Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2019

148-MẾU LÀM CHI


DẠY THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC


DẠY THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Thành ngữ, tục ngữ thuộc bộ phận “ngữ cố định”, cũng là những đơn vị từ vựng tương đương như từ, cùng với “từ” góp phần tạo nên vốn “từ ngữ” của dân tộc.

Mới đây, trên một trang báo điện tử [*] có đăng bài “Siêu phẩm sáng tạo khi học sinh cấp 1 điền thành ngữ khiến cô giáo 'đứng hình'”, đưa ra nhận xét hài hước, hóm hỉnh về một số bài làm của học sinh tiểu học điền từ còn thiếu để “hoàn chỉnh thành ngữ”. 

Bằng một giọng văn dí dỏm, tác giả hào hứng giới thiệu một số bài làm sai, gọi là “"tuyệt tác" thành ngữ được học sinh tiểu học sáng tạo ra”, rồi nhận xét “"trình" văn học hài hước của học sinh đã được một lớp tiểu học nâng lên tầm cao mới với bài tập "điền hoàn chỉnh thành ngữ".

Với sự thật thà, ngây ngô và vốn hiểu biết không quá nhiều về các câu thành ngữ, tục ngữ và đôi khi là cả sự... liếc nhẹ bài nhau, các học sinh này đã cho ra đời những câu thành ngữ để đời như "Ruột để ngoài tai", "Môi hở mồm nói", "giấy rách phải giữ lấy để viết"... khiến cộng đồng mạng không thể nhịn cười.”; “"cây ngay không sợ bóng", "chân yếu đi chậm",...có lẽ là những câu thành ngữ cực phẩm mà chỉ những học sinh tiểu học ngây thơ nhưng cũng "nhất quỷ nhì ma" mới nghĩ ra được.”



Các "tuyệt tác" thành ngữ được học sinh tiểu học sáng tạo ra (Ảnh: Infonet)

Tra cứu chương trình Tiếng Việt tiểu học, chúng ta biết bài tập này thuộc chương trình Tiếng Việt 4, bài “Ôn tập giữa học kỳ 1”, với nội dung “Ôn tập về thành ngữ – tục ngữ – Bồi dưỡng Tiếng Việt lớp 4”.

Một trong những mục tiêu của bài ôn tập là nhằm củng cố lại kiến thức về thành ngữ, tục ngữ, kiểm tra trí nhớ của học sinh về các câu tục ngữ, thành ngữ đã học từ đầu năm học đến nay, phân loại các câu theo từng chủ điểm và nắm chắc lại nội dung, ý nghĩa các tục ngữ, thành ngữ đó.

Cụ thể, ví dụ như câu “Môi hở răng lạnh” thuộc chủ điểm “nhân hậu” Thương người như thể thương thân, câu “Ước của trái mùa” thuộc chủ điểm “ước mơ” Trên đôi cánh ước mơ, còn chủ điểm “trung thực” măng mọc thẳng có các câu về tính trung thực “Thẳng như ruột ngựa”, “Cây ngay không sợ chết đứng”, giáo dục lòng tự trọng qua câu “Giấy rách phải giữ lấy lề”, v.v.

Các câu thành ngữ trên gồm nhiều loại như thành ngữ đối xứng 4 âm tiết: môi hở - răng lạnh, chân yếu tay mềm; thành ngữ từ 3 âm tiết trở lên không đối xứng: thật như đếm, ruột để ngoài da, ước của trái mùa, thẳng như ruột ngựa, cây ngay không sợ chết đứng, giấy rách phải giữ lấy lề,... là những đơn vị từ vựng các em đã được học qua các bài mở rộng vốn từ tiếng Việt từ đầu năm học đến thời điểm đó.

Yêu cầu của bài ôn tập đặt ra khá cao: “học sinh nhắc lại các câu thành ngữ và tục ngữ, đồng thời giải nghĩa các câu đó”, “học sinh nhớ lại và nêu được các câu tục ngữ - thành ngữ đã học - yêu cầu học sinh nêu được các câu đó khuyên chúng ta điều gì? chê chúng ta điều gì?”.

Trong lúc đó, yêu cầu của bài tập (được dẫn ra trong bài báo) đã được hạ thấp bớt đi khá nhiều, chỉ yêu cầu các em điền từ còn thiếu vào chỗ trống để “hoàn chỉnh các thành ngữ và đặt câu với một thành ngữ đã hoàn chỉnh”.

Thế nhưng các bài làm “khiến cộng đồng mạng không thể nhịn cười” ấy đã không đạt được yêu cầu bài làm đặt ra – dù đã được hạ thấp như trên.

Qua các bài làm trên, có thể thấy nhiều em không nhớ chút gì về các thành ngữ đã học trước đó khi tái hiện lại kiến thức để điền từ vào chỗ trống, hoàn chỉnh các thành ngữ, mà tùy tiện điền vào chỗ khuyết những từ ngữ mà các em suy luận nhận thấy hợp logic mà thôi, như “thẳng như thước”, “ruột để tiêu hóa”, “môi hở hàm ếch”, “chân yếu sẽ không đi được”, “cây ngay không sợ gió to”, “giấy rách phải giữ lấy sách”, v.v.

Các câu trả lời trên tuy có phù hợp với logic thực tiễn, nhưng lại sai vì chưa đáp ứng được yêu cầu của bài tập “hoàn chỉnh thành ngữ”. 

Qua kết quả các bài làm trên của học sinh lớp 4, từ góc nhìn của người dạy học, có lẽ không mấy thầy cô thấy vui vẻ, hài hước, “không nhịn được cười”.

Điều làm cho chúng ta phải suy ngẫm, day dứt trước kết quả này là nguyên nhân nào khiến các em lại làm bài chưa đúng với yêu cầu như vậy? 

Chúng tôi không đồng tình với nhận xét của bài báo đã nêu trên: các câu trả lời của các em “là những câu thành ngữ cực phẩm mà chỉ những học sinh tiểu học ngây thơ nhưng cũng “nhất quỷ nhì ma” mới nghĩ ra được”, nghĩa là do học sinh ngây thơ và nghịch ngợm nên đã cố tình có chủ ý trả lời trong bài làm như vậy (!?).

Theo chúng tôi, nguyên nhân chủ yếu là do học sinh chưa được khắc sâu kiến thức lúc học bài mới trước đó, nên học trước quên sau, đến khi làm bài thì không thể nhớ lại các câu thành ngữ đã học để điền từ còn thiếu.

Cạnh đó, những kiến thức chung cơ bản về đặc trưng của đơn vị từ vựng thành ngữ, tục ngữ chưa được cung cấp cặn kẽ cho học sinh, mà chỉ ở dạng sơ lược, nên các em chỉ có thể học thuộc lòng từng câu thành ngữ một cách máy móc, thậm chí chưa kịp hiểu nội dung ý nghĩa của thành ngữ, nên hầu như đa phần các em không thể vận dụng kiến thức để “đặt câu với thành ngữ” như yêu cầu đặt ra trong đề bài, tạo nên những câu ngô nghê, vô nghĩa: “Một bạn học sinh lớp em để cô giáo nhắc nhở ruột để ngoài tai.”, “Em rất thật thà”...

Cuối cùng, thành ngữ, tục ngữ thuộc bộ phận “ngữ cố định”, cũng là những đơn vị từ vựng tương đương như từ, cùng với “từ” góp phần tạo nên vốn “từ ngữ” của dân tộc.

Tuy nhiên, hình thức cấu tạo (số lượng âm tiết, cấu trúc nội tại) và nội dung ngữ nghĩa của “ngữ cố định” có phần phức tạp hơn từ đơn, từ phức, nên việc cung cấp kiến thức về “ngữ cố định” cho học sinh tiểu học trong kiểu loại bài “Mở rộng vốn từ theo chủ đề” cần nghiên cứu, xem xét thấu đáo, sao cho không quá sức, phù hợp đặc điểm tâm lý tiếp nhận của lứa tuổi các em. 

Tất cả những suy ngẫm trên, xin được gửi đến các nhà soạn sách giáo khoa và chương trình mới - sắp được thực hiện từ năm học 2020-2021 - với mong muốn chương trình và sách giáo khoa mới sẽ phù hợp với đối tượng học sinh, đảm bảo tính vừa sức và ngày càng được hoàn thiện hơn.

Đỗ Thành Dương
Chú thích:
[*] //infonet.vn/sieu-pham-sang-tao-khi-hoc-sinh-cap-1-dien-thanh-ngu-khien-co-giao-dung-hinh-post316454.info,(12/10/2019)


90-HIỆP CẨN MÙA VUI


90
HIỆP CẨN MÙA VUI
[Ngũ độ]

Cau trầu ướm ngõ rạng bình minh
Phối ngẫu mầm yêu thỏa nguyện bình
Rạng rỡ loan phòng bay bổng thịnh
Êm đềm trướng rủ ngọt ngào xinh
Từng đêm biếc mộng hoài giăng đỉnh
Nửa giấc huyền mơ đọng giữa tình
Nguyệt Lão êm đềm luôn thỏa tính
Cho giờ ái cảm mãi huyền linh

Cho giờ ái cảm mãi huyền linh
Khiến cõi lòng yêu rộn cả tình
Vũ khúc tơ hồng lâng phả lịm
Ân nguyền hạnh phúc mãn ngời xinh
Cầu mong nẻo nguyện hoài mơ vĩnh
Ước trỗi mùa duyên được tỏa bình
Trọn nghĩa trăng thề ngan ngát thỉnh
Cau trầu ướm ngõ rạng bình minh

HANSY
*
HỢP CẨN

Rạng rỡ môi cười toả ánh minh
Nồng say hạnh phúc tuổi an bình
Yêu kiều lộng lẫy nành dâu chính
Lịch lãm ân cần chú rể xinh
Ngõ xóm tưng bừng vui tuyệt đỉnh
Bà con khấp khởi thật ân tình
Trời xe chỉ thắm duyên tiền định
Đức Phật cho đời đã hiển linh

Đức Phật cho đời đã hiển linh
Vừa đôi phải lứa hẹn trao tình
Trầu cau chuẩn bị mâm tròn trĩnh
Nhẫn xuyến đeo vào cổ đẹp xinh
Khẽ động rèm hoa người bướng bỉnh
Hờ che rặng trúc cảnh thanh bình
Chim về tổ ấm đàn ngâm vịnh
Rạng rỡ môi cười toả ánh minh

Minh Hien

VÔ CÙNG


VÔ CÙNG

Giữ thuỷ chung
Người yêu nhé
Gìn mơ trẻ
Thắm muôn trùng.

Ngọt ngào bung
Ngàn thương hé
Lời khe khẽ
Ấm tao phùng.

Trái tim rung
Nồng môi nhé
Về êm nhẹ
Giữa thơm bùng.

Diễm tuyệt cung
Ngời muôn vẻ
Hương từ bé
Đắm vô cùng…

HANSY

LỒNG LỘNG QUỲNH HƯƠNG

LỒNG LỘNG QUỲNH HƯƠNG
[Thuận Nghịch độc]

Hương quỳnh đẫm tỏa dậy niềm mơ
Mộng réo hồn khuya giữa lặng lờ
Hường đắm cõi yêu choàng ánh nguyệt
Đượm bừng khúc ái lịm tằm tơ
Thương dằng dặc bủa chăn hoài đợi
Nhớ ngạt ngào lâng gối mãi chờ
Sương thoảng níu về thơ thẩn ý
Vương lồng lộng nẻo ngát huyền thơ

Thơ huyền ngát nẻo lộng lồng vương
Ý thẩn thơ về níu thoảng sương
Chờ mãi gối lâng ngào ngạt nhớ
Đợi hoài chăn bủa dặc dằng thương
Tơ tằm lịm ái khúc bừng đượm
Nguyệt ánh choàng yêu cõi đắm hường
Lờ lặng giữa khuya hồn réo mộng
Mơ niềm dậy tỏa đẫm quỳnh hương

HANSY

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2019

147-PHAI PHÔI


Giai thoại NGUYỄN HIỀN



Giai thoại
NGUYỄN HIỀN

Theo Việt Nam văn hóa sử cương của nhà sử học Đào Duy Anh, năm 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều đình mở khoa thi đầu tiên nhằm chọn hiền tài phục vụ đất nước.

Năm 1247, nhà Trần đặt ra tam khôi - Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Chính trong năm này, thần đồng nhỏ tuổi Nguyễn Hiền thi đỗ trạng nguyên và được vua Trần Thái Tông phong là "Khai quốc Trạng Nguyên" - vị trạng nguyên đầu tiên ở nước ta, theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên.

Nguyễn Hiền sinh năm 1234 (một số tài liệu ghi là 1235) ở làng Dương An, huyện Thượng Hiền (nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Trực), tỉnh Nam Định.

Ông mồ côi cha từ bé và được mẹ cho theo học sư thầy trong làng. Cậu bé Nguyễn Hiền sớm thể hiện tư chất vượt trội, học tập rất nhanh. 11 tuổi, Hiền đã nổi tiếng và được mệnh danh thần đồng.

Năm 1247, triều đình mở khoa thi. Nguyễn Hiền, lúc đó mới 13 tuổi, khăn gói lên kinh, dự kỳ thi đình với bài phú "Áp tử từ kê mẫu du hồ phú". Trí tuệ tinh thông giúp ông đạt danh hiệu trạng nguyên - vị trí cao nhất trong tam khôi.

Khi vào cung diện kiến nhà vua, vua Trần Thái Tông rất thán phục khả năng ứng đối trôi chảy của trạng nguyên nhỏ tuổi, bèn hỏi ông học thầy nào.

Khi nghe Nguyễn Hiền kể ông chỉ tự học, chỗ nào không hiểu thì hỏi sư thầy, vua cho rằng, trạng có tài nhưng còn nhỏ tuổi, chưa hiểu hết lễ nghĩa và phán: "Trạng nguyên niên ấu vị tri lễ hứa hồi gia học lễ đãi tam niên nhi hậu dụng".

Vì thế, mặc dù đỗ cao, Nguyễn Hiền chưa được phong chức quan hay mũ áo. Ông trở về quê, tiếp tục đọc sách. 

Trên thực tế, sử sách viết về Nguyễn Hiền không nhiều, đa phần là những giai thoại truyền miệng, trong đó, nổi tiếng nhất là câu chuyện ông nặn voi biết đi và câu trả lời về cách xâu chỉ qua ốc.

Trong cuốn Kho tàng về các ông trạng Việt Nam, giáo sư Vũ Ngọc Khánh viết về hai giai thoại trên.

Tương truyền, sau khi về quê, ngoài việc phụng dưỡng mẹ và đọc sách, cậu bé Nguyễn Hiền vẫn thường xuyên chơi đùa cùng các bạn. Có lần sứ giả nước khác sang thăm, thách đố vua quan nhà Trần xâu chỉ qua con ốc. Triều đình bó tay. Lúc đó, vua mới nhớ đến trạng Nguyễn Hiền, sai người đến hỏi ý kiến.

Viên quan được giao việc đến quê trạng gặp ngay một lũ trẻ chăn trâu đang nghịch đất ngoài làng. Trong đó, một đứa bé mặt mũi khôi ngô chỉ huy nhóm bạn nặn voi từ đất. Kỳ lạ là con voi đó có thể đi, hỏi ra mới biết, họ dùng cua làm mình voi và lấy đỉa làm vòi nên con voi có thể di chuyển.

Viên quan đoán đây là trạng Nguyễn Hiền nhưng vẫn ra vế đố để thử tài: "Tự là chữ, cắt giằng đầu, chữ tử là con, con ai con ấy?".

Trạng nhanh chóng ứng đối: "Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này!".

Biết chắc đây là người cần tìm, viên quan xuống, truyền lại ý chỉ vua muốn mời Nguyễn Hiền về kinh nhưng trạng không chịu vì cho rằng, vua làm vậy cũng không đúng lễ.

Quan đành thuật lại câu đố của sứ giả nước ngoài, Nguyễn Hiền xui bọn trẻ hát:

"Tích tịch tình tang
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thì lấy giấy mà bưng
Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang".

Quan nghe xong, biết đây là câu trả lời triều đình cần liền vội vã về kinh.

Hai giai thoại này cho thấy sự thông minh, lanh lợi của Nguyễn Hiền.

Sau này, Nguyễn Hiền vào triều làm quan. Theo cuốn Danh nhân văn hóa Nam Định, sử sách không ghi lại được quá trình làm quan cùng những công trạng của ông khi giữ trọng trách trong triều đình. Ông cũng không sáng tác thơ văn hoặc có sáng tác nhưng đã thất truyền.

Theo một số ghi chép, có thể Nguyễn Hiền làm đến chức Thượng thư Bộ Công và từng cho đắp đê quai vạc sông Hồng.

Năm 1255 (một số tài liệu ghi là 1256, 1257), Nguyễn Hiền lâm bệnh nặng, qua đời. Nhà vua thương tiếc truy phong ông là "Đại vương thành hoàng" và tôn làm thần ở 32 nơi.

Cuộc đời ngắn ngủi của vị Khai quốc trạng nguyên được tóm gọn trong cuốn Ngọc phả được bảo tồn tại đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông. 

"Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc
Vạn niên thiên tuế lập tam tài".

Hai câu thơ trên phần nào khái quát được tài năng lỗi lạc của ông "trạng non" - trạng nguyên đầu tiên và nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa cử nước ta.

Nguyễn Sương

Đình thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở Nam Định. Ảnh: Wikimapia.

89-HY VỌNG ĐƠM ĐẦY


89
HY VỌNG ĐƠM ĐẦY

Triền miên hạnh phúc phả môi cười
Chớ để tim lòng chuốc lãng vơi
Hãy lộng nguyền ân dào dạt tới
Và lâng ái cảm ngát ngan vời
Bình an rộn rã loang tình cội
Khát vọng lan tràn kín dạ tôi
Khúc nhạc nghê thường trên lẫn dưới
Niềm hoan quấn quyện giữa hai người

Niềm hoan quấn quyện giữa hai người
Lạc cảnh êm đềm cuộc sống tôi
Vẫn biếc mầm thương dù mãi đợi
Và thơm khúc ái mặc xa vời
Ân cần phím mộng hoài vun xới
Rạng rỡ cung tình khó thể vơi
Hiệp cẩn trầu cau nồng rượu cưới
Triền miên hạnh phúc phả môi cười

HANSY
*
YÊU NGƯỜI MÃI

Hoài yêu chỉ một trái tim người
Quạnh quẽ bao mùa bóng lẻ tôi
Mãn hạ sương dầy mưa rả rích
Tàn đông gió lạnh quãng xa vời
Niềm mơ mỗi lúc càng thêm vợi
Nỗi nhớ trong lòng lại chẳng vơi
Gửi những u sầu nơi giấc mộng
Ngày qua tháng lại nở môi cười

Ngày qua tháng lại nở môi cười
Tưởng vết thương lành lệ sẽ vơi
Mỗi buổi dương tà chân cứ đợi
Từng đêm nguyệt tỏ tiếng ai vời
Hồn vay thuở trước mê cùng họ
Xác mượn bây giờ ngẫm của tôi
Mãi luyến lưu ngày xưa kỷ niệm
Hoài yêu chỉ một trái tim người!

Minh Hien

RÓT NỮA ĐI EM



RÓT NỮA ĐI EM

Rót đi em, giục say giấc Nghê thường
Cho ngất ngưởng quên sương đời đen bạc
Sự nghiệp, công danh, cuối cùng mục nát
Nhớ làm gì cho nhạt cả hồn thơ...

Đời chỉ còn một chút vọng tình mơ
Xin cất giữ trong tơ lòng kỷ niệm
Một mai lỡ ta không còn quấn quyện
Đỡ xót hồn khi nghĩ đến chiều nao...

Rượu – Em – Ta, chung một áng mơ đào
Rong chơi ngọt ngào giữa đời phiêu lãng
Có biển rộng, trời cao, tình lãng đãng
Say men lòng, uống cạn, ngọt mềm môi...

Em và Ta, thi tửu, khúc giao lời
Chếnh choáng bờ say, cháy hồn cảm nhớ
Rượu đừng vơi, tình mãi đầy rạng rỡ
Ta say rồi, du giấc mộng trường miên...


HANSY

VƯỜN CẤM ĐỊA ĐÀNG

VƯỜN CẤM ĐỊA ĐÀNG
[Tập Quả]

Quả Cam ngọt xớt lịm ngôn lời
Quả Vãi tung hoành khắp biển khơi
Quả Táo làm cho lòng mát rợi
Quả Thơm phải khiến dạ lâng ngời
Quả Dâu lãng đãng hoài ngâm ngợi
Quả Khế êm đềm dẫu lả lơi
Quả Chuối muôn ngày luôn phấn khởi
Quả Chanh nhỏ nhắn diệu mơ đời

Quả Cóc làm đau rát cuộc đời
Quả Bầu vác nặng chẳng hề lơi
Quả Nho vạn thuở niềm sang chới
Quả Lựu ngàn năm vốn rạng ngời
Quả Bưởi êm đềm vui nhiệt đới
Quả Bòng giản dị lướt trùng khơi
Quả Lê dáng chảnh hằng mong đợi
Quả Đắng thì thôi đẫm tiếng lời

HANSY

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2019

146-VẤT VƠ


TAI BAY VẠ GIÓ TỪ NHỮNG THƯỚC PHIM TƯ LIỆU


TAI BAY VẠ GIÓ
TỪ NHỮNG THƯỚC PHIM TƯ LIỆU

CHUYỆN CŨ

Nhớ ra rồi! Năm 1993 Liên hoan Phim truyền hình toàn quốc diễn ra tại TP Đà Lạt. Đoàn truyền hình Cao bằng do Giám đốc Đài Phát thanh- truyền hình tỉnh này, Chu Sỹ Liên dẫn đầu, tham dự Liên hoan với một bộ phim phóng sự hết sức lý thú..

Nhưng khoan, trước khi kể về Giám đốc Chu Sỹ Liên và bộ phim phóng sự của Cao Bằng, xin được nhắc lại đôi điều về bức tranh chung của báo viết, báo hình những năm ấy. Dạo đó, chưa hề có VTV1, VTV2, VTV3 và hàng chục thứ VTV “ăn theo” như bây giờ. Truyền hình Việt Nam thuộc triều đại Tổng giám đốc Phạm Khắc Lãm nên còn “hắc xì dầu”, còn “đuya” lắm! Và... khô quèo, sống sít, đầy tính minh họa chủ trương chính sách, chứ không hề mát mẻ, phô bày và nhiều chuyện mua bán, rao mời như bây giờ.

Lại cũng cần nói ngay điều này, vào đầu những năm 1990, được hưởng làm gió dân chủ, cởi mở, báo viết (Lao Động, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ TP.HCM…) dũng mãnh, xông sáo, tả đột hữu xung phanh phui hiện thực xã hội hệt như Triệu Tử Long, lấy việc lớn tiếng bênh vực bênh vực dân chủ, cởi mở; bênh vực người nghèo làm sức sống của trang báo. Chứ không xìu xìu, ển ển; cứ chạt con chữ cho đầy các trang báo mà hưởng lộc, hưởng lương; lờ tít những búc xúc, những khổ đau có thật của nhân quần như với nhiều tờ báo bây giờ. So với sức mạnh lan tỏa và sức cuốn hút bạn đọc của báo viết, những năm tháng ấy truyền hình vẫn là lão già lụ khụ, khư khư ôm lấy vài tín điều cũ rích, luôn luôn cao giọng mà không biết rằng thiên hạ đâu có nghe…

Trở lại chuyện về bộ phim dự thi của Cao Bằng và ông Giám đốc họ Chu.

Với mảng phim Phóng sự- tài liệu tham dự Liên hoan, thú thật cánh báo chí chúng tôi không gửi gắm hy vọng nhiều với phim dự thi của Cao bằng. Bởi lẽ, truyền hình Cao bằng dù sao cũng thuộc “đội chân đất”, thậm chí là “ đội bóng phố huyện ” nếu so với truyền hình Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang,TP Hồ Chí Minh. Chưa kể với Truyền hình Việt Nam. Phim Cao Bằng ít ai kỳ vọng, nhưng ông Giám đốc Phát thanh- truyền hình Cao Bằng, Chu Sỹ Liên lại rất gây được thiện cảm của cánh báo chí, đặc biệt là chị em phóng viên nữ.

Chu Sỹ Liên thuộc dân tộc Tày. Dạo đó (1993) anh còn trẻ, đâu đó trong ngoài 40, tầm thước, rất đẹp trai, nói tiếng Kinh dịu dàng, êm ái và giao đãi lịch thiệp, tế nhị, hệt như một chàng trai Hà Nội. Trước khi bộ phim phóng sự của Cao Bằng được công chiếu, Chu Sỹ Liên cứ thanh minh với chúng tôi, các anh phát hiện sự việc quá muộn, triển khai quay vội vã, cập rập; quay bằng một máy, băng ghi hình cũng không phải là băng mới… Chúng tôi xúm vào an ủi Liên, đừng lo, đừng lo. Tiêu chí chấm điểm của phim phóng sự -tài liệu là sắc sảo, chạm được vào những vấn đề “ nóng ” của cuộc sống, kỹ thuật xếp xuống hàng ba, bốn. Hơn nữa, các ông mãi từ Cao Bằng tít tắp xa mang phim vào tận Đà lạt tham dự Liên hoan là tuyệt cú mèo rồi.

Phim Cao Bằng được công chiếu trước Ban Giám khảo và giới báo chí. Quả là phim nhiều điểm yếu: khuôn hình chưa ngay ngắn, hình chưa nét, chất lượng băng xấu… Ấy thế nhưng ngay từ phút thứ nhất, chúng tôi đã nín thở theo dõi diễn tiến trên màn ảnh và linh cảm thấy đây đúng là một thiên phóng sự..” thứ thiệt ”. Phim kể lại, một cơ quan Liên Hiệp Quốc nào đó nẩy sinh ý định trợ giúp bà con dân tộc quá nghèo khó ở các bản làng xa xôi. Phim không nói rõ, mỗi xuất trợ giúp cho mỗi hộ là bao nhiêu? Chỉ biết cái ban phân phối ở tỉnh, ở huyện tuyên bố mỗi hộ được 50 dollar Mỹ.

Và đây, ống kính bám sát xem họ phát cho các hộ nghèo miền núi những thứ gì để hết 50 dollar đó. Đặc tả: những tấm lưới bắt cá chuột cắn thủng lỗ chỗ; những nắm hạt giống bị mối mọt, rung rung nhúm hạt giống trên tay, những con mọt rơi lả tả nom như mưa bụi. Đặc tả: những lưỡi cuốc cùn vẹt, những con dao mẻ lưỡi. Đây nữa, đặc tả: những chú gà đứng run rẩy trên đôi chân khẳng khiu, phía sau đít lòng thòng những con sán dài cả đốt tay… Không có lời bình. Phim ghi trực tiếp lời các thân chủ được nhận hàng phân phối. Các ông ké, bà má Tày không cao giọng oán trách, không biết mỉa mai mà cứ thủng thà thủng thẳng, mộc mạc theo kiểu bà con dân tộc Tày: “… Mình bảo, mình không nhận cái lưới này đâu. Con cá chui vào đây cho vui, con cá sẽ chui ra thôi ”. “ Nắm hạt này gieo không ra cây, vì con sâu làm tổ trong cái hạt rồi ! ”. “ Mấy con gà này đem trả về nơi phân phối, hỏi xem cán bộ có dám làm thịt uống rượu không? ”..v..v.. Trong khán phòng tiếng vỗ tay nổi lên rào rào. Tôi còn nhớ rõ, có một phóng viên nữ nói như thét lên: “ Mất dậy đến thế là cùng! “…

Phim vừa hết, đám phóng viên báo chí đều nhao nhao, gián tiếp “chỉ đạo” Ban Giám khảo: “ Cao Bằng xứng đáng với giải vàng ”. “ Phóng sự mang đầy tính chiến đấu như thế mới là phóng sự ”. “ Mấy chục phóng sự, không cái nào vượt Cao bằng về tính trung thực và tính chiến đầu ”… Và phân công nhau theo dõi xem ý tứ Ban Giám khảo đối với phim của Cao Bằng ra sao?

Tin thu được, Ban Giám khảo đã dự kiến danh sách Vàng, Bạc. Nghe đâu phóng sự của Cao bằng bị ra dìa vì… những lỗi kỹ thuật ! “ Các vị quan chức ấy thì biết đếch gì nghệ thuật, với kỹ thuật ! “, " Chắc sợ phim gai góc đây!”. “ Các vị rét rồi ! ”… Cánh phóng viên hỏi tôi có thân quen quan chức nào trong Ban chỉ đạo Liên Hoan không. “ Để đi cửa sau mà cứu Cao Bằng ”.

Tôi điểm từng gương mặt và chợt nhớ ra một “ đàn anh ”- anh Thắng, trước kia là phóng viên báo Quân đội nhân dân, chuyển ngành, nghe nói bây giờ là chuyên viên bậc cao của Bộ Văn hóa, chuyên theo dõi truyền hình. Còn nhớ, anh Thắng là một phóng viên chiến trường xông xáo, trung thực, giản dị. Chúng tôi đã từng ngủ chung hầm, ăn chung mâm tại Ban Chỉ huy khu đội Vĩnh Linh; đã cùng chui nhủi hầm bí mật khi bị mắc kẹt tại chân đồi 31, huyện Gio Linh, vào những ngày Mỹ mở trận càn ra tận bờ Nam sông Bến hải.

Tôi tìm tới trò chuyện với anhThắng. Anh nói thật, quả là phim mạnh, gây ấn tượng; nhưng không thể tung hô được vì Ban chỉ đạo cho rằng bộ phim ấy bôi đen xã hội. Tôi hỏi ngược lại anh: Phim đâu có bôi đen xã hội? Chính bọn chó má bòn rút từ đồng tiền của người nghèo mới đích thị là những kẻ bôi đen xã hội chứ ! Không vạch mặt chúng, tệ nạn ấy cứ hoành hành, thử hỏi xã hội rồi đây sẽ mang màu gì? ..v..v.. Thấy ông chuyên viên im lặng, được thể tôi gợi lại những kỷ niệm người dân đã đùm bọc chở che chúng tôi thời chiến tranh như thế nào; chúng tôi đã từng là những người lính từ dân mà ra, vì dân mà chiến đấu ra sao…Ông chuyên viên phải hợp sức tố cáo bọn tham nhũng, bảo vệ dân chứ !

Gần nửa tiếng trôi qua, sau rốt, anh Thắng vỗ vai tôi: “ Mình sẽ cố gắng thuyết phục các vị còn lại. Nhưng cánh báo chí các ông phải tìm cách gây hậu thuẫn cho mình nhé ! ”

Chúng tôi hội ý chớp nhoáng và ngay trước bữa cơm chiều, liền xúm tới công kênh Giám đốc Chu Sỹ Liên đi vòng vòng quanh khu nhà Ban chỉ đạo và Ban Giám khảo ở. Vừa đi, vừa hò reo: “Cao Bằng giải Vàng!”, “ Cao Bằng giải Vàng! ”. “Hoan hô Cao Bằng dám nói thẳng, nói thật ! ”…
Vâng, tại Liên hoan Phim truyền hình Đà Lạt năm 1993, thiên phóng sự của Đài Phát thanh –Truyền hình tỉnh Cao Bằng vạch trần thói “cướp cơm chim ” của người nghèo đã nhận được Giải Vàng duy nhất ở mảng phim Phóng sự- tài liệu truyền hình.

Anh em báo chí chúng tôi hân hoan chia tay Đoàn Phát thanh- truyền hình Cao Bằng, chúc mừng Giám đốc Chu Sỹ Liên. Bởi lẽ chính thiên phóng sự của truyền hình Cao bằng đã chứng tỏ “chân đất không hề thua chân giày”, nếu người làm phim có tấm lòng và có ánh mắt tinh tường, nhậy cảm. Bởi lẽ, khi sự thật được phanh phui, phản ánh trung thực chính đấy là sức mạnh của thể loại Phóng sự- tài liệu nói riêng, của truyền hình nói chung. Cũng ngay khi Liên hoan phim Truyền hình Đà Lạt vừa kết thúc, sáng hôm sau các báo Lao Động, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ TP Hồ Chí Minh và nhiều tờ báo khác đều có bài ca ngợi thiên phóng sự truyền hình vạch trần trò ăn chặn, ăn bớt bẩn thỉu xẩy ra tại tỉnh Cao Bằng.

Chuyện nếu chỉ đến đấy, chắc tôi không có điều gì để kể cho các bạn nghe hôm nay…

Đúng một tuần sau, tôi tiếp một cú điện thoại đường dài của Chu Sỹ Liên gọi từ Cao Bằng vào TP Hồ Chí Minh.

- Tuyên huấn tỉnh đang bắt em viết kiểm điểm vì sao lại để bộ phim ấy đoạt Giải Vàng, để bây giờ báo chí cả nước đang tung hô! Họ bảo, chuyện như vậy phải đóng cửa bảo nhau, sao đem bêu riếu khắp bàn dân thiên hạ…

- Ơ kìa, sao ông không nhắc lại, trước khi mang đi dự thi, chính các ông Tuyên huấn Tỉnh đã duyệt rồi.

- Em cũng nói như vậy. Họ bảo, họ duyệt tập thể, tập thể xem không kỹ, tập thể bỏ sót... Nhưng chả lẽ tập thể lại có lỗi sao? Em là Giám đốc em phải xem kỹ hơn; phải có trách nhiệm hơn và phải kiểm điểm sâu sắc vụ việc này!

- Thế bây giờ họ định xử lý như thế nào?

- Bộ phim phải hủy là chuyện đương nhiên. Các anh ấy còn bảo em, làm sao phải trả cái Giải Vàng ấy cho Ban Tổ chức Liên hoan Truyền hình Đà Lạt. Để biểu lộ tỉnh mình không công nhận cách đánh giá ấy! Truyền hình sai chứ tỉnh mình không sai!

Tôi bật cười mà cũng không biết an ủi hoặc bày vẽ cho Chu Sỹ Liên ra sao nữa.

Thêm hai tuần lễ trôi qua… Từ Cao Bằng, Chu Sỹ Liên báo tin mới: Lãnh đạo tỉnh không để Chu Sỹ Liên giữ cương vị Giám đốc Đài Phát thanh- truyền hình tỉnh Cao Bằng nữa. Mà điều anh sang giữ chân Chủ tịch Hội Nhà báo Cao Bằng. Tôi nghĩ tới cái tỉnh heo hút vùng biên giới ấy. Chắc ngoài một tờ báo của tỉnh cũng không có thêm một ấn phẩm báo chí nào khác. Từ đó, hẳn cái Hội Nhà báo tỉnh cũng đìu hiu, quạnh quẽ lắm. Thế là chú em Cao bằng của tôi được gạt ra khỏi cơ cấu, được “ngồi chơi xơi nước” rồi!


CHUYỆN MỚI

Chiều ngày 21 tháng 11 mới đây, nhờ nhà thơ Trần Nhương giới thiệu cho một người quen ở Cao Bằng để tìm Chu Sỹ Liên. 15 phút sau, Chu Sỹ Liên lên tiếng ở đầu máy bên kia. Mừng vui, tíu tít vì hội ngộ sau gần 20 năm.

- Ông Liên còn nhớ, đến Liên hoan Truyền hình lần sau diễn ra tại Thủ đô vào năm 1995, Liên không được tham dự nữa, ông em đã nhờ anh chị em trong đoàn Cao Bằng gửi biếu anh một chai mật ong thứ thiệt của rừng núi Cao Bằng không?

- Để tạ ơn ông anh đã sui em “ăn cứt gà” mà! Ô, chuyện cũ, nghĩ lại những ngày Đà Lạt vui quá, anh ơi! Em nghỉ hưu năm ngoái rồi… Vì bộ phim phóng sự dạo ấy, em “lên bờ xuống ruộng” đến tận lúc hưu, anh ạ!
- Chà, hưu rồi sao? Nhanh quá vậy? Làm Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh đến ngày hưu sao?

- Không, sau này, được điều làm Phó Bí thư một huyện khỉ ho cò gáy nhất tỉnh Cao Bằng. Rồi thằng em anh bị tai biến. Liệt toàn thân suốt một năm. Phục hồi, em nộp đơn xin về đuổi gà cho mẹ cháu ngay !
Tai biến… Bị liệt… Liệu đây có phải là hệ quả của năm tháng “ lên bờ xuống ruộng ” không? Nghĩ vậy, nhưng tôi im lặng, lảng qua chuyện khác:

-Sao, tỉnh hẹp người thưa… Thế có bao giờ gặp lại các đồng chí đã phê phán, quy chụp em vì Giải Vàng Đà Lạt không?

- Có chứ anh ! Về hưu, làm “phó thường dân” như em cả lũ rồi. Bên cốc rượu, vại bia, các đồng chí ấy thanh minh, thanh nga: Rằng hồi ấy họ xúc động vì bộ phim; họ thấy phim hay, họ biết bọn em bênh vực người nghèo, tố cáo bọn bần thỉu là đúng. Các đồng chí ấy gay gắt phê phán, quy chụp em nhưng lời lẽ ấy, phản quyết thuở ấy- theo họ- không phải xuất phát từ khối óc, từ con tim họ. Họ bảo, đấy là sự phê phán, quy kết của Thằng Cơ chế ! Và cười khùng khục, tu bia ùng ục… Để phủi tay vô can, anh ơi!

Tôi nghe đắng đót trong lòng. Chưa kịp nói gì đã nghe Chu Sỹ Liên hỏi:
- Chúng em ở tít trên này mù mịt thông tin lắm. Kể từ ngày Đà Lạt đến nay đã gần 20 năm. Chắc những bộ phim như thiên phóng sự Cao bằng của bọn em dạo ấy, bây giờ thỏa sức làm, thỏa sức chiếu, chứ anh?
Tôi đâm dè dặt:

- Không hẳn thế đâu! Những thằng cơ chế già chết đi, lập tức nẩy nòi những thằng cơ chế con. Trẻ, sung sức, thằng cơ chế con có bớt ngu đi, chịu mở to mắt thêm một chút, nhưng sự hung hăng, bạo liệt và nhất là sự tinh quái, ma mãnh thì còn hơn thằng cơ chế cha nhiều ! Mà thôi, chú em để tâm tới những chuyện ấy làm gì? Hãy thanh thản, tìm ra nhiều cớ để mà cười, mà quên mọi chuyện. Gắng giữ gìn, để cơn tai biến xẩy ra lần thứ hai là "thôi rồi Lượm ơi " đấy nhé….

TÔ HOÀNG



88-HOANG TÀN NẺO ƯỚC


88
HOANG TÀN NẺO ƯỚC
[Thuận Nghịch độc]

Thơ  mù mịt rủ úa triền mê
Thẫm héo mùa đau dạ xám về
Mờ nguyệt bóng hoen đày đọa nuối
Xót lòng thân nhão dặc dằng lê
Ơ kìa oán hận yêu tàn thả 
Ấy nhĩ buồn thương ái rã kề
Lờ lặng ước duyên mòn mỏi bóng
Cơ cầu mộng ảo miệt mài tê

  mài miệt ảo mộng cầu cơ
Bóng mỏi mòn duyên ước lặng lờ
Kề rã ái thương buồn nhĩ ấy
Thả tàn yêu hận oán kìa ơ
Lê dằng dặc nhão thân lòng xót
Nuối đọa đày hoen bóng nguyệt mờ
Về xám dạ đau mùa héo thẫm
Mê triền úa rủ mịt mù thơ

HANSY
*
CÕI MÊ

Thơ thẩn bóng chiều cảnh đắm mê
Vắng hoang miền ảo chốn đâu về
Mờ sương trắng mỏng dường như khói
Nhạt nắng hanh vàng tưởng ngỡ kê
Ơ thế vẫn tìm may sát cạnh
Hỡi ơi nào biết họa bên kề
Lờ quên để sống buồn vui mặc
Cơ sự lắm sầu dạ tái tê

Tê tái dạ sầu lắm sự cơ
Mặc vui buồn sống để quên lờ
Kề bên họa biết nào ơi hỡi
Cạnh sát may tìm vẫn thế ơ
Kê ngỡ tưởng vàng hanh nắng nhạt
Khói như dường mỏng trắng sương mờ
Về đâu chốn ảo miền hoang vắng
Mê đắm cảnh chiều bóng thẩn thơ

Minh Hien

TRẢ


TRẢ

Ngày xa tình
Chân chầm chậm
Lê lết mình
Như hờn giận.

Tím đượm đà
Sắc hương áo
Mắt môi cười
Nghe xa lạ.

Gởi trong gió
Về trời ai
Chúc tương lai
Ngàn năm lộng.

Thôi mắt biếc
Giã từ xưa
Đau ly biệt
Nói sao vừa.

Giọt mái hiên
Nghe nằng nặng
Nhức nhối lòng
Sầu vô hạn.

Trả môi hồng
Trả hoài mong
Trả tình nồng
Chào huyễn vọng…

HANSY

GIỌT THÁNH THÓT RƠI

GIỌT THÁNH THÓT RƠI

Từng giọt hiên ngoài tí tách rơi
Mà nghe kỷ niệm thoảng xa vời
Mùa thương thuở ấy như về lại
Khúc hát hôm nào thể ngả lơi
Quá vãng nghe chừng loang cõi tục
Tình ân mấy nữa bén phiên đời
Còn không ái cảm ngày sau hỡi
Để cuộc mê mòng lại phát khơi

Để cuộc mê mòng lại phát khơi
Trầm hương đẫm lịm giữa mơ đời
Cho ngào ngạt thắm đường yêu bổng
Để  chứa chan nồng điệu ái lơi
Nhớ nhé vàng trăng đà ước hẹn
Hoài nha diễm mộng chớ buông vời
Nằm nghe ký ức thơm ngùi tưởng
Từng giọt hiên ngoài tí tách rơi

HANSY