Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

KHI NÀO CẦN “XIN” KHI NÀO THÌ “ĐƯỢC”?

KHI NÀO CẦN “XIN”
KHI NÀO THÌ “ĐƯỢC”?

Thói quen dùng từ xin và được trước các câu nói, phổ biến đặc biệt trên trên truyền hình đã khiến cho những người yêu tiếng Việt phải thắc mắc, rằng dùng 'kính ngữ' trong nhiều trường hợp, có cần thiết?
1.
Dự tiệc cưới ở nhà hàng, tôi ngồi cạnh một phụ nữ nước ngoài biết tiếng Việt. Chị thắc mắc tại sao người dẫn chương trình nói “Xin được cảm ơn đã chọn nhà hàng chúng tôi và hân hạnh được phục vụ quý khách” thay vì “Cảm ơn đã chọn nhà hàng chúng tôi và hân hạnh phục vụ quý khách”. 

Thắc mắc này có hợp lý không?

Từ xin dùng trong câu cầu khiến giúp biểu đạt một sắc thái nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn “xin giữ yên lặng” ít mệnh lệnh hơn so với “hãy giữ yên lặng”.

“Xin đời sống cho tôi mượn tiếng” (Bài Không tên số 1, Vũ Thành An, 1965) là cách diễn đạt thi vị của: đời sống ơi, hãy cho tôi mượn tiếng.

Trong khi ấy, cảm ơn là hành động lịch sự do chủ thể thực hiện hướng đến người đối thoại nên có thể không cần từ xin kèm theo.

Tuy nhiên, ta vẫn thường gặp cách nói “xin cảm ơn”. Bài thơ Còn chút gì để nhớ được Vũ Hữu Định (1942-1981) sáng tác năm 1970 có câu “xin cảm ơn thành phố có em / xin cảm ơn một mái tóc mềm”.

Hai câu này có thể hiểu là: cho phép tôi cảm ơn thành phố vì có em đang sống, cho phép tôi cảm ơn mái tóc của em. Người cảm ơn (vốn là “anh khách lạ”, chưa hề quen “em Pleiku má đỏ môi hồng”) đã xin phép vì muốn làm giảm sự đường đột.
Như vậy “xin cảm ơn” không còn nghĩa cầu khiến “hãy cảm ơn”, mà diễn đạt sự dè dặt, thận trọng, nhún nhường.

Tương tự, “xin giới thiệu”, “xin có ý kiến”... không có nghĩa là “hãy giới thiệu”, “hãy có ý kiến”... mà có nghĩa “cho phép tôi giới thiệu”, “cho phép tôi có ý kiến”.
2. 
Khi nhà hàng cảm ơn và phục vụ, thực khách là người được cảm ơn và được phục vụ. Trong trường hợp này, được diễn tả mối quan hệ bị động - chủ động giữa khách thể và chủ thể.

Chị người nước ngoài có lý khi đề nghị bỏ từ được trong câu nói của người dẫn chương trình.

Có ý kiến cho rằng “được đi học”, “được ăn ngon”... là nói tắt của “được cử đi học”, “được phục vụ món ăn ngon”...

Trong cách nói này, “được” nhấn mạnh khía cạnh vinh hạnh hoặc quyền lợi xét theo góc nhìn của chủ thể.

Do đó có thể hiểu “được phục vụ quý khách” là “được chọn để phục vụ quý khách”. Cách hiểu này còn gây tranh cãi vì có thể nhầm với quan hệ bị động - chủ động, nhất là khi đối tượng của hành động chưa được xác định.
3. 
Trong các trường hợp trên, từ xin trong xin cảm ơn đã thay đổi hàm nghĩa và có thể bỏ đi, từ được trong được cảm ơn có thể gây hiểu lầm. Tuy nhiên, việc dùng tùy tiện xin, được có xu hướng gia tăng trên các chương trình truyền hình.

Trong Gương mặt thân quen 2017 tập 3 phát trên sóng VTV3 ngày 27-5, người dẫn chương trình mở đầu bằng: “Xin được chào đón tất cả quý vị khán giả đang đến với chương trình Gương mặt thân quen 2017!”

Ta có thể bỏ cụm từ xin được trong câu này mà vẫn không làm ảnh hưởng đến nội dung cần diễn đạt.

Trong lễ tôn vinh Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam 2016 phát trên sóng VTC16 ngày 10-7-2016, một trong hai người dẫn chương trình nói:

“Thay mặt ban tổ chức, chúng tôi xin được công bố danh sách top 100 thương hiệu, sản phẩm đạt danh hiệu thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam năm 2016” và “Chúng tôi xin được trân trọng kính mời...”.

Ta có thể thay xin được bằng trân trọng trong câu đầu và bỏ hẳn xin được trong câu sau.

Cân nhắc việc dùng các từ xin và được cũng là một cách trân trọng tiếng Việt vậy.


TRƯỜNG LÂN

HOA HOA

262.
HOA HOA 
(Thủ nhất thanh)

Hoa mai quân tử tụng ca lời 
Hoa sứ trắng ngần
mộng chẳng vơi 
Hoa điệp
cẩn càng nghiêm sắc đất
Hoa sen
thuần khiết ngợp hương trời 
Hoa đào
tươi thắm bừng muôn chốn 
Hoa phượng đỏ
nồng rợp khắp nơi 
Hoa dại ven đường tô
lộng cảnh
Hoa
yêu ngát lựng ướp sương đời 

HANSY

HOA HÒE

Hoa
thương nồng mặn ngát ngan lời 
Hoa đợi
sương lòng mãi chẳng vơi 
Hoa nghĩa đượm
đà gieo tận núi 
Hoa
duyên thắm thiết vọng loang trời 
Hoa
tình nghiêng cánh thơm ngàn chỗ 
Hoa nhớ chao hồn
lộng khắp nơi 
Hoa mộng
triền miên đời lãng tử 
Hoa mơ bảng lảng
dậy hương đời 

HANSY


ĐA TÌNH 

Niềm thương tung cánh giữa
sông đời 
Hẹn ước hôm nào
trải khắp nơi 
Đường mộng
thầm khai lèn cánh gió 
Lối yêu
ước mở lộng phương trời 
Si tình
lãng đãng đâu dừng lại
Mết ái phiêu bồng khó thể vơi 
Thơ nhạc
rượi trà bên mỹ nữ 
Hồn xuân phơi phới dệt thơm lời 

HANSY

NGÀY XƯA ĐÓ

NGÀY XƯA ĐÓ

Ngày xưa đó trao lời thắm thiết
Quấn quýt hoài đâu biết lìa xa
Mùa thương lúng liếng bao la
Tình thơ ngọt lịm khiến ngà ngà bay.

Ngày xưa đó cuồng say chất ngất
Mắt môi ơi ngát mật vành tim
Vắng nhau đỏ mắt dõi tìm
Mừng vui khi gặp như chim chích chòe.

Ngày xưa đó nồng khoe rực sáng
Lấp lánh hồn tỏa rạng niềm mơ
Lắng lòng trao gởi vần thơ
Mà nghe trong nắng đẫm ngờ nghệch yêu.
……
Rồi sau đó lạc xiêu chốn ấy
Để lại buồn biết mấy người ơi
Chiều nay thả xuống đôi lời
Dõi về kỷ niệm tím chơi vơi lòng…

HANSY

KHÚC TÌNH SẦU

KHÚC TÌNH SẦU
[Thuận Nghịch độc]

Ngơ lòng dạ héo đọa đày thương
Lỡ vọt vàng đau lịm cuối đường
Mờ phấn tủi duyên nhòa nhạt tưởng
Ngớ đời đau nguyện thẫn thờ vương
Mơ dằng dặc nẻo chìm chao hướng
Vỡ tối tăm lòng nát rụi hương
Khờ thiết thảm tim thề ước sượng
Thơ tình úa cõi mịt mù sương

Sương mù mịt cõi úa tình thơ
Sượng ước thề tim thảm thiết khờ
Hương rụi nát lòng tăm tối vỡ
Hướng chao chìm nẻo dặc dằng mơ
Vương thờ thẫn nguyện đau đời ngớ
Tưởng nhạt nhòa duyên tủi phấn mờ
Đường cuối lịm đau vàng vọt lỡ
Thương đày đọa héo dạ lòng ngơ


HANSY

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

KHÚC TÌNH RU

43.
KHÚC TÌNH RU
[Ngũ độ thanh]

Nghiêng chiều thả nắng giữa triền thu
Đẫm sắc ngàn xưa lượn rẻo mù
Rạng rỡ hương trầm ngan ngát ủ
Mơ màng phấn lụa lững lờ du
Đường thơ thỏa ý mầm thương ngụ
Nẻo ái bồng duyên nỗi lịm bù
Lộng lẫy miên trường chan chứa phủ
Nghe rừng phổ vọng khúc tình ru

Nghe rừng phổ vọng khúc tình ru
Khiến cõi lòng mơ thỏa nuộc bù
Rộn rã tim đời bao nẻo thú
Êm đềm quãng mộng lắm đường du
Mà thương kỷ niệm nồng xưa cũ
Để nhớ tình ân dẫu mịt mù
Phả mãi hoan nguyền lâng thắm nụ
Nghiêng chiều thả nắng giữa triền thu

HANSY


ĐIỆP KHÚC THU

Xõa nắng vương triền ngập áng thu
Mờ sương trắng phủ tuyết bay mù
Nàng mây cưỡi gió bồng phiêu ủ
Bóng nhạn chao tầng uyển lãng du
Nhẹ thoảng hương trời đan vấn ngụ
Ghềnh thăng sắc mộc quấn xuyên bù
Ngon ngào mật thắm tầng không rũ
Lịm bổng mơ ngàn thảnh thót ru

Lịm bổng mơ ngàn thảnh thót ru
Thầm mong trải nhẹ nhớ thương bù
Đềm êm sóng nhạc phiêu bồng thú
Nhẹ bẫng thơ vần lãng mạn du
Gạn đẫy lòng mơ xòa đắm nhũ
Khơi tràn dạ ước trải hoan mù
Nồng say điệu thắm tình đơm nụ
Xõa nắng vương triền ngập áng thu.

Hà Thu

MẤY NẺO ÂN TÌNH

MẤY NẺO ÂN TÌNH

Ước hoài suốt kiếp môi hôn 
Để nghe thủng thỉnh ngọt mềm con tim 
Chiều xưa một tấm lòng nghiêng 
Chao sang cõi nhớ triền miên cả đời.

Giọt tình thắm đượm nơi nơi 
Bờ vai xõa tóc một đời kim thoa 
Khúc xuân gọi ấm giao hòa 
Mùa trăng tiền kiếp vỡ òa ngóng mong.

Tình mình tỏa rộng tầng không 
Bao ân tình gói cho tròn chữ duyên 
Long lanh ánh mắt mơ huyền 
Soi trong tim mộng bên thuyền đã lâu.

Cau nguyền đượm tím hương trầu 
Dù xa mấy nẻo tìm nhau giữa lòng…

HANSY

BẼ BÀNG

BẼ BÀNG
[Giao cổ]

Tình yêu cuối nẻo úa phai rồi
Quá vãng hoan tình nuối tiếc ơi
Ái cũ lặng đìu hiu xót dạ
Ê chề đợi bóng nghĩa nào vơi
Tưởng là thẫm ước đời sum hiệp
Đâu biết sai nguyền thệ rớt rơi
Thơ thẩn một mình trong kỷ niệm
Sâm Thương cách trở biệt tăm lời

Sâm Thương cách trở biệt tăm lời
Níu mấy bây giờ ái vẫn rơi
Cứ tưởng chân lòng duyên chẳng đổi
Ai dè bạc phước mộng rồi vơi
Chia lìa hỡi gối chăn choàng hận
Mây nước tích hờn giã biệt ơi
Bóng đổ chiều nghiêng sầu quạnh hắt
Tình yêu cuối nẻo úa phai rồi


HANSY

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

BỆNH SÍNH CHỮ NHO

BỆNH SÍNH CHỮ NHO

Hồi xưa, chữ Trung Quốc được người Việt gọi là chữ Hán, chữ nho. Gọi là nho có lẽ do nó gắn với Nho giáo, sự truyền bá Nho giáo ở nước ta suốt cả nghìn năm.

Có lần, đọc bài Hành đạo ở Trường Sa của hai phóng viên Trần Đăng, Ngọc Minh trên báo Thanh Niên, tôi rất xúc động. Nhưng thích nhất chi tiết này khi tác giả viết về những ngôi chùa trên đảo: "Tất cả hoành phi, câu đối đều viết bằng chữ Việt".  

Tôi không phải là người ghét chữ Hán đến mức buột mồm như cụ Tú Xương "nào có ra gì cái chữ nho", mà cụ tú cũng giận lẫy thế thôi bởi thời cụ chữ nho vẫn còn thịnh lắm. Suốt bao thế kỷ, chữ nho độc tôn, là ngôn ngữ viết chính của nền văn hóa, và sau này khi đã có chữ quốc ngữ la tinh rồi chữ nho vẫn có vị trí đáng kể trong đời sống người Việt. Nói thế để thấy đừng nên cực đoan, đừng như vài ba vị cứ gặp nho gặp Hán là dè bỉu, bài bác.

Nói cho công bằng, trong suốt hàng chục thế kỷ, không thể thiếu chữ nho để xây đắp nền văn hóa Việt. Chẳng phải vô tình khi nhiều bộ sử nước nhà đã chép công lao của Sĩ Nhiếp (thế kỷ thứ 2 sau công nguyên), thậm chí tôn ông là Sĩ vương, mà một trong những công tích lớn nhất của ông là "phổ cập" chữ Hán cho hàng ngũ quan lại, trí thức đương thời. Biết bao di sản mà ông cha chúng ta bao đời truyền lại để lại gắn với chữ nho, nhất là kho tàng Hán-Nôm, chúng ta đến giờ vẫn chưa khai thác hết. Tôi có những người bạn cả đời chỉ nghiên cứu Hán-Nôm, sống chết với chữ nho, và tôi luôn tôn trọng, kính phục họ. Một trong những người ấy là nhà nghiên cứu Hán-Nôm nổi tiếng Cao Tự Thanh.  

Lịch sử Việt Nam hàng ngàn năm gắn với sự cai trị của nước ngoài nên việc chữ Hán, chữ Pháp có những giai đoạn, thời kỳ dài ngắn khác nhau thống trị ngôn ngữ, phổ biến trong đời sống xã hội, văn hóa là không tránh khỏi. Nhiều công trình kiến trúc, đặc biệt là đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm; các trang trí nội thất như hoành phi, câu đối; rồi những văn bia, mộ chí... đều ghi dấu tiền nhân bằng chữ Hán, có ai thắc mắc gì đâu. Thời như thế thì phải thế.  

Điều đáng nói đáng bàn là giờ đây thời thế đã khác nhiều, khác căn bản nhưng vẫn còn rơi rớt những thói quen, cách nghĩ, cách làm quá xưa quá cũ. Một trong những tàn tích ấy là thói sính chữ Hán, chữ nho. Có ai đó bảo do tâm lý nô lệ, nhược tiểu, tôi cho rằng quy như thế hơi quá. Nhiều khi chỉ là thói đua đòi, hợm hĩnh, ra vẻ ta đây; cũng có khi là nông cạn, ngu dốt mà thôi.  

Chả có lý gì khi xây ngôi chùa mới, chùa Bái Đính chẳng hạn, lại cứ phải rải chữ nho từ ngoài cổng vào đến tận bàn thờ phật. Không dùng thứ chữ tượng hình ấy sẽ kém tôn nghiêm, kém đẹp, kém uy chăng? Chả lẽ ở chùa cứ phải chữ nho, còn dùng chữ quốc ngữ hiện thời sẽ không hợp? Xin nhớ cho, đây là chùa Việt chứ không phải chùa Trung Quốc, của người Việt chứ không phải người Trung Quốc, dù đặt nó ở bất cứ đâu trên đất nước này. Cũng đừng lý sự chùa ngoài đảo mới cần thuần Việt, còn đất liền áp cho nó chữ nào chả được. Không đâu, dùng chữ này hay chữ kia là sự thể hiện ý thức văn hóa đấy.  

Lại nhớ có nhiều vị ưa treo chữ trong nhà, mà phải chữ Hán, viết kiểu thư pháp, chữ tâm, chữ đức, chữ nhẫn, v.v.. Trừ một số ít hiểu sâu sắc nghĩa của chữ đã treo, còn đa số chả hiểu gì, bởi thấy người ta chơi thì mình cũng chơi thôi. Tôi không ủng hộ việc đem chữ quốc ngữ ra viết loằng ngoằng gán cho nó mỹ từ thư pháp (chỉ đơn giản là chữ quốc ngữ không hợp với thư pháp) nhưng cũng chả ưa mấy ông bà chữ nhất bẻ đôi không biết vẫn dán chữ nho Tàu khắp trong nhà ngoài ngõ. Nực cười nhất là không ít ông to bà nhớn, lãnh đạo này nọ cũng mê cũng thích kiểu trưng diện này. Xem như thứ mốt chứng tỏ thứ hạng cao trong xã hội.

Sẽ có người cho tôi lắm chuyện, nặng tâm lý bài Hoa nên mới giở giói vậy. Không, hoàn toàn không. Các vị cứ hình dung xem những ngôi chùa mới của nước Việt Nam độc lập tự chủ mà nhan nhản chữ Hán thì hay ho nỗi gì.


Nguyễn Thông

CỐT VUI

261.
CỐT VUI

Kẹt vần cạn tứ
mãi trên đời 
Đâu phải
ngày nao cũng ngọt lời 
Lắm lúc bần thần nơi trí bác 
lần lúng túng giữa hồn tôi 
Làm thơ cốt để gieo tình bạn 
Dẫn ý thực ra nối cảm người 
Được phước lộc
ban vài bảy chữ 
Cùng nhau xướng họa cám ơn trời 

HANSY


GIAO TRỜI 

Cố sống
làm sao thỏa với đời 
Người
đi thiên hạ vẫn lưu lời 
Ngàn năm chớp nhoáng đừng lo bạn 
Một kiếp
so kè chẳng bận tôi 
Nhân ái
liền thân tròn nghĩa phú 
Cảm tình giao kết
vẹn tim người 
Hòa tâm
bác ái lời thơ bổng
Còn mất
hình như thuộc số trời 

HANSY


CHÚC THỌ BÁT TUẦN

Bát thọ sủng ân hưởng lộc trời 
Khắp trong thiên hạ chỉ 
đôi người 
Cầu mong 
sức khỏe luôn ng bác 
Ao ước 
ân tình mãi với tôi 
Kính chúc trường đồ tri mã lực 
Thầm xin 
ân phước tụ kim lời 
Phú thơ xướng họa hoài bay bướm 
Rỡ mặt 
đàn ông giữa cuộc đời 

HANSY

TÌNH NAO

TÌNH NAO

Tình muôn thuở là tình sâu
Sao mong manh được nhỉ?
Yêu là thật đấy chứ
Bởi mong ngóng hằng giờ.

Đã trót thương thì nhận
Ai chê bai tình si
Em ơi, hỏi lòng lại
Yêu thật hay yêu thơ? 

Dẫu có đi xa vẫn nhớ em
Nhớ khi hai đứa hẹn bên thềm
Nhớ đôi mắt ấy long lanh sáng
Nhớ mãi môi nàng, nụ cười duyên.

Em ơi, đừng quên lãng tình ta
Dặn lòng chung thủy, chớ phôi pha
Trăm năm thề hẹn xin ghí nhớ
Để mãi tình yêu đẹp như hoa.

HANSY 

SẮC TOÁN HOA

SẮC TOÁN HOA
[Ngũ độ- Sắc-Toán-Hoa]

MỖI nhánh MAI Vàng tỏa rạng bông
VÀI thân HUỆ trắng mải mê bồng
NHIỀU hôm SỨ giả Chàm loam gọi
NHỮNG buổi TRANG đài Tím rịm trông
PHƯỢNG vỹ BAO lần loang Đỏ ánh
QUỲNH hương MẤY dạo khỏa Xanh đồng
HỒNG tươi CHÍN bận ngời thơm thảo
BÁT nhã LAN chiều Sạm rẻo không

MỘT quãng anh ĐÀO đẩy Xám không
Kìa HAI CÚC đượm trải Vang đồng
BA HÒE Lục tửu êm đềm nhắm
BỐN MẬN Thanh trà thỏa mãn trông
TỶ cuộc LIÊN hoàn Ghi nhớ xõa
NGÀN câu ĐIỆP ngữ Tái tê bồng
MUÔN đời CẨM CHƯỚNG luôn ĐÀ đượm
Biếc vẻ SIM Huyền giữa TRIỆU bông


HANSY

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Kỳ 80 - HỒ NGUYÊN TRỪNG VÀ CUỘC ĐỌ SÚNG ĐẪM MÁU VỚI QUÂN MINH

Kỳ 80
--------
HỒ NGUYÊN TRỪNG
VÀ CUỘC ĐỌ SÚNG ĐẪM MÁU VỚI QUÂN MINH

Quân Minh có trang bị nhiều súng hỏa mai cầm tay và cả súng đại bác, gây cho quân Đại Ngu rất nhiều thiệt hại. Phía Đại Ngu cũng không kém cạnh, với sức mạnh vượt trội của súng đại bác mang tên Thần Cơ Sang Pháo do Hồ Nguyên Trừng chế tác, quân ta trút bão lửa lên đầu quân xâm lược không khoan nhượng.

Vương triều nhà Hồ lãnh đạo quân dân kháng chiến chống quân Minh xâm lược trong bối cảnh gặp khá nhiều bất lợi. Ở phương bắc, vùng đệm Vân Nam đã hoàn toàn không còn tác dụng. Vân Nam giờ đây đã là vùng đất được khai thác mạnh mẽ, đủ điều kiện để làm một bàn đạp vững chắc cho cuộc xâm lược xuống phía nam. Quân Minh khác với các đội quân phương bắc trước kia, chúng có thể tiến quân từ cả Vân Nam và Quảng Tây vào nước ta với quy mô lớn mà vẫn đảm bảo được đường hậu cần thông suốt. Ở phương nam, các châu mới sáp nhập từ Chiêm Thành là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa còn đầy bất ổn, cùng với sự thù địch của quân Chiêm Thành khiến cho Đại Ngu phải san sẻ một phần binh lực đáng kể phòng thủ biên thùy phía nam. Trong nước, nhân dân nhiều người không đồng lòng, một số kẻ chực chờ nối giáo cho giặc… Tuy vậy, với quân đội đông đảo, vũ khí trang bị mạnh, thành trì vững chắc, nhà Hồ không phải là không có cửa thắng trong cuộc chiến.

Biết quân Minh tiến sang, đầu não triều đình cùng nhau bàn bạc kế sách chống giặc. Bấy giờ có tướng người Chăm trong quân là Bố Đông hiến kế nên đem tinh binh lên đón đánh quân Minh ngay tại các cửa ải biên giới, không cho chúng tiến xuống đồng bằng. Các tướng khác của nhà Hồ vì sợ sức mạnh kỵ bộ của quân Minh nên không theo kế của Bố Đông. Vua Hồ Hán Thương chỉ bố trí một ít quân biên phòng giữ các cửa ải, còn đại quân thì dựa vào thành trì và chiến lũy dọc sông Thao, sông Lô, sông Hồng mà bày trận thủy bộ dựa vào nhau.

Quân Minh từ hai hướng Vân Nam, Quảng Tây bắt đầu tấn công từ cuối thu năm 1406. Từ Vân Nam, Mộc Thạnh cùng Tham tướng Lý Bân đem binh phu 40 vạn đánh vào cửa ải Phú Lệnh (thuộc Hà Giang ngày nay). Đường đi từ hướng này xuống đồng bằng trung châu hiểm trở, quân Minh phải xẻ núi, phá rừng mà đi. Mộc Thạnh sau đó dẫn quân men theo dọc bờ sông Thao tiến xuống. Trương Phụ cùng Tham tướng Trần Húc từ Quảng Tây cũng đem 40 vạn binh phu tấn công ải Pha Lũy (tức ải Nam Quan), theo đường Lạng Sơn tiến xuống đồng bằng. Trương Phụ hành quân rất quy củ. Quân Minh chia làm nhiều toán, cứ toán này đi trước mai phục, toán sau hành quân, thay phiên cho nhau. Binh lực Đại Ngu ở ngoài biên cảnh quá mỏng và yếu, không cản nổi giặc.

Đến tháng 11.1406, quân của Mộc Thạnh tiến đóng quân tại Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ ngày nay), đối trận với quân Đại Ngu ở thành Đa Bang hai bên bờ sông Lô, sông Hồng. Trương Phụ hành quân từ Lạng Sơn xuống Tiên Phúc, đi đường tắt đến Bạch Hạc. Quân Minh hai cánh họp làm một, đóng trại dày đặc ở Bạch Hạc. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng cầm quân đóng dọc sông Hồng, cùng liên kết với quân của Thiêm văn triều chính Hồ Đỗ đóng ở sông Trú Giang, dưới sông dàn chiến thuyền, trên bờ bộ binh dàn dọc các chiến lũy, cứ điểm để chặn giặc. Quân Đại Ngu chủ ý đánh lâu dài cho quân Minh mệt mỏi, hết lương phải tự rút lui. Trương Phụ án binh bất động không giao chiến, chờ quân ta sang đánh trước. Hồ Nguyên Trừng cũng chẳng buồn cho quân sang đánh, chỉ giữ vững trận địa. Vì thế nên hai bên tuy dàn quân rầm rộ mà suốt nhiều ngày không giao chiến một trận nào.
Trương Phụ theo kế của Chu Năng (đã chết trên đường hành quân), đem những bản văn tuyên truyền khắc vào các tấm ván rồi thả trôi sông để lung lạc tinh thần quân dân Đại Ngu. Các bản văn này có nội dung kể tội triều đình nhà Hồ, nói rằng quân Minh sang chỉ để đánh họ Hồ, tìm người họ Trần để lập làm vua. Bất chấp những lời dối trá, đại bộ phận nhân dân trên những vùng quân Minh đi qua dọc theo sông Lô đều làm kế vườn không nhà trống theo lệnh triều đình, tuyệt nguồn cung ứng của giặc. Tuy nhiên, những bản văn đã làm lung lạc được một số bộ phận binh lính nhà Hồ và dụ dỗ được một số trí thức bất đắc chí. Bọn Mạc Địch, Mạc Thúy, Mạc Viễn, Nguyễn Huân… đem gia quyến theo hàng giặc, làm chỉ điểm cho quân Minh, được Trương Phụ trao cho quan tước.

Cuối đông năm 1406, quân Minh bắt đầu tấn công. Trương Phụ đem quân đánh úp vào khối quân của Hồ Xạ, chỉ huy quân Tả Thánh Dực đóng tại bãi sông Bạch Hạc. Hồ Xạ bị đánh gấp, các quân khác không kịp tới cứu nên phải cho quân rút lui về bờ nam sông Hồng dàn trận. Quân Minh chiếm được Việt Trì, toàn bộ bờ bắc sông Bạch Hạc. Lúc này, trận thế quân Đại Ngu vẫn còn khá vững. Kế đó, đêm 15.1.1407, quân Minh khiêng thuyền ra bờ sông định vượt sông tấn công. Tướng quân Trần Đĩnh dẫn thủy quân ra đánh, giặc phải rút chạy sâu vào bờ. Tướng Minh liền bắt những binh lính đã rút lui đem ra xử theo quân pháp. Các tướng sĩ nước Minh thấy vậy, đều sợ tội mà liều chết để đánh.

Chỉnh quân xong rồi, đêm 17.1.1407 Trương Phụ lại sai quân âm thầm vượt sông đánh úp quân Đại Ngu ở bãi sông Mộc Hoàn phía bờ nam. Nơi này là vị trí chiến lược quan trọng, do hiệu quân Tả Thần Dực tinh nhuệ chốt giữ, dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Công Khôi. Đương lúc chiến sự hệ trọng, Nguyễn Công Khôi lại không biết giữ mình. Khi quân Minh thình lình tấn công, Khôi đang vui chơi nữ sắc, lơ là phòng bị. Vì sự tắc trách tai hại này, quân Tả Thần Dực đã không kịp trở tay, bị quân địch diệt gọn, thuyền bị cháy gần hết. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư miêu tả trận đánh “lặng im không có tiếng động của chiến trận”. Vì Mộc Hoàn bị thất bại nhanh ngoài dự kiến, các khối quân Đại Ngu đóng gần đó không làm sao tới ứng cứu kịp. Quân Minh chiếm được bãi sông rồi, bèn cho bắt cầu phao ồ ạt đổ quân sang bờ nam. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng lệnh cho đại quân rút vào trong thành Đa Bang cố thủ.

Đầu năm 1407, Mộc Thạnh bàn với Trương Phụ: “Những hàng rào gỗ mà bên địch dựng lên đều sát liền sông, quân ta không thể tiến lên được. Chỉ có Đa Bang là nơi đất cát bằng phẳng có thể đóng quân, chỗ ấy tuy thành đất khá cao, bên dưới có mấy tầng hào, nhưng khí giới đánh thành của ta đều đầy đủ, đánh mà chiếm lấy cũng có phần dễ”.

Trương Phụ nghe theo, triệu tập toàn quân truyền lệnh: “Quân giặc chỉ cậy có thành này, mà chúng ta lập công cũng ở một trận này; tướng sĩ nào trèo lên thành được trước, sẽ đặc cách hậu thưởng không câu nệ theo thứ bậc thông thường”.

Truyền lệnh xong rồi, Trương Phụ chia quân làm hại đạo, nhân đêm tối hẹn nhau công phá thành Đa Bang. Đạo thứ nhất do Trương Phụ chỉ huy cùng với Hoàng Trung, Thái Phúc dẫn quân Minh tấn công từ phía tây bắc. Đạo thứ hai do Mộc Thạnh cùng Trần Tuấn đánh mặt đông nam. Quân Minh âm thầm tiến quân gần thành rồi đốt đuốc, thổi tù và làm hiệu, dùng thang vân thê (loại thang chuyên dụng để công thành) mà trèo lên phá thành. Lúc này quân Đại Ngu còn khá mạnh, đóng dọc sông rất nhiều nhưng hành động bất nhất, một số tướng lĩnh vẫn không đem quân tới cứu khi thành Đa Bang bị công phá dữ dội.

Tuy vậy, tại thành Đa Bang, quân Đại Ngu dưới sự chỉ huy của Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã chống trả rất dũng cảm. trận đánh này, hỏa khí của cả hai bên đều thi thố hết sức. Quân Minh có trang bị nhiều súng hỏa mai cầm tay và cả súng đại bác, gây cho quân Đại Ngu rất nhiều thiệt hại. Phía Đại Ngu cũng không kém cạnh, với sức mạnh vượt trội của súng đại bác mang tên Thần Cơ Sang Pháo do Hồ Nguyên Trừng chế tác, quân ta trút bão lửa lên đầu quân xâm lược không khoan nhượng. Chiến sự diễn ra rất đẫm máu, quân Đại Ngu chết nhiều nhưng vẫn kiên cường tử thủ, gây thiệt hại nặng nề cho đối phương. Hai bên đánh nhau từ tối đến sáng, quân Minh chết la liệt dưới chân thành, xác chất cao đến ngang mặt thành nhưng vẫn không tên nào dám thoái lui, vì Trương Phụ dùng quân pháp rất nghiêm.

Chiến sự đương lúc dằn co dữ dội thì tướng lĩnh Đại Ngu mắc sai lầm. Tướng chỉ huy quân Thiên Trường là Nguyễn Tông Đỗ muốn dùng tượng binh thủ thắng, bèn đục thành lùa voi ra đánh. Quân Minh thấy voi, ban đầu hơi núng thế. Nhưng sau đó, Trương Phụ cho kỵ binh cưỡi ngựa vẽ hình sư tử tấn công, lại dùng súng đại bác và hỏa tiễn bắn tới tấp vào voi. Voi của Đại Ngu không được huấn luyện kỹ, nghe tiếng súng thì hoản loạn, co vòi chạy ngược vào trong thành. Quân Minh tung kỵ binh theo đường voi chạy đánh thẳng vào thành.

Thế trận của quân Đại Ngu bỗng chốc hỗn loạn, thành cơ hồ không thể giữ nổi. Tình thế buộc Hồ Nguyên Trừng phải hạ lệnh toàn quân bỏ thành rút lui về giữ sông Hoàng Giang.  Bấy giờ là ngày 20.1.1407, thành Đa Bang rơi vào tay giặc. Các tướng Lương Dân Hiến, Thái Bá Nhạc tử trận. Quân Minh thu được 12 thớt voi, rất nhiều vũ khí, thuyền bè. Các tướng khác của Đại Ngu đóng quân dọc sông Hồng hay tin Đa Bang thất thủ cũng đều kéo quân rút theo Hồ Nguyên Trừng cả. Thành Đông Đô, kinh đô cũ của nước Đại Việt lúc này bị bỏ ngỏ, nhân dân không kịp sơ tán.

Quân Minh theo dòng sông Phú Lương tiến quân xuống, tràn vào Đông Đô, bắt cóc phụ nữ, cướp bóc vàng lụa, lương thực, cảnh tượng vô cùng bi thảm. Chúng còn bắt con trai đem thiến để làm hoạn quan, đặt quan lại trấn trị, vơ vét tiền đồng các xứ và cho người chạy trạm báo tin về kinh đô Kim Lăng (Nam Kinh) của nước Minh.Những nhân dân trước đây còn phân vân về động cơ của giặc khi đem quân sang nước ta, thì nay được dịp hiểu rõ bản chất giả nhân giả nghĩa, tàn ngược vô đạo của quân xâm lược.

Quốc Huy



KHÓC-THƯƠNG

42.
KHÓC-THƯƠNG
[Thuận Nghịch độc]

Thương đắng quạnh sầu mải miết khơi
Khóc vùi đau phận hẻo tình vơi
Thương nhàu trí não hoen chùng dậy
Khóc nghẹn tim lòng xót lụy cơi
Thương úa lặng hồn điên đảo dạ
Khóc than ngùi lệ xót xa đời
Thương chiều khúc mộng tan mờ nẻo
Thương nhớ chia lìa dạ nát rơi

Rơi nát dạ lìa chia nhớ thương
Nẻo mờ tan mộng khúc chiều thương
Đời xa xót lệ ngùi than khóc
Dạ đảo điên hồn lặng úa thương
Cơi lụy xót lòng tim nghẹn khóc
Dậy chùng hoen não trí nhàu thương
Vơi tình hẻo phận đau vùi khóc
Khơi miết mải sầu quạnh đắng thương

HANSY


THƯƠNG-NHỚ

Thương người hỡi mộng ấm tình khơi
Nhớ chũng chao tàn xước nhạt vơi
Thương rát bỏng chờ đêm trỗi dậy
Nhớ nồng say đợi tối choàng cơi
Thương còn mãi tạc lòng ghi dạ
Nhớ vẫn hoài neo mộng khắc đời
Thương hãy nhé đừng xa cách nẻo
Thương lòng ghép lại xóa tàn rơi

Rơi tàn xóa lại ghép lòng thương
Nẻo cách xa đừng nhé hãy thương
Đời khắc mộng đeo hoài vẫn nhớ
Dạ ghi lòng tạc mãi còn thương
Cơi choàng tối đợi say nồng nhớ
Dậy trỗi đêm chờ bỏng rát thương
Vơi nhạt xước tàn chao chũng nhớ
Khơi tình ấm mộng hỡi người thương.

Hà Thu

BỐN MÙA MÊNH MÔNG

BỐN MÙA MÊNH MÔNG

Xuân ơi, hoa lá mừng vui 
Sắc hồng đượm thắm màu trời ngát xanh
Nụ tình khoe sắc lung linh
Mừng em về lại bên mành dòn tươi.

Ve ngâm khúc nhạc hạ ơi 
Nghe man mác giữa góc đời thênh thang
Đỏ chen sắc mộng hoa vàng
Cài em tim nhớ, mông mênh giữa đời.

Giọt tình rồi lại rơi rơi 
Buồn tha thắt ấy gởi người chốn vui
Sương thu lạnh lẽo tím đời
Về mau sưởi ấm góc phơi chuyện tình.

Rồi thì tuyết lạnh giá đông 
Tình rơi mấy nhịp phai hồng, người ơi
Gạn lòng gởi đến chút lời
Thương nhau đừng để chơi vơi cuộc tình…

HANSY

HOAN CA

HOAN CA
[Ngũ độ]

Sẽ lịm phùng hoan phả biếc thềm
Cho tình mơ lạc giữa trời êm
Mùa thương ngả ngớn chao bừng nệm
Quãng nhớ la đà lộng phả đêm
Phảng phất giường chăn bồng mượt diễm
Lần khân núi vịnh tỏa thơm mềm
Rồi mơ mộng nghỉm khi tình nếm
Chỉ thấy đất trời mỗi một em

Chỉ thấy đất trời mỗi một em
Thầm nghe gió mộng thoảng hương mềm
Ngàn sương ngát tỏa vào chăn nệm
Vạn gió toang nồng giữa cảnh đêm
Rộn rã nguyền ân thừa thải nếm
La đà ái cảm ngọt ngào êm
Cùng nhau thỏa khúc mùa lưu niệm
Sẽ lịm phùng hoan phả biếc thềm


HANSY

Thứ Bảy, 27 tháng 1, 2018

SÀI GÒN RA QUAN LẠI VÀI XỊ “LAI RAI BA SỢI”

SÀI GÒN RA QUAN LẠI VÀI XỊ
“LAI RAI BA SỢI”

Trong tiếng Việt, cái âm “B” đôi khi cũng lắm chuyện ra phết! Bước sang đầu năm mới, mình kéo nhau ra quán làm vài xị “lai rai ba sợi” chăng? Ơ hay, tại sao không là con số khác mà dứt khoát phải là “ba sợi”?

Thử bắt đầu bằng từ “ba”, tất nhiên ai cũng biết dùng chỉ số lượng, nhưng nó lại biến hóa khôn lường.

Thử liệt kê: ba búa, ba bứa, ba bớp (thứ ngang bướng, không nghe theo người khác), ba lia, ba gai/ba gai ba góc, ba kẹo (hà tiện, keo kiệt), ba lém (lém lỉnh), ba xàm, ba toác, ba nhe, ba xạo, ba lơn (nói bông lơn, pha trò đùa), ba rọi (pha tạp một cách nhố nhăng), ba đía, ba vạ (chung chạ, bừa bãi), ba láp, ba lốp, ba lăng nhăng (hạng tầm thường, lông bông), ba xi đế, ba chớp ba nháng (làm vội vã, không chu đáo), ba lô ba la, ba sớn ba sác (vô ý tứ, không chú ý), ba trợn ba trạo, ba trật ba vuột (không ăn khớp, không thuận lợi), ba sồn ba sựt (chưa gì chắc chắn, còn lở dở)…

Thành ngữ “ba que xỏ lá” nhằm chỉ sự lừa dối, gian lận, bợm bĩnh, đểu cáng. Có cách giải thích, nó ra đời từ một trò chơi bịp bợm thời trước nhằm moi tiền người khác, tuy nhiên, cụm từ đó nếu tách riêng biệt “(bọn) ba que”/“(đứa) xỏ lá” thì vẫn được hiểu theo nghĩa tương tự.

Rõ ràng, hầu hết các từ có dính dáng đến từ “ba” như nêu trên đều chỉ những sắc thái, những tính cách, những sự việc chẳng ra làm sao cả. Thoạt nghe xong, ắt muốn tránh xa cho lành.

Có những từ vay mượn từ tiếng Pháp như ba gai (pagaille), chỉ người ngang ngạnh, bướng bỉnh, không tuân theo nề nếp, vốn từ tiếng Việt lại có thêm “ba gai ba đồ”, “ba gai ba ngạnh”.

Ba nhe (panier: chỉ người khuân vác ở ga xe lửa, bến tàu) nhưng khi thâm nhập tiếng Việt lại chỉ hạng “đá cá lăn dưa”. Ba dớ (paille: vụn mạt sắt, kim loại khi dũa hoặc do sự ma sát mà có) lại phát sinh thêm “ba dấm ba dớ” theo nghĩa như vớ vẩn, không đâu vào đâu.

Ba láp (tầm phào, lếu láo mượn từ palabre). Ba xí ba tú (par-ci, par-tu), chỉ biết lõm bõm, biết lỏi, biết qua loa, hời hợt, không đến nơi đến chốn. Ba đá (soldat: đơn vị lính chính qui người Pháp), nhưng lại dùng theo nghĩa chế giễu như “Ôi! Cái thứ đồ đá, chấp làm gì”.

Khi vay mượn “bavard” là già chuyện, khoác lác để có “ba hoa”, lập tức, người Việt “chế” thêm ba hoa chích chòe, ba hoa xích đế, ba hoa xích tốc, ba hoa thiên địa, ba hoa thiên tướng… là nói luôn miệng, nói phóng đại, có ý khoe khoang.

Nói đến độ cái miệng không kịp kéo da non, lời nói không chính xác, phù phiếm, hão huyền nhằm “chém gió” cho sướng miệng.

Có lẽ, “ba hoa xích đế” cũng là cụm từ nhiều người tranh luận nhất. Theo Vũ Bằng, “ba xích đế” bắt nguồn từ “ba xị đế”. “Đế” là một thứ rượu nấu bằng cỏ đế: “Trước đây, vì độc quyền nấu rượu trong tay người Pháp, nên ở miền Nam, muốn có thứ rượu vừa rẻ vừa ngon do nông dân ta lấy gạo nếp làm ra, cũng phải nấu lậu.

Muốn nấu “lậu” phải ra biền (ruộng) mà nấu. Ngoài biền không sẵn củi nên phải nấu bằng cỏ “đế”. Vì thế, gọi là rượu đế, tức rượu lậu đun bằng cỏ đế”.

Nhưng vì sao lại gọi “ba xị đế”? Vì chỉ uống chừng đó là say - mà đã say thì nói năng không kiểm soát thành ra câu chuyện trở thành “tào lao xích đế”. Nghe cũng có lý đấy chứ? Những tại sao từ “xị” lại biến âm ra “xích”?

Xị là dung tích tương đương một phần tư lít, nhưng tại sao gọi là xị? Theo nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ, “xị” là nói tắt của “xá xị”, dung tích của chai xá xị đã được dân chúng công nhận. Nếu đúng như thế, “xị” mới xuất hiện chừng trăm năm trở lại đây thôi.

Bằng chứng, trong ca dao tục ngữ, thơ văn cổ chỉ xuất hiện “bầu/nậm/vò”, chẳng hạn: “Tay cầm bầu rượu nắm nem/ Mải vui quên hết lời em dặn dò”; “Ông mất chân giò, bà thò nậm rượu”; hoặc: “Anh giúp một thúng xôi vò/ Một con lợn béo một vò rượu tăm”.

Thêm một bằng chứng nữa là từ điển của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895) không ghi nhận, chỉ có loạn xị, xuôi xị.


LÊ MINH QUỐC