Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

90-MẦM YÊU


TIẾNG LÓNG SÀI GÒN XƯA


TIẾNG LÓNG SÀI GÒN XƯA

Tiếng lóng là ngôn ngữ “phi chuẩn mực”, thường bị chê là cách nói không đàng hoàng, lộn xộn, khó nghe và khó hiểu.

Những chiếc xe cyclo máy một thời là phương tiện phổ biến ở Sài Gòn giờ đã biến mất. -Ảnh: LIFE
Con cái mà nói tiếng lóng là bị cha mẹ la rầy, nhân viên mà văng những từ lóng khó hiểu là sếp không ưa, đi đến nhà người yêu mà nói tiếng lóng là bị mất điểm trong mắt ông bà nhạc tương lai.

Tuy vậy, người ta vẫn thích nói từ lóng, trước hết để tránh đề cập đến những chuyện không tiện nói huỵch toẹt, hai là để người thứ ba không chú ý, để câu chuyện đỡ nghiêm trọng, để cho vui, vân vân.

Thời nào có tiếng lóng của thời đó. Cách nay hơn nửa thế kỷ, Sài Gòn thêm nhiều người từ miền Bắc vào sống chung. Rồi lai rai người khắp các nơi, từ các tỉnh miền Trung cho đến Tây Nam bộ đến chia sẻ cái nắng cái gió Sài Gòn. Người đông, vốn từ ngữ trao đổi với nhau ngày càng phong phú.

Cuộc sống thay đổi với thời gian, nhiều từ lóng lúc đó thịnh hành, bây giờ hầu như không nghe ai nói nữa. Giới trẻ hôm nay nếu nghe lại có lẽ không biết nói gì.

Xin tạm nêu ra vài từ:

Dầu cù là:
bản thân dầu cù là không thể là tiếng lóng, nhưng ở đây có nghĩa là “Đảng Cần Lao”. Từ này xuất hiện cuối thập niên 1950, đầu 1960. Đó là khoảng thời gian cầm quyền ở miền Nam của chánh quyền Ngô Đình Diệm. Giới viên chức thường hỏi nhau: “Ê, ông có bôi dầu cù là không?”, là có ý hỏi: “Ông có chân trong đảng Cần Lao không?”. Có “bôi dầu cù là” thì thế nào cũng được nâng đỡ về mọi mặt vì Đảng đó do chính quyền Diệm – Nhu lập ra.

Dầu cù là vốn là loại dầu xức rất quen thuộc với đa số người Sài Gòn thập niên 1950, 1960-Ảnh tư liệu
Tây hạ thành:
mỉa mai những cái gì cổ lổ, cũ kỹ quá xá. Chẳng hạn như có người mặc cái áo cũ mèm, người ta bảo: “Cái áo đó có từ hồi Tây hạ thành”, tức là có từ cả trăm năm, từ khi người Pháp đánh thành Hà Nội. Không chỉ nói về những món đồ, từ này còn nói về khái niệm phi vật thể, kiểu như ông nào đọc diễn văn dùng nhiều từ cổ quá lủng củng và có khi biền ngẫu thì bị gọi là dùng ngôn ngữ “Tây hạ thành”. Từ này na ná như từ hiện nay cũng còn một số người xài: thời Bảo Đại ở truồng.

Con cháu nhà Hán:
Trong cuốn “Hán Sở tranh hùng” có chuyện vua Hán Cao Tổ vốn họ Lưu, sau này phá tan được nhà Tần lên làm vua lập nên nhà Hán. Vì vua nhà Hán họ Lưu nên người ta dùng chữ “con cháu nhà Hán” để chỉ những người có tánh “lưu …manh” khó chơi.

Phỗng:
Khi đánh bài tổ tôm, khi ta đánh ra hai quân bài giống nhau, người khác đánh ra một quân giống hệt, ta có quyền “phỗng”. Đáng lẽ quân bài đó người ngồi mé trên ta có thể ăn để ghép vào cỗ bài của họ nhưng ta có đôi sẵn trong tay, ta có quyền kéo quân bài đó về phía mình, đó là ”phỗng”. Người ở mé trên mình bị nâng mất quân bài đáng lẽ mình được, tức là bị phỗng tay trên. Từ này người gốc Bắc nói nhiều hơn.

Cũng như tiếng lóng, bây giờ ít người trẻ hôm nay biết “mía ghim” và xe Velo Solex rất phổ biến trên đường phố Sài Gòn xưa. Ảnh tư liệu

Khổng tử viết:
Thập niên 1950, 1960 cả nước mới thoát ra khỏi chế độ phong kiến chỉ năm mười năm, nền nho học đã tàn lụi trước đó xa hơn chút nhưng vẫn còn kha khá những người theo nho học, nệ cổ.

Có anh đạo đức dù không tới nơi nhưng lúc nào cũng làm ra vẻ nhà nho đạo mạo nghiêm cẩn. “Khổng tử viết” tức là “Đức Khổng tử có nói”, trong các sách Tứ thư, ngũ kinh, các danh sĩ Trung Hoa xưa mỗi khi muốn dạy ai thường lấy câu này ra để dựa cho chắc ăn.

Thế là khi dân Sài Gòn ngán các anh hủ nho nói trên khi họ muốn lên lớp ai thì gọi là “Khổng tử viết”, muốn chỉ cho thấy rằng anh đọc sách nho học như con vẹt, chẳng thèm suy nghĩ gì.

Hia:
Có nghĩa là cắt xén. Ai có tóc dài, râu dài thì bị nhắc phải …hia bớt đi, phải cắt ngắn đi. Hia còn có nghĩa là ném, vứt, lại có nghĩa là khuân vác. Ví dụ như: “túm cổ, hia ra ngoài!”, hay “hia vài bao vô đây!”. Không ai biết tại sao có từ này, nhưng giới lính tráng miền Nam trước đây dùng nhiều.

Nghe lại những từ lóng này, có thể hình dung những ngữ cảnh cụ thể mà bây giờ những người trẻ không thể hình dung ra được.

Đ.T


31-BẠCH TỎ NỖI LÒNG


31
BẠCH  TỎ NỖI LÒNG

Hoe hòe lãng mạn ái tình vương
Cô độc người ơi lắm đoạn trường
Vẫn ước giang hồ tung vạn hướng
Luôn thờ nghĩa khí dệt trầm hương
Nhiều anh chẳng hiểu cho là chướng
Lắm chị thầm yêu lại bảo thường
Chén rượu ly trà vui nẻo phượng
Thơ huyền phú mộng ngọt ngào thương

Thơ huyền phú mộng ngọt ngào thương
Giữa thế gìn tâm sống khác thường
Chẳng chịu khom mình hoen cốt phượng
Không hề uốn dạ vỡ nguồn hương
Tào khang ảo mị tung mờ hướng
Hạnh phúc nhàu hư xéo mịt trường
Xuất xứ trong đời thân cấp trưởng
Hoe hòe lãng mạn ái tình vương

HANSY
* 
TỰ SỰ

Vốn dĩ sinh thời được cảnh vương
Người ơi lệ đổ suốt đêm trường
Trầm luân định số phai màu phượng
Thậm khổ cho đời nhạt sắc hương
Lận đận duyên tình luôn huyễn tưởng
Lơ ngơ cuộc sống cũng bình thường
Hồng hoa đỏ rực gai còn vướng
Chỉ điểm tô bằng một giọt sương

Chỉ điểm tô bằng một giọt sương
Vườn ong bướm lượn lẽ thông thường
Nào mê bạc nén trao đầy lượng
Vẫn đượm cây cành tỏa ngát hương
Nhật Nguyệt không hoà quên nẻo sướng
Sâm Thương chẳng gặp nhớ canh trường
Đôi khi nữ ái còn hay ngượng
Vốn dĩ sinh thời được cảnh vương

Minh Hien

LẶNG TỦI THẦM THƯƠNG


LẶNG TỦI THẦM THƯƠNG
[Thuận Nghịch độc]

Mây trắng phả đầu toát lạnh sương
Ấy ơi sầu lệ xót xa trường
Đầy vơi mấy nữa nhiều thêm ngượng
Vậy rã cho cùng khẳm ái vương
Ngây khổ đắng thề tan mộng hướng
Dẫy loang khờ ước lạc mơ đường
Nầy đau đớn dạ buồn tê tái
Vây phủ mãi tình ngút viễn phương

Phương viễn ngút tình mãi phủ vây
Tái tê buồn dạ đớn đau nầy
Đường mơ lạc ước khờ loang dẫy
Hướng mộng tan thề đắng khổ ngây
Vương ái khẳm cùng cho rã vậy
Ngượng thêm nhiều nữa mấy vơi đầy
Trường xa xót lệ sầu ơi ấy
Sương lạnh toát đầu phả trắng mây

HANSY

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

89-PHƯỢNG ƠI...


ĐẶT TÊN CON KHÔNG ĐỤNG HÀNG


ĐẶT TÊN CON
KHÔNG ĐỤNG HÀNG

Mấy chục năm trước, người làng tôi đặt tên con đa phần “ngẫu hứng”, nghĩ gì đặt nấy, nhớ đâu đặt đó. Thành ra, trẻ trong làng hay mang những cái tên ngồ ngộ, tên không “đụng hàng”, có khi gây sốc, thậm chí... khó đỡ.

4 đứa con tên: Chào, Hỏi, Lai, Rai

Xóm tôi có một cặp vợ chồng đẻ 4 đứa con. Đứa đầu tên Chào, 3 đứa kế tiếp là Hỏi, Lai, Rai. Ông bố là người mến bạn, khoái nhâm nhi chuyện trò cùng khách, giải thích rằng đặt tên như vậy để “dạy con” sự lễ phép. Hễ khách tới là con cái phải chào hỏi, sau đó đứa làm mồi, đứa mua rượu để ông lai rai cùng bạn bè.

Mấy lần, tôi cùng vài người bạn thấy tận mắt chuyện này tại nhà ông. Khách mới tới đầu ngõ đã nghe ông oang oang: “Chào, Hỏi, Lai, Rai đâu? Tập hợp một hàng dọc nghe phân công tiếp khách!”.

Chủ khách cùng cười, nhưng chủ cười to hơn: “Mấy ông thấy tui đặt tên con hết sẩy chưa?”. Ngấm rượu, ông bố nói, nhưng mà mấy cha đừng bắt chước. Đặt cho suôn câu thôi chớ lâu lâu tụi nó cũng hay “kiện tụng” vì có tên hay, tên dở.

Tên hay là thằng Chào, con Lai, thằng Hỏi. Thằng Chào “tự hào” vì ra đường từ lớn chí nhỏ ai cũng: “Chào! Đi đâu đó?”. Thằng Hỏi nhờ hay hỏi, cái gì cũng hỏi nên học giỏi, nó “dạy kèm” mấy đứa bạn nên mỗi tháng được… mớ cá! Con Lai mỗi lần soi gương đều tự khen mặt mình đẹp giống… con lai.

"Còn con Rai thì… buồn lắm mấy cha ơi. Nó hỏi “rai” là gì làm tui bí rị. May mà tui lót chữ Minh nên trớ qua, nói Minh Rai là… mai rinh. Con không ế chồng đâu! Nay mai người ta… rinh về thôi", ông bố cười.

Giảng viên về làng, được réo ngay 'Củm chị'

Cũng có chuyện đặt tên xấu cho... ma quỷ khỏi quở đặng dễ nuôi. Cho nên thiếu gì tên mà hễ sinh cái thằng thì gọi ngay: Cu bủm, Cu đỏ, Cu đen, Cu lác… Bà chị tôi vỡ kế hoạch “được” một… thằng liền đặt ngay tên Cu lỡ. Chị nói đặt vậy để tự nhắc mình thôi đừng… lỡ nữa.

Còn hễ sinh con gái, bà con miền Trung cứ tên “Củm” (chữ "củm" dùng để nói tránh cho một chữ có ý nghĩa thô tục - PV) mà đặt. Nếu thêm đứa nữa cũng gái thì phân biệt bằng Củm chị, Củm em hoặc: Chó lớn, Chó nhỏ…

Những cái tên đậm đặc màu sắc dân gian kiểu ấy hằn sâu trong trí nhớ người làng ngay từ thời thơ ấu, đến mức “chết tên” luôn. Thành ra lớn lên, những “Cu”, những “Củm” ấy dù đã là giám đốc, bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư… nhưng về làng là đứng ngây ra trước câu chào hỏi của người quê: “Cu lác về đó hở? Chà, cao ngồng giống thằng cha mày, phát tướng ghê luôn”.
Đàn ông nghe vậy cười xòa cái là xong. Chỉ tội cho các cô, bị kêu cái tên thuở “ở truồng” là lập tức… đứng hình. Mới tháng trước, H., giảng viên đại học, đưa bạn trai về quê chơi. Mới từ quốc lộ rẽ xuống đường làng đã có người chào: “Chu cha! Củm chị đó hả con? Mày đẹp gái dữ đa!”. Thiệt đúng là không đỡ nổi!

Thằng bạn tôi là nhân viên hộ tịch - hộ khẩu xã những năm 1980 kể, đa số mấy ông tên Cư, Cự, Cừ… bây giờ, vào thời đó thường là “Cu” hết. Làm giấy khai sinh để nhập học, cán bộ gợi ý thêm cái dấu vào cho nhanh. Nên giờ mấy ổng viết tên mình cẩn thận lắm. Viết lơ mơ làm mờ dấu, “rớt” dấu thì “Cu” lại hoàn “Cu” ngay.

Trường hợp đặt tên của cháu gái tôi cũng dở khóc dở cười. Ngày thôi nôi, ông nội đặt hương án khấn vái để “xin tên” qua trung gian một người ngồi đồng bịt mặt bằng khăn đỏ. Một lô những cái tên đài các, quý phái, nhung lụa được đưa ra như Loan, Phượng, Diễm, Hằng, Thảo, Lệ… nhưng người ngồi đồng đều lắc đầu, bảo tên nào cũng “kỵ húy” vì trùng với ông bà tiên tổ.

Mãi khuya, ông nội bực quá nói “thôi…”. Người ngồi đồng rùng mình nói tên này được rồi, các vị bề trên đã đồng ý. Vậy là con bé mang tên Thôi!

Quanh cái tên Thôi, người thì “bình” rằng nhờ tên “Thôi” mà anh chị tôi dừng lại ở… 5 con. Người thì nói anh khỏe ra nhờ tiếp bạn có chừng mực. Đang nhậu, muốn “tan hàng” sớm anh chỉ việc đứng dậy kêu lớn: “Thôi!”. Đám bạn nhột ý giải tán ngay.

Bây giờ, phần lớn các ông bố bà mẹ đều có học thức. Đa số đặt tên con thật “kêu”, thật bề thế, bóng nhoáng và sang trọng. Ví dụ tên Trưởng lót chữ Quốc; tên Sĩ lót chữ Tiến; tên Thống lót chữ Tổng; tên Soái lót chữ Nguyên…

Xét cho cùng, cái tên không làm nên con người. Tuy nhiên, việc đặt cho con một cái tên không thô thiển, không “kiêu ngạo”, không gây phản cảm, không tạo điều kiện cho những “ý tưởng” cười cợt là điều đáng để cho các ông bố, bà mẹ suy nghĩ. 

TRẦN CAO DUYÊN



30-BẼ BÀNG DUYÊN PHẬN

30
BẼ BÀNG DUYÊN PHẬN
[Thuận Nghịch độc]

Xưa nguyền tẻ nhạt ước chùng lay
Rã cánh tàn mơ thảm thiết này
Thừa thải gối chăn ngờ nghệch xót
Nhạt nhòa mi mắt dặc dằng cay
Đưa biền biệt huyễn chôn vùi mộng
Tiễn thẫn thờ mê lặng cuối ngày
Lừa phản ái ân hờ hững dạ
Mưa chiều quyện luyến trả tình vay

Vay tình trả luyến quyện chiều mưa
Dạ hững hờ ân ái phản lừa
Ngày cuối lặng mê thờ thẫn tiễn
Mộng vùi chôn huyễn biệt biền đưa
Cay dằng dặc mắt mi nhòa nhạt
Xót nghệch ngờ chăn gối thải thừa
Này thiết thảm mơ tàn cánh rã
Lay chùng ước nhạt tẻ nguyền xưa

HANSY
*
TÌNH XƯA
Xưa tình ngọt chẳng rã rời lay
Huyễn hoặc rằng yêu thắm mãi này
Thừa hiểu đớn đau dòng lệ đắng
Tưởng lầm xa xót nỗi lòng cay
Đưa chân khiến phận duyên tàn số
Ngã dạ làm thân xác oải ngày
Vừa sớm cảm thương liền giã biệt
Mưa thềm khúc niệm gửi đời vay

Vay đời gửi niệm khúc thềm mưa
Giã biệt liền thương cảm sớm vừa
Ngày oải xác thân làm dạ ngã
Số tàn duyên phận khiến chân đưa
Cay lòng nỗi xót xa lầm tưởng
Đắng lệ dòng đau đớn hiểu thừa
Này mãi thắm yêu rằng hoặc huyễn
Lay rời rã chẳng ngọt tình xưa

Minh Hien

RỒI CÓ MỘT NGÀY...

RỒI CÓ MỘT NGÀY...

Rồi một ngày hy vọng cũng đơm bông
Tình hẹn ước cũng bừng hoa kết trái
Rồi Ta sẽ cùng bên Em mãi mãi
Như ngày đầu quấn quýt cạnh hồn nhau.

Rồi một ngày gió cũng lại vờn trăng
Hoa với lá đong đưa mừng nắng mới
Mình sẽ thôi những chiều dài mong mỏi
Khi hai lòng dẫu một phải đành xa.

Rồi một ngày sẽ tấu khúc tình ca
Mừng hiệp cẩn cười tươi đêm hạnh ngộ
Thương yêu đó bấy giờ hoan bừng tỏ
Cho mặn nồng sóng sánh giữa trầu cau.

Rồi một ngày gối kề cận bên nhau
Trăm năm đó mãi hoài lưu dấu ái
Mơ một thuở bồng bềnh trong ngơ dại
Đắm mầm yêu ngời diễm khúc bồng lai...


HANSY

HƯƠNG QUỲNH GIẤC MUỘN


HƯƠNG QUỲNH GIẤC MUỘN

Lóng lánh sương ngàn đậu giữa đêm
Ấp yêu đài các cánh thơm mềm
Nồng mơ lữ khách nồng loang phả
Ngát đẫm nhan hồng ngát lộng thêm
Trắng muốt tình yêu mà mượt dậy
Trong ngần thánh khiết dịu dàng êm
Quỳnh hương nở muộn chiêu hồn thế
Ngây ngất tim lòng thả mộng chêm

Ngây ngất tim lòng thả mộng chêm
Thơm màu ngọc bích dạt dào êm
Kìa ngan ngát tỏa cầu mơ lại
Nọ chứa chan ngời vọng ước thêm
Ái hỡi tưng bừng lâng cánh diệu
Tình ơi rộn rã ngọt môi mềm
Nàng tiên lãng tử hòa chung điệu
Lóng lánh sương ngàn đậu giữa đêm

HANSY

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019

88-TÂM SỰ BỒ CÔNG ANH


Kỳ 153 -VUA LÝ THÁNH TÔNG BẮT CHIÊM THÀNH PHẢI TRẢ GIÁ


Kỳ 153

VUA LÝ THÁNH TÔNG BẮT CHIÊM THÀNH PHẢI TRẢ GIÁ
VÌ TÌM CÁCH LIÊN TỐNG CHỐNG VIỆT

Sau cuộc chiến Việt – Chiêm năm 1044, niềm kiêu hãnh của người Chiêm Thành bị tổn thương nghiêm trọng. Với việc vua Jaya Sinhavarman I bị giết, đây là lần thứ hai một vị vua Chiêm Thành chết trong chiến tranh với người Việt chỉ trong vòng chưa đầy bảy thập kỷ (trước đó là vua Paramesvaravarman I chết trận năm 982). Việc này cùng với những mất mát nặng nề bởi cuộc chiến đã hun đúc nên lòng căm thù của giới cai trị Chiêm Thành đối với Đại Cồ Việt. Và hiển nhiên, Chiêm Thành bắt đầu tìm cách báo thù.

Kể từ năm 1054, vua Lý Thánh Tông lên ngôi đã đổi tên nước Đại Cồ Việt thành nước Đại Việt. Mặc dù mối quan hệ Chiêm Thành – Đại Việt đã có lúc khá yên ả với các lần sứ Chiêm sang triều cống vào những năm 1055, 1057, 1059, 1060, 1063, 1065, thì đó cũng chỉ là bề nổi của vấn đề. Bởi vì Chiêm Thành đang ở thế yếu hơn, nên phải nhẫn nhịn chờ thời cơ. Ngoài mặt triều đình nước Chiêm cố chiều lòng vua tôi Đại Việt, nhưng trong nước thì việc binh bị được chú trọng tăng cường. Chiêm Thành cũng muốn tranh thủ sự ủng hộ của Tống, dựa vào Tống để chống Đại Việt.

Lại nói Tống triều dưới thời trị vì của vua Tống Nhân Tông đang muốn giữ mối bang giao tốt đẹp với Đại Việt. Phần vì nước Đại Việt dưới sự trị vì của các bậc minh quân tiếp nối nhau là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đang rất mạnh và phần vì triều đình nhà Lý cũng bày tỏ thái độ thân thiện với Tống. Nếu so với các nước Liêu, Hạ ở phía bắc thì Đại Việt là một láng giềng thân thiện với Tống hơn rất nhiều. Tuy nhiên, một số quan chức ngoài biên ải của nước Tống lại không nghĩ được như vậy. Tri châu Ung Châu là Tiêu Chú kể từ khi nhậm chức luôn tỏ thái độ hiếu chiến với Đại Việt vì hiềm rằng các dân khê động vùng giáp biên giới Tống – Việt tỏ chí hướng về nam, muốn theo về triều đình nhà Lý hơn là theo Tống. Tiêu Chú đã gởi thư về triều tâu rằng: “Giao Chỉ tuy có triều cống, thật thì ngầm ngấm họa tâm, thường dùng cách tâm thực mà lấn vương thổ …” và khuyên vua Tống Thần Tông “Tôi nay đã rõ chỗ quan yếu, thấu chỗ lợi hại. Nếu không đánh bây giờ mà lấy Giao Chỉ đi, thì sau sẽ có điều lo cho Trung Quốc”. Song song với việc mách nước, Tiêu Chú tự tiện chiêu dụ dân châu Quảng Nguyên theo Tống, cài nội ứng, tụ tập các thế lực chống triều đình nhà Lý lại mà chu cấp cho. Y lại cho luyện binh, tích lương, dẫn quân đi tuần rầm rộ ngoài biên giới. Việc đến tai vua Lý Thánh Tông, ngài đã không ngần ngại dùng biện pháp quân sự mạnh để trừng trị những chiêu trò khiêu khích của Tiêu Chú.

Năm 1059, Lý Thánh Tông đem quân đánh các động Tư Lẫm, Cổ Vạn, Chiêm Lăng thuộc Khâm Châu của Tống, giết viên quản câu Lý Duy Tân. Quân Đại Việt diễu binh qua các động ngoài biên, rồi đóng quân uy hiếp nước Tống. Vua Tống phái người tra xét, biết được nguồn cơn là do Tiêu Chú khiêu khích trước nên ra chiếu chỉ ngăn cấm. Bọn Tiêu Chú sau đó vẫn chưa chịu thôi, nên vua Lý Thánh Tông lại hội binh với phò mà Thân Thiệu Thái đánh châu Tây Bình, động Vĩnh Bình thuộc Ung Châu, chém tướng nước Tống là Tống Sĩ Nghiêu, bắt sống tướng Dương Bảo Tài. Thế quân Đại Việt đã mạnh lại có danh nghĩa chính đáng, khiến vua Tống phải xuống nước hòng tránh một cuộc chiến tranh lớn. Bọn quan chức hiếu chiến ngoài biên là Tiêu Cố, Tiêu Chú đều bị cách chức. Quân Đại Việt vẫn chưa chịu lui, Tống Nhân Tông miễn cưỡng phải phái quân đánh ứng chiến. Nhưng rồi các quan tướng Tống được phái đi lại chủ động bàn hòa với quân Đại Việt. Vua Lý Thánh Tông bấy giờ mới bằng lòng rút quân đi.

Những diễn biến ở vùng biên giới Tống – Việt đủ cho thấy binh uy Đại Việt thời vua Lý Thánh Tông lớn đến nhường nào, có thể khiến một đế chế lớn như Tống phải vị nể. Thế nhưng, nước Chiêm Thành có lẽ vì thiếu thông tin hoặc xem nhẹ năng lực do thám của Đại Việt, đã cố gắng tìm cách liên minh với Tống để chống Đại Việt. Năm 1061, vua Rudravarman III (danh hiệu đầy đủ là Yang Pu Sri Rudravarmadeva) lên ngôi, sử Việt gọi là Chế Củ. Vị vua này càng tích cực chuẩn bị cho một cuộc báo thù đối với Đại Việt. Ở trong nước, vua Chế Củ cho tuyển mộ binh lính và thao luyện khẩn trương hơn trước. Mặt khác, Chế Củ cho sứ giả sang Tống xin mua ngựa và ngỏ ý thuần phục Tống để mong được sự bảo hộ. Nước Tống tuy muốn nhận sự thuần phục của Chiêm Thành nhưng vẫn còn phân vân vì ngại Đại Việt. Do đó, vua Tống chỉ tặng cho Chiêm Thành một con ngựa bạch và cho phép Chiêm Thành được mua lừa ở Lưỡng Quảng. Dù liên minh Tống – Chiêm Thành lúc này vẫn chưa thành hình và phần nào vẫn chỉ là ý muốn một chiều của nước Chiêm, nhưng đã trở thành cái cớ không thể tốt hơn cho vua Lý Thánh Tông mở cuộc nam chinh. Rõ ràng, Chiêm Thành thời kỳ này so với Đại Việt yếu hơn rất nhiều. Việc nước Chiêm Thành được yên ổn chẳng qua là do Đại Việt đang thỏa mãn vị thế bề trên của mình và mong muốn hòa bình ở phương nam để củng cố việc nội trị, đồng thời ra uy với nước Tống. Chính sách của vua Chế Củ đã làm cho những nền tảng hòa bình mong manh trên bị phá vỡ.

Trong năm 1068, vua nước Chiêm Thành xua quân quấy rối biên giới, ra mặt đối đầu với Đại Việt. Hiển nhiên, vua Lý Thánh Tông không để yên chuyện. Mùa xuân năm 1069, vua Lý Thánh Tông tạm giao quyền cai trị lại cho Ỷ Lan Nguyên phi và Thái sư Lý Đạo Thành, còn ngài thì thân chinh đem đại quân đi đánh Chiêm Thành, phong cho Lý Thường Kiệt làm Nguyên soái. Cũng như những lần trước, quân Đại Việt tiến quân theo đường biển. Thủy quân Chiêm Thành cố gắng ngăn chặn quân Đại Việt từ ngay tuyến đầu. Tại cửa biển Nhật Lệ, một trận đại thủy chiến đã nổ ra với phần thắng thuộc về quân Đại Việt. Sau khi đã đánh tan đội thủy quân Chiêm Thành, quân Đại Việt tiếp tục tiến bằng đường biển. Đến hải cảng Thi Lợi Bì Nại (đầm Thị Nại ngày nay), vua Lý Thánh Tông cho quân đổ bộ, tiến đóng doanh trại ở bờ sông Tu Mao (sông Tam Huyện ngày nay), uy hiếp kinh thành Phật Thệ (Vjiaya, thuộc Bình Định ngày nay).

Lúc ấy, tướng Chiêm Thành là Bố Bì Dà La đem quân bày trận ở bên kia sông Tu Mao. Quân Đại Việt sau khi ổn định doanh trại bèn vượt sông sang đánh. Quân Chiêm chống không nổi, tướng Bố Bì Dà La bị chém chết tại trận, toàn quân tan vỡ. Từ trong thành Phật Thệ, vua Chế Củ hay tin thua trận báo về lập tức dẫn vợ con cùng lực lượng còn lại rút lui về xứ Panduranga. Quân Đại Việt vào thành Phật Thệ, dân trong thành đều sợ hãi xin hàng. Khi hay tin vua Chiêm đã trốn đi, vua Lý Thánh Tông bèn chia quân cho Nguyên soái Lý Thường Kiệt truy kích ngày đêm. Lý Thường Kiệt đem quân đánh xuống Panduranga, bao vây thành trì nhưng tạm thời chưa hạ nổi. Vua Lý Thánh Tông ở thành Phật Thệ chờ tin của Lý Thường Kiệt, sợ quân đi lâu ngày trong nước có biến loạn nên dẫn quân về nước, chỉ để lại một lực lượng chiếm đóng và giữ liên lạc với cánh quân phía nam. Khi vua về đến châu Cư Liên nghe ngóng dân tình, biết được Ỷ Lan Nguyên phi trị quốc tài giỏi, trong cõi được yên vui. Vua bèn nói với tả hữu rằng: “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao ?”. Nói xong vua lệnh cho toàn quân quay lại tiếp tục việc truy kích vua Chế Củ. Bấy giờ nhuệ khí quân Đại Việt dâng cao, một trận hạ thành Panduranga. Vua Chế Củ tiếp tục chạy về phương nam, đến tận biên giới Chân Lạp thì không còn đường chạy nữa (vì Chân Lạp cũng đang thù địch với Chiêm Thành). Lý Thường Kiệt dẫn quân truy kích bắt sống được vua Chiêm vào tháng 4.1069. Cuộc chiến kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về Đại Việt.

Vua Chế Củ (Rudravarman III) nuôi chí báo thù nhưng thất bại, rốt cuộc lại trở thành tù binh của Đại Việt. Lần bại trận này đem lại hậu quả nặng nề cho Chiêm Thành không kém những lần bại trận trước đó. Vua Lý Thánh Tông khi thắng trận đã cho đốt trụi nhà cửa ở kinh thành Phật Thệ với hơn 2660 căn. Cùng với vua Chế Củ, có đến khoảng 5 vạn quân dân người Chiêm bị bắt làm tù binh..

Mùa thu năm 1069, đoàn quân của vua Lý Thánh Tông ca khúc khải hoàn về đến kinh thành Thăng Long, dâng tù binh ở Thái miếu. Vua Chế Củ lúc này đã ở thế cùng quẫn, phải xin dâng đất ba châu Địa Lý (1), Ma Linh (2), Bố Chính (3) để chuộc mạng. Lãnh thổ Đại Việt từ đây mở rộng về nam đến vùng mà ngày nay là bắc Quảng Trị. Đối với Chiêm Thành, sự mất mát về lãnh thổ chưa phải là điểm dừng. Nước cờ của vua Lý Thánh Tông là thả vua Chế Củ về nước sau khi đã làm mất hết uy tín của vị vua này. Sau khi vua Chiêm Thành trở về và việc dâng đất chuộc mạng lan truyền ra, quân dân trong nước đã không còn phục tùng vị vua của mình nữa. Khắp nơi trong nước, các tiểu vương khởi binh chống lại nhà vua bấy giờ đã bị coi là kẻ phản bội. Chiêm Thành sau cuộc chiến bại với muôn vàn mất mát lại rơi vào vòng loạn lạc vì cuộc tranh quyền đoạt vị giữ các thế lực quý tộc.

Quốc Huy

ANH HÙNG ÁO VẢI



ANH HÙNG ÁO VẢI

Trước nay, chúng ta rất thường nghe câu “Anh hùng áo vải”, và đặc biệt thường dùng khi viết về Lê Thái Tổ hoặc Nguyễn Huệ.

Có một ngộ nhận thú vị đó là mỗi khi nhắc đến chữ “Anh hùng áo vải” người ta nghĩ ngay đến việc người đó nghèo. Nhưng đến khi xem xét kỹ gia thế mới biết hễ ai “áo vải” khởi nghĩa gia sản cũng đều rất giàu có. Lê Thái Tổ thân là hào trưởng đất Thanh Hóa, giàu nứt đổ đổ vách; còn ba anh em Nhạc – Lữ – Huệ cũng là dân thương buôn có tiếng vùng Tây Sơn.

Có câu “Tướng vô tài, sĩ bất lai”, nôm na là thân người làm tướng không có chút tiền lận lưng thì chả có ai đầu quân về để giúp đánh nhau đâu. “Tài” ở đây có nghĩa là tiền tài chứ không phải tài năng. Người ta cứ nghĩ “chí sĩ khắp nơi theo nghĩa lớn chạy về”, thì đúng là có nghĩa lớn thật đấy, nhưng cũng phải cho ăn cơm đã thì mới có sức đánh giặc. Nuôi từng đó binh mã không phải là chuyện nhỏ, nghèo thì hầu như không thể có chuyện khởi nghĩa.

Tìm hiểu về nguồn gốc của chữ “áo vải”, chúng ta sẽ thấy nó chẳng liên quan gì tới chuyện giàu hay nghèo. Trong các thư tịch của Lê Thái Tổ hoặc của Nguyễn Huệ khi giao thiệp với Trung Hoa thường rất hay nhắc đến chữ “xuất thân áo vải”, nguyên bản là bố y, hoặc bạch dinh, mà sau này người ta thường viết lại là người anh hùng áo vải.

Áo vải ở đây chính là để chỉ rằng mình xuất thân từ người dân, không có quan tước, quần áo không có phẩm phục, không có mối liên hệ với triều đình cũ.

Theo quan điểm thời xưa: “Ăn lộc của vua thì phải lo nỗi lo của vua”, “trung với vua” là điều bắt buộc phải làm của mỗi thần tử, tội danh “bầy tôi phản vua” là một cái tội danh rất nặng. Do đó dễ thấy là các cuộc đảo chính, chính biến do các tướng lĩnh đều bắt buộc họ phải tôn phò một ai đó trong hoàng tộc lên để lấy cái chính danh. Nhà Lê không còn thực quyền chỉ còn mỗi cái tiếng mà trong hơn 200 năm đến tận thế kỷ 19 vẫn được dùng làm một chiêu bài khởi nghĩa đủ thấy tính chính danh rất quan trọng. Các triều phải đối mặt với tội danh “bầy tôi giết vua” thường phải chịu rất nhiều khó khăn dù là trong đối nội hay đối ngoại, dễ thấy như trường hợp của nhà Mạc.

Do đó, đối với những trường hợp như Lê Thái Tổ hoặc Nguyễn Huệ, họ thường dùng chữ “bố y” áo vải để chứng tỏ rằng mình không phải thần tử của triều trước, không cần phải có cái nghĩa tôn phò triều trước như một bầy tôi, và thường dùng chiến công chống ngoại xâm, bình định nội loạn để khẳng định công tích của mình đối với đất nước, nhân đó sáng lập ra một triều đại mới.

Về sau này, từ anh hùng áo vải được dùng để mô tả những vị vua nước ta xuất thân từ tầng lớp bình dân mà lập nên nghiệp lớn, nhưng càng dùng nhiều người ta càng quên đi nguồn gốc của nó, cuối cùng mới dẫn đến cái chuyện buồn cười: anh hùng áo vải tức là anh hùng nghèo, hay thậm chí anh hùng áo vải không có tiền mặc giáp mà chỉ mặc áo vải ra trận, đến cả hình minh họa về họ cũng trở nên nhầm lẫn.

Minh Đức


29-BẾN HỠI – THUYỀN ƠI


29
BẾN HỠI – THUYỀN ƠI
[Ô thước]

Bến hỡi ân tình mãi vẹn mong
Ngàn năm thương nhé giữ tươi hồng
Đòng đưa cánh diệu mềm tao võng
Lả lướt nguyền thơm đượm khuỷnh lòng
Chớ để lửa hương nhầm nẻo trống
Và đừng ân ái chịu vòm không
Từng đêm lịm ngát niềm hoan bổng
Để cõi duyên trần thỏa ước trông

Duyên trần thỏa ước vạn niềm trông
Minh nguyệt tuyền vân vũ khúc lồng
Ngan ngát dốc tình câu huyễn đọng
Mơ màng vịnh ái nốt huyền mong
Mà nghe lâng nhớ trườn qua mộng
Lại thấy trầm mê lướt dạo lòng
Thương nhé cho hồn luôn luyến vọng
Bạc bàng mắt diễm đợi triền sông

HANSY
* 
BẾN ĐỢI

Giã biệt nhau rồi hỏi có mong
Đường em tẻ nhạt rắc hoa hồng
Trăng tròn lại khuyết bao lần cổng
Phận héo rồi đau cả cõi lòng
Vội vã người đi còn nhớ phỏng
Âm thầm kẻ mất chạnh buồn không
Trường canh tỉnh giấc nhìn vô vọng
Những ánh sao trời đổi vị trông

Những ánh sao trời đổi vị trông
Hoài thương số phận ở trong lồng
Lầu son vạn tủi hình mơ bóng
Ngõ thuý trăm sầu lệ nhỏ song
Có phải duyên tàn nên rũ mộng
Làm cho ái nhợt đã theo dòng
Thuyền xa khuất nẻo trong chiều lộng
Mãi chẳng quay về quạnh bến sông

Minh Hien

TRAO EM


TRAO EM

Nắng ru giữa buổi hẹn hò
Vàng hương suối tóc, tiếng nho nhỏ thầm
Ngọt ngào dịu nép tình râm
Chiểu êm buông nhẹ, mộng ngâm ngợi chuyền.

Dập dìu ong bướm huyên thuyên
Hoa tươi hé nụ giữa uyên ương nồng
Tim yêu giọt xuống thơm lòng
Ngẩn ngơ chan nắng đượm trong trẻo đời

Em căng sức trẻ xuân ngời
Tung tăng giữa mộng đẫm phơi phới tình
Ngỡ ngàng một đóa kiều xinh
Trao nhau nồng mặn phả bình yên mơ.

Nắng chiều ríu rít vần thơ
Gió se se lạnh, vẳng tơ tóc nào
Trao Em tim biếc nụ đào
Sắc xuân còn mãi giữa ao ước bồng...

HANSY

SẼ QUYẾT LIỀU


SẼ QUYẾT LIỀU

Dẫu vậy đà thương sẽ quyết liều
Cam đành bỏ mặc chút làm kiêu
Êm đềm mỗi chặng lòng đâu thiếu
Rộn rã từng đêm mộng rất nhiều
Vẫn ngát mơ màng khi nũng tiếu
Luôn ngời rạng rỡ lúc hờn yêu
Trầu cau cưới hỏi cùng xe kiệu
Nếu được người ưng sẽ chuộng chiều

Nếu được người ưng sẽ chuộng chiều
Muôn đời mát ngọt với tình yêu
Nào lo cảm ái thường đa thiểu
Chẳng bận diễm mơ lại ít nhiều
Chỉ ước tim lòng luôn thấu hiểu
Cho dù ý mộng vẫn hoài kiêu
Nàng hay ngúng nguẩy thường khoe điệu
Dẫu vậy đà thương sẽ quyết liều

HANSY

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

87-TÌNH LƠ


TẢN MẠN VIỆC ĐẶT TÊN CHO CON


TẢN MẠN
VIỆC ĐẶT TÊN CHO CON

Kim, Vàng, Giọt, Lệ...

Ở quê tôi, hồi trước, gia đình nào cũng “con đàn cháu đống” nên việc đặt tên cho con có khi chỉ là những cái tên vần vè cho dễ nhớ. Tuy nhiên, một số ông bố coi việc đặt tên cho con cũng là một “nghệ thuật”.

Hồi những năm 1980, chiếc xe máy Cub 81 của hãng Honda sản xuất ở Nhật Bản được xem như báu vật ở quê tôi. Người ta gọi nó là “kim vàng giọt lệ”. Ông Nhã mê mẩn Cub 81 nhưng nghèo, mơ cũng khó chạm nên ông đặt tên con lần lượt là Kim, Vàng, Giọt, Lệ, Hy, Vọng. Riêng cái tên Vàng và Giọt, ông đấu tranh mãi với vợ mới đặt được.

Khi thằng Vọng học tiểu học thì xe máy giá rẻ Trung Quốc cũng bắt đầu tràn vào Việt Nam, giá Cub 81 cũng giảm dần và ông Nhã cũng chạm được giấc mơ xe máy. Ông nói: “Thấy chưa, có hy vọng là có tất”.     
Ông Phú có người hàng xóm nhà sát vách là ông Lam, ít hơn ông mấy tuổi. Ông Lam có 6 đứa con, trong đó, đứa con trai út tên Phú. Ông Lam thường gọi con “Phú ơi” khiến ông Phú nhiều lần nhầm tưởng cha mình (nhà cũng ở cạnh bên) gọi mình nên “dạ” rõ to. Khi biết “dạ” nhầm cha hàng xóm, ông Phú ức lắm. Hai gia đình cũng ít ưa nhau. Mỗi lần ghét hàng xóm, ông Lam lại vẽ chuyện, lấy cớ để lôi thằng Phú ra chửi, khiến ông Phú sôi máu.

Đã có 5 đứa con, tuổi ngoài 50 nhưng ông Phú vẫn quyết đẻ thêm đứa nữa, ý định đặt tên Dũng, là bố đẻ của ông Lam để… trả thù.

Ý định của ông Phú cũng được thực hiện. Nhưng đứa con thứ 6 là con gái nên khi đặt tên Dũng, bà vợ ông phản đối dữ dội. Mặc, ông Phú vẫn đến ủy ban xã khai sinh cho con gái tên Dũng. Khi Dũng lên lớp 3, bố ông Lam mất, ông Phú mới đổi tên lại cho con là Dung.
*
Dù nghèo khổ nhưng vợ chồng ông An vẫn 7 đứa con. Đứa thứ 7 đặt tên là Út để dừng lại, không đẻ nữa. Nhưng 2 năm sau lại tòi ra đứa nữa, ông đặt tên là Thêm. 3 năm sau, lại đứa nữa, ông đặt tên là Hết. Và, vợ ông cũng… hết đẻ.
 *
Đổi tên mới được cho cưới con gái

Ông Nhâm rất mê cây cảnh. Vườn nhà và sân ông đầy mai, đào, sanh, si và các loại hoa. Đặt tên cho con, ông cũng lấy tên cây ông ưa thích: Mai, Đào, Sanh, Si. Thằng út tên Si, đi học toàn bị bạn chọc “si thì học sao nổi” (từ si ở quê tôi cũng có nghĩa là ngu si). Nó trách ông Nhâm sao đặt tên con dở thế, ông cười bảo “tao định đặt tên Sĩ, nhưng khi đi làm khai sinh, cán bộ tư pháp viết đến Si thì bút hết mực, không viết được dấu ngã nữa nên để vậy luôn”. Cái tên cứ hành nó mãi, lên đến lớp 10, nó mới đổi tên là Sĩ.
*
Vợ chồng thằng bạn tôi đặt tên cho con gái đầu lòng là Thu Ngân. Ai cũng khen tên đẹp. Một hôm, ông bố vợ gọi điện cho vợ chồng nó, giật giọng bảo, chúng mày phải đổi tên cho con ngay, vì Thu Ngân nói lái lại là… thân ngu (ở quê tôi rất hay nói lái). Cái tên nó vận vào người thì khổ cả đời nó đấy. Cãi không được và nghĩ cũng thấy… đúng, vợ chồng nó lại phải đi làm thủ tục đổi lại tên cho con.
*
Anh bạn làm giáo viên ở huyện miền núi Kỳ Sơn (Nghệ An) kể, hồi mới ra trường, anh được điều động về dạy ở xã Mường Ải, nơi có nhiều đồng bào Khơ Mú sinh sống, ban ngày dạy chữ cho trẻ, đêm dạy xóa mù chữ cho người lớn. Khi điểm danh lớp xóa mù chữ, anh giật mình với cái tên lạ Cụt Mẹ Đầu. Tưởng nhầm, hỏi lại thì đúng là họ tên thật của một chị gần 40 tuổi. Theo phong tục của người Khơ Mú, khi nhỏ, trẻ vẫn có tên lót là Văn và Thị. Nhưng khi có con đầu lòng, tất cả đều đổi lại tên lót. Đàn ông đổi từ Văn thành Phò, phụ nữ đổi từ Thị thành Mẹ. Chị Đầu cũng vậy và mới có cái tên lạ như thế.  
*
Anh Hồng ở xã tôi yêu cô Nga ở xã bên. Hai người thề hẹn trăm năm bên nhau. Nhưng oái oăm thay, bố cô Nga cũng tên Hồng nên ông bố nhất quyết không gả con gái cho người cùng tên vì “phạm húy”. Rốt cuộc, anh Hồng phải đi đổi thành tên Hùng. Khi tận mắt nhìn thấy cái giấy khai đã đổi tên chìa ra trước mắt, ông Hồng mới gật đầu chấp nhận gả con.

KHÁNH HOAN