Thứ Hai, 29 tháng 2, 2016

♥♥


Tiếng Việt Lắt léo: NGÀY XANH NHƯ NGỰA - Lê Minh Quốc



Tiếng Việt Lắt Léo: 
NGÀY XANH NHƯ NGỰA 

Tiếng Việt lắt léo, đa dạng và lắm lúc cùng sự vật nhưng lại có nhiều từ diễn tả, diễn đạt khác nhau với các sắc màu, sắc thái, thiên biến vạn hóa. Lần này là câu chuyện màu sắc.

Ví dụ “mắt xanh” có phải con mắt đã được các chị em nhà mình trang điểm? Không, nó có một hàm nghĩa khác, như lúc Từ Hải ướm lời hỏi Thúy Kiều: “Mắt xanh chẳng để ai vào có không?”, có thể hiểu, bấy lâu nàng đã có ai lọt vào “tầm ngắm” của nàng chưa?

Thế nhưng, một khi đã nói “mắt xanh mũi lõ”, dứt khoát đích thị…mắt xanh.
Đã nói đến “mắt” nhân thể “đá giò lái” luôn qua cái mặt.

“Xanh mặt”, không phải miêu tả cái bổn mặt xanh xao mà nhằm chỉ cảm giác đang sợ hãi, khiếp đảm. “Mặt xanh” cũng vậy. “Lỡ ăn một miếng trầu anh/ Đêm lo ngày sợ mặt xanh như chàm”.

Cũng có lúc người ta sử dụng cả màu vàng: “Đánh không được người mặt đỏ như vang/ đánh được người rồi mặt vàng như nghệ”.

Nhưng cái màu vàng, màu xanh trong câu “Mặt xanh, nanh vàng” cũng hàm ý đó chứ gì? Không, nó nhằm chỉ sự ốm yếu bệnh tật, xanh xao vàng vọt; rồi nước da tất nhiên là xanh nhưng xanh thế nào? Phải là “xanh rớt”, “xanh mét”, “xanh lè”, “xanh lét”...

Tương tự, còn có câu “mặt xanh, mày xám”. Cái mày xám ấy, có lúc cái mặt cũng “giành” luôn, chẳng hạn, “mặt xám như gà cắt tiết”. Không những thế, còn có “mặt sắt đen sì”, “mặt đỏ như gà chọi” v.v… Tuy nhiên, “mặt xanh như đít nhái” vẫn là cách nói ấn tượng hơn cả.

Thi sĩ Tản Đà có câu thơ: “Ngày xanh như ngựa đầu xanh bạc/ Hết cả giang hồ, hết cả ngông”.

Ta hiểu, “ngày xanh” chỉ thời tuổi trẻ, năm tháng đó qua nhanh như ngựa phi đường xa. Đọc Kiều, ai lại không nhớ đến câu: “Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”; hoặc nghe câu “đầu xanh tuổi trẻ”.

Đầu ắt có tóc. Tóc nhanh nhánh hạt huyền, chẳng ai gọi tóc đen mà nói rất ư hình tượng “tóc xanh”. Thế lúc tóc đã lẫn nhiều sợi tóc bạc, gọi thế nào? Gọi tóc “muối tiêu”.

Gần đây còn nghe thêm câu “thành ngữ” mới - nhằm khẳng định “đẳng cấp” của “dân chơi cầu Ba Cẳng": “Túi ánh bạc, tóc ánh kim, chim ánh thép”. Thì ra "ánh bạc” là một cách nói về tóc “muối tiêu” đấy thôi.

Thế còn “chim ánh thép”?

Khoan vội trả lời, ta hãy nhớ về “chim xanh” trước đã. Cụ Đào Duy Anh giải thích: “Có truyện cổ tích nói rằng xưa vua Hán Vũ đế đương ngồi, có con chim xanh bay đến, Đông Phương Sóc nói: “Đấy là sứ giả của Tây Vương mẫu đến”. Sau người ta lấy chim xanh để tỉ dụ sứ giả, người đưa tin hay người làm mối”.

Chữ xanh còn dùng trong trạng thái đói là “đói xanh xương” nghe rùng rợn thật! Vậy lúc bình bình thường, chẳng đói khát gì, ăn no phởn phơ thì xương màu gì? “Xương trắng” chăng?

Trả lời câu này xin dành cho các nhà phẫu thuật, nhưng một khi nói “xương trắng” không ngoài chỉ sự chết chóc. Chơi ma túy là chơi “hàng trắng”; chết vì hút xách, chích choác thì gọi “cái chết trắng”.

Cũng sắc màu trắng ấy, lại còn có nhiều sắc thái khác nhau. “Ăn trơn mặc trắng”, chẳng phải người mặc y phục màu trắng mà chỉ sự cao sang, giàu có. “Áo trắng” còn ngụ ý nói đến lứa tuổi hoa niên, học trò.

“Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong” (Huy Cận) là cái nghĩa đó. “Nói trắng ra” thì “trắng” lại hàm nghĩa nói toạc móng heo, nói thẳng ruột ngựa, chẳng cần úp úp mở, rào trước đón sau.

Khi nghe kháo nhau: “Chàng kia tay trắng”, ta hiểu, không có vốn liếng, tài sản gì sất; nhưng “trắng tay”, dứt khoát anh chàng kia trước đó đã có của ăn của để, có xe, nhà cao cửa rộng nhưng vì một lý do gì đó, nay chẳng còn gì sất!

Này, ông nhà thơ Huyền Kiêu quả quyết: “Hạ đỏ có chàng tới hỏi/ Em thơ, chị đẹp em đâu?" Thế nhưng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại nhìn thấy “hạ trắng”.

Còn các bạn thanh thiếu niên ngày nay lại cảm nhận nó màu xanh! Bằng chứng đây nè: “Mùa hè xanh” - đang là một hoạt động cộng đồng đã và đang diễn ra từ nhiều năm nay.

Ôi, cái màu xanh tưởng chừng như đơn giản mà cũng lắm chuyện đấy chứ? Nhưng câu thơ của Tế Hanh mới rắc rối hơn nhiều: “Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị” là xanh ra làm sao?

LÊ MINH QUỐC


RA MẮT NGƯỜI YÊU

RA MẮT NGƯỜI YÊU

Hôm qua ra mắt người yêu
Bỗng dưng trong bụng có nhiều cái lo

Một là mặt mũi lu mờ
Đã không duyên dáng lại lơ ngơ nè
Bởi nàng xinh đẹp đắm mê
Kề bên như phố với quê cách rời...

Hai, thiếu tự tin mất rồi
Ấp a ấp úng chẳng lời nào ra
Ngày thường cái miệng ba hoa
Mà sao khi gặp cứ tha thít hoài...

Ba là, mắc cỡ nóng tai
Trên Net thì dạn, trước người thì run
Tay chân lóng ngóng, bồn chồn 
Thấy thừa thãi quá vì hồn mất tiêu...
............
Lu mờ thì vẫn còn nhiều 
Nhưng nàng đã quyết: Cứ Yêu!
Nên mừng
Kaka……….

HANSY

CƯỚI CHỒNG


105.
CƯỚI CHỒNG

Cau trầu đem cưới thì nhanh
Thơ ca cưới vội nét thanh hồng hào

Em thì... không thể cưới mau
Còn chờ tưới mấy ngọn rau đã trồng

Để mua mấy sợi tơ hồng
Đem làm sính lễ "cưới chồng" để "sai"

Quét nhà dọn dẹp trong ngoài
Cho em đỡ gánh nhẹ vai việc nhà

Hoatim
*
CƯỚI ĐẠI ĐI

Thôi mà, cưới đại cho nhanh
Góp gom cũng được trong anh nhiều hào 
Sợ rằng cưới hỏi chẳng mau 
E là giông gió uổng cau chăm trồng.

Phấn son điểm thắm má hồng 
Thì em cứ việc cưới chồng mà sai 
Ngày lo chu tất việc ngoài 
Tối thì phục vụ dáng nai trong nhà.

Tình đà rộng mở bao la
Chần chừ chi nữa kẻo già cau đi…

HANSY

DIỄM ẢO


DIỄM ẢO 
(Thuận Nghịch độc)

Say đắm hỡi người diễm ảo hương 
Ngợi ca nồng diệu thắm môi hường 
Ngày loang én mộng chào nơi nhớ
Tuổi dậy trăng tình vén cõi thương
Bay ước vạn nguyền khoe dáng mỹ
Lượn mơ ngàn tú dệt mi trường
Bày phô huyễn cảnh mừng hoa nguyệt
Lay đượm ái tình thẫm mộng vương

Vương mộng thẫm tình ái đượm lay 
Nguyệt hoa mừng cảnh huyễn phô bày 
Trường mi dệt tú ngàn mơ lượn
Mỹ dáng khoe nguyền vạn ước bay
Thương cõi vén tình trăng dậy tuổi
Nhớ nơi chào mộng én loang ngày
Hường môi thắm diệu nồng ca ngợi
Hương ảo diễm người hỡi đắm say

HANSY

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

♥♥


♥♥


27- DU THẢN CHI


27
DU THẢN CHI
Thảm kịch khúc phượng cầu lạc điệu!

Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em

(Phụng hiến - Bùi Giáng)

Tôi muốn dùng hai câu thơ thiết tha cháy bỏng đó để làm "hành trang" cùng bạn đọc đi vào tâm hồn của một nhân vật của Kim Dung, nhân vật xứng đáng được gọi là kẻ tình nhân vĩ đại nhất trong mọi nền văn học cổ kim: Du Thản Chi trong Thiên Long Bát Bộ. 

Hình tượng cực cùng bi thảm của Du Thản Chi đã gây cho người viết nỗi chấn động kinh hoàng từ thuở nhỏ. Cậu học sinh mới bước vào ngưỡng cấp 3 là tôi ngày ấy đã thẫn thờ khép tập sách cuối cùng của Thiên Long Bát Bộ lại với tất cả nỗi hoang mang thơ dại của tuổi học trò. Tiếng Du Thản Chi tuyệt vọng kêu gào tên A Tử giữa cảnh trời chiếu quan ải, với đôi mắt mù lòa đẫm lệ, như đồng vọng mãi trong tâm khảm người đọc, và như muốn réo gọi những ẩn ngữ thương đau nào còn đang mơ hồ chìm khuất giữa nhân gian.

Một thanh niên khỏe mạnh đang lứa tuổi rạo rực thanh xuân, vì muốn trả thù cha, đã tìm cách vượt qua biên giới Hán - Liêu. Hình ảnh người cha gục chết dưới chưởng lực của Tiêu Phong, trong trận huyết chiến kinh hoàng tại Tụ hiền trang, ắt hẳn đã nung nấu trong hồn y mối phụ thù "bất cộng Từ Vi Phạm thiên" cháy bỏng. Thuở lâm hành, ắt hẳn hồn y hăng hái lắm và tấc lòng hiếu thảo ấy đã sục sôi biết bao là nhiệt huyết, dù y biết rõ rằng mình tài sức thua kém hẵn Tiêu Phong. Và y đã trà trộn cùng đám người Hán để vượt qua Nhạn môn quan với tâm sự kẻ sang Tần. 

Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn 
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.
 
(Gió hắt hiu hề sông Dịch lạnh tê, 
Tráng sĩ một đi hề chẳng trở về) . 

Ngọn gió biên thùy ngoài Nhạn môn quan dầu không hắt hiu như trên sông Dịch, nhưng lòng kẻ ra đi ắt hẳn vô cùng khẳng khái, vì y hiểu rõ rằng ra đi là "nhất khứ hề bất phục hoàn" khi đem tài lực mình đối chọi với Tiêu Phong. Y đã tìm cách tiếp cận Tiêu Phong và dùng rắn độc để trả thù. 

Ngọn roi của Tiêu Phong quật chết con rắn đã dập tắt ngay ước vọng trả thù của người con hiếu hạnh ấy. Con linh cẩu đành nhìn con hùng sư bằng đôi mắt bất lực lẫn căm thù. Thất bại lần đầu, chưa nghĩ cho ra phương sách khác, thì y lại gặp phải A Tử và bị vướng ngay vào cái lưới tình vô cùng cay nghiệt. Ðể rồi từ đây mở đầu cho một trang bi kịch cực kỳ thảm khốc của tình yêu. 

Em lơ đãng ném hoa vàng giăng lối 
Tôi dại khờ khốn quẩn giữa trùng vây.
 

Cô bé tinh quái A Tử đã không ném lưới tình bằng những hoa vàng giăng lối, không giăng lưới tình bằng nụ cười hàm tiếu hay bằng khoé mắt thu ba, mà bằng những trò chơi vô cùng man rợ gần như mất cả tính người. Cô đã đem kẻ tình si kia làm vật giải trí trong những trò tiêu khiển, vì thói nhàn rỗi độc ác của một công nương. Nhưng, than ôi, tâm hồn của những kẻ si tình tự cổ chí kim - từ những người tài trí tuyệt luân cho đến kẻ khờ khạo ngu si - vẫn luôn luôn vô ngần hào hoa trong tinh thể: 

Tôi chấp nhận trăm lần trong thổn thức
Tôi bàng hoàng hoảng hốt những đêm đêm
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt 
Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em 

(Phụng hiến - Bùi Giáng)

Vâng, tôi xin chấp nhận tất cả. Xác thân tôi đây, linh hồn tôi đây em hãy tha hồ mà đày đọa dày vò, em hãy cứ cột dây vào cổ tôi rồi cho ngựa kéo đi để biến tôi thành con diều người, hãy cứ hủy hoại xác thân tôi bằng những trò chơi oái ăm tàn nhẫn chưa từng có giữa nhân gian, nhưng em hãy để tôi yêu em, hãy để tôi vĩnh viễn đui mù si dại trong máu lệ của tình câm. 

Có biết bao con đại bàng kiêu ngạo bay bổng tuyệt vời, ý chí muốn vượt cả mây xanh, không chịu khuất phục trước hàng hàng lớp lớp cung tên, nhưng lại dễ dàng xếp cánh khi vướng phải một sợi tóc cực kì mềm mại! Ðó là bi kịch hay là nét đẹp của cuộc đời? 

Trong truyện ngắn Marka Tsuđra của Maxim Gorki, khi anh chàng Lôikô Zôbar kiêu ngạo, vì bị khuất phục bởi nàng Radda xinh đẹp mà đành phải giết cả nàng rồi tự vẫn, để bảo vệ lòng kiêu hãnh của mình, thì thử hỏi đó là sự kiêu ngạo ngu xuẩn hay nét đẹp tâm hồn của khách mày râu? Ðáp án cho câu hỏi này có lẽ vẫn mãi còn lơ lững đến ngàn thu.

Lúc A Tử cho người hầu dùng cái khuôn sắt nung cháy trùm lên đầu Du Thản Chi và hủy hoại khuôn mặt của y, thì trong cơn đau quằn quại xé nát cả thịt da đó, tâm hồn y vẫn hân hoan hướng về cô gái tàn ác như kẻ hành hương hướng về một đấng Chí Tôn. 

Trong tâm hồn cuồng điên si dại đó, máu và lệ của mối tình câm đã ngập tràn, như muốn nhận chìm cả mối hờn căm đã từng sôi sục thuở vượt qua Nhạn Môn Quan để trả mối phụ thù. Có mấy ai lại không động lòng trắc ẩn, thậm chí rùng mình, khi đọc đến đoạn Du Thản Chi, với xác thân tàn tạ, bò lết lại gần A Tử như một con chó trung thành, chỉ để được nhìn một gót chân hồng của cô với một tấm lòng hân hoan cảm tạ.

Cái dung nhan kiều lệ của A Tử trong trang phục uy nguy của một quận chúa Khất Ðan hiện ra trước mặt Du Thản Chi như một bậc thần tiên giáng thế. Chi tiết trên tưởng chừng như vô cùng tàn nhẫn, nhưng nếu chịu khó đọc kinh Hoa Nghiêm, thuật lại cuộc lịch hành chiêm bái của Thiện Tài đồng tử đi cầu Bồ Tát đạo, đến đoạn vị đồng tử kia đến chiêm bái Hưu Xả ưu bà di để vấn đạo, thì chúng ta mới cảm thấy được hết cái thâm hậu trong bút lực của Kim Dung: 
"Lúc ấy Hưu Xả ưu- bà- di ngồi toà chơn kim, đội mão hải - tạng - chơn - châu - võng, đeo bửu xuyến chơn kim hơn cõi trời, rũ tóc xanh biếc, đại - ma - ni - bửu trang nghiêm trên đầu, sư -tử - khẩu - ma -ni -bửu làm bông tai, như - ý ma -ni -bửu làm chuỗi ngọc, bửu võng trùm trên thân. Trăm ngàn na- do- tha chúng sanh cúi mình cung kính …” . 

Có ai thấy ưu - bà- di này thời tất cả các bệnh khổ đều trừ diệt, lìa phiền não, hết kiến chấp, xô núi chướng ngại, nhập cảnh giới vô ngại thanh tịnh nhã. Tâm họ rộng lớn đầy đủ thần thông, thân không chướng ngại đến khắp mọi xứ .

Dời qua một bình diện khác, hãy thử thay hình ảnh Hưu Xả ưu bà di bằng A Tử và để cho Du Thản Chi đứng vào vị trí của Thiện Tài đồng tử, thì chúng ta thấy được gì? Hình ảnh lộng lẫy của quận chúa A Tử trong đôi mắt của Du Thản Chi nào có khác gì hình ảnh tôn nghiêm của Hưu Xả ưu bà di, với pháp môn giải thoát "lưu ly an ổn tràng", trước mắt Thiện Tài đồng tử? Quân hầu thị tỳ vây quanh cung phụng quận chúa có khác gì "Trăm ngàn na- do- tha chúng sanh cúi mình cung kính"? 

A Tử ưu bà di đang thị hiện kim thân trước đồng tử Du Thản Chi trong cuộc lịch hành chiêm bái giữa Mê Cung huyền ảo của tình yêu. Cái mỵ lực kỳ dị của hồng nhan thừa sức xua tan đi bao não phiền đau khổ. Ðây gót sen hồng, đây bàn tay ngà ngọc với những với đường gân xanh nhỏ li ti, hỡi kẻ si tình hãy hôn đi, hãy chỉ một lần chạm nhẹ môi vào cũng đủ để cảm nhận được vạn đại thiên thu về dồn tụ trong khoảnh khắc. 

Trong cái giây phút chiêm ngưỡng đắm say đó, ắt hẳn kẻ si tình kia hân hoan vô tả và cảm thấy được "tất cả các bệnh khổ đều trừ diệt, lìa phiền não, hết kiến chấp, xô núi chướng ngại, nhập cảnh giới vô ngại thanh tịnh"! Cái tâm si của con người khi yêu quả có đủ sức mạnh để kiến tạo nên một Thiên Ðường lộng lẫy từ cõi Ðịa Ngục u minh. 

Còn gì chua xót hơn khi Du Thản Chi tình nguyện dâng cặp mắt - cái vốn liếng duy nhất còn lại trên đời để y có thể đối mặt được với A Tử - với tâm nguyện cứu A Tử thoát khỏi cảnh mù lòa, dù biết rõ rằng điều đó sẽ khiến bi kịch tình yêu của mình thêm tan hoang đổ vỡ. Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt, tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em. Cái đui mù nghĩa bóng trong thơ đã được Du Thản Chi thực hiện theo nghĩa đen bằng tất cả khối si tâm. Lưỡi dao trên cung Linh Thứu khi đặt vào đôi mắt Du Thản Chi đã mở ra chân trời huyền mật trong tâm thức luyến ái của nhân gian!

Hình ảnh A Tử móc mắt ném trả Du Thản Chi, rồi ôm xác Tiêu Phong rơi vào vực thẳm mà đã được Bùi Giáng gọi là : "triệt để mù loà chạy vào sa mạc của tình yêu", thế thì còn ngôn từ nào thiết tha hơn nữa sẽ dành cho hình ảnh Du Thản Chi mù loà và cô đơn, kêu gào tuyệt vọng tên người yêu giữa cảnh trời chiều quan ải? 

Ngày vượt Nhạn Môn Quan với hiếu tâm bồng bột, để cuối cùng một mình đứng chết lặng giữa gió chiều với một khối si tâm. Cuồng điên máu lệ tình câm. Bước chân A Tử xa xăm muôn trùng. Bóng chiều qua ải mông lung. Y không biết rằng bóng chiều đang phủ xuống, vì trong hai hốc mắt kia bóng tối đã vĩnh viễn ngập tràn. Y cũng không biết rằng A Tử đã chết. Ðiều đó có nghĩa là y phải tiếp tục sống đọa đày trong nỗi đợi chờ khắc khoải. 

Hãy tưởng tượng một kẻ mù loà si dại thất thểu giữa giang hồ để đi tìm một người yêu đã chết, bằng một trái tim say đắm thiết tha! Kim Dung đã xây dựng một hình tượng làm tan nát cả lòng người. Ông không để Du Thản Chi chết ngoài quan ải, ông không muốn vùi chôn Du Thản Chi nơi đồng quạnh chốn biên cương, mà muốn mai táng y trong muôn triệu tâm hồn của những tình nhân suốt vòm trời kim cổ. Ðẩy khối tình si đến chỗ tận tuyệt của thảm khốc đoạn trường có lẽ khó có ai qua nỗi Kim Dung với hình tượng Du Thản Chi.

Con người sinh ra chỉ để đi tìm lại "một nửa của mình", hay đi gieo một khúc phượng cầu như Tư Mã Tương Như thuở trước. Phượng hề!
Phượng hề! Qui cố hương. Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng. Con chim phượng rong chơi bốn bể để ngày qui hồi cố quận tìm lại được chim hoàng. Lời ca đó trong cung đàn của con chim phượng Tư Mã đã nhận được hồi ứng từ con chim hoàng Trác Văn Quân. 

Chúng ta cũng đã bao lần gieo khúc phượng cầu Nếu được ứng họa thì phượng và hoàng sẽ sánh đôi để cùng nhau nhả nhạc cho đời, còn nếu không được ứng họa hay lạc sai cung điệu thì, đối với chúng ta, trong đau thương vẫn có chút ngọt ngào, trong đắng cay vẫn còn niềm thơ mộng. Còn Du Thản Chi?

Nói bất cứ điều gì về Du Thản Chi chúng ta ắt hẳn đều cảm thấy có chút gì tàn nhẫn, vì nỗi khổ đau của y quá lớn, cảnh đoạn trường mà y trải qua quá độ thẳm sâu. Một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết mà sao vẫn có thể làm cho chúng ta quay quắt thương đau đến thế, phải chăng vì hình tượng đó phản ánh được tiếng nói thực của con người trong tình mộng cuồng điên?

HUỲNH NGỌC CHIẾN



SẦU MÂY GIÓ

 
SẦU MÂY GIÓ

Lạc trăng thề 
Lòng u uất 
Tình quay mặt 
Như bóng mây. 

Thu xưa say
Môi nồng ấm 
Đông nay đẫm 
Giá rét ơi. 

Thơ bao lời 
Thả trong gió 
Hẹn thề đó
Mộng chiêm bao. 

Hỏi trăng sao 
Đâu chung thủy 
Ngày xưa ấy
Đâu mất rồi? 

HANSY

HỘI NGỘ TRĂNG XƯA


104.
HỘI NGỘ TRĂNG XƯA

Mười năm trở lại chốn xưa
Hàng cau còn đó như vừa mới gieo

Lá trầu mừng rở hát reo
Mừng anh Hansy lội đèo về thăm

Vui vầy thắt nợ trăm năm
Gả thơ về bến... sắt cầm hòa duyên

Nắm tay em dắt xuống thuyền
Chở về đất mũi nhốt riêng túi tình

Làm chồng em nhé hỡi mình
Cà Mau đến rước về dinh đây nè

Hoatim
*
LÀM CHỒNG NGAY

Trầu nay lại quấn cau xưa 
Tình nay lại nối cho vừa mối gieo 
Được em cưới, tim hò reo 
Nữ thương đâu kém nam yêu, đúng là….

Biết em một dạ chờ ta 
Dẫu thân bay bướm là đà nợ duyên 
Vẫn luôn sắm sẵn mộng thuyền 
Vầng trăng lại sáng, vẹn nguyên khối tình.

Cà Mau đợi chút nghe mình 
Đồng Nai cây trái ươm lành đôi ta
Nghĩa chồng tình vợ bao la
Nồng say ân ái, một nhà nức hương.

Lâu rồi ta ước làm chồng
Cùng kê gối mộng, chăn hồng đắp chung…

HANSY

DIỄM ẢO ĐƯỜNG THI

DIỄM ẢO ĐƯỜNG THI
(Giao cổ)

Diễm ảo Đường thi rộn rã tình
Mơ nồng bàng bạc nẻo huyền linh
Ngôn từ vẻ rạng ngời chân lý
Lộng lẫy văn chương ý nghĩa hình
Bảy nốt xuyên đời ngan ngát mượt
Tám làn lượn thế chập chùng xinh
Vòng quay chữ nghĩa ngào thơm lộng
Man mác niềm yêu mộng thái bình 

Man mác niềm yêu mộng thái bình 
Chuốt lời trau ý vận ngời xinh
Bâng khuâng mặc khách thầm chao dạ
Thấp thoáng giai nhân chớm tượng hình
Vẫn mãi trúc-quỳnh chan ngõ mộng
Mong hoài lụa gấm trải đường linh
Thơm lòng Xướng-Họa trời mây gió
Diễm ảo Đường thi rộn rã tình

HANSY

♥♫ - Nhỏ Ơi




Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2016

♥♥


VỀ Ý NIỆM “LAI CĂNG” TRONG VĂN HỌC - Nguyễn Hưng Quốc


VỀ Ý NIỆM “LAI CĂNG” 
TRONG VĂN HỌC 

Trong ngôn ngữ phê bình văn học, chữ "lai căng" còn nặng hơn cả chữ "dở". "Lai căng", trước hết, có nghĩa là "dở"; nhưng "lai căng" còn tệ hại hơn "dở" ở chỗ nó là một cái dở do bắt chước một cách nhẹ dạ và mù quáng, một thái độ phản bội đối với truyền thống và văn hoá của dân tộc. Bởi vậy, nếu "dở" chỉ là biểu hiện của sự bất tài thì "lai căng" không những là biểu hiện của sự bất tài mà còn là biểu hiện của sự kém cỏi về trí tuệ, hơn nữa, của việc thiếu đạo đức.

Nhưng trong lãnh vực văn học, thực chất của "lai căng" là gì?

Trong phong trào Thơ Mới thời 1932-45, theo Hoài Thanh và Hoài Chân, trong cuốn Thi nhân Việt Nam, có hai nhóm chính: một nhóm chịu ảnh hưởng của thơ Pháp và một nhóm chịu ảnh hưởng của thơ Đường. Điều đặc biệt là không có ai trong nhóm sau bị buộc tội là "lai căng" cả, cho dù trong đó có kẻ bắt chước thơ Đường rất dữ, như Quách Tấn, J.Leiba, Thái Can hay Nguyễn Giang, chẳng hạn. Tất cả những người bị chê bai là "lai căng" đều thuộc nhóm thứ nhất, như Xuân Diệu, Nguyễn Vỹ và Nguyễn Xuân Sanh. Như vậy, trong cách nhìn của mọi người, "lai căng" không phải là bắt chước nước ngoài mà là bắt chước phương Tây.

Chưa hết. Một hiện tượng khác cũng thú vị không kém: trong ba người bị chê là "lai căng" vừa kể, Xuân Diệu là người được xoá tội sớm nhất dù ông là người chịu ảnh hưởng của thơ Pháp nặng nhất và vay mượn những cách diễn đạt trong tiếng Pháp nhiều nhất. Tại sao?

Lý do của sự "phân biệt đối xử" này chủ yếu là vì thơ Xuân Diệu... hay. Những câu thơ Xuân Diệu mô phỏng cách nói của Pháp, như "Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm" hay "Yêu là chết ở trong lòng một ít" hay "Hơn một loài hoa đã rụng cành" đã được độc giả, đặc biệt giới thanh niên, đón nhận như những sự học tập đầy sáng tạo!

Nguyễn Xuân Sanh và nhóm Xuân Thu Nhã Tập gần đây cũng được "xoá tội" vì người ta bất ngờ khám phá ra hình như sau những bài thơ một thời bị coi là "tắc tị", là "bí hiểm" và là "nhảm nhí" của ông thấp thoáng có cái gì như... hay và mới so với nền thơ đương thời.

Chỉ có Nguyễn Vỹ, cho đến bây giờ, vẫn tiếp tục mang tiếng là... "lai căng", có lẽ chủ yếu là chưa ai chứng minh được là những bài thơ 12 âm tiết của ông là... hay, dù hiện nay nó đã được dùng tương đối khá phổ biến (1). Như vậy, "lai căng" không phải là bắt chước Tây phương: "lai căng" chỉ là một hiện tượng bắt chước vụng mà thôi.

Như vậy cũng có nghĩa là nếu người ta bắt chước mà thành công thì không còn bị gọi là "lai căng". Nó sẽ trở thành một sự học tập đầy sáng tạo như chữ người ta thường dùng. Nhưng nói như thế cũng có nghĩa là nói "lai căng" là một hiện tượng không có thật. Chỉ có thơ hay và thơ dở; văn hay và văn dở, chứ không có vấn đề lai căng hay không lai căng. Có thể nói là thế giới văn học là thế giới miễn nhiễm vi trùng ngoại lai.

Lai căng là một khái niệm giả. Thế nhưng người ta vẫn sợ. Như là sợ ma. Nỗi sợ vu vơ ấy khiến tâm hồn người Việt Nam lúc nào cũng bị giằng co giữa hai cực: chúng ta vừa thèm thuồng sức mạnh về kỹ thuật của Tây phương lại vừa lo bị biến thành những đứa con lai; vừa muốn duy tân lại vừa bảo thủ. Cứ một bước tiến lại một bước lùi. Mới rục rịch tiếp xúc với Tây phương là đã ồn ào tổ chức bao nhiêu hội nghị về "hiện đại và truyền thống", trong đó, quan điểm chính bao giờ cũng ít nhiều đồng nhất khái niệm hiện đại với Tây phương và khái niệm truyền thống với Đông phương, chủ yếu là Trung Hoa, hơn nữa, Trung Hoa thời cổ đại và trung đại.

Với cách nhận vơ như thế, chúng ta dễ có ảo tưởng là truyền thống giàu có vô cùng: trong lãnh vực văn học, chẳng hạn, chúng ta vừa có lục bát vừa có thơ Đường luật; vừa có Truyện Kiều lại vừa có cả Tam quốc chí; vừa có ca dao vừa có những tư tưởng mỹ học của Trung Hoa, từ thi ngôn chí đến văn dĩ tải đạo. Tuy nhiên, với cách nhận vơ như thế, chúng ta chỉ thụt lùi lại cái thời Bắc thuộc về văn hoá mà thôi.
Nói cách khác, trong quan hệ với Trung Hoa, chúng ta chưa thoát khỏi tâm lý thuộc địa: tự xem mình như một phần của Trung Hoa văn hiến; trong quan hệ với Tây phương, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi tâm lý hậu thuộc địa: nhìn nền văn minh kỹ thuật như nhìn một cái gì của "chủ", vừa thèm thuồng vừa đố kỵ và nghi kỵ. Chưa bao giờ chúng ta thực sự thanh thản và đủ tự tin để dám là mình, dù là một cái "mình" nghèo nàn, lạc hậu và yếu đuối, từ đó, thoát khỏi hai phản ứng quen thuộc: hoặc là bắt chước hoặc là kháng cự, để, cũng từ đó, có một thái độ học tập chủ động và sáng tạo. Và, cuối cùng, để thoát khỏi cảnh cứ thậm thụt mãi trước ngưỡng cửa của văn minh và tiến bộ.

Thậm thụt: có lẽ không có từ nào mô tả chính xác hơn hình ảnh của một nền văn học thuộc địa và hậu thuộc địa như là nền văn học Việt Nam trong thế kỷ 20 vừa qua cũng như trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21 này.

Buồn.


Chú thích:
Ngoài tai tiếng về "lai căng", Nguyễn Vỹ còn mang tiếng là "loè bịp". Tôi cho đó chỉ là hậu quả của cách phê bình đầy ác ý của Hoài Thanh. TrongThi nhân Việt Nam (nxb Thiều Quang, Sài Gòn, 1967, tr. 105-110), Hoài Thanh mở đầu bài viết về Nguyễn Vỹ như sau: "Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng, trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau ra xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì." Dùng chữ "lúc đầu" là hàm ý cho đó chỉ là một ấn tượng sai lầm, là công nhận Nguyễn Vỹ thực sự có tài. Nhưng không phải. Sau đó, Hoài Thanh lại tiếp tục tô đậm tính chất "loè bịp" của Nguyễn Vỹ bằng đoạn: "Nguyễn Vỹ quả đã muốn loè những kẻ tầm thường là bọn chúng ta. Thực ra, chúng ta cũng dễ bị loè. Nhưng ở chỗ nào khác kia. Chứ trong văn chương thì hơi khó." Những nhận định kiểu như vậy đã làm nhiều người (trong đó có cả tôi, khi mới bắt đầu cầm bút) xem Nguyễn Vỹ như một điển hình của sự ồn ào và lố bịch.

Thực ra, đó chỉ là một sự oan ức cho Nguyễn Vỹ. Thứ nhất, những cố gắng thử nghiệm của ông không phải hoàn toàn vô ích: những câu thơ 12 âm tiết hay nhiều hơn nữa sau này được sử dụng khá nhiều, và dưới ngòi bút của một số nhà thơ tài hoa, khá hay. Thứ hai, dù bản thân ông không thành công ở thể thơ 12 chân, nhưng ít nhất Nguyễn Vỹ cũng để lại hai bài thơ thuộc loại kiệt tác trong thời 1932-45: bài "Sương rơi" và "Gửi Trương Tửu". Với Vũ Đình Liên, chỉ được mỗi bài "Ông đồ"; với Đoàn Phú Tứ, chỉ được mỗi bài "Màu thời gian"; với Thâm Tâm, cũng chỉ có mỗi một bài "Tống biệt", chúng ta đã mừng rỡ và trân trọng hết sức. Với Đông Hồ, Bàng Bá Lân, Trần Huyền Trân, Phạm Huy Thông... có lẽ không có bài thơ nào ngang tầm với hai bài thơ của Nguyễn Vỹ, chúng ta cũng vô cùng thương mến. Chỉ riêng với Nguyễn Vỹ, với hai đóng góp lớn như vậy, vẫn bị Hoài Thanh, và sau đó, chúng ta thay phiên nhau... chửi.



GIẢI BÀY

GIẢI BÀY

Em ơi! 
Thật lòng với em, anh vừa thoát cơn bão dữ 
Tan tác cõi hồn, loạng choạng cả thần kinh
May mà có em chia sẽ biết bao tình 
Lại băng bó trái tim anh đang ủ ê bạc nhược 
Lòng nhủ lòng ơn em làm sao mà quên cho được 
Nhưng tình thì khó trao lắm người ơi!
Một chút ổn yên, sau bão tố rối bời
Anh mơ mãi khung trời thân thiện đó. 

Em ơi 
Thú thật với em, tình yêu giờ làm anh sợ hãi 
Lỡ chút đèo bồng, thêm rước cảnh thương đau 
Lòng anh giờ đây sao ngần ngại dính u sầu
Mòn mỏi tim gan, héo hon trí não 
Bởi anh từng muội mê trong tình yêu hư ảo 
Rước lụy phiền khi ngụp lặn biển yêu thương 
Có được gì đâu khi đến cuối con đường 
Bừng con mắt, thảy đều là vô nghĩa! 

Em ơi! 
Nếu thật lòng nghĩ chút xíu về anh
Xin thư thư thêm một quãng thời gian nữa
Để trái tim anh có đủ niềm mơ khi nhóm lửa 
Để hồn anh khôi phục lại sự nhớ nhung 
Để hết ngại ngần khi cất tiếng yêu thương 
Để trọn vẹn dành cho một người thôi nhé! 

Em ơi!
Có buồn gì anh không, hử? 

HANSY

CHIỀU THU NHỚ ANH


103.
CHIỀU THU NHỚ ANH

Chạnh lòng quay lại chốn xưa
Mùi thơm rạ mới đã thừa còn đâu
Vi vu gió bấc vườn trầu
Áo choàng không ấm canh thâu vày vò

Thềm xưa văng vẳng câu hò
Vần thơ lục bát chờ đò qua sông
Biết người có nhớ ta không?
Vầng trăng đã bạc quần hồng đã phai

Ngẩn ngơ trống đánh canh dài
Giật mình chợp mắt gọi hoài tên anh.

Hoatim..
*
MƯỜI NĂM TÌM LẠI

Chiều nay tìm lại ngõ xưa 
Vườn quê mộng ảo đong đưa sắc màu 
Đưa tay ướm nhẹ dây trầu 
Mà nghe trong gió vẳng câu ai hò.

Nhác trông bến cũ con đò 
Chạnh lòng buổi ấy nghiêng bờ chao sông 
Thả hồn ra giữa tầng không 
Hỡi vùng kỷ niệm chành chòng khó phai.

Mười năm tình cũ trôi dài 
Mà sao ta cứ vọng hoài dáng xưa…

HANSY

DUYÊN QUÊ

DUYÊN QUÊ

Mấy nhịp cầu tre đậm nghĩa tình 
Câu hò Sông Hậu mãi hoài linh 
Bà ba lất phất êm đềm mộng
Nón lá nghiêng nghiêng mảnh khảnh hình 
Lả lướt sông dài con sóng mượt
Nhịp nhàng ghe nhỏ mái chèo xinh 
Hò lơ tiếng hát hò lơ vọng
Ngan ngát tình quê rạng cõi bình   

Ngan ngát tình quê rạng cõi bình   
Ninh Kiều bến mộng tỏa ngời xinh 
Vàng trăng mặc khách lai rai điệu 
Nồng gió tao nhân loáng thoáng hình 
Ngúng nguẩy vui đùa con phố đẹp
Chập chùng đón rước miễu chùa linh
Cửu Long hòa nước vào tim biển
Mấy nhịp cầu tre đậm nghĩa tình 

HANSY

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

♥♥


26- A CHÂU


26
A CHÂU 
Nước mắt oan cừu

Ồ ly biệt tơi bời bờ lảo đảo. 
Em ra đi đời ôm mặt khóc òa.


Một người bảo tôi: nói về Tiêu Phong mà chỉ nói dăm ba trang thì chẳng nói được gì. Vấn đề thân phận con người, vấn đề thị phi thiện ác, vấn đề nghiệt oan của định mệnh, vấn đề quốc gia… chung quanh nhân vật kiêu dũng đó, dẫu có viết đến vài trăm trang cũng chưa đủ. Tôi bảo “Phải”. 

Nhưng có những điều, lắm khi viết một ngàn trang vẫn thiếu, mà một chữ lại thừa! Muốn tả trăng thì phải tả mây. Đó là cách mượn mây để mà nẩy trăng của Kim Thánh Thán. Nên muốn nói đến Tiêu Phong thì phải gợi lại hình ảnh A Châu.

Những nhân vật nữ là người yêu của các nhân vật chính trong tác phẩm Kim Dung, dẫu chính hay tà, luôn có thân phận cao sang. Đó là Nhậm Doanh Doanh – Thánh cô của ma giáo, là Triệu Mẫn - quận chúa Mông Cổ, là Hoàng Dung – con gái của Đào Hoa đảo chủ, là Nhạc Linh San - ái nữ của chưởng môn Hoa Sơn, là Mộng Cô – công chúa Tây Hạ, là Vương Ngữ Yên - kiều nữ Mạn Đà sơn trang. 

Chỉ riêng A Châu - người con gái dìu dắt sinh mệnh và cuộc đời của một nhân vật kiêu dũng và anh hùng là Tiêu Phong - lại là một tỳ nữ mang thân phận thấp hèn: là đứa con rơi của một hoàng thân Đại Lý, nên trở thành một cô gái mồ côi lênh đênh lưu lạc, cha mẹ phiêu tán, phải nương náu nơi nhà Mộ Dung với tư cách người hầu. Mà trong số các nhân vật chính của Kim Dung, Tiêu Phong lại trội vượt hơn hẳn về phong độ kiêu hùng, cho nên khi Kim Dung để A Châu dìu dắt sinh mệnh của Tiêu Phong, thì ta càng hiểu rằng cái phẩm chất ẩn tàng nơi A Châu là cực kỳ cao quý.

Khách anh hùng xông pha giữa điệp trùng gươm giáo, sẵn sàng coi cái chết như một cõi đi về, nhưng một khi đối diện với những “nước đời lắm nỗi lạ lùng khắt khe" lại thường nhận chân ra nỗi hoang lương thê thiết, và cái vô nghĩa của cuộc đời. Và họ cần đến những nữ lang để tìm chút hơi ấm của đời thường, một khi phải đối diện với cõi trống rỗng hư vô. 

Ngay cả với Tiêu Phong – là một nhân vật gần như sống trong tự do tuyệt đối (xin hiểu chữ tuyệt đối theo nghĩa tương đối của trần gian!). Rượu và võ công đã chắp cho ông đôi cánh chim bằng để bay bổng tuyệt vời trong khoảng trời bao la tự tại, lướt trên những lợi danh tủn mủn giữa võ lâm. 

Thử hỏi chức vị Bang chủ Cái bang nào có nghĩa gì? Nếu ông có quyến luyến đi nữa, thì cũng chỉ vì sự an nguy của đệ huynh trong bang hội mà thôi. Ta có cảm tưởng người anh hùng ấy thong dong đến giữa cõi đời, rồi sẽ ra đi một cách nhẹ nhàng không vướng bận. Không như Lệnh Hồ Xung luôn khoái hoạt bỡn cợt, Tiêu Phong lại lẫm lẫm một khí độ kiêu hùng. 

Con người ấy đến với đời như ngọn lửa bùng cháy, để rồi sẽ ra đi như một tia chớp, lưu lại giữa trần gian một hình bóng uy nghi. Nhưng rồi chính A Châu, hay đúng hơn, chính cái chết của A Châu là sợi dây nối Tiêu Phong vào cõi trần gian đầy hệ lụy. 

Cái giây phút cực cùng bi đát của Thiên Long Bát Bộ là lúc A Châu, như một con thiên nga trúng đạn, gục ngã dưới phát chưởng oan nghiệt của Tiêu Phong. Đường bay tới một khoảng trời xanh không còn tranh chấp hận thù, không còn ân oán thị phi, khoảng trời chỉ có đàn cừu chạy trên thảo nguyên trong tiếng sáo mục đồng dìu dặt, đường bay tưởng chừng như vô cùng bình dị đó đã vĩnh viễn khép lại với con chim thiên nga thông minh và hiền dịu A Châu. Nàng đã ngã xuống giữa những giọt nước mắt oan cừu, phủ thêm bi thương lên cõi thế.

Ồ ly biệt tơi bời bờ lảo đảo
Em ra đi đời ôm mặt khóc oà

(Chiêm bao – Bùi Giáng)


Em đã ra đi vĩnh viễn. A Châu của Kim Dung đã ra đi vĩnh viễn dưới bàn tay Tiêu Phong. Như Desdemona của Shakespeare đã ra đi vĩnh viễn dưới bàn tay Othello. Một kẻ vô tình, một người cố ý. Tất cả thảm hoạ đó đều phát sinh từ ngộ nhận. Othello ngộ nhận bởi gã Lago cực kỳ nham hiểm, Tiêu Phong ngộ nhận bởi người đàn bà ghen tuông Mã phu nhân.

Kiếp người đã quá đỗi nặng nề rồi, thế sao đời cứ đem bi kịch chất chồng lên thêm nữa? Phải chăng để nhắc nhở con người nhìn lại chân tướng của trần gian? Ta bước vào đời với trái tim nặng trĩu ước mơ, để rồi ra đi với một tâm hồn hoang phế. Tất cả đều bấp bênh phù động, cõi vô thường tìm đâu được chốn bình yên. Thoạt nhìn trần gian đầy những cảnh “Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng", để rồi ngày trùng phùng chỉ đối diện với "Bước vào chốn cũ lầu thơ, Tro than một đống nắng mưa bốn tường". 

Cả cõi đời đều ôm mặt khóc oà. Tiêu Phong đã khóc, chúng ta đã khóc. Và còn bao nhiêu người sẽ khóc nữa, trước những bi kịch trớ trêu của ngộ nhận giữa dâu bể cuộc đời ? Mộng hồn nàng có về vương vấn nơi Nhạn môn quan?

Còn không một bận quay về, 
Nhạn môn quan khóc trăng thề vàng gieo?
 

Còn đâu nữa những đàn cừu tung tăng trên thảo nguyên mênh mông nơi quan ngoại? Còn đâu nữa lời hẹn thề quay lại Nhạn môn quan?

Ta muốn ngậm ngùi thốt lên những lời thiết tha cùng nhà thơ Bùi Giáng: "Và nước dưới cầu chảy mãi? Để huê trôi, rêu nhạt, đá mòn. Thế là người có thể gục đầu xuống khóc, và tự hỏi : ở phương trời nào xa vắng, có bến bờ nào vĩnh viễn hay không?". 

Đó là những lời Bùi Giáng viết về cõi đời dâu bể, mà sao nghe như những lời nức nở của A Châu. Trong cái đêm oan nghiệt đó, dưới lốt hoá trang Đoàn Chính Thuần, nàng đến gặp gỡ Tiêu Phong, có nghĩa là chịu im lặng để tìm cái chết. Vì chữ hiếu, nàng chấp nhận tìm cái chết dưới tay người yêu dấu, giữa lúc mộng đời đang xanh thắm, và cuộc tình đang chất ngất nồng say. 

Tôi hình dung đêm hôm ấy, có lẽ nàng khóc nhiều ghê lắm. Vì hân hoan lẫn vì cay đắng. Nơi phương trời xa vắng, liệu có bến bờ nào vĩnh viễn hay không ? Ta không biết. Không thể nào biết được. Người bước vào đời hân hoan dệt mộng, muốn tìm cho mình một chút bình yên, còn cuộc đời luôn tìm cách phá tan những ước mơ nhỏ nhoi nhất của con người. Nên xin người cứ nhủ lòng rằng chữ tương phùng đành hẹn lại kiếp sau, và trong cõi chết xin được nối kết những mộng đầu dang dở. Điều đó tưởng chừng như hão huyền, không hiện thực, nhưng chỉ có thế con người mới tìm được chút an ủi cho hồn mình, giữa tan nát thương đau. 

A Châu đã ngã xuống, nhưng ta tin rằng tâm hồn nàng hân hoan lắm. Ngộ nhận giữa Tiêu Phong và Đoàn Chính Thuần chỉ được cởi mở cùng cái xác lạnh giá của A Châu! 

Linh hồn thục nữ bao dung
Nhạn môn quan hẹn mộng trùng lai xưa
Lệ thương biết mấy cho vừa

Lý Hạ khóc Tô Tiểu Tiểu, Tố Như cùng Chu Mạnh Trinh cùng khóc Thuý Kiều, Shakespeare khóc Desdemona, chúng ta cùng khóc A Châu. Thời đại khác nhau, nhưng giọt lệ đau thương dường như chỉ là một. Nước mắt bọn tài tử kim cổ đông tây có an ủi được chút nào không những nữ lang bạc mệnh? 

Như chàng sinh viên Raskolnikov, trong kiệt tác "Tội ác và trừng phạt" của Dostoievski trân trọng quỳ trước Sonia - một cô gái giang hồ mang trái tim Bồ Tát, chúng ta cũng xin nghiêng mình trước họ, như nghiêng mình trước những khổ lụy thiên thu, những lênh đênh vạn đại của con người. Bao oan nghiệt đoạn trường của nhân loại như chung đúc vào những nữ lang bạc mệnh, để ngàn năm đau mãi tiếng tân thanh.

A Châu đã chết, nhưng nàng còn sống mãi trong tâm hồn Tiêu Phong, trong những chén rượu nồng "Thoáng hiện em về trong đáy cốc, nói cười như chuyện một đêm mơ” (Quang Dũng). Chính điều đó đã đẩy Tiêu Phong đối diện với nỗi cô liêu cùng cực, khiến người đọc thấy ngậm ngùi khôn xiết. Những lời trăn trối trong nước mắt của A Châu như sợi dây trói ông vào cõi thế, mà ông luôn muốn tìm cách cắt bỏ đi. 

Nếu như 600 quyền kinh Đại Phẩm Bát Nhã chỉ là những lời chú giải cho một chữ KHÔNG trong tư tưởng Phật giáo đại thừa, thì mũi tên tự đâm vào ngực Tiêu Phong nơi quan ải cũng chỉ là một lời "chú giải" cho những giọt nước mắt của A Châu.

HUỲNH NGỌC CHIẾN




TA THẤY EM VỀ

TA THẤY EM VỀ

Ta thấy em về trong gió sương 
Lòng mơ chùng xuống biết bao đường 
Tương tư trỗi nhịp mùa xa vắng 
Góc nhớ bên này đẫm yêu thương. 

Ta thấy em về trong mây bay 
Cuồn cuộn giữa lòng chút men say 
Lơ lửng tim đời không bến đậu 
Em ơi, hương phấn quyện bao ngày. 

Ta thấy em về trong chiếu chăn 
Tình ơi, hồng thắm mắt môi gần 
Nghê thường khúc ấy bao giờ nhỉ 
Để mãi tim này hết lăng xăng. 

Ta thấy em về trong mắt em
Chiều nay trông ngóng mãi bên thềm 
Thu ơi, biết khi nào em lại 
Hồn mộng thành thơ ngọt dịu êm… 

HANSY

TỰ DO


102.
TỰ DO

Con chim đem nhốt lồng son
Nó than ngộp quá còn gì là xuân

Thả ra nó nhảy nó mừng
Tung tăng đùa giỡn người dưng cười xòa

Ra sông em bứt dây đò
Đẩy thuyền xa bến khỏi lo buồn tình

Sổ lồng môi mắt xinh xinh
Bay về biển cả lung linh sắc màu

Hoatim
*
NHẮN NGƯỜI

Dậy yêu lòng mãi cứ son 
Nồng thương tim ấy vẫn còn là xuân 
Tự do ai cũng đều mừng 
Thênh thang hạc nội mây ngàn bao la.

Miễn là lòng giữ cho ta
Dù em xa ngái mặn mà hương trinh 
Ước ao sắc thắm mãi xinh 
Nắng vàng ủ ấp cánh chim vạn màu.

Ta thương người chỗ tình sâu
Nào đem dây lạt buộc nhau làm gì
Tung hồn em hãy cứ đi
Thơ lòng cứ trải, yêu vì cứ xuân.

Yêu nhau đâu phải buộc gần
Cốt trong tim ấy dáng hình không xa…

HANSY