số cá nhân có tính cách khác nhau, hình tượng khác nhau hợp nên. Hơn nữa Cái tướng của chúng sinh không những chỉ hình tượng của chúng sinh, mà đồng thời còn chỉ “tâm tướng” của chúng sinh bao gồm đặc trưng cá tính và bí ẩn tâm lý của họ. trong thế giới võ hiệp do Kim Dung tạo ra, cái khổ của chúng sinh chủ yếu không phải do thiếu thốn vật chất, như đói ăn thiếu mặc, mà là những hoài bão không thành, hoặc là những dày vò đau khổ về tinh thần. Về việc miêu tả tính cách, tính người và sự khắc họa tâm lý, thái độ bi thương của Cái tướng chúng sinh v..v..trong tiểu thuyết của Kim Dung, việc bàn luận của tôi dĩ nhiên không chỉ giới hạn ở kỹ xảo nghệ thuật miêu tả nhân vật, mà còn phải chú trọng đến tâm linh của nhân vật, từ đó còn phải đề cập tinh thần nhân văn ở trên cái đó nữa.

Dưới đây cần nói rõ mấy điểm của cuốn sách này.Liệu cuốn Kim Dung tiểu thuyết nhân luận của tôi (Bách Hoa Châu văn nghệ xuất bản xã, in lần thư nhất tháng 12 năm 1993) với cuốn sách Cái tướng của chúng sinh có trùng lặp nhau hay không? Về điều này, tôi nghĩ là không, bởi vì trọng điểm và thể lệ của hai cuốn sách khác hẳn nhau.

Nói cụ thể, một là cuốn thứ nhất chú trọng lý luận, bao gồm các luận đề khác nhau, như “ Nhân cách luận”, “Nhân tính luận”, “Nhân sinh luận”, “Tình ái luận”, “Nhân tài luận”, “Nhân chủng luận”. Còn cuốn sách này chú trọng thực tế, chuyên bàn về nhân vật cụ thể. Hai là cuốn thứ nhất chú trọng phân tích loại hình nhân vật, đem đối tượng luận bàn chia ra người nghĩa hiệp với kẻ tiểu nhân, người thiện với kẻ ác, thường nhân với dị nhân, kỳ nhân với chân nhân, nam nhân với nữ nhân, siêu nhân với phàm nhân, người Hán với người không phải Hán; còn cuốn sách này không phân loại kiểu đó, mà chú trọng tính cách và cuộc sống của các nhân vật cá biệt. Ba là cách thức giảng thuật khác nhau. Cuốn thứ nhất thì “luận”, còn cuốn này là “đàm”. Tôi hy vọng so với “luận” thì “đàm” tự do hơn, cụ thể hơn, nhẹ nhàng hơn, thân mật hơn. Mà cái chính là “đàm” sẽ bật ra ý mới.

Thứ hai, sở dĩ chọn năm mươi hai nhân vật làm đối tượng phân tích luận bàn, chủ yếu là bởi vì tôi cảm thấy có hứng thú bàn về một số nhân vật, hoặc có thể nói là tôi muốn trao đổi một số cảm nghĩ của mình với mọi người. Nhan đề chính của cuốn sách này là Cái tướng của chúng sinh, là có thể nói về đủ loại chúng sinh, còn là có thể bàn về thật sâu một số nhân vật; do đó, có một vài nhân vật mà mọi người hết sức quen thuộc, cũng vô cùng yêu thích, song cuốn sách này lại không bàn đến. Như Hương Hương Công chúa xinh đẹp trong Thư Kiếm ân cừu lục, Tiểu Chiêu trong Ỷ Thiên Đồ Long ký, Song Nhi trong Lộc Đỉnh ký v..v..Các nhân vật ấy dĩ nhiên rất trứ danh, được mọi người yêu thích, có thể đi sâu vào lòng bạn đọc. Nhưng cuốn sách này lại không chọn Hương Hương Công chúa xinh đẹp hồn nhiên, Tiểu Chiêu và Song Nhi dịu hiền, bơỉ vì họ quá đơn thuần, hoặc thiếu bề dày. Điều này không tránh khỏi làm cho một số người tiếc nuối, nhưng nhan đề Cái tướng của chúng sinh có tiêu chuẩn, tầm sâu nhất định của nó.

Thứ ba, dù theo tiêu chuẩn khá nghiêm ngặt, thỉ trong tiểu thuyết của Kim Dung vẫn còn không ít nhân vật có thể bàn luận, hoặc đáng được bàn luận riêng, như Cầu Thiên Nhẫn, Âu Dương Phong, và Nhất Đăng đại sư trong Anh Hùng xạ điêu, Tiểu Long Nữ, Lục Vô Song, Lâm Triêu Anh trong Thần Điêu hiệp lữ , Ân Ly, Triệu Mẫn, Thành Côn và Trần Hữu Lượng trong Ỷ Thiên Đồ Long ký. Thích Trường Phát, Thích Phương, Uông Thiếu Phong, Lăng Thoái Tư trong Liên Thành quyết. Vương Ngữ Yên, Du Thản Chi, A tử, Đoàn Chính Thuần và mấy vị tình nhân trong Thiên Long bát bộ, Nhậm Doanh Doanh, Tả Lãnh Thiền, Đông Phương Bất Bại, Dư Thương Hải, Lưu Chính Phong và Mạc Đại tiên sinh trong Tiếu Ngạo giang hồ v..v..Các nhân vật ấy không được chọn bàn, đơn thuần chỉ vì cuốn sách này có hạn, nếu nhân vật đáng bàn cứ đưa vào sách, chỉ e sách này sẽ phải dày gấp đôi.

Thứ tư, bạn đọc tinh ý sẽ thấy tất cả nhân vật trong bốn bộ tiểu thuyết Việt Nữ kiếm, Bạch mã tiếu tây phong, Uyên Ương đao, Tuyết sơn phi hồ không một ai được bàn tới ở đây. Bởi lẽ số trang bốn bộ tiểu thuyết ấy tương đối ngắn, có bộ còn không lấy việc tả nhân vật là chính, nhân vật có thể mang ra bàn luận riêng không nhiều, một vài nhân vật đáng bàn luận thì tôi đã đề cập trong cuốn sách khác, mà tôi chưa có ý gì mới để đem bàn trong cuốn sách này, lại nghĩ sách này không phân phối cho đều, không nhất thiết phải bàn đến mọi nhân vật, cho nên họ vắng mặt ở đây.

Thứ năm, trong mục lục sách này cũng không có tên ba nhân vật trọng yếu Tiêu Phong, Đoàn Dự, Vi Tiểu Bảo, dĩ nhiên không phải là vô ý bỏ sót, mà chỉ vì tôi đã có ba bài dài riêng bàn về họ. (Xem Trung Quốc văn hóa linh tinh dữ quái thai : Linh hồn và quái thai của văn hoá Trung Quốc), Luận về Vi Tiểu Bảo, Tuy vạn thiên nhân ngô vãng hỹ (Giữa muôn người ta vẫn hướng tới người), Luận về Tiêu Phong, Đoàn Dự hình tượng cập kỳ ý nghĩa( Ý nghĩa của hình tượng Tiêu Phong, Đoàn Dự) trong Cô độc chi hiệp – Kim Dung tiểu thuyết luận, Thượng hải Tam liên Thư điếm) xuất bản tháng tư năm 1999. Hiện tại tôi chưa nghĩ ra ý gì mới, lại không muốn “rang món cơm nguội” nên đành bỏ qua. Điều cần đặc biệt nói rõ là tôi bàn luận khá nhiều về tiểu thuyết của Kim Dung, nên trong sách này khó tránh được sự lặp lại một quan điểm hoặc một câu nào đó, mặc dù tôi đã hết sức cố gắng để không lặp lại, cố gắng đưa ra ý mới.

Cuối cùng, đã là “đàm” chứ không phải “luận”, nên tôi đã hết sức sử dụng một bút pháp tâm thái tương đối nhẹ nhàng, cũng cố tránh sử dụng hình thức thuần tuý học thuật hoặc nghiên cứu, tức là không đeo mặt nạ cho các nhân vật hoặc lúc nào cũng đưa ra các luận chứng quá ư lôgich. Khi bình luận hình tượng nhân vật, dĩ nhiên chỗ nào hay tôi sẽ nói là hay, chỗ nào dở tôi sẽ nói là dở, song nhiều khi tôi không nhất thiết đành giá hay dở, chỉ cốt phân tích tâm lý nhân vật, nhất là tìm ra nhiều góc độ và phương pháp để nhận thức nhân sinh, có khi khó tránh biểu đạt nhận thức của mình đối với tính người và nhân sinh, thậm chí thường thường kèm theo các suy nghĩ của mình về xã hội, lịch sử v..v..Cũng tức là nói, tôi dựa vào việc bàn luận nhân vật mà đưa ra quan điểm của mình. Việc tôi bàn luận mà đưa ra quan điểm của mình rốt cuộc ra sao, kính mong bạn đọc phê bình uốn nắn cho.



TRẦN MẶC 
Tháng Hai đầu xuân năm 2001 
Tại Bắc Thổ thành Bắc Kinh