Thứ Ba, 30 tháng 6, 2020

200-KIỀU DIỄM


199-NHẬP NHOẠNG


CHẲNG HIỂU VÌ ĐÂU


CHẲNG HIỂU VÌ ĐÂU

Chẳng biết vì sao chợt hững hờ
Hay lòng sắp sẵn cuộc tình lơ
Mà quên kỷ niệm gây lầm lỗi
Lại khiến hành tung ám mập mờ
Sửng sốt đau nhừ thiu giọng lưỡi
Chia lìa oải buốt sạm vần thơ
Từ khi gặp bão hồn tan tác
Đến nỗi mầm thương phải lặng tờ
*
Đến nỗi mầm thương phải lặng tờ
Loang sầu rã rượi tím vần thơ
Từ nay nẻo nhớ đành im ỉm
Bởi thảy triền yêu trốn mịt mờ
Đã ngán lời xưa thường giả bộ
Nên chào giọng mới cũng làm lơ
Nhiều đêm dạ thắt từng câu hỏi
Chẳng biết vì sao chợt hững hờ

HANSY
*
GỐI ĐẦU THƠ

Ngoài hiên một cảnh bóng ơ hờ
Phố vắng khuya tàn mắt dõi lơ
Có lẽ trăng gầy nghiêng lũy hẹp
Nào hay gió quẩn chạnh đêm mờ
Ẩm ương nhã hứng say bình rượu
Mê mải tương phùng dệt tứ thơ
Mõ thỉnh canh trường dìu mộng tới
Vẳng nghe dế trỗi quạnh như tờ
*
Vẳng nghe dế trỗi quạnh như tờ
Ngất ngưởng say rồi nhả vận thơ
Nửa cõi vô thường như khói nhạt
Trầm kha một kiếp tựa sương mờ
Đêm tàn ả Nguyệt bẽ bàng nuối
Cuội vén xiêm mành thấp thỏm lơ
Dặm lối thăng trầm muôn vạn ngả
Ngoài hiên một cảnh bóng ơ hờ.

Kiều Trang

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU TRUNG QUỐC KHUYÊN VN “LÃNG TỬ HỒI ĐẦU”


BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU TRUNG QUỐC
KHUYÊN VN “LÃNG TỬ HỒI ĐẦU”

Vào ngày 02/05/2014, Trung Quốc (TQ) đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam và tiến hành khoan thăm dò dầu khí một cách phi pháp. Chính phủ Việt Nam đã mạnh mẽ tố cáo hành động này của Trung Quốc. Hành động ngang ngược của Trung Quốc cũng đã gây ra sự phản đối từ cộng đồng quốc tế. Đến ngày 16/07, Trung Quốc rút giàn khoan 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, sớm 1 tháng so với kế hoạch ban đầu. Sự kiện này để lại cho chúng ta những bài học hữu ích đến nay vẫn cần ôn lại.

Mặc dù trắng trợn vi phạm chủ quyền của Việt Nam nhưng Trung Quốc luôn tuyên truyền rằng Việt Nam mới là kẻ quấy rối họ thực thi chủ quyền. Ngày 19/06/2014, Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Nhà nước Trung Quốc đăng bài “Trung Quốc khuyên Việt Nam: Kẻ hư hỏng nên tỉnh ngộ trở về” (TQ phụng khuyên Việt Nam “Lãng tử hồi đầu”).[1] Tác giả bài báo lời lẽ xách mé này là bà Tô Hiểu Huy (苏晓晖 Su Xiao Hui), Phó Chủ nhiệm Ban Nghiên cứu Chiến lược quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề Quốc tế của Trung Quốc.

Xin đọc một số câu trong bài báo này (chúng tôi in đậm những chỗ cần chú ý):

Trong tình hình Việt Nam mạnh mẽ quấy nhiễu công việc bình thường của công ty TQ tại quần đảo Tây Sa [Việt Nam gọi là Hoàng Sa], gây nên tình thế căng thẳng liên tục nâng cấp, Ủy viên Quốc vụ TQ Dương Khiết Trì đã đến Việt Nam hội đàm với Trưởng đoàn Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác song phương TQ-VN. Trong hội đàm, hai bên đều tỏ ý coi trọng mối quan hệ song phương và ý muốn quản lý kiểm soát tình hình trên biển; tình thế căng thẳng suýt bùng nổ đã dần dần được hòa hoãn…

Chuyến đi của Dương Khiết Trì cho thấy “TQ một lần nữa tạo cơ hội cho Việt Nam ghìm ngựa trước vực thẳm. Trước đó TQ đã nhiều lần nghiêm chỉnh tuyên bố quần đảo Tây Sa là lãnh thổ vốn có của TQ, không tồn tại bất cứ tranh chấp nào, và yêu cầu Việt Nam ngừng quấy rối tác nghiệp [thăm dò dầu khí, xây đắp đảo…] của phía TQ… Trong hội đàm, Dương Khiết Trì một lần nữa nói rõ giới hạn cuối cùng đối với Việt Nam, TQ mong muốn Việt Nam từ bỏ dã tâm không thiết thực, ngừng tạo ra các tranh chấp mới, quản lý được bất đồng, tránh gây thiệt hại lớn hơn cho mối quan hệ song phương. TQ bỏ ra rất nhiều công sức khuyên Việt Nam “Lãng tử Hồi đầu”, nhưng Việt Nam có thể đi cùng TQ hay không thì vẫn là vấn đề chưa biết…”

Câu cuối cùng viết mập mờ, không rõ đây là lời Dương Khiết Trì hay lời Tô Hiểu Huy; nhưng đã đăng trên “Nhân dân Nhật báo” thì chắc chắn là quan điểm của Nhà nước TQ.

Chữ Hán “Lãng tử” là đứa con/em hư hỏng, bỏ nhà đi lêu lổng. “Lãng tử hồi đầu” là đứa con/em hư hỏng [đã đến lúc] ăn năn hối lỗi, cải tà quy chính, trở về với gia đình.

Trước thái độ nước lớn kẻ cả nói trên của TQ, chúng ta cần trả lời: Việt Nam đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ nước mình là hoàn toàn chính đáng, không có gì phải ăn năn hối cải và chẳng có cái “gia đình” nào ở TQ để chúng ta “trở về” cả.

Tại TQ lâu nay vẫn lưu hành một quan điểm lịch sử cho rằng Việt Nam vốn là đất của TQ, về sau lợi dụng cơ hội nội bộ TQ loạn lạc mà tách ra thành một quốc gia riêng; dân tộc Việt Nam vốn là một trong các tộc người bị tộc Hoa Hạ (từ triều Hán trở đi gọi là tộc Hán) ở Trung nguyên gọi vơ đũa cả nắm là “Bách Việt”, như Mân Việt, Ngô Việt, Lạc Việt…; trong khi các tộc này đều phục tùng sự “chinh phục” [thực ra là xâm lược và cai trị, cướp bóc, đồng hóa] của tộc Hoa Hạ thì tộc Việt Nam lại cứng đầu cứng cổ tách ra khỏi “gia đình Bách Việt”, độc lập với TQ; nay đã đến lúc Việt Nam – đứa con hư hỏng bỏ nhà ra đi này nên sớm hối cải, trở về với “gia đình” [nói cách khác, trở thành nước chư hầu của TQ].

Không ít dân mạng TQ tuyên truyền quan điểm nói người Việt Nam vốn là người TQ, sống trên đất TQ, có vương triều đầu tiên là triều Triệu Đà nước Nam Việt, hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân của nước này chính là miền bắc Việt Nam; về sau Việt Nam giành độc lập, tách ra thành một quốc gia nhưng vẫn triều cống TQ, nhận làm một “phiên quốc” [nước phên giậu] của TQ, cho tới khi bị Pháp chiếm (1884). Sử chính thống Việt Nam không coi nhà Triệu là vương triều của mình, chứng tỏ họ không còn coi TQ là “tôn chủ quốc” [chính quốc, nước mẹ] của mình, như thế là vong ân phụ nghĩa….

Các quan điểm kể trên hoàn toàn trái với sự thật lịch sử, cần dứt khoát bác bỏ.  Dưới đây xin trình bày quan điểm của chúng tôi về các vấn đề đó.
1-
Lãnh thổ Việt Nam không phải là đất của Trung Quốc.

Sau khi đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước nhà, năm 1428 Lê Lợi ra “Bình Ngô Đại cáo” tuyên bố: “Như nước Đại Việt ta thủa trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác…”

Đúng là “bờ cõi đã chia”: Mảnh đất chữ S này trước đời Tần là một vùng đất riêng biệt, người phương bắc chưa hề đặt chân tới. Thiên nhiên rào chắn mảnh đất này cả bốn phía: phía tây có dãy Trường Sơn ngăn cách; phía đông và nam được biển bọc kín, phía bắc có dãy Thập vạn đại sơn hiểm trở. Việt Nam cách rất xa vùng Trung nguyên TQ – nơi sinh ra tộc Hoa Hạ và từ đời Tần xuất hiện đế chế Trung Hoa cùng chủ nghĩa Đại Hán. Chỉ sau khi bị nhà Tần chiếm (214 TCN), nước ta bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc và từ đó mới bắt đầu tiếp xúc với nền văn minh Trung Hoa. Đất nước này dù bị TQ cai trị hơn 1000 năm và về sau bị Pháp cai trị 80 năm nhưng vẫn là đất của dân tộc Việt Nam. Nếu nói lãnh thổ nào từng bị TQ chiếm đóng đều là lãnh thổ TQ thì cả châu Âu và TQ đều là lãnh thổ của Mông Cổ chăng?

Quá trình bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán khởi đầu bằng việc Tần Thủy Hoàng “chinh phục, thống nhất 6 nước”, thực chất là xâm chiếm lãnh thổ 6 nước Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề trong các năm 230-221 TCN nhằm biến nước Tần thành một đế quốc lớn mạnh. Quân Tần giết người như giết ngóe, dã man tới mức dù nước Hàn đã đầu hàng nhưng chúng vẫn “Ngũ mã phanh thây” vua nước Hàn và xử chém hàng trăm nghìn tù binh nước Triệu; dân thường bị giết nhiều vô kể. Thủ đoạn tàn ác này khiến các nước xung quanh sợ hãi, nhanh chóng đầu hàng khi bị quân nhà Tần xâm chiếm.

Năm 219 TCN, nhà Tần cho 50 vạn quân đánh xuống phía nam Trường Giang, quê hương của các bộ lạc “Bách Việt”, trong đó có vùng Lĩnh Nam ở phía nam dãy Ngũ Lĩnh. Cuộc chiến này ác liệt hơn cuộc chiến chiếm 6 nước trước đó, nhất là khi gặp sự chống cự của người Lạc Việt ở Quảng Tây. Đến năm 214 TCN nhà Tần mới chiếm được Lĩnh Nam sau khi mất hơn 10 vạn lính. Từ con số này có thể suy ra bao nhiêu vạn dân Bách Việt từng chết dưới tay quân Tần. Một số bộ lạc Bách Việt phải di tản, nhờ thế tồn tại và trở thành các dân tộc thiểu số ngày nay ở TQ; ví dụ người Lạc Việt, nay là dân tộc Tráng. Các bộ tộc ở lại dần dần bị tiêu diệt hoặc đồng hóa.

Hầu hết các vương triều TQ đều ra sức tăng số dân nước mình bằng chủ trương giết dân ở các vùng chiếm được – chủ yếu giết đàn ông và đưa nhiều người Hán đến định cư. Mấy nghìn năm qua chúng liên tục xâm chiếm các vùng xung quanh và đồng hoá các dân tộc thua trận, biến họ thành người Hán.[2] Kết quả là từ một nước Tần ở hai tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc hơn 2200 năm trước, hiện nay tộc Hán chiếm 92% trong số hơn 1,3 tỉ người sống trên lục địa rộng 9,6 triệu km2 và còn muốn chiếm 90% diện tích biển Đông. Ngày nay người TQ tự hào với công trạng ấy, cho dù tổ tiên họ phải trả giá bằng hàng trăm triệu sinh mạng – điều này cho thấy tư tưởng nước lớn “Đại nhất thống” đã ăn sâu vào đầu óc họ như thế nào.
2-
Người Việt Nam không phải là người Trung Quốc và không thuộc cộng đồng Bách Việt

Xét về mặt ngôn ngữ,
tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt các dân tộc, thời cổ, tổ tiên ta ở xa cách TQ cho nên tiếng Việt Nam thuộc ngữ hệ Môn-Khmer, khác hẳn tiếng Hán và tiếng của các tộc Bách Việt đều thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

Tiếng Việt có những âm và thanh điệu không có trong tiếng Hán, như âm b, đ, v, g, nh, ng, ư,… , thanh điệu nặng và ngã.

Tiếng Việt có số lượng âm tiết (syllable) nhiều gấp khoảng 15 lần (ngót 18 nghìn so với hơn 1000 âm tiết);[3] nghĩa là có hơn chục nghìn âm tiết mà tiếng Hán không có, người Hán không phát âm được. Vì thế chữ Hán không thể ghi được tiếng Việt và tiếng Việt không thể nào là một phương ngữ của Hán ngữ. Mặc dù Việt ngữ dùng chữ Hán hai nghìn năm nhưng người TQ không thể nghe hiểu bất kỳ bài văn thơ chữ Hán nào đọc bằng tiếng Việt.

Hán ngữ nghèo âm tiết nên chỉ có thể dùng chữ viết loại ghi ý (ví dụ chữ Hán), mà không thể dùng chữ viết loại ghi âm như chữ Quốc ngữ Việt Nam.

Các tộc Bách Việt như Mân Việt, Ngô Việt, Vu Việt, Lạc Việt… đều nói một trong các thứ tiếng địa phương (phương ngữ) của Hán ngữ, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, và chữ Hán ghi được các phương ngữ đó.

Tháng 11/2016, TQ công bố kết quả công trình “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt” cấp nhà nước, thực hiện trong 8 năm, do sử gia nổi tiếng TQ Lương Đình Vọng chủ trì, xác định 8 dân tộc thuộc ngữ tộc Tráng-Đồng [Zhuangdong] là Tráng, Đồng, Bố Y, Lê, Thái, Thủy, Mục Lão và Mao Nam có tổ tiên chung là người Lạc Việt; trong đó tộc Tráng (Zhuangzu, chữ Tráng viết là Bouxcuengh) đông nhất, là hậu duệ chính gốc của người Lạc Việt;[4] tiếng nói của họ, tức tiếng Lạc Việt, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, khác với ngữ hệ của tiếng Việt Nam.

Thời xưa một số người Tráng di cư đến Việt Nam làm thành dân tộc Tày-Nùng, hiện có 2,7 triệu người. Tiếng Tày-Nùng chính là tiếng Tráng, người Kinh nghe không hiểu.

Về ngữ pháp, một khác biệt rất rõ là tiếng Việt đặt tính ngữ sau danh từ, ngược với Hán ngữ, ta gọi là nói ngược. Ví dụ “Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc” trong Hán ngữ phải đặt tính ngữ “Nhân dân Trung Quốc” lên trước “Ngân hàng”, thành “Zhongguo Renmin Yinhang”. Tráng ngữ cũng viết “Cunghgoz Yinzminz Yinzhangz” theo thứ tự hệt như Hán ngữ. Trong tiếng Việt, trạng ngữ chỉ thời gian có thể đặt trước hoặc sau chủ ngữ nhưng trong tiếng Hán bao giờ cũng phải đặt trước chủ ngữ.

Lẽ thường các dân tộc ở gần nhau đều có ngôn ngữ giống nhau. Sự khác biệt ngôn ngữ quá lớn kể trên giữa tiếng Việt với tiếng của các tộc Bách Việt là bằng chứng rõ nhất cho thấy dân tộc ta thời xưa không ở gần cộng đồng các tộc Bách Việt.

Dĩ nhiên, sau hơn 10 thế kỷ là quận huyện của TQ và gần 2000 năm dùng chữ Hán, ngôn ngữ Việt chịu ảnh hưởng lớn của Hán ngữ, khoảng 60% từ vựng tiếng Việt có gốc chữ Hán.

Xét về thể hình
 người Việt Nam thuộc chủng người thấp nhỏ, phụ nữ thanh mảnh, khác với người Bách Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang…Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học nước ta cho thấy hệ gene của người Việt Nam khác rất xa hệ gene của người Hán.[5]

Xét về văn hóa
mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Hán sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, nhưng nền văn hóa của dân tộc ta vẫn có nhiều điểm khác. Nổi bật nhất là sự khác biệt về văn hóa chính trị: Người Việt Nam coi độc lập dân tộc là lẽ sống cao nhất; dù bị nước ngoài chiếm đóng cai trị nhưng dân tộc ta xưa nay chưa hề ngừng đấu tranh giành độc lập và chống đồng hóa. Độc lập dân tộc đã trở thành đòi hỏi cao nhất, trên hết; đối với người Việt Nam “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, người Việt Nam đều coi các vương triều TQ cai trị mình là chính quyền của kẻ địch, và không ngừng chống lại chúng. Quan điểm đó hoàn toàn chính đáng. Triệu Đà người Hán quê Hà Bắc, xa Việt Nam hàng nghìn dặm vô cớ đem quân đánh chiếm nước ta đang sống trong hòa bình, gây ra cảnh chết chóc tàn phá đau thương, rõ ràng là kẻ xâm lược. Triều đình nước Nam Việt của Triệu Đà đóng đô tại Phiên Ngung, toàn bộ quan lại, quân đội là người TQ, quan quân cai trị Việt Nam cũng đều là người TQ; chúng chỉ lo áp bức bóc lột dân ta, sao có thể coi nhà Triệu là vương triều của Việt Nam?

Với quan điểm trên, tổ tiên ta, kể cả phụ nữ, đã không ngừng nổi dậy đánh đuổi giặc xâm lược: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (năm 248), … Khúc Thừa Dụ (năm 905) và kết thúc bằng chiến thắng giành độc lập của Ngô Quyền (năm 938).

Có sử gia TQ nói Mã Viện diệt khởi nghĩa Hai Bà Trưng là “công việc nội bộ” TQ, tương tự việc đàn áp mọi cuộc nổi dậy khác của nông dân TQ, không thể gọi là xâm lược.[6] Thật vô lý. Dân tộc ta đang sống yên lành bỗng dưng bị bọn người phương bắc vô cớ đánh chiếm nước ta rồi sáp nhập làm quận huyện của chúng. Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc chiếm đóng là chính nghĩa. Mã Viện đánh nước ta, rõ ràng là xâm lược.

Đặc biệt hơn cả là, dù bị chính quyền cai trị ép phải học và dùng chữ Hán suốt cả nghìn năm nhưng do hiểu rõ nguy cơ để mất tiếng mẹ đẻ thì sẽ để mất nòi giống dân tộc mình nên tổ tiên ta đã tìm mọi cách giữ nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng nền văn hóa tiếng Việt, nhờ thế dân tộc ta không bị Hán hóa. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Thời thuộc Pháp, dân ta cũng đấu tranh thắng lợi đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ buộc người Việt học tiếng Pháp từ bậc tiểu học; nhờ vậy sau 80 năm Pháp thuộc dân ta vẫn không nói tiếng Pháp như các thuộc địa Pháp khác.

Nhưng các tộc Bách Việt như Ngô Việt, Mân Việt…đều khá dễ dàng chấp nhận sự chiếm đóng, cai trị và đồng hóa của nhà Tần. Tộc Lạc Việt có đánh trả và lánh về vùng núi Quảng Tây, nhờ vậy giữ được tiếng nói; nhưng sau đó họ không dám nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược. Ngày nay họ trở thành một dân tộc thiểu số ở TQ, sống trong Khu Tự trị dân tộc Tráng, không được là một quốc gia độc lập như Việt Nam.

Ngay cả dân tộc Hán đông người nhất thế giới khi bị ngoại tộc (Mông tộc, Mãn tộc…) xâm lược cũng chịu để cho kẻ địch cai trị hàng trăm năm mà không vùng lên đánh đuổi; giới quan lại người Hán ngoan ngoãn làm tôi tớ cho vua chúa ngoại tộc, giúp chúng áp bức bóc lột đồng bào mình, ép họ phải theo văn hóa ngoại tộc. Thời Mãn Thanh, đàn ông TQ phải để đuôi sam theo kiểu tóc tộc Mãn, các triều thần phải khúm núm tự xưng là “nô tài” trước Hoàng đế người Mãn. Chính quyền TQ với đội ngũ quan lại cơ sở hầu hết là người Hán thời kỳ đầu còn bỏ chữ Hán, dùng chữ Mãn, và từng chặt đầu hàng triệu đàn ông TQ không chịu để đuôi sam. Hán tộc và các tộc Bách Việt đều coi nhà Nguyên và nhà Thanh là vương triều của mình, tuy thực ra đó chỉ là vương triều thực dân; thậm chí coi hoàng đế Thành Cát Tư Hãn của đế quốc Mông Cổ là anh hùng, coi Khang Hy là minh quân của người TQ…

Tóm lại, từ những khác biệt nhiều mặt kể trên, có thể khẳng định: Người Việt Nam thời cổ không phải là người di cư từ phương bắc xuống; trước khi nhà Tần xâm lược Việt Nam, dân ta không có quan hệ với các tộc người ở bên kia biên giới phía bắc. Dân tộc ta không phải là thành viên của cộng đồng Bách Việt. Tổ tiên ta chưa bao giờ ngừng đấu tranh giành độc lập dân tộc và trên thực tế đã giành được những thắng lợi vĩ đại, giữ được nguyên vẹn nòi giống và lãnh thổ. Chúng ta kiên quyết giữ vững truyền thống đó, không cho phép bất cứ kẻ nào xâm phạm đất nước này.

——————-
[1] 报:中国再给越南机会奉劝浪子早回头    (2014.6.19  人民日报海外版 ) Báo Đảng: TQ một lần nữa cho VN cơ hội, hết lòng khuyên kẻ hư hỏng VN sớm tỉnh ngộ trở về (Nhân dân nhật báo, bản phát hành ra nước ngoài)
[2] Tộc người Hán: Một bản sắc được kiến tạo, Tia Sáng, 21/06/2019.
[3] Lạm bàn về tính ghi ý của chữ Hán (Nhân đọc “Nghiên cứu chữ Hán hiện đại của thế kỷ XX”), Tia Sáng, 26/06/2019.
[4] 骆越方国研究》发布  (2016.11.07  人民网-文化频道) Công bố “Nghiên cứu Phương quốc Lạc Việt”
[5] Công bố nghiên cứu lớn nhất về bộ gen của người Việt, Nhân Dân, 16/07/2019.
[6] “越南反华情结:教科书写越南史就是中国侵略史  Tình cảm chống TQ của VN: Sách giáo khoa VN viết “Lịch sử VN là lịch sử TQ xâm lược”

ÊM Ả HƯƠNG LÒNG



ÊM Ả HƯƠNG LÒNG
[Thuận Nghịch độc]

Anh tìm vọang nhớ dặt dìu sa
Khẽ nhắc tình xưa thuở hiệp nhà
Dành để mộng gieo dào dạt bướm
Trỗi hoài mơ đắm ngạt ngào da
Canh choàng hẹn ước thơ bừng thẳm
Gió quyện say luồn phú lượn xa
Mành biếc tỏa hương cào cấu dạ
Xanh ngời sắc diễm bộn bề pha
*
Pha bề bộn diễm sắc ngời xanh
Dạ cấu cào hương tỏa biếc mành
Xa lượn phú luồn say quyện gió
Thắm bừng thơ ước hẹn choàng canh
Da ngào ngạt đắm mơ hoài trỗi
Bướm dạt dào gieo mộng để dành
Nhà hiệp thuở xưa tình nhắc khẽ
Sa dìu dặt nhớ vọng tìm anh

HANSY

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2020

198-CUỘC TÌNH SỐNG ĐỘNG


GẬY GỘC – GẬY GẠC – GHẾ GỐC


GẬY GỘC – GẬY GẠC – GHẾ GỐC
"Gậy" và "gộc" - hung khí trong vụ án dùng "gậy gộc", vỏ chai cố ý gây thương tích
cho người dân ở Văn Giang (2012) [*] -Ảnh: Vietnamnet

“Từ điển từ láy tiếng Việt”  (Viện Ngôn ngữ học – Hoàng Văn Hành chủ biên) thu thập và giải nghĩa:

-“GẬY GỘC dt. Đoạn tre, song, gỗ được coi như là một thứ vũ khí để đánh; gậy (nói khái quát). “Đám tuần lại vác gậy gộc xô ra cổng đình dẹp đường” (Nguyễn Đình Thi)”.

-“GẬY GẠC dt. (id.). Như gậy gộc. “Người chạy qua suối, với gậy gạc, nhảy như cào cào, trước một cái khung đại bác nghễu nghện” (Nguyễn Huy Tưởng)”.

          Có lẽ các nhà biên soạn cho rằng “gộc” chỉ là yếu tố láy âm của “gậy”. Tuy nhiên, “gậy gộc” là từ ghép đẳng lập. Theo đây, cả hai yếu tố cấu tạo từ đều có nghĩa độc lập: “gậy” là đoạn tre, gỗ, sắt dùng làm vũ khí, hoặc công cụ (VD: Thù này tích để còn lâu/Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què-cd); “gộc” là phần gốc rễ hoặc một khúc ngắn gồ ghề, xù xì của thân cây sau khi đã chặt (VD: Cái gộc này mà nấu bánh chưng thì cháy đượm phải biết):

          -Đại Nam Quấc âm tự vị giảng: “gộc: cây củi có khúc đẩn mà lớn” (“khúc đẩn” ở đây nghĩa là khúc ngắn mà cong queo).

 -Từ điển tiếng Việt (Vietlex): “gậy • d. đoạn tre, gỗ, v.v. tròn, cầm vừa tay, thường dùng chống khi đi hoặc để đánh: chân yếu phải chống gậy”; “ gộc • I d. phần gốc và rễ còn lại của cây đã già cỗi sau khi bị chặt đi: gộc tre ~ củi gộc”.

-Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến đức): “gậy • Đoạn tre hay gỗ dùng để chống, để đánh <> Cha chết thì con chống gậy tre, Mẹ chết thì con chống gậy vông. Gậy của phu tuần.”; “gộc • I Củ tre <> Đánh gộc tre. Guốc làm bằng gộc tre. Có nơi gọi gộc là gốc”.

Nếu như “gậy” là một thứ vũ khí, dụng cụ tuy thô sơ nhưng đã qua công đoạn chọn lựa, gia công khá chuyên dụng, thì “gộc” lại hoàn toàn tự nhiên, thường to hơn "gậy" và hầu như không qua khâu chế tác, được sử dụng một cách tạm bợ, “ngẫu hứng” để kê chặt, hoặc đánh, đập thay cho gậy trong tình huống khẩn cấp. Bởi là từ ghép đẳng lập nên “gậy gộc” mang nghĩa khái quát, chỉ các loại gậy và vũ khí thô sơ dùng để đánh đập nói chung.
Thu thập và giải thích của "Từ điển từ láy tiếng Việt" -Ảnh: HTC

Tương tự như “gậy gộc”, “gậy gạc” cũng là từ ghép đẳng lập: “gạc” là đoạn cành cây phân nhánh, lúc bí có thể dùng làm vũ khí thay cho "gậy". “Gạc” trong “gậy gạc” chính là “gạc” trong “gạc hươu” – loài thú sừng có nhánh giống như gạc/chạc cây:

 -“Từ điển tiếng Việt” (Vietlex): “gạc • d. 1 [id] như chạc: gạc cây. 2 sừng già phân nhánh của hươu, nai: gạc hươu”.

-“Từ điển tiếng Việt” (Văn Tân chủ biên): “gạc • d. 1 Chỗ một cành cây tách ra thành hai cành nhỏ hơn. 2 Sừng hươu nai”.
Gạc/chạc cây có thể dùng làm vũ khí thô sơ thay cho gậy-Ảnh: ST

Cùng mục chữ cái “G”, “Từ điển từ láy tiếng Việt” còn ghi nhận từ “gai gốc”:

-“GAI GỐC dt. (và tt.). (id.) Như gai góc, “Một trăm phương thà tránh đường gai gốc, Trăm tuổi cho tròn phận tóc da” (Nguyễn Đình Chiểu)”.

Tuy nhiên, “gai gốc” cũng là từ ghép đẳng lập: “gai” là phần cứng nhọn, đâm ra từ thân cành của một số loài cây, hoặc chỉ chung loài cây bụi có cành lá, hoặc gai nhọn sắc (VD: Bà chúa phải gai bằng thuyền chài sổ ruột); “gốc” đây là "gốc cây"-phần còn sót lại trong quá trình khai thác cây cối, hoặc phát nương, đốt rừng làm rẫy (VD: Vấp phải cái gốc cây; Đào gốc bạch đàn lên để trồng lứa mới). Cùng với “gai”, “gốc” cây to nhỏ lởm chởm chọc lên mặt đất chẳng khác nào những cái gai nhọn sắc khổng lồ, gây khó khăn trở ngại rất lớn đối với bước chân người đi. Bởi thế, “gai gốc” được dùng để chỉ những khó khăn trở ngại.
Cùng với "gai", những gốc cây đủ loại to nhỏ còn sót lại trên mặt đất luôn là khó khăn trở ngại đối với bước chân người đi.-Ảnh: ST

Đại Nam Quấc âm tự vị, mục “GAI” ghi nhận: “gai gốc: Chỗ nhiều gai, đầy những gai”; mục “GỐC” ghi nhận: “gai gốc: Tiếng đôi chỉ nghĩa là gai, hoặc là vật có nhiều gai”. Trong khi ở cả hai mục “GAI” và “GÓC”, đều không tìm thấy ghi nhận “gai góc”.
Một số cuốn từ điển biên soạn vào nửa đầu và nửa cuối thế kỷ XX hãy còn ghi nhận “gai gốc” như:

-“Việt Nam tự điển” (Hội Khai trí Tiến đức): “gai gốc • Trở ngại khó-khăn <> Đường đi gai-gốc.”.

-“Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức): “gai gốc • dt. gai và gốc cây • (B) Trở-lực, chướng-ngại, sự cản-trở khó-khăn: Việc đầy gai gốc; Phát gai gốc muốn thông đàng cả, Vén ngút mây thấy quả trời cao (CD)”.

Điều này cho thấy, “gai góc” chỉ là biến thể của “gai gốc”. Về sau, hai từ này cùng song song tồn tại, rồi “gai góc” trở nên phổ biến hơn và dần dần thay thế cho “gai gốc”.[**]

Trở lại với từ “gậy gộc”. Đúng như lời giảng của Việt Nam tự điển: “có nơi gọi gộc là gốc”. Ở Thanh Hoá, “gộc” còn được hiểu như “gốc”. Sau khi khai thác, thì phần “gộc” cây đào lên còn gọi là “gốc”. "Gốc" là củi, nhưng là khúc củi to quá cỡ, khó chẻ, khó bổ, thường chỉ dùng để nấu bánh chưng dịp tết nhất. Phần “gốc”, “gộc” cây này thô sơ mà đa năng. Có khi làm con kê chặt đẽo, kê đít ngồi thái rau, băm bèo cho lợn, rồi đến bữa “đá” lại làm “ghế” ngồi ăn cơm. Thế nên từ ghép đẳng lập ghế gốc (cũng rất dễ bị nhận lầm là từ láy), chỉ ghế nói chung, hoặc chỉ ghế với hàm ý chê, như “ghế với chả gốc!” (ghế chẳng ra ghế, ghế mà như gốc).
Bàn ghế được chế tác từ "gộc"/"gốc" cây đời mới-Ảnh: ST

Như vậy, các từ “gậy gộc”, “gậy gạc”, “gai gốc”, mà “Từ điển từ láy tiếng Việt” thu thập, hay “ghế gốc” (một từ chưa được cuốn từ điển tiếng Việt nào ghi nhận) đều là từ hợp nghĩa, hiện tượng “láy” chỉ là ngẫu nhiên.

HOÀNG TUẤN CÔNG
[*] Nguyên chú của báo Vietnamnet: “Hung khí được người dân cho biết là của nhóm người lạ mặt gồm gậy gộc, vỏ chai bia. Bên cạnh là mũ bảo hiểm của người dân bị đập vỡ”.
[**] “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức đã chính xác khi cho rằng, “gai gốc” là “gai và gốc cây” nghĩa bóng chỉ "Trở-lực, chướng-ngại, sự cản-trở khó-khăn"; Tuy nhiên, theo chúng tôi Lê Văn Đức lại máy móc khi cho rằng “gai góc” là “gai và góc nhọn” nghĩa bóng chỉ sự “Khắt-khe, sâu-sắc, hay kiếm chuyện làm khó: Tính người gai góc; Ăn-nói gai góc”. Vì nếu như "góc" và "cạnh" có thể hợp nghĩa thành "góc cạnh" (cũng dùng để chỉ tính cách hoặc phong cách gây ấn tượng mạnh); "chông" và "gai" có thể hợp thành "chông gai", thì "gai" và "góc nhọn" rất khó hợp nghĩa với nhau.



LỊM NGÁT MƠ LÒNG


LỊM NGÁT MƠ LÒNG

Vẫn ước đường yêu mãi hiệp hòa
Cho đời lịm ngát mộng đào hoa
Mùa thương trỗi dậy làn mây kết
Nẻo nhớ đong đầy giọt nắng pha
Rạng rỡ duyên tình luôn đắm mượt
Triền miên hạnh phúc chẳng phai nhòa
Mong nhiều dịp sát bên người đẹp
Để ấy hờn thì nũng nịu thoa
*
Để ấy hờn thì nũng nịu thoa
Làm cho dỗi giận phải tan nhòa
La đà hạnh phúc như lời dệt
Khấp khởi tâm hồn tựa ráng pha
Hãy thắm y là xuân thượng uyển
Luôn ngời giống thể nụ quỳnh hoa
Dù khi cách trở ngàn muôn dặm
Vẫn ước đường yêu mãi hiệp hòa

HANSY
*
THẮM MƠ HÒA

Lời trong thảm gió quyện nhau hòa
Diễm mộng êm đềm điểm sắc hoa
Huyễn lộng mơ màng say đắm thả
Mê ngời đảo xuyến diệu nồng pha
Hồn lâng ngập đẫy hoài không nhả
Ý cuộn trào dâng mãi chẳng nhòa
Trải đẫm niềm xây ngào ngọt đóa
Hương tình vỗ sóng dậy lòng thoa
*
Hương tình vỗ sóng dậy lòng thoa
Giữ sắc hoài thơm chẳng bợt nhòa
Tiếng ngọt say nồng tha thiết nhả
Câu mềm đắm hảo cuộn cào pha
Xây niềm nhớ đợi chung màu đóa
Trải đoạn thương chờ lẫn cánh hoa
Mộng ước loan về ngan ngát thỏa
Lời trong thảm gió quyện nhau hòa.

Hà Thu

NGUỒN GỐC BÁ ĐẠO & BÁ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC


NGUỒN GỐC BÁ ĐẠO & BÁ QUYỀN
CỦA TRUNG QUỐC
Trong sách Giấc mơ Trung Quốc, tác giả – đại tá Quân Giải phóng Trung Quốc Lưu Minh Phúc – đặc biệt viết nhiều về sự bá đạo của Mỹ và vương đạo của Trung Quốc.

Tác giả dành cả chương II (có số trang nhiều thứ 2 trong 8 chương sách này) để trình bày cái gọi là bá quyền của nước Mỹ và dành chương III và IV (số trang nhiều thứ 6 và 5) để nói về những cái hay cái tốt của Trung Quốc. Tác giả dùng số trang nhiều nhất để nói về nước Mỹ — về mặt tốt cũng như mặt xấu. Số trang viết về Trung Quốc thì ít hơn nhiều; bởi lẽ tác giả cũng chẳng biết nói gì về những cái hay cái tốt của nước mình, còn những cái xấu thì có lẽ biết cả đấy nhưng chẳng dám viết ra.

Lưu Minh Phúc hoàn toàn chỉ nói về những cái tốt của nước ông, nhằm để nhân dân thế giới đừng e ngại Trung Quốc trỗi dậy trở thành “quốc gia quán quân”, “quốc gia lãnh tụ” sẽ đe dọa hoà bình và ổn định trên thế giới.

Hãy thử xem vài cái tốt của Trung Quốc mà Lưu Minh Phúc nêu ra trong sách.

Tác giả tự hào viết:
Trung Quốc không có tội tổ tông,[1]
cho nên có tư cách nhất làm lãnh tụ thế giới! Tất cả các nước lớn trỗi dậy khác đều “có tiền sử phạm tội”, như buôn bán nô lệ châu Phi hồi thế kỷ 15-18, xâm lược, chinh phục thuộc địa…

Đúng là các vua chúa Trung Quốc chẳng hề sang tận châu Phi để mua nô lệ — nhưng điều đó chẳng có gì đáng để Lưu Minh Phúc tự hào cả. Ông không biết (hay giả vờ không biết) một sự thực lịch sử rất đơn giản: dưới tay các nhà cầm quyền Trung Quốc đã có sẵn hàng triệu nô lệ! Họ gọi dân nước mình là “thần dân”, mà chữ “thần” trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là “nô lệ trong xã hội nô lệ”. Họ áp bức bóc lột người dân đến tận xương tủy. Ví dụ dưới thời thịnh trị nhà Đường, Hoàng đế có tới 3.000 cung nữ — chính là 3.000 nô lệ tình dục của một gã đực rựa dâm ô. Nước này cũng phát minh ra chế độ hoạn quan cực kỳ dã man: hàng nghìn nam giới bị cắt bộ phận sinh dục chỉ vì để phục vụ nhu cầu tình dục của một gã nam giới khác. Cả triệu người dân chết trong công trình đắp Vạn lý Trường thành. Như vậy sao có thể nói Trung Quốc không có tội tổ tông?

Ở phương Tây, do mọi người dân đều được thừa nhận là chủ đất nước mình, nên họ phải sang tìm nô lệ ở các nước châu Phi lạc hậu, vì thế mà phương Tây phạm “tội tổ tông”.

Tác giả viết người Trung Quốc có tính cách yêu hoà bình, đế quốc Trung Hoa lớn mạnh mà không chinh phục, không có thuộc địa ở nước ngoài, vì thế các nước nhược tiểu xung quanh như Việt Nam, Miến Điện, Thái Lan … vẫn giữ được độc lập.

Rõ ràng đại tá họ Lưu đã có những nhầm lẫn lịch sử đáng tiếc.

Việt Nam chẳng đã bị phong kiến Trung Quốc thống trị 1.000 năm đấy ư? Nhưng họ không đồng hóa nổi dân tộc Việt và cuối cùng bị dân ta vùng dậy đánh đuổi, giành lại độc lập cho đất nước. Tuy thất bại cay đắng như thế nhưng sau đó các vương triều phương Bắc còn mấy lần cất đại quân sang “thảo phạt” Việt Nam, lần nào cũng thua nhục nhã.

Tác giả còn nêu “sự kiện nổi tiếng nhất” là đời Hán Nguyên Đế, triều đình quyết định bỏ không chiếm quận Châu Nhai ở đảo Hải Nam, coi đó như một minh chứng nhà Hán không chủ trương mở rộng lãnh thổ.

Nhưng thực ra đó là do đảo Hải Nam khí hậu nóng ẩm, quan quân Trung Quốc lục địa ra đấy đều khốn khổ vì dịch bệnh, lại thêm hải quân Trung Quốc nhỏ yếu không dễ ra được Châu Nhai ở xa trên biển.

Ai cũng biết đất Trung Quốc quá rộng, dân quá đông, chính quyền phong kiến trung ương quản lý không xuể, lại thêm trong nước luôn luôn rối loạn vì nông dân khắp nơi nổi dậy chống lại triều đình, nhiều đầu lĩnh các địa phương muốn lập chính quyền cát cứ. Chính quyền trung ương đàn áp dân trong nước còn chưa xong, sao mà dám đem quân ra nước ngoài chiếm thuộc địa? Nếu làm thế thì ngai vàng nhà vua sẽ lập tức bị loạn thần hoặc nông dân khởi nghĩa cướp mất.

Lưu Minh Phúc nói bừa rằng nguyên nhân nông dân Trung Quốc nổi dậy nhiều là do nước này thiếu đất trồng trọt nhưng chính quyền không làm như phương Tây, tức đem quân đi cướp đất nước ngoài để chuyển dịch mâu thuẫn ra ngoài, mà chỉ “vận dụng phương pháp hướng nội, tập trung giải quyết ở trong nước mọi mâu thuẫn”.

Giải thích như thế là ngụy biện. Nông dân Trung Quốc khởi nghĩa đánh lại triều đình chỉ vì họ bị áp bức bóc lột quá tàn ác, không còn đường sống nữa. Hầu hết các cuộc khởi nghĩa ấy đều bị triều đình dìm trong biển máu. Và nếu thắng lợi thì ông trùm khởi nghĩa lại trở thành ông vua mới, tàn ác với dân mình chẳng khác gì vua cũ.

Rõ ràng các vương triều Trung Quốc thực hành bá đạo với chính thần dân của mình, thế mà Lưu Minh Phúc dám nói bừa là thực hành vương đạo!

Một chính quyền thực hành bá đạo với chính đồng bào mình thì sao có thể lại thực hành vương đạo với dân chúng các nước khác? Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi tố cáo chính quyền nhà Minh đối xử tàn ác khủng khiếp với nhân dân ta: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Tướng Lưu Á Châu (người viết Lời Tựa sách Giấc mơ Trung Quốc của Lưu Minh Phúc) vạch trần bản chất của các tầng lớp cai trị Trung Quốc đều là “đối ngoại mềm mỏng, đối nội tàn nhẫn”. Đây chính là nguyên nhân làm cho nhiều người Trung Quốc căm ghét chính quyền; lúc bình thường lắm phe phái đánh lẫn nhau rình rập cướp quyền bính, khi có ngoại xâm thì không ít người theo địch chống lại chính quyền nước mình. Lưu Á Châu nói Trung Quốc thời bị Nhật xâm lược có rất nhiều Hán gian chính là vì thế.

Lưu Minh Phúc tô son điểm phấn cho tổ tiên mình trong khi chính ông lại thừa nhận: đế quốc Trung Hoa có nhiều nội chiến, đế quốc phương Tây có nhiều “ngoại chiến”, nông dân Trung Quốc khởi nghĩa nhiều nhất, quy mô lớn nhất thế giới; ở nước này nội chiến nhiều, “ngoại chiến” ít.

Nhìn chung có thể thấy: nếu đế quốc Trung Hoa thời nào đó không quá chú trọng chinh phục và xâm lược nước ngoài thì điều đó chẳng phải vì họ yêu hoà bình và thực hành “vương đạo”, mà vì họ tuy rất muốn xâm lược nước ngoài nhưng không dám làm hoặc không làm nổi. Thế kỷ 12, thủy quân nhà Nguyên đánh Việt Nam và Nhật Bản đều thua trận phải cuốn xéo về nước, là những chứng cớ hiển nhiên mà tác giả cố tình bỏ qua.

Nói cách khác, Trung Quốc rất muốn làm Bá nhưng chưa làm được. Thấy Mỹ làm được vai trò ấy họ sinh ra ganh tị và chê Mỹ đủ thứ xấu.

Làm được vai trò Bá như nước Mỹ đâu dễ! Đó là vai trò kẻ giữ trật tự công cộng, cảnh sát chỉ đường. Tác giả nói Trung Quốc muốn làm “quốc gia quán quân, lãnh tụ” nhưng không muốn làm bá quyền, chỉ làm “quốc gia dẫn dắt” thôi. Nhưng chính tác giả thừa nhận Trung Quốc hiện chưa cắm được ngọn cờ văn hoá lên điểm cao khống chế thế giới, chưa có giá trị quan nào thu hút toàn cầu như giá trị quan tự do dân chủ của Mỹ — thế thì sao mà dẫn dắt thế giới được?

Điểm này thì tác giả nói đúng: người Trung Quốc xưa nay chưa bao giờ tự hào với nền văn hóa truyền thống tổ tiên để lại (xem: “Vì sao người Trung Quốc thiếu tự tin văn hóa” trên “Nghiên cứu quốc tế”), thậm chí họ đã nhiều lần kêu gọi đánh đổ học thuyết của Khổng Tử – vị thánh nhân được tổ tiên họ thờ phụng mấy nghìn năm. Hai tác phẩm văn học họ yêu thích là “Thủy Hử” ngày xưa và “Tô tem sói” ngày nay đều bị thế giới chê là cổ vũ cho chủ nghĩa bạo lực. Một nền văn học như thế sao mà cắm được ngọn cờ văn hoá lên điểm cao khống chế thế giới, tạo ra giá trị nhân văn thu hút toàn cầu?

Tác giả viết: Trung Quốc sẽ lãnh đạo thế giới nhưng không làm bá đạo như Mỹ mà thực hành vương đạo. Bản chất của vương đạo là đạo đức nhân nghĩa, dựa trên nguyên tắc “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (lời Khổng Tử: Điều mình không thích thì chớ đem đến cho người khác), thực hiện bình đẳng, công bằng, chân thành rộng lượng, hòa bình, dùng sức mạnh đạo đức để cảm hóa kẻ khác chứ không áp bức họ, phòng ngự tự vệ chứ không đánh trước, không lạm dụng vũ lực.

Chính quyền Trung Quốc có thói quen nói một đằng làm một nẻo, thậm chí cậy thế to mồm vu vạ kẻ hiền lành thành kẻ tội phạm. Nói vương đạo, nhưng thực tế trong cách giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, họ luôn luôn ưa dùng sức mạnh, cậy ta đây lắm tàu nhiều súng bắt nạt kẻ yếu.

Năm 1974 Trung Quốc cướp Hoàng Sa của Việt Nam. Bản đồ Trung Quốc vẽ Đường chín đoạn chiếm 80% Biển Đông xa nước họ hàng nghìn dặm, áp sát lãnh thổ một số nước Đông Nam Á. Nhiều năm nay họ ngang nhiên ra lệnh cấm đánh cá trên vùng biển có tranh chấp rồi cho tàu ngư chính đến Biển Đông xua đuổi tàu đánh cá của ngư dân ta, thậm chí cho tàu (ta gọi là “tàu lạ”) đâm chìm nhiều tàu của ngư dân Việt Nam, gây ra đắm tàu chết người vô cùng dã man. Năm 2014 họ ngang ngược kéo giàn khoan 981 vào vùng biển nước ta khoan thăm dò coi như ở nước họ. Gần đây nhất họ hai lần hung hăng cho tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 8 (Haiyang Dizhi 8) cùng với các tàu hải cảnh và tàu của “dân quân biển” xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Thế mà họ lại to mồm vu vạ: “Bất chấp sự phản đối cứng rắn của Trung Quốc, Việt Nam đơn phương bắt đầu hoạt động khoan thăm dò dầu khí ở các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông], [và đây là] nguồn gốc của tình hình hiện thời” (người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói trong cuộc họp báo tại Bắc Kinh hôm 23/8/2019).

Như thế chẳng là Bá đạo thì là gì?
Bạn sẽ hỏi: đâu là cội nguồn của tính cách thích làm Bá?
Hãy tìm về nền văn hoá truyền thống của họ.
Xin mượn lời của chính họ: Người Trung Quốc ưa chuộng sức mạnh và bạo lực.

Chẳng dân tộc nào ưa chuộng sự yếu đuối, nhưng tôn thờ sức mạnh như người Trung Quốc thì quả là hiếm. Thời xưa, nhiều nước, nhất là ở phương Tây, có loại tiểu thuyết viết về tình yêu; nhưng Trung Quốc không có loại ấy. Mấy bộ tiểu thuyết cổ của nước này đều đề cao những kẻ có sức mạnh và lạm dụng bạo lực, cho dù dùng vào việc phi nghĩa. Thời xưa đã vậy; thế kỷ 20 lãnh tụ họ Mao đề ra châm ngôn Súng đẻ ra chính quyền. Nền văn hoá chuộng bạo lực, đấu đá, đánh đấm, chiến tranh ấy quyết định họ hành xử kiểu Bá, tức dùng vũ lực giải quyết mọi chuyện.

Các hảo hán trong Thủy Hử lạm dụng bạo lực vô hạn độ; chỉ vì để chứng tỏ võ công của mình mà họ sẵn sàng hại cả kẻ vô tội. Lý Quỳ giận lên là giết bất cứ ai mà không ghê tay. Võ Tòng khỏe vật chết hổ, nhẫn tâm giết bà chị dâu yếu đuối mà không thẹn với lương tâm kẻ nam nhi. Các nhân vật ấy được người Trung Quốc mê say ca ngợi — điều đó cho thấy văn hoá chuộng bạo lực của họ chính là nguồn gốc sinh ra tính cách thích làm Bá. Một nhà Hán học người Australia nói Thủy Hử là cuốn tiểu thuyết bệnh hoạn. Một nhà Hán học người Đức nhận định Tô Tem Sói tuyên truyền chủ nghĩa phát xít…

Giờ đây đông đảo dân mạng Trung Quốc hô lớn “Tả, tả, tả lớ!” [Đánh! Đánh thôi!], đòi dạy Việt Nam một bài học nữa, đòi đánh Philippines để cướp bãi cạn Scarborough. Hiếm thấy quốc gia nào hiếu chiến như vậy nhưng miệng lại luôn nói “Trỗi dậy hòa bình”.

Tóm lại, vương đạo thì chẳng thấy đâu mà lịch sử cũng như hiện tại đều đầy rẫy những sự thật cho thấy bá đạo mới là thứ “đặc sản” Trung Quốc ưa thích.

—————
[1] Tội tổ tông (original sin) là một khái niệm, một tín điều của Ki-tô giáo, nói về tình trạng mắc tội ngay từ khi sinh ra của tất cả mọi người. Kinh Thánh có chép tội lỗi của Adam và Eva, hai vị tổ đầu tiên của loài người đã phạm tội làm trái lời răn của Thượng Đế, do đó bị Thượng Đế trừng phạt: Tất cả mọi người đều phải chết già.

Hồ Anh Hải

VÀNG THƠM KỶ NIỆM

VÀNG THƠM  KỶ NIỆM

Tình thơ quá vãng lịm vui cười
Thuở đó mây hồng lượn khắp nơi
Khấp khởi hương lòng gieo thắm mật
La đà cánh mộng tỏa tròn môi
Ôm choàng rộn rã lần thơm gối
Gắn chặt triền miên buổi đẹp trời
Sáng rỡ tâm hồn như nắng rọi
Làm cho cuộc sống dậy yêu đời
*
Làm cho cuộc sống dậy yêu đời
Trỗi lộng niềm mơ giữa đất trời
Ngọt phả lời ru kèm giọng nói
Thơm lừng nụ tỏa kết làn môi
Vì đâu bỏ ước phai lòng dạ
Để lại giăng sầu xám triệu nơi
Tiếc mãi người ơi vàng kỷ niệm
Tình thơ quá vãng lịm vui cười

HANSY

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

197-CHỐN ĐỊA ĐÀNG


LỊM KHÚC MƠ VÀNG


LỊM KHÚC MƠ VÀNG
[Thuận nghịch độc]

Mong chờ lịm khúc ái ngần trong
Bóng rợp trời thơ diễm ảo dòng
Lòng vẹn ước gieo ngời khảm sóng
Giọng vàng mơ tỏa mượt chuyền song
Cong vờn dạ nhớ thơm cuồng đọng
Võng ướp lời yêu ngọt kín vòng
Đòng gạ gió trăng dìu cánh mỏng
Đong hoài mãi đượm ngát tình hong
*
Hong tình ngát đượm mãi hoài đong
Mỏng cánh dìu trăng gió gạ đòng
Vòng kín ngọt yêu lời ướp võng
Đọng cuồng thơm nhớ dạ vờn cong
Song chuyền mượt tỏa mơ vàng giọng
Sóng khảm ngời gieo ước vẹn lòng
Dòng ảo huyễn thơ trời rợp bóng
Trong ngần ái khúc lịm chờ mong

HANSY
*
TÌNH HẸN

Mong đợi cõi tình thả mắt trong
Bóng soi bờ hẹn lửng lơ dòng
Lòng êm nhạc bổng hồn ru sóng
Giọng khẽ ai trầm khúc vẳng song
Cong liễu rủ hồ buông ánh đọng
Võng mây dìu núi chạm sương vòng
Đòng hương quyện khói chiều lam mỏng
Đong mộng gửi ngàn giữa nắng hong
*
Hong nắng giữa ngàn gửi mộng đong
Mỏng lam chiều khói quyện hương đòng
Vòng sương chạm núi dìu mây võng
Đọng ánh buông hồ rủ liễu cong
Song vẳng khúc trầm ai khẽ giọng
Sóng ru hồn bổng nhạc êm lòng
Dòng lơ lửng hẹn bờ soi bóng
Trong mắt thả tình cõi đợi mong

Nguyen Hang