Thứ Ba, 25 tháng 6, 2019

41-CHIỀU SƯƠNG VỌNG NHỚ


CHIỀU SƯƠNG VỌNG NHỚ
 [Áp cú]

Chiều dâng kỷ niệm nhớ thiên kiều
Kiều nữ hôm nào trỗi khúc tiêu
Tiêu chuẩn ngời thơ dào dạt chiếu
Chiếu chăn vút nhạc mẩn mê liều
Liều bao ái mộng nào lo xiếu
Xiếu cả mơ tình chỉ ước phiêu
Phiêu bổng hương trầm theo vũ điệu
Người ơi rộn rã biết bao chiều

Chiều sương nhấp nhỏm chỉ thích liều
Liều ghẹo tim người hẹn cõi phiêu 
Phiêu bạt nẻo tình mơ lắm kiểu
Kiểu loang khúc ái mộng bao kiều
Kiều nương rạng rỡ mơn làn điệu
Điệu vũ tưng bừng vọng tiếng tiêu
Tiêu điểm ân nguyền thơm ngọt chiếu
Chiếu gon nũng nịu đắm yêu chiều

Chiều nay dạ bỗng nuối hương kiều
Kiều hỡi đâu rồi khúc diễm tiêu
Tiêu nguyệt hôm nào nay đã xiếu
Xiếu tim thuở ấy cũng tan liều
Liều mơ phối ngẫu giờ lu chiếu
Chiếu mộng hoan tình thảy bạt phiêu
Phiêu dạt tim lòng ai có hiểu
Hiểu cho nỗi nhớ giữa sương chiều

HANSY

35-DIỆU HUYỀN


40-GỌI MÃI TÊN NHAU


GỌI MÃI TÊN NHAU
[Nhạc-Láy]

ĐỜI mong rộn rã khúc nghê thường
XIN mãi êm đềm ngát diễm hương
CÓ ngọt ngào thơm cùng thụ hưởng
NHAU ân cần lộng với miên trường
DÀI ươm rạng rỡ trong ngàn hướng
CHO mộng an nhàn giữa viễn phương
MÃI ướp niềm tin vào tưởng tượng
SAU cơn khúc khuỷu lại môi hường

NẮNG rọi mơ màng nẻo nhớ thương
KHÔNG trung sặc sỡ ánh nhan hường
GỌI thơm thảo dậy nồng tơ tưởng
SẦU hoải hoang lùi biệt vấn vương
ÁO đượm mù mê thời khó cưỡng
XƯA trao lả lướt thật khôn lường
DÙ bao trắc trở lòng cao thượng
NHÀU vẫn yêu kiều giữa gió sương

CŨNG mong nũng nịu sớm tăng cường
XIN mộng la đà dệt phú chương
BẠC tóc ngàn năm hoài ngất ngưởng
ĐẦU têu vạn kiếp vẫn tinh tường
GỌI khuya tán tỉnh vầy loan phượng
MÃI khúc êm đềm dõi ánh dương
TÊN ấy ngào ngon tràn chất lượng
NHAU ôm quấn quyện lả thiên đường

HANSY

ĐÀN ÔNG ĐỐN NHÀ, ĐÀN BÀ ĐỐN ÁO


ĐÀN ÔNG ĐỐN NHÀ
ĐÀN BÀ ĐỐN ÁO

-“Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (Vũ Dung-Vũ Thuý Anh-Vũ Quang Hào-NXB Văn học, 2008): “Đàn ông đốn nhà, đàn bà đốn áo. (đốn: cắt bỏ bớt). Những việc cần kiêng kị để tránh xảy ra tai hoạ, theo mê tín”.

-“Từ điển tiếng Việt” (Ban Biên Soạn Chuyên Từ Điển New Era-NXB Từ điển bách khoa, 2013): “Đàn ông đốn nhà, đàn bà đốn áo: Những việc cần kiêng kị để tránh xảy ra tai hoạ, theo mê tín”.

-“Thành ngữ tục ngữ Việt Nam” (Nhóm biên soạn Bùi Hạnh Cẩn-Bích Hằng-Việt Anh-NXB Văn hoá thông tin, 2001): “Đàn ông đốn nhà, đàn bà đốn áo: Những việc kiêng kị để tránh xảy ra tai hoạ, theo mê tín”.

          -“Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương-NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2010): “Đàn ông đốn (?) nhà, đàn bà đốn áo: Chưa rõ nghĩa”.

          Như vậy (trong 4 nguồn tài liệu), ngoại trừ từ điển của Nguyễn Đức Dương đặt dấu chấm hỏi (?) sau từ “đốn”, và xếp câu tục ngữ vào diện tồn nghi (“chưa rõ nghĩa”), thì 3 cuốn từ điển còn lại có cách giảng (gần như) giống hệt nhau. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là “những việc kiêng kị” ở đây cụ thể là gì; “tránh xảy ra tai hoạ” như thế nào, hoàn toàn không được các nhà biên soạn từ điển “tiết lộ”.

          Vậy, “đốn” trong “đốn nhà”, “đốn áo” là gì? Đúng như từ điển của Nhóm Vũ Dung chú thích “đốn” có nghĩa là “cắt bỏ bớt”. Tuy nhiên, “cắt bỏ bớt” với mục đích sửa lại, chứ không phải cắt bỏ bớt nói chung:

          -“Từ điển tiếng Việt” (Vietlex) giảng nghĩa (3), và xếp “đốn” vào diện “id” (ít dùng): “ĐỐN 3 [id] cắt ngắn quần áo để chữa: đốn áo dài thành áo ngắn”.
          -“Việt Nam tự điển” (Hội Khai Trí Tiến Đức) giảng (nghĩa 2): “ĐỐN • Cắt ngắn đi <> Đốn gấu áo”.
-“Từ điển Việt Nam phổ thông” (Đào Văn Tập) giảng nghĩa thứ 2 của “đốn”: “ĐỐN • Cắt ngắn đi <> đốn gấu áo; đốn cột”.
-“Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức) giảng (nghĩa 5): “ĐỐN • Ngưng lại, dừng lại, sửa-sang lại: Chỉnh-đốn”.

Cắt ngắn phần chân cột bị mục rồi nối phần chân cột mới vào
bằng mộng khoá âm dương. Ảnh: ST
Như vậy, “đốn áo”, là cắt bớt gấu áo để sửa; “đốn cột” là cắt bớt chân cột để sửa. Có lẽ, xưa kia (và trùng tu đình chùa bây giờ), những cây cột gỗ lâu năm thường hay bị mối mọt, mục mại phần chân, người ta không thay hẳn cột khác, mà cắt bớt phần chân cột bị mục mại, rồi nối phần chân cột mới vào. Phần chân cột mới được gắn kết với thân cột cũ bằng các loại “mộng khoá” như mộng cá, mộng đuôi én, mộng âm dương…Ấy gọi là “đốn cột”. Và dĩ nhiên, “đốn cột” không có nghĩa đơn giản là cắt ngắn cột đi, mà là cắt ngắn (với mục đích) để sửa lại. Theo đây, đốn cột cũng có nghĩa là sửa nhà.

“Đốn áo”, hay “đốn nhà” (“đốn cột”) hiểu khái quát là vá (may) quần áo và sửa (chữa) nhà cửa. Cụ thể, “Đàn ông đốn nhà, đàn bà đốn áo” được diễn giải là: Đàn ông (thì) sửa nhà, đàn bà (thì) sửa áo[1].

Thông thường, đàn ông gắn với những công việc yêu cầu sức mạnh, đàn bà quen làm những việc cần sự khéo léo, nhẹ nhàng (từ thời cổ xưa đã có sự “phân công”, đàn ông săn bắn, đàn bà hái lượm). Theo đây, tục ngữ Việt còn có câu đồng nghĩa “Gái khéo vá vai, trai tài phủ nóc” (Gái thể hiện khéo léo bằng vá phần rách [rất khó vá cho đẹp] ở vai áo; trai thể hiện tài giỏi bằng sửa chữa, lợp lại [phần dột khó phủ cho kín] của nóc nhà). Hay tục ngữ Thái “Nhinh hụ hết phai, chái hụ xán he” (Gái biết dệt vải, trai biết đan chài); tục ngữ Tày “Mìa tăm thúc, phua slan khe” (Vợ dệt vải, chồng đan chài)[2].

           Như vậy, theo chúng tôi, tục ngữ “Đàn ông đốn nhà, đàn bà đốn áo” đúc kết về sự phân công lao động (theo giới) một cách tự nhiên; thể hiện thiên chức (khác nhau) giữa đàn ông và đàn bà (hay giữa chồng và vợ) qua công việc hàng ngày, chứ không liên quan gì tới “kiêng kị”, “tránh tai hoạ”, hay “mê tín” gì… như một số nhà biên soạn từ điển đã giảng.

Hoàng Tuấn Công
12/2017
CHÚ THÍCH:
[1]-Có lẽ, “đốn” (cắt ngắn để sửa lại) vốn có nghĩa gốc từ chữ “đốn” , nghĩa là sửa lại, sửa sang (như Thiều Chửu giảng nghĩa thứ của “ĐỐN” là: “Chỉnh đốn 整頓 sự gì cái gì đã tán loạn lâu rồi mà lại sửa sang lại cho được như cũ gọi là chỉnh đốn”; hay “Hán Việt tự điển” [Trần Văn Chánh] giảng nghĩa của “ĐỐN”: “Sửa sang, chỉnh đốn, sắp xếp: 整頓 Chỉnh đốn; 安頓).
[2]-Dị bản này do ông Xuân Bách, Giảng viên trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Việt Bắc cung cấp. Xin được nói lời cảm ơn ông.


Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

34-TRÒN VUÔNG


39-ĂN NGAY NÓI THẬT

ĂN NGAY NÓI THẬT
[Thành ngữ]

SỰ THẬT MẤT LÒNG lắm bạn ơi
Nhiều khi GIẬN QUÁ MẤT KHÔN lời
NHÀ CAO CỬA RỘNG mơ hoài tới
CHÂN CỨNG ĐÁ MỀM ước chẳng lơi
MỠ ĐỂ MIỆNG MÈO ai thể đợi
CHUỘT SA HŨ NẾP phận mau ngời
Cầu cho RỒNG ĐẾN NHÀ TÔM hỡi
NGƯỜI SỐNG ĐỐNG VÀNG nghiệp mãi khơi

IM LẶNG LÀ VÀNG diệu kế ơi
Tránh xa THỌC GẬY BÁNH XE hời
CHIM KÊU VƯỢN HÚ ai nào đợi
MÁU CHẢY RUỘT MỀM nghĩa chớ vơi
XỎ LÁ BA QUE lòng chẳng gởi
NUÔI ONG TAY ÁO miệng không mời
Đừng khinh CHÂN LẤM TAY BÙN hỡi
CÁO MƯỢN OAI HÙM dọa khắp nơi

HANSY

ĂN CƠM TÀU - Ở NHÀ TÂY - LẤY VỢ NHẬT


ĂN CƠM TÀU - Ở NHÀ TÂY
LẤY VỢ NHẬT

1. Ăn cơm Tàu

Ngày xưa, thành phố nào cũng có cộng đồng người Tàu với tiệm buôn, quán ăn, tiệm thuốc bắc, trường học, hội quán… Tại các tỉnh miền Trung người Tàu không nhiều như trong Nam nhưng hầu hết quán ăn do họ làm chủ. Người Việt thường chỉ đi bán hàng rong hoặc bán thức ăn bình dân trong các chợ . Riêng tại Saigon người Tàu chiếm lĩnh thị trường ẩm thực dám đầu tư kinh doanh ở ngã tư, mặt tiền ,họ nấu thức ăn ngon, béo, sơn hào hải vị lạ lẫm …,tính cách phục vụ của người Tàu cũng khác xa người Việt :sởi lởi , nồng nhiệt chào mời thực khách !, thời đó Dân Saigon Xưa rất mê Cơm Tàu .

2. Ở nhà Tây

Saigon có nhiều Villa, nhà phố kiểu Pháp rất đẹp. Thời thuộc địa, đa số nhà của người Việt là nhà tranh, vách đất, nền đất. Trong khi “Tây” nhập cảng vật liệu để xây nhà theo kiểu như bên châu Âu : bằng gạch men hay đá granito cho phép ngôi nhà có tuổi thọ lâu hàng trăm năm và có khả năng chống đỡ tốt mọi thiên tai. “Nhà Tây” hầu hết nằm trên những con đường chính, thơ mộng…có Garage , Sân vườn, nhiều phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách và nhà bếp thì riêng biệt với đầy đủ tiên nghi và cái gì cũng sạch sẽ.

3. Lấy vợ Nhật

Gái Nhật thời Tây đô hộ qua Saigon rất nhiều … một cộng đồng phụ nữ chuyên làm vợ bao họ rất điệu nghệ trong ngành giải trí về đêm, biết phục vụ đàn ông, rất tận tụy, chu đáo và chìu chuộng ” nâng khăn sửa túi ” đấng mày râu giỏi hơn đàn bà Việt nhiều …Thực ra Các thầy Thông thầy Ký Việt Nam ngày xưa chỉ nghe xếp Tây kể lại rồi đồn rầm lên chứ làm sao mà dám “Bao” một “Em” Nhật Bổn với cái giá trên trời …May ra, giàu có như Hắc, Bạch Công tử hoặc Ông Tây “đại gia” mới dám chơi…rồi nghe kể lại ….

Bây giờ quan niệm này đã hoàn toàn thay đổi :
Ăn Sushi , Ở nhà Mẽo , Lấy vợ …Saigon …. !

Theo Dân Sài Gòn xưa

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

33-GIỌT ĐẮNG


38-MÙ SƯƠNG KỶ NIỆM


MÙ SƯƠNG KỶ NIỆM
[Ô thước]

Hẹn ước tan rồi vắng biệt nhau
Giờ đây kỷ niệm bỗng hoen màu
Người ơi thuở đó tình nhanh nhảu
Ái hỡi bây giờ mộng đớn đau
Biết vậy đừng mơ hàng ngọc báu
Chi nào vướng bận lẽ vàng thau
Làm sao có chỗ mà yên náu
Giữa lúc lầm si nhỡ chuyến tàu

Con tàu ước hẹn đã dần trôi
Nuối tiếc làm chi cũng lỡ rồi
Khiến đảo chao nguyền khi hẹn dối
Thêm tàn tạ ước thuở thề ôi
Rồi chêm vớ vẩn ê chề dội
Lại thấy đìu hiu thảm thiết bồi
Đứt đoạn tơ hồng đau dạ rối
Nghe lòng rạn vỡ giữa tình côi

Rạn vỡ trầu cau quạnh quẻ nhà
Thôi rồi hiệp cẩn đã mù xa
Vì đâu thệ ước đành sa ngã
Đến nỗi tình yêu hết đượm đà
Cứ ngỡ muôn đời luôn đắm dạ
Ai dè mấy bữa lại lìa ta
Giờ đây quá vảng dường xa lạ
Kỷ niệm nhòe sương giữa cuối tà

HANSY


Kỳ 145 -NGƯỜI VIỆT VÀ NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH ĐÁNH BẠI QUÂN CỦA TẦN THỦY HOÀNG


Kỳ 145
NGƯỜI VIỆT VÀ NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH
ĐÁNH BẠI QUÂN CỦA TẦN THỦY HOÀNG

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 nước thời Chiến quốc thì đã có ý định rõ ràng về việc lấn đất về phía Nam, nơi người Việt sinh sống bằng việc mở quận huyện mới và thi hành chính sách di dân xuống. Tuy không phải đạo quân đông đảo đến 50 vạn nhưng khả năng vài ba vạn là có cơ sở đáng tin cậy.

Thời điểm đó, do chiến tranh liên minh trong suốt 400 năm thời Xuân Thu – Chiến quốc thì trình độ quân sự ở Trung Nguyên đã được đẩy lên mức cao. Thợ rèn của Trung Quốc đã có thể tạo ra những thanh kiếm tốt là do nắm được công nghệ luyện kim để chế tạo ra các vật dụng bằng sắt cứng. Nếu thời Xuân Thu, các trận chiến thường chỉ có vài trăm cỗ xe ngựa kéo tham gia thì đến cuối thời Chiến quốc, đã có thể huy động cả chục vạn quân cho một chiến dịch quân sự. Đặc biệt thời Chiến quốc thì bắt đầu xuất hiện kỵ binh do Triệu Vũ Linh Vương học theo cách cưỡi ngựa của người Hồ phía bắc. Nhìn vào dàn tượng đất nung trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng với các chiến binh mặc giáp và cả  kỵ binh hay xa kỵ thì chúng ta có thể hình dung về sức mạnh đạo quân nhà Tần khi ấy.

Phương tiện vũ khí chiến tranh được phát minh liên tục được phát triển, nâng cấp. Thời Chiến Quốc, Lỗ Ban đã phát minh ra những vũ khí công thành hiệu quả cho nước Sở như thang mây chuyên để phá thành cao. Sách Mặc Tử, thiên Công Thâu chép: “Công Thâu Ban làm thang mây cho nước Sở xong, sắp đem đi đánh Tống. Mặc Tử nghe tin, bèn đi suốt mười ngày mười đêm từ nước Lỗ đến kinh đô của nước Sở để yết kiến Công Thâu Ban. [...] Mặc Tử cởi đai lưng giả làm thành, lấy thẻ tre giả làm khí giới. Công Thâu Ban chín lần bày cách đánh thành giả ấy nhưng Mặc Tử chín lần cự lại. Công Thâu Ban dùng hết khí giới đánh thành mà Mặc Tử thì còn cách chống giữ. Công Thâu Ban chịu thua”. Câu chuyện đọ trí giữa Công Thâu Ban (có sách chép đó chính Lỗ Ban) và Mặc Tử đã phần nào cho thấy về quy mô phát triển phương tiện quân sự tại Trung Nguyên thời Chiến Quốc.

Về học thuyết quân sự, thời Xuân Thu đã có nhà tư tưởng quân sự giỏi như Tôn Vũ, đến thời Chiến quốc lại có Ngô Khởi và các bộ binh thư nổi tiếng như Binh pháp Tôn Tử, Binh pháp Ngô Tử.  Riêng nhà Tần thì lúc đó hấp thu tinh hoa hết của các nước thời Chiến Quốc nên trình độ quân sự có thể coi là cao bậc nhất thế giới thời kỳ đó (tiếc là không có cuộc đọ sức với quân đội La Mã tinh nhuệ để so sánh).

Trong khi đó, người Việt khi đó đang ở cuối thời Hùng vương. Các di vật khảo cổ cho thấy thời đại đó, người Việt vẫn dùng đồ đồng là chủ yếu. Người Việt khi đó cũng phải trải qua chiến tranh nhưng chỉ ở mức quy mô nhỏ chứ không thể huy động vài vạn người. Ấy vậy mà người Việt đã đánh bại được sự xâm lấn của quân Tần. Tất cả là nhờ chiến tranh trường kỳ và nghệ thuật đánh du kích.

Quân Tần không thể triển khai những chiến dịch quân sự quy mô khi bành trướng xuống phía nam, lấn đất của người Việt. Ngoài việc giao thông khó khăn, hậu cần thiếu thốn thì địa bàn ở khu vực phía nam cũng không đủ lớn để tiến hành dùng xa kỵ hay kị binh. Hơn nữa, quân Tần có muốn tìm người Việt để thực hiện một chiến quy mô là điều không thể vì người Việt không có thói quen dàn trận đánh quy mô mà chỉ thích phục kích, đánh tỉa. Do vậy, người phương Bắc chịu cảnh sa lầy không thể tiến sâu mà chỉ gắng giữ những vùng giáp ranh và phải trả giá bằng không ít sinh mạng do bị phục kích, bệnh tật...

Sách Đại cương Lịch sử Việt Nam chép: “Sau ba năm hành quân (kể từ 218 trước Công nguyên), quân Tần mới tiến đến đất Lĩnh Nam của người Việt. Đất Lĩnh Nam bấy giờ tương ứng với các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và là địa bàn sinh sống của người Mân Việt, Tây Âu V.V.. Năm 214 trước Công nguyên, với một lực lượng mạnh, quân xâm lược Tần đã chiếm được cả vùng Lĩnh Nam, giết chết tù trưỏng Tây Âu là Dịch Hu Tống, chia đất Lĩnh Nam thành 3 quận sáp nhập vào lãnh thổ đế chế Tần (3 quận là Nam Hải, Quế Lâm, Quận Tượng). Nhưng bây giờ người Việt Tây Âu không chịu khuất phục, kéo nhau chạy vào rừng, dưới sự chỉ huy của các tù trưởng chiến đấu chống lại quân Tẩn.

Từ Tây Giang, quân Tần đã tiến vào xâm lược nước Vân Lang. Người Tây Âu và người Lạc Việt đã chiến đấu rất ngoan cường. Họ rút vào rừng "Không ai chịu để cho quân Tần bắt" ngày ẩn, đêm đánh phá quân xâm lược, dựa vào các chiềng, chạ, tận dụng địa hình địa vật hiểm trở là núi rừng để chiến đấu lâu dài, tiêu hao binh lực địch. Cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân Tây Âu và Lạc Việt đã làm cho quân Tần tiến thoái lưỡng nan "lương thực bị tuyệt và thiếu, đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được mà thoái cũng không xong".

Năm 210 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng mất. Không lâu sau, Trung Nguyên lại xảy ra đại loạn nên nhà Tần không còn tâm trí đâu mở rộng bành trướng xuống phía nam. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống Tần của người Việt coi như thắng lợi. Và trong các cuộc chiến chống phương Bắc sau này, ông cha ta cũng phát huy lại những bài học từ chiến tranh du kích, kháng chiến trường kỳ để giành thắng lợi trước đối phương được trang bị phương tiện quân sự hùng hậu hơn hẳn.

ANH TÚ


XÌ PHÉ VỚI BÙI GIÁNG


XÌ PHÉ VỚI
BÙI GIÁNG

Ở miền Nam trước năm 1975, Bùi Giáng là một hiện tượng của giới văn nghệ Sài Gòn. 

Ông là một nhà thơ điên, điều này ai cũng biết. Nhưng điên kiểu Bùi Giáng thì thuộc dạng xưa nay hiếm, bởi ông điên rất thi sĩ và Bùi Giáng thi sĩ là một “ngôi sao” trong trường phái điên mà chỉ có ông đứng riêng một góc trời.

Bùi Giáng không tốt nghiệp đại học nhưng lại làm “giáo sư” dạy học một thời gian, là nhà nghiên cứu, khảo luận, dịch thuật và nhất là làm thơ. Ông dịch nhiều tác phẩm nổi tiếng của các tác giả tên tuổi trên thế giới, viết khảo luận đông tây kim cổ và đặc biệt là làm thơ nhanh như chớp bất cứ ở đâu, trong trường hợp nào. Hầu hết thơ của ông là thơ... tán gái, mà toàn là gái đẹp bởi Bùi Giáng yêu toàn những mỹ nhân trong nước và trên thế giới. 

Tình yêu của Bùi Giáng cũng rất lạ lùng, yêu trong mộng tưởng, cứ việc thấy người đẹp là yêu, yêu điên cuồng, làm thơ tặng điên cuồng không cần biết mỹ nhân đó có đáp lại tình yêu của mình không. 

Chính vì cuộc đời kỳ lạ của Bùi Giáng mà quanh ông có rất nhiều giai thoại, nhất là giai thoại yêu đương. Và cũng chính vì tình yêu lạ kỳ đối với phụ nữ mà Bùi Giáng là một người đàn ông vô cùng hạnh phúc trong tình yêu. 

Ông không bao giờ biết đau khổ khi yêu từ lúc sinh ra cho tới khi nhắm mắt về bên kia thế giới. Và ở đó có thể gọi là “cõi khác” của Bùi Giáng, chính nơi đó ông sẽ còn tiếp tục cuộc rong chơi và yêu đương bất tận.

Tôi có nhiều kỷ niệm với thi sĩ Bùi Giáng (tôi hay gọi là anh Sáu Giáng) trước và sau năm 1975. Ngồi buồn nhớ chuyện cũ, người cũ, xin kể trước vài kỷ niệm với anh Sáu Giáng trước năm 1975. Chuyện chơi, chuyện tào lao vui thôi. Đó là chuyện đánh xì phé với anh Sáu Giáng.

Hồi đó anh Sáu Giáng chưa điên nặng, tức là còn điên nhẹ. Mà ai nói anh Sáu Giáng điên thì người đó mới điên. Những năm đó thật vui, nhà của Huy Tưởng nằm trong con hẻm bên hông chợ Trương Minh Giảng, đối diện với Đại học Vạn Hạnh là nơi tôi thường tới chơi, ở qua đêm. 

Chiều tối, tụi tôi hay ra quán cà phê cóc ngay đầu hẻm, bên hông chợ uống cà phê. Lúc đó anh Bùi Giáng ngao du ta bà đâu đó trở về, chờ chợ vắng để tìm chỗ ngủ. 

Thấy tụi tôi ngồi tào lao, anh Sáu Giáng tấp vô uống cà phê, Vẫn bộ đồ “cái bang”, lon sữa bò, hoa hòe hoa sói đeo lủng lẳng. Anh Sáu Giáng không hiểu sao rất sợ cảnh sát Sài Gòn, mà hồi đó cảnh sát Sài Gòn thường bao chợ Trương Minh Giảng vào buổi tối để xét hỏi người trong chợ và khách vãng lai quanh chợ. Mỗi khi thấy cảnh sát bao chợ là anh Sáu Giáng rút lui rất nhanh, thoáng cái anh Sáu Giáng mất tiêu.

Biết anh Sáu Giáng sợ cảnh sát, Huy Tưởng là vua trêu chọc, cứ nhằm lúc anh Sáu Giáng uống cà phê, tào lao, hứng khởi múa bút trên giấy đề thơ 2 câu hoặc 4 câu (Sáu Giáng đề thơ trên bất cứ giấy gì kiếm được, nhất là giấy bạc của bao thuốc lá, lật mặt trắng lên là viết thơ ro ro). Thế là Huy Tưởng hù: Anh Sáu Giáng, cảnh sát tới. Nghe vậy, anh Sáu Giáng lập tức đứng lên, dzọt lẹ.


Nhà của hai vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức - Bé Ký ở trong con hẻm 220 đường Trương Minh Giảng bên hông Đại học Vạn Hạnh. Con hẻm này khá dài, khá rộng chạy cặp bờ sông bên kia cầu Trương Minh Giảng. Lâu lâu hai vợ chồng Hồ Thành Đức rủ bạn bè tới đánh xì phé. Hội xì phé này gồm có: Cung Tích Biền, Huy Tưởng, tôi, Nguyễn Hữu Hiệu (Thích Chơn Pháp), Bùi Giáng và dĩ nhiên có cả chủ nhà là hai vợ chồng Hồ Thành Đức - Bé Ký. 

Trong hội xì phé lãng tử này Cung Tích Biền, Huy Tưởng, tôi được xếp hàng cao thủ 12 túi. Nguyễn Hữu Hiệu, Bùi Giáng và Hồ Thành Đức - Bé Ký là... “thầy cúng", nghĩa là mang tiền ra "cúng" cho chúng tôi thôi vì họ đánh quá dở.

Nguyễn Hữu Hiệu (em của nhà thơ Viên Linh) là nhà thơ, nhà phê bình, Đại đức Thích Chơn Pháp tu và mặc áo tu đàng hoàng, đi đánh phé tiền kẹp trong cuốn kinh Phật, thua bao nhiêu rút tiền ra bấy nhiêu, tiền mới cáu mới ghê. 

Còn Bùi Giáng đâu có nhiều tiền, chủ yếu chơi cho vui, cho đủ tay là chính. Hết tiền, anh Sáu Giáng mượn búa xua, mượn rồi... không nhớ, mà có nhớ cũng không trả, cười trừ buông một câu: Bọn mi ăn gian, đánh lận, gạt tau hết tiền. Vậy là huề.

Còn Hồ Thành Đức có Bé Ký ngồi sau lưng, giành coi bài. Muốn biết tẩy của Hồ Thành Đức thì cứ nhìn mặt Bé Ký. Bài Hồ Thành Đức tẩy xì hay tẩy già thì mắt Bé Ký sáng rực, thụi vai chồng ra lệnh: Đánh đi. Hồ Thành Đức vừa bỏ tiền vô sòng, ngồi xổm dậy, râu giựt giựt... 

Bởi thế đánh đâu thua đó, vì lộ tẩy ngay từ đầu. Huy Tưởng còn chọc, hỏi Bé Ký con bài đáy (lá bài úp, giấu tẩy trong luật chơi xì phé) của Hồ Thành Đức con gì, con bồi phải không, Bé Ký thì lãng tai, nghễng ngãng cứ cãi, không phải bồi mà là... già. Vui không chịu được.
Anh Sáu Giáng thua xiểng liểng, hết cửa mượn bèn nằm dài ra sàn nhà nghỉ xả hơi chờ cao thủ nào vừa gom tiền thì bật dậy mượn: Mi cho tau mượn để tau gỡ chứ, có tiền tau sẽ chuyển bại thành thắng, trả cả vốn lẫn lời hay tau trả bằng... thơ cũng được. 

Và thơ anh Sáu Giáng trả nợ thua xì phé chính là bài này, mang đầy khí chất tếu táo của Bùi Giáng, đồng thời cũng giải thích vì sao Bùi Giáng có nhiều biệt danh như Bùi Giàng Búi, Giáng Bùi Giàng rồi vì sao lại là Sáu Giáng.

“Ủa, phải anh Sáu Giáng đó không?
Và cô có phải cô Bông năm nào
Anh còn nhớ rõ, ôi chao
Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh
Anh điên mà dzui dzẻ thập thành
Còn chúng tôi tỉnh mà đành buồn thiu!”.

Cô Bông thì chúng tôi không biết là ai, mà nếu có hỏi chắc Bùi Giáng cũng không biết hoặc không nhớ vì trong cuộc hành trình mộng tưởng của mình đối với cuộc sống này, thi sĩ điên Bùi Giáng đã từng gặp biết bao cô gái đẹp theo cách nhìn của Bùi Giáng, và cô nào cũng được Bùi Giáng gọi là giai nhân, là nương tử và nếu có gọi thành một cái tên cụ thể thì cũng không ai biết cô đó ở đâu, chắc cô Bông này cũng thế. Nhưng Sáu Giáng thì đơn giản hơn, bởi lẽ, trong gia đình, Bùi Giáng thứ sáu.

Và bài thơ trả nợ thua xì phé này anh Sáu Giáng cứ đọc mãi trong những canh bạc mộng tưởng khi ngồi chơi với chúng tôi khiến chúng tôi thuộc lòng luôn. 

Và ước mơ một lần ăn bạc để trả nợ thua bạc của anh Sáu Giáng vẫn chỉ là ước mơ thôi vì anh Sáu Giáng đánh xì phé rất nhát gan, cứ đến cây thứ ba, thứ tư dọa anh chơi, tố một số tiền kha khá và kích Sáu Giáng theo, ảnh vội quăng bài, nằm dài xuồng sàn nhà nói giọng Quảng đặc sệt: “Bọn mi ăn gian, đánh nhiều tiền rứa làm sao tau theo nổi mô”. 

Nhưng anh Sáu Giáng (xin nhấn mạnh ở đây một chút - khi chúng tôi gọi anh là Sáu Giáng, ảnh vội lên giọng nghiêm trọng bảo không phải chữ Sáu nghen bây mà là số 6 trước tên Giáng). Và anh Sáu Giáng đánh xì phé chưa có lần nào thắng, hay chuyển bại thành thắng như anh từng ước mơ mà cứ chuyển bại thành... xụi, đánh đâu thua đó, nhưng lại khoái rủ các cao thủ đánh xì phé mới ghê.

Sáu Giáng sinh ngày 17-12-1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ở bậc tiểu học, Sáu Giáng học Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hết bậc tiểu học, Sáu Giáng ra Huế học bậc trung học ở Trường trung học Thuận Hóa. 

Chưa hết bậc trung học thì Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, lan tới Việt Nam. Lợi dụng cơ hội Nhật hất cẳng Pháp, rồi đến Cách mạng Tháng Tám lịch sử, Bùi Giáng tiếp tục học lại và lấy được bằng Thành chung.

Sáu Giáng cưới vợ rất sớm vào năm 1944, khi đó ông mới 18 tuổi. Vợ ông là bà Phạm Thị Ninh, nổi tiếng xinh đẹp trong vùng nhưng chẳng may bị bạo bệnh và khi mang thai lại sinh non nên cả hai mẹ con đều qua đời. Có lẽ đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến con người có máu điên từ nhỏ như Bùi Giáng bùng phát thành những cơn điên khi tuổi ông còn rất trẻ. 

Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Bùi Giáng bỏ học theo kháng chiến. Năm 1950 Liên khu V tổ chức kỳ thi tú tài đặc biệt, Bùi Giáng đi thi và đậu Tú tài 2 văn chương. Sau đó Bùi Giáng đi bộ ròng rã một tháng rưỡi theo đường mòn trên núi qua Liên khu IV tới Hà Tĩnh để tiếp tục vào đại học. 

Nhưng ông lại bỏ ngang trong ngày khai giảng để trở về quê ở Quảng Nam... chăn bò, rong ruổi theo đàn bò khắp các vùng đồi núi Trung Phước suốt 2 năm trời và làm thơ. 

Trong giai đoạn này Bùi Giáng làm rất nhiều thơ, trong đó có bài Nỗi lòng Tô Vũ, có lẽ Bùi Giáng tự ví mình như ông Tô Vũ ngày xưa chăn dê 15 năm trên núi nên ông nhìn những con bò thành những con dê mà toàn là dê cái rồi làm thơ để... ca ngợi hết lời, hết tình.

Bài Nỗi lòng Tô Vũ dài tới 60 câu, được cho là bài thơ hay nhất trong thời kỳ chăn bò của Sáu Giáng (1950-1952) thời kỳ rất mực lãng mạn của nhà thơ họ Bùi vì hầu như ông chỉ sống với những đồi sim chín, đàn bò mà ông cho là... đàn dê, và lũ chuồn chuồn, châu chấu luôn lượn lờ trong sương, trong mây ngay chỗ ông nằm khểnh vê râu ngắm trời, ngắm đất. 

Sau này bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ được in trong tập thơ Mưa nguồn, tập thơ ghi dấu ấn trong hàng loạt những tác phẩm đồ sộ của Bùi Giáng về sau này với Nhà xuất bản An Tiêm.

Bùi Giáng là một nhà thơ điên trong cõi điên dài như trường giang xuôi chảy về nơi bất tận, trên dòng trường giang điên đó, ông có những phân khúc điên và những phân khúc tỉnh. Nhưng đặc biệt, do Bùi Giáng làm chủ được “cõi điên” của mình nên không ai biết được lúc nào ông tỉnh, lúc nào ông điên. 

Có lẽ chỉ Bùi Giáng mới biết mình điên hay tỉnh mà thôi. Nhưng cái điên, sức điên của Bùi Giáng thật dễ thương, một “thương hiệu điên” văn nghệ. Và anh Sáu Giáng dễ thương nhất khi... đánh xì phé, vì ông đánh xì phé cũng rất văn nghệ.

6 Giáng cũng được mà Sáu Giáng cũng được mà Bùi Giáng cũng được, không phải như ông từng viết “Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu” đấy sao?

Từ Kế Tường

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2019

32-HỒNG HOANG


37-MƠ VỀ LẠC CẢNH


MƠ VỀ LẠC CẢNH
 [Ô thước]

Ngừng lo ắt sẽ bớt ưu phiền
Hãy sống trong đời thật tự nhiên
Thoải mái tâm hồn vui ngắm kiểng
Bàng quan thế sự chẳng mơ tiền
Mong vào nhược thủy thăm thần điện
Rảo tới non bồng lạc nẻo tiên
Phú diễm ngời thơ hoài hiển hiện
Hoành tung tả hữu khắp bao miền

Hoành tung ngọn bút giữa trăm miền
Ngộ giác cho đời được mãn viên
Ý nghĩa lời câu cùng bạn tiến
Từ niêm tứ vận trỗi tâm hiền
Làm cho cuộc sống đầy vinh hiển
Xới lại tâm lòng lắm tuyệt miên
Chớ để bùn nhơ nhòe chính diện
Trầm hương tự giác ngộ chân thiền

Giác ngộ lìa mê đạt cõi thiền
Soi đời rạng rỡ ánh hồng liên
Cho tình bạn hữu hoài thi triển
Để nuộc trần ai tránh võ biền
Đạo cả luôn ngời xa cuộc chiến
Tâm thành mãi lộng sáng từng viên
Bao trò quỷ sứ thời xin miễn
Ấy chính đường ngay tránh lụy phiền

HANSY

CẦU BÔNG – RẠCH CAO MIÊN và ĐẤT HỘ - ĐA KAO


CẦU BÔNG – RẠCH CAO MIÊN
ĐẤT HỘ - ĐA KAO

Người Khmer vẫn thường nói rằng ở Việt Nam nơi đâu có cây thốt nốt đều là đất cũ Cao Miên. Bạn chưa hiểu hết Sài Gòn nếu không biết tại lăng Ông gần chợ Bà Chiểu hãy còn sót lại rất nhiều loại cây này. Nó cho thấy đây có lẽ là một không gian làng cổ Khmer điển hình, tình cờ được lưu giữ vì nằm trong khuôn viên ngôi mộ của tả quân Lê Văn Duyệt.

Cách mộ 900m về phía nam theo đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay là rạch Cao Miên và cầu Cao Miên đã được chỉ rõ trong sách “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” của Lê Quang Định (1806).

Khả năng rất lớn là cây cầu này đã bị phá hủy trong đợt Pháp đánh thành Gia Định năm 1859. Khi xây dựng lại, chắc bảng tên “deuxième pont” (cầu số 2) đã được gắn vào. Pont là cầu được Việt hóa thành Bông. Cầu số một (premier pont) ở vào vị trí cầu Thị Nghè ngày nay. Cầu số 3 trùng với Cầu Kiệu.

Cầu Bông nối qua Sài Gòn tại khu Đất Hộ. Chỉ cần nhìn vào bản đồ Quy thành của Olivier de Puymanel vẽ năm 1795 sẽ thấy ngay rằng tục danh Đất Hộ nghĩa là vùng đất (từng) có tường hộ thành (shield wall), bắt đầu từ chợ Đa Kao xuyên qua, chạy dọc đường Trần Quang Khải rồi vòng lên Lý Chính Thắng.

Đất Hộ hẳn đã được người Pháp ký âm vội vàng sau khi chiếm Sài Gòn. H là âm câm trong Pháp ngữ. K nên hiểu là phần ký âm của chữ Đất vì T giọng nam bộ sẽ nghe như K hoặc C [đấc] (1). Trong nhiều tài liệu, Đất Hộ được phiên thành Dakao hay Dakau. Nó cho thấy [ao] hay [au] dùng để diễn đạt Việt âm [ô] trong chữ Hộ. Như vậy đọc đúng phải là Dak – Ao hay Dak – Au. Đáng lưu ý là sau Đất Hộ, các ký âm có H ít nhiều đã chính xác và đầy đủ hơn như Biên Hòa, Bà Hom, Đức Hòa, Mỹ Hậu (xem bản đồ Sài Gòn 1867). Cũng tại bản đồ này núi Châu Thới vẫn mắc lỗi cũ viết thành Chau Toi, bỏ H như trong Dak Ao/Au.

Vài bạn đọc google rồi phản biện lập luận của chúng tôi bằng các tài liệu tài tử trên mạng. Chẳng hạn Đa Kao là Đất Cao. Nội dung ấy chỉ múa may, bóp mồm nặn miệng trên những con chữ mà thôi. Từ năm 1981 đến 1987 tác giả bài viết này học cấp 2 tại trường Lam Sơn, cấp 3 trường Võ Thị Sáu ở địa bàn đang tìm hiểu. Chúng tôi còn nhớ rất rõ ràng mỗi con dốc từng thả phanh hay phải gò lưng cật lực trên xe đạp theo chiều ngược lại, mỗi khi đi vào Đa Kao, Tân Định hay trung tâm Sài Gòn.

Ngoài ra, cũng như khi khảo sát địa danh Sài Gòn và Đồng Nai, chúng tôi xử lý Cầu Bông – Đất Hộ trong bản chất hệ thống và đặc biệt chú ý các giá trị động trải dài hơn 200 năm qua. Cụ Vương Hồng Sển gắn bó với mảnh đất này lâu đời hơn chúng tôi rất nhiều nhưng thiếu phương pháp nên đã không giải thích được Đất Hộ – Đa Kao là gì.

Không phải vô tình mà ngày nay con đường có cùng nền với bức tường hộ thành Gia Định xưa kia mang tên Trần Quang Khải, và giữa Đất Hộ có đền thờ Đức thánh Trần bốn mùa khói hương không dứt. Hai thiên tướng Đại Việt gốc Mân này là thần hộ quốc của cả nước Việt Nam, suốt từ khi tên gọi Việt Nam ra đời.

Rất tiếc, sự Việt hóa âm Pháp trong Cầu Bông và “làm sang kiểu Tây” gọi Đất Hộ bằng Đa Kao không dễ nhận ra vào những ngày đầu độc lập. Chiến dịch tẩy độc các địa danh Tây tại Sài Gòn của người Sài Gòn giữa thế kỷ 20 đã bỏ qua Cầu Bông và Đa Kao. Đến nay thì chắc chắn không còn cơ may sửa chữa. Trí thức “mới” tự xưng “cấp tiến” đang điên cuồng phủ phục dưới các dấu vết thực dân, từ viên gạch vỡ đến gốc cây xà cừ sần sùi cần bứng bỏ để xây dựng đại lộ tiến vào tương lai. Họ đang đánh đồng di tích với di sản và khóc thương hoài nhớ một thời cha ông họ là nô lệ trên chính quê hương mình!

TRƯƠNG THÁI DU
(1) Chuyển vị K từ Kao/Kau sang Da thành Dak được góp ý bởi bạn Nguyễn Hoài Vũ

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019

31-YÊU


36-HOÀN HẢO CHỨC NĂNG



HOÀN HẢO CHỨC NĂNG
[Độc vận]

Anh hùng nữ kiệt xuất tài năng
Sử dụng ngon lành những kỹ năng
Chí lộng vươn tầm lên thượng đẳng
Sức ngời đạt mức tới toàn năng
Hào hoa cực chất ngang tầm nắng
Ảo diệu vô cùng với khả năng
Biểu cảm cao vời trong tĩnh lặng
Dương trần ắt sẽ tóm quyền năng

Dương trần ắt sẽ tóm quyền năng
Nghĩ ngợi chu toàn đạt hiệu năng
Vạn chỗ phô bày luôn tuyệt đẳng
Muôn đường thể hiện rõ tiềm năng
Hoài thơm thảo ý từ muôn rặng
Vẫn chứa chan tình tự bản năng
Giữa nẻo trần ai dù ngọt đắng
Anh hùng nữ kiệt xuất tài năng

HANSY

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019

30-TRẢ


35-THÊ THIẾT DỖI HỜN


THÊ THIẾT DỖI HỜN
 [Ngũ độ-Ô thước]

Tê lòng xót phận tủi hờn châu
Chẳng nữa người ơi lệ ứa sầu
Ngỡ tưởng tao phùng bên lối giậu
May cùng hiệp cẫn giữa  mùa dâu
Vì sao nhạt nhẽo lời yêu dấu
Đến nỗi tàn hoang nẻo nguyện cầu
Hẻo vậy xưa đừng mơ phối ngẫu
Chi nào lỡ mộng đắng tình Ngâu

Mộng lỡ duyên tình rớt khỏi song
Giờ đây quạnh quẽ khắp cô phòng
Mù sương nẻo ái ê chề đọng
Xám cõi hương thề rã rượi đong
Vẫn tưởng muôn đời yêu cuộn sóng
Nào hay mấy bữa quạnh chao lòng
Còn đâu chút nghĩa mà hy vọng
Khúc khuỷu canh đời biệt nỗi mong

Canh đời khúc khuỷu biệt vành dương
Tất cả giờ đây rã mộng thường
Lỡ dở dâng sầu đau gối phượng
Âm thầm trỗi hận át mùi hương
Cầm bao kỷ niệm tung ngàn hướng
Tiễn khúc tào khang bỏ vệ đường
 Lặng lẽ quên tình cho khỏi vướng
Trăng thề quá vãng nhạt nhòa sương

HANSY

NGHĨ VỀ VIỆC DẠY TỪ VIỆT – HÁN TRONG TIẾNG VIỆT


NGHĨ VỀ VIỆC DẠY
TỪ VIỆT – HÁN TRONG TIẾNG VIỆT


Thời gian qua, vấn đề dạy chữ Hán (tức mảng từ Việt Hán) trong nhà trường được báo chí đề cập nhiều lần và dư luận quan tâm.

Các từ điển – tự điển chữ quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX thể hiện hai dòng chính tả -ngoại nhập và Việt hóa.
Có điều dạy chữ Hán trong trường phổ thông hay đại học thì từ việc đào tạo giáo viên tới xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình v.v sẽ rất tốn tiền, mất nhiều thời gian, mà cung cách nhồi nhét phổ biến trong nhà trường hiện nay chỉ làm công việc ấy trở thành một chuỗi các hành vi bị động, thiếu hứng thú và ít sáng tạo ở phần đông chủ thể tiếp nhận, trong khi đó phải là một quá trình tự nhiên và tự nguyện được nhất hóa vào hoạt động sống của từng cá nhân. Cho nên phải nhìn nhận từ một góc độ khác, hành động theo một cách thức khác.

Là một giá trị văn hóa phi vật thể, ngôn ngữ là một không gian xã hội mang nhiều yếu tố di sản mà mọi người đều phải hội nhập vào, đồng thời là một thực tại xã hội mang nhiều yếu tố đương đại mà mọi người đều tham gia kiến tạo. Dưới mắt người bình thường, thực tại đời sống hằng ngày thường được xem như tồn tại độc lập với ý muốn của mỗi người. Nhưng dưới cái nhìn xã hội học, thực tại ấy không phải là một thứ thực tại tự nó và không hề tồn tại tách rời khỏi cuộc đời của từng con người cá thể mà là một sản phẩm, một công trình được tạo lập bởi đời sống xã hội và trong đời sống xã hội. Nói cách khác, thực tại mà mỗi người chứng kiến và trải nghiệm trong đời sống hằng ngày chính là thực tại được kiến tạo về mặt xã hội.

Tuy nhiên nhiều khi những con người cá nhân trong đời sống thường nhật không nhận ra thực tại ấy là “công trình của mình” nữa. Nói cách khác, con người có khả năng sản xuất ra một thực tại sẽ phủ nhận chính họ (Peter L. Berger và Thomas Luckmann, Sự kiến tạo xã hội về thực tại - Khảo luận về xã hội học nhận thức, bản dịch của nhóm Trần Hữu Quang, NXB Tri thức, Hà Nội, 2015). Nếu ứng dụng nhận định xã hội học nói trên vào việc nhìn nhận tiếng Việt, nhiều người sẽ thấy rõ cái thực tại này đã bị kiến tạo kiểu xuyên tạc tới mức nào. Phương châm, khúc chiết, tham quan bị nhiều người nói và viết thành phương trâm, khúc triết, thăm quan; hay quan ngại (chướng ngại vật), tự vẫn (tự tử bằng dao) được hiểu là lo ngại, tự thắt cổ hay uống thuốc độc v.v phổ biến trên báo đài, đã góp phần làm tiếng Việt mất đi sự trong sáng vốn có chứ chưa nói là cần có.

Cũng cần nhìn qua hệ công cụ của tiếng Việt tức chữ quốc ngữ Latin. Vì nhiều lý do, trước thời Pháp thuộc, Việt Nam về cơ bản không có hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ; một số nghiên cứu lẻ tẻ đầu tiên về tiếng Việt của những người nước ngoài như Alexandre De Rhodes, Taberd cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả sơ bộ nhằm dạy tiếng Việt cho các giáo sỹ Thiên chúa giáo phương Tây, chủ yếu để giao tiếp và truyền giáo. Sự xuất hiện của hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ dưới thời Pháp thuộc do đó đáng kể là một bước tiến trên con đường hiện đại hóa, nhưng hoàn cảnh lịch sử đương thời cũng khiến nó rơi vào tình trạng “dĩ Âu vi trung”, và việc du nhập các quan điểm ngôn ngữ học phương Tây đã đưa tới những nhìn nhận không chính xác về tiếng Việt, nhất là thông qua hệ công cụ văn tự mới tức chữ quốc ngữ Latin vốn còn nhiều khiếm khuyết.

Một khảo sát sơ bộ về các từ điển – tự điển chữ quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai dòng chính tả được gọi là dòng ngoại nhập và dòng Việt hóa, theo đó đặc trưng của các từ điển thuộc dòng chính tả ngoại nhập là xếp mục vần theo ký tự (vốn được coi là âm vị) và xếp các từ theo âm vị, ví dụ C - Ch, G - Gi, T - Th – Tr… được xếp chung một mục mặc dù là những phụ âm đầu hoàn toàn khác nhau; còn đặc trưng của các từ điển thuộc dòng chính tả Việt hóa là xếp mục vần theo âm vị và xếp các từ theo âm tiết (chẳng hạn Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh tách C và Ch, K và Kh thành những mục khác nhau). Hay một đặc trưng khác của dòng chính tả ngoại nhập là thái độ ít thân thiện, nếu không nói là thường xuyên bài xích đối với âm vị y trong mảng từ Việt Hán, và cần nhấn mạnh rằng sau tháng 4/1975 sự thắng thế của nó đã được khẳng định với hàng loạt từ điển tiếng Việt bên cạnh một số văn bản pháp qui về lối viết i/y (Xem Cao Tự Thanh, I và Y trong chính tả tiếng Việt, NXB Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2014).

Tương tự, trên các phương diện khác cũng có tình hình qui đồng tiếng Việt về mẫu số ngữ pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ châu Âu, đến nỗi một nhà ngữ học xuất sắc đã phải nhiều lần la làng “về sự khác biệt lớn lao giữa thứ tiếng Việt mà dân ta nói và viết với thứ tiếng Việt được dạy ở nhà trường theo đúng tinh thần của các sách ngữ pháp tiếng Pháp xuất bản vào những năm 1920 - 1930” (xem Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, 1999). Có thể nói sự phát triển ngôn ngữ học ở Việt Nam là một bằng chứng điển hình về khuynh hướng quốc tế hóa1, chỗ khác nhau cơ bản giữa thời Pháp thuộc và sau Cách mạng Tháng Tám chỉ là quốc tế hóa cưỡng bức và quốc tế hóa tự nguyện, nhưng chính vì tự nguyện nên nguy cơ mất gốc càng cao. Có điều chính loại học thuật không tổng kết đủ, không lý giải đúng và do đó cũng không dự báo được về tiếng Việt ấy khi đưa vào nhà trường đã thực sự là một tác nhân đưa tiếng Việt tới chỗ trở thành một vườn ươm cho những mầm mống lai căng.

Một giải pháp trong tầm tay

Thật ra sự suy thoái của tiếng Việt đã diễn ra khá ồ ạt khoảng ba mươi năm nay trong đó nổi bật là việc hiểu sai dùng sai mảng từ Việt Hán. Có điều muốn hiểu đúng dùng đúng thì phải được dạy đúng, mà cho dù được dạy đúng thì vốn liếng tiếng Việt ngay cả của người tốt nghiệp đại học cũng không đủ giúp họ tiến hành được các hoạt động ngôn ngữ - văn tự một cách thuần thục và tự nhiên. Nhà trường không thể là nơi đào luyện năng lực hoàn chỉnh và phù hợp về ngôn ngữ, vả lại ngôn ngữ là một sinh thể luôn vận động và thay đổi, nên đó là một năng lực mà người ta phải tự rèn luyện suốt đời. Cho nên có thể nghĩ tới việc cung cấp điều kiện để mọi người có thể tự học sau khi rời khỏi nhà trường, nói rõ hơn là phải xác lập một hệ thống tiếng Việt có qui chuẩn và có những cách thức phù hợp để xã hội hóa nó. Một Từ điển tiếng Việt tổng hợp online có kèm chữ Hán, chữ Nôm và nguyên ngữ của những từ nước ngoài du nhập được Việt hóa để mọi người tra cứu hay tham khảo miễn phí trong hoàn cảnh mạng internet hiện nay hoàn toàn là một việc trong tầm tay.

Về đại thể, với một từ điển có nội dung tích hợp như thế người không biết chữ Hán cũng có thể thấy rõ hai từ tham quan (quan lại tham lam) và tham quan (tham dự quan sát) có tự hình khác nhau và ít nhất cũng không lầm từ sau thành thăm quan, người không biết tiếng Hoa được giải thích xường sám là trường sam (áo vạt dài) đọc theo âm Hoa Hán giọng Quảng Đông thì sẽ không nói hay viết là sườn xám nữa. Học sinh sẽ viết là giấu diếm chứ không viết là giấu giếm nhờ hiểu sự khác biệt về âm đọc giữa d+iếm và gi+ếm, một số nhà báo cũng sẽ không tiếp tục đưa tin ai đó treo cổ hay nhảy xuống sông tự vẫn vì họ đã biết chữ vẫn có bộ đao tức cắt cổ bằng dao, hai lối tự chết kia là tự ải và tự trầm…

Những người thích tìm hiểu có thể thấy từ nghĩa trang vốn có nghĩa gốc là “điền trang làm việc nghĩa” do một số thương nhân và quan lại Trung Quốc từ thời Tống lập ra để giúp đỡ người trong tông tộc, việc nó được dùng để chỉ nơi chôn cất người chết như ở Việt Nam hiện nay chỉ mới xảy ra trong thế kỷ XX. Hay nhở trong nhắc nhở thật ra là nhớ chuyển thanh theo qui luật thanh điệu (cùng là thanh Phù), sau khi chuyển thanh vì có nét nghĩa qui ước khác với nhắc nhớ nên thành một từ mới, còn vì trong trị vì là vị chuyển thanh (cùng là thanh Trầm), trị vị là xử lý công việc trên ngôi, tức làm vua. Các từ ghép đẳng lập nửa Việt nửa Việt Hán như tôn thờ, nuôi dưỡng sẽ được lý giải, nguồn gốc của hai từ kinh tế (kinh bang tế thế) và kinh tế (economy) sẽ được giải thích rõ ràng.

Những đậm đà điệu đà mặn mà mượt mà nuột nà ruột rà rườm rà thật thà thịt thà, chớn chở nức nở phớn phở trắc trở, gọn ghẽ sạch sẽ mát mẻ mới mẻ màu mè v.v sẽ được giải thích có hệ thống chứ không phải theo những phát kiến riêng lẻ bá láp, quan hệ ngữ âm giữa các cặp từ Việt Hán và Việt hóa loại phàm - buồm, phi - bay, phòng - buồng, phố - búa, phủ - búa, phụ - bố sẽ cho thấy búa trong chợ búa hoàn toàn không phải là bến trong câu Trên bến dưới thuyền… Hẳn hoi, thẩn thơ, vơ vẩn, ngơ ngẩn có quan hệ thế nào với hẳn hòi, thẩn thờ, vớ vẩn, ngớ ngẩn, quá trình biến đổi từ tha thiết tới se sắt, da diết, ra rít sẽ được trình bày mạch lạc.

Thứ tự các phụ âm đầu trong từ điển sẽ được sắp xếp ăn khớp với âm vị và âm tiết của tiếng Việt, ví dụ C và K, G và Gh phải dồn lại làm một; Ch, Kh và Gi phải tách riêng v.v.

Khoảng mươi nhà nghiên cứu và kỹ thuật viên lập trình có năng lực và kinh nghiệm biên soạn một từ điển như thế nhiều lắm cũng chỉ mất trên dưới bốn năm, so với một biên chế tương tự dạy tiếng Việt và chữ Hán trong trường đại học không mất nhiều thời gian hơn nhưng hiệu quả xã hội trên phương diện phổ biến tiếng Việt đúng qui chuẩn chắc chắn cao hơn. Tất nhiên việc sửa chữa và bổ sung định kỳ trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu mới và sự góp ý của dư luận phải được tiến hành, nhưng cho dù mỗi lần phải sửa chữa thêm bớt tới 10 - 15 % thì chi phí cũng không đáng kể vì không phải in ấn.

Một từ điển kết hợp nhiều lối giải thích như giải thích từ vựng (ý nghĩa từ), giải thích từ nguyên (nguồn gốc từ), giải thích từ pháp (cách tạo từ) như vậy nếu được thực hiện nghiêm túc và có phương pháp không chỉ có tác dụng trong việc dạy từ Việt Hán mà còn ít nhiều giống như tổng kết từ vựng tiếng Việt trước nay trong hoàn cảnh mới, sẽ có tác dụng lâu dài và chắc chắn tới việc tự học tiếng Việt của nhiều cá nhân trong nhiều năm.
***
Nhìn từ góc độ xã hội hóa cá nhân, ngôn ngữ là một không gian xã hội mà mọi người đều phải nhập thân vào, một số người do nghề nghiệp còn phải thực hiện quá trình cá thể hóa nhưng ai cũng phải thực hiện quá trình tiêu chuẩn hóa. Cho nên khi chưa có một hệ thống ngôn ngữ được chuẩn hóa trước hết về từ vựng và chính tả thì quá trình ấy vẫn còn thiếu điều kiện để có thể được thực hiện ở tất cả các cá nhân và nhóm xã hội. Việc giáo dục trong nhà trường là một trong những cách xã hội hóa tiếng Việt chứ không phải là cách duy nhất, tóm lại giao trọn một nhiệm vụ to tát như thế cho những người vốn không thể thực hiện nó thì bất kể thế nào cũng không phải là một hành động khôn ngoan.

Khác với tiến trình quốc tế hóa, tiến trình hiện đại hóa luôn đòi hỏi kiểm điểm lại tất cả những nguồn lực truyền thống, nhìn nhận lại toàn bộ những kinh nghiệm quá khứ, trên cơ sở ấy cụ thể hóa truyền thống thành những bài học mới, những giá trị sống trong sinh hoạt thường nhật của mọi tầng lớp xã hội trên phạm vi toàn quốc gia. Đó chính là xuất phát điểm để nhìn nhận và thực hiện việc dạy tiếng Việt trong đó có mảng từ Việt Hán hiện nay. Dĩ nhiên không thể đòi hỏi một người bình thường có kiến thức, nhận thức và ý thức về các vấn đề ngôn ngữ nói chung hay tiếng Việt nói riêng như các nhà nghiên cứu, nhưng nếu được học một cách đúng hướng và đúng cách thì ai cũng có thể có một tâm thức ngôn ngữ lành mạnh phát huy được tác dụng tích cực trong các hoạt động ngôn ngữ - văn tự, và đó chính là nền tảng văn hóa - xã hội bền vững cho sự phát triển của tiếng Việt ngay cả trên những khúc quanh hiểm nghèo sẽ xuất hiện trong tương lai.

Cao Tự Thanh 

-----------------
1 Hai khái niệm quốc tế hóa và hiện đại hóa dùng trong bài viết này dĩ nhiên còn cần có sự thảo luận, song chúng tôi quan niệm hiện đại hóa cơ bản là sự thay đổi các tổ chức, thiết chế, quan hệ trong cấu trúc kinh tế – xã hội theo hướng hoàn thiện hơn để phù hợp với nhu cầu và xu thế trước hết của các hoạt động sản xuất cả vật chất lẫn tinh thần trong quốc gia, còn quốc tế hóa chủ yếu là sự tiếp thu các mô hình, chuẩn mực, giá trị nước ngoài trên phạm vi rộng và với quy mô lớn để thích ứng trước hết với sự giao dịch thế giới. Xem thêm Cao Tự Thanh, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ, NXB Văn hóa Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2012, tr. 46.