Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

109-DU HẰNG


VỀ TÌNH CẢM YÊU GHÉT CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC


THỜI BÁO HOÀN CẦU
VIẾT VỀ TÌNH CẢM YÊU GHÉT
CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC

Biên dịch và ghi chú: Nguyễn Hải Hoành

Ngày 28/11/2017, thời báo Hoàn Cầu đăng bài của nhà báo Bạch Vân Dy viết về quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc với tựa đề “Thật khó tin! Tình cảm yêu ghét Trung Quốc của ‘Quốc gia anh em’ này lại lộ liễu đến thế”. Nội dung bài báo như sau:

Phòng bị – khi mở bản đồ vùng này, tôi bỗng phát hiện…

Trong lịch sử, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Hán [nguyên văn Hán phong] từng một thời có danh hiệu đẹp là “Trung Hoa nhỏ”, và ở thời nay, việc xây dựng và cải cách chính trị, kinh tế và chế độ xã hội Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Trung Quốc, thể hiện ở tính chất giống nhau về mô hình. Thế nhưng đất nước núi liền núi sông liền sông với Trung Quốc này lại có tình cảm cực kỳ phức tạp với Trung Quốc: có phòng bị nhưng không thể không ở gần; có ấm ức [ủy khúc] nhưng từ đáy lòng lại có sự hâm mộ và hướng tới [Trung Quốc].

Tình cảm ấy biểu hiện một cách khác thường tại hai thành phố của Việt Nam. Đó là thành phố mới nổi Đà Nẵng, và Nha Trang, nơi nghỉ dưỡng nổi tiếng, hai nơi này thu hút du khách Trung Quốc ùn ùn kéo đến, cũng là nơi châm ngòi cho các tranh cãi có liên quan tới “Trung Quốc”. Gần đây phóng viên của “Thời báo Hoàn cầu” đã đến hai đô thị kể trên trải nghiệm sự “đan xen yêu ghét” của Việt Nam đối với Trung Quốc.

Do nằm gần cố đô Huế và sở hữu một bờ biển đẹp, mấy năm nay Đà Nẵng, thành phố lớn thứ tư của Việt Nam, đã trở thành thắng cảnh nghỉ dưỡng trong con mắt của nhiều người Trung Quốc. Thế nhưng khi đi dạo trong phong cảnh nhiệt đới mê ly ấy, có lẽ nhiều người chưa biết rằng Đà Nẵng là căn cứ hải quân quan trọng và cũng là thành phố Việt Nam ở gần quần đảo Hoàng Sa nhất.

Ngay trong buổi sáng đầu tiên đến Đà Nẵng, phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” đã chú ý tới điểm đó. Phóng viên mua một bản đồ vùng này, khi mở bản đồ lập tức phát hiện thấy ở phía trên tại chỗ dễ thấy nhất có đánh dấu phạm vi quản lý của Đà Nẵng, kể cả cái gọi là “Quần đảo Hoàng Sa” (tức quần đảo Tây Sa của Trung Quốc – ghi chú của Thời báo Hoàn Cầu).

Có thể thấy sự “tuyên bố chủ quyền” tương tự như vậy ở khắp mọi chỗ: con đường vòng bãi biển Mỹ Khê là một trong những nơi đông du khách nhất, nhưng con đường đầy ánh nắng, bãi cát và cây dừa ấy lại mang hai cái tên có ý vị chính trị cực kỳ mạnh mẽ: đoạn phía Bắc gọi là “Hoàng Sa”, đoạn phía Nam gọi là “Trường Sa” (Việt Nam gọi quần đảo Nam Sa là “quần đảo Trường Sa” – ghi chú của Thời báo Hoàn Cầu). Tại một phía “đường Hoàng Sa” có một tòa nhà nhỏ bốn tầng, lạ thay trước cửa có mấy chữ lớn “Nhà trưng bày Hoàng Sa”. Cho dù công trình này chưa hoàn thành nhưng phóng viên bản báo nhìn thấy trong nhà có một tượng đài màu trắng ngờ là “tấm bia chủ quyền”.

Hầu như mỗi người Đà Nẵng đều đã quen thuộc với những cái tên đường phố và tòa nhà có ý vị sâu xa ấy, hơn nữa thái độ thể hiện của chính quyền đối với điều đó cũng kích thích tình cảm của dân chúng. Anh Việt, chủ một cửa hàng trái cây ở trung tâm thành phố nói với phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” rằng anh thường thấy báo chí và truyền hình đưa tin nói Trung Quốc “bố trí vũ khí ở Biển Đông của chúng tôi (Việt Nam gọi Nam Hải là Biển Đông – ghi chú của Thời báo Hoàn Cầu)”, anh rất phản cảm với chính phủ Trung Quốc, “Tôi mong sao Đà Nẵng có thể đặt càng nhiều tên đường và tên đất như “Hoàng Sa”, “Trường Sa”. Thậm chí tôi mong rằng sẽ có ngày cái tên “Hoàng Sa”, “Trường Sa” có thể xuất hiện trên đường phố Trung Quốc!”

Những ngôn từ gay gắt như thế khiến phóng viên bản báo có chút ngạc nhiên. Phía sau loại “tuyên bố” ấy có sự phòng bị, bất an, cũng phảng phất có ý thù địch. Phóng viên bản báo cảm nhận sâu sắc điều đó khi có mặt tại “Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa” ở trung tâm thành phố Đà Nẵng. Đây là cơ quan “Chính quyền huyện Hoàng Sa” Việt Nam đặt riêng, trên danh nghĩa là để quản lý toàn bộ quần đảo Tây Sa.

Phóng viên bản báo đến thăm nơi này vào cuối tuần, phòng làm việc không có ai cả, nhưng qua lớp kính có thể thấy rõ trong nhà treo đầy bản đồ liên quan tới “Biển Đông”. Trong hành lang có một tấm biển nổi bật in dòng chữ tuyên ngôn “Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong lịch sử tiến hành chiếm lĩnh, tổ chức, quản lý và khai thác quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa). Do không có “lãnh thổ” thực tế để bố trí nên một tấm “bia huyện Hoàng Sa” cao khoảng hai mét bị đặt ở góc nhà, mặt phủ một lớp bụi mỏng.

Tại khu vực này, phóng viên bản báo gặp một người dân ở gần đấy, tên là Từ Sĩ Tôn. Ông già 65 tuổi ấy tự xưng họ tên này có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng ông vô cùng bất mãn với Trung Quốc. Ông nói, nếu cho điểm cao nhất là 10 điểm, thì ông chỉ có thể cho Trung Quốc 5 điểm, còn với Nhật và Mỹ thì lại có thể cho 9 và 10 điểm. “Mỹ tuy có đánh nhau với chúng tôi nhưng sau này lại giúp chúng tôi rất nhiều. Còn Trung Quốc thì sau chiến tranh mấy chục năm luôn bắt nạt Việt Nam. Trong đời mình, tôi cảm thấy Trung Quốc đối với Việt Nam chẳng ra sao cả.”

Đối với một người Đà Nẵng khác là anh Quân thì tình cảm đề phòng Trung Quốc trực tiếp liên quan đến đời sống hàng ngày của anh. “Tôi có mấy người thân phục vụ trong hải quân. Hiện nay tranh chấp trên biển giữa Trung Quốc với Việt Nam làm cho tôi và người nhà rất lo lắng. Chúng tôi sợ xảy ra chiến tranh.” Khi phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” hỏi tiếp anh có cho rằng thật sự có khả năng xảy ra chiến tranh hay không thì anh nhìn ra phía xa và nói đi nói lại một câu: “Mong rằng sẽ không xảy ra”.

Ấm ức – người Trung Quốc coi thường chúng tôi

Tình cảm phức tạp của Việt Nam đối với Trung Quốc cũng phản ánh trong mối quan hệ giữa dân chúng địa phương với du khách Trung Quốc. Bảy tháng đầu năm nay tổng cộng đã có 2,2 triệu lượt du khách Trung Quốc tới Việt Nam, tăng 51% so cùng kỳ. Số du khách Trung Quốc đến thăm Việt Nam trong cả năm có thể lên tới 4 triệu. Thế nhưng phía sau con số đẹp ấy là những lời oán trách và bất mãn của không ít du khách Trung Quốc, rất nhiều người cảm thấy mình không được đối xử công bằng: chẳng những có các cảnh rối ren thị trường thường thấy như lừa đảo bịp bợm, mà các sự việc như du khách Trung Quốc bị nhân viên hải quan Việt Nam đòi hối lộ, bôi bẩn hộ chiếu, đối xử thô bạo thậm chí ẩu đả cũng liên tục xảy ra.

Phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” khi xuất cảnh từ sân bay Cam Ranh Nha Trang đã nhìn thấy cảnh thế này: một nhân viên công tác Việt Nam lớn tiếng quát mắng du khách Trung Quốc đang xếp hàng chờ kiểm tra an ninh, bất cứ ai dừng lại hoặc có chi tiết sơ suất nào đó đều bị nhân viên này nghiêm giọng quở trách. Phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” cũng chẳng gặp may. Khi theo thói quen ở nhiều nước, phóng viên giơ tay lấy chiếc rổ đựng giày, nhân viên kia cũng thô bạo đánh vào tay phóng viên và dùng một thứ tiếng nghe không rõ là tiếng Việt Nam hoặc tiếng Trung Quốc ngọng nghịu quát to bảo phóng viên trực tiếp đặt giày lên băng chuyền.

Đồng thời một số nhân viên ngành du lịch Đà Nẵng và Nha Trang cũng khéo nhắc nhở du khách Trung Quốc, họ cho rằng người Trung Quốc làm ồn, không tôn trọng luật pháp và tập tục địa phương sở tại. Ngô Thị Lượng, nhân viên hướng dẫn mua hàng của một hiệu bán đồ lưu niệm tại Nha Trang, nói với phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” là cô từng thấy một số du khách Trung Quốc khi mua hàng lại không dùng tiền Việt Nam để chi trả mà khăng khăng đòi dùng Nhân dân tệ. “Tôi đã nhiều lần giải thích cho họ biết là ở đây không thể dùng đồng Nhân dân tệ để tiêu dùng nhưng một số khách chẳng những không tỏ ra hiểu biết mà ngược lại rất không vui lòng, có lúc còn nói với chúng tôi những lời khó nghe nữa cơ.”

Phóng viên bản báo cho rằng những cọ sát này càng giống như những mâu thuẫn của một giai đoạn phát triển nào đấy. Tương tự dòng xe máy xuyên ngang chạy dọc như nước chảy trên đường phố, thị trường Việt Nam đang ở vào một giai đoạn phát triển nhanh nhưng thường xuyên xảy ra vấn đề này nọ hoặc các trang thiết bị đi kèm chưa theo kịp, khó tránh khỏi hiện tượng “va chạm”. Song le trong sự bao trùm của tình cảm dân tộc mạnh mẽ đối với Trung Quốc thì bất cứ sự việc nào có liên quan tới du khách Trung Quốc đều rất dễ dàng được dư luận quan tâm, phóng đại hoặc xuyên tạc, tiếp đó gây ra thành kiến lệch lạc và sự bất mãn mới của người Việt Nam đối với Trung Quốc.

Hoàng Thị Bích Trâm còn đang học đại học, cô ấm ức nói với phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” rằng cô muốn làm hướng dẫn viên du lịch [HDVDL] nhưng rất nhiều đoàn du lịch Trung Quốc lại chỉ muốn thuê HDVDL người Trung Quốc, người Việt Nam dù có biết tiếng Trung Quốc đi nữa nhưng giỏi lắm cũng chỉ có thể được làm ‘trợ lý HDVDL’ mà thôi”. “Cũng tức là nói chúng tôi không được phụ trách về hành trình thực tế của đoàn, chỉ khi nào có chuyện gì đó thì mới lấy tư cách HDVDL xuất đầu lộ diện giao thiệp với chính quyền và cảnh sát. Hơn nữa HDVDL người Trung Quốc có thu nhập cao rất nhiều so với các trợ lý như chúng tôi.”

Ông Đoàn, một người Đà Nẵng 50 tuổi, thì cho rằng người Trung Quốc hay “bắt nạt” người Việt Nam. “Tôi thường thấy báo đài đưa những tin tiêu cực về du khách Trung Quốc. Mấy hôm vừa rồi, đài nói gần đây có một bà già quẩy gánh táo bán ngoài phố, có du khách Trung Quốc ăn táo của bà mà không trả tiền, lại còn mắng bà ấy nữa.” Cho dù phóng viên bản báo nói sự việc này có lẽ có phần kỳ quặc nhưng ông Đoàn vẫn cứ giữ quan điểm như cũ: “Chuyện ấy làm tôi cảm thấy người Trung Quốc có chút coi thường người Việt Nam chúng tôi, không bình đẳng với chúng tôi.”

Hoan nghênh  – “Người Trung Quốc thích mua sắm”

Dù là “đề phòng” hay “ấm ức”, hai tình cảm ấy càng như một “dòng nước ngầm” ẩn giấu, nhiều lúc Đà Nẵng và Nha Trang xem ra lại là hai thành phố rất hữu hảo với người Trung Quốc. Phố lớn ngõ nhỏ ở đây chỗ nào cũng có thể nhìn thấy các biển tiếng Trung Quốc, từ “Phở Quảng Nam” đến “Nơi cho thuê xe máy”, rồi đến “Hàng đặc sản Việt Nam”, dù cho không biết nói một câu tiếng Việt đi nữa bạn cũng chẳng khó khăn tìm thấy nơi mình cần đến. Hơn nữa ở mỗi một cửa hiệu du khách có thể tới hầu như đều có một nhân viên hướng dẫn mua hàng biết nói tiếng Trung Quốc.

Cô Ngọc 21 tuổi làm việc ở một cửa hiệu áo dài trong một trung tâm thương mại lớn, khi bạn chỉ tay vào bất cứ bộ trang phục nào trong cửa hiệu, cô đều có thể nhanh chóng dùng tiếng Trung Quốc cho biết giá cả của chúng. Khi phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” hỏi cô có ấn tượng thế nào về du khách Trung Quốc, cô cười rất cởi mở đáp: “Người Trung Quốc thích mua sắm.” Cô bảo, khách đến Nha Trang nhiều nhất là người Trung Quốc và người Nga, nhưng du khách Nga ít mua hàng. Khi phóng viên hỏi cô có thấy du khách Trung Quốc làm ồn không thì cô cười nói: “Cũng có lúc như vậy, nhưng tôi cảm thấy chuyện ấy chẳng sao cả, họ có thể mua hàng là được rồi.”

Trong các lần phóng viên phỏng vấn, rất nhiều người địa phương thừa nhận du khách Trung Quốc đến đây đã kích thích kinh tế vùng này. Theo “Mạng Việt Nam”, 9 tháng đầu năm nay thu nhập ngành du lịch của Đà Nẵng đạt 600 triệu USD, tăng 24,4% so cùng kỳ. Trong đó phần “cống hiến” của du khách Trung Quốc không nhỏ. Cho tới hiện nay số du khách Trung Quốc đến Đà Nẵng năm 2017 đã vượt quá 440 nghìn lượt người, tăng 23% so cùng kỳ, chỉ kém du khách Hàn Quốc mà thôi.

“Người Việt Nam giám sát các xí nghiệp nước ngoài rất chặt chẽ, rất nhiều công ty du lịch Trung Quốc làm ăn tại Việt Nam đều kinh doanh dưới hình thức công ty của địa phương, nhằm tránh sự chướng mắt quá mức. Thực ra đây là hành vi kinh doanh tiêu cực [nguyên văn màu tro] nhưng chính quyền cứ phớt lờ.” Một người Hoa từng làm ngành du lịch ở Đà Nẵng ngót 10 năm nói với phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” là mỗi lần người Việt Nam sở tại có mâu thuẫn lợi ích với doanh nhân Trung Quốc kinh doanh du lịch thì nói chung chính quyền Việt Nam đều áp dụng cách giải quyết “Hòa cả làng” [nguyên văn Hòa hi ni], “Vừa bảo doanh nhân Trung Quốc lưu ý, cũng vừa gây sức ép với tình cảm [dân tộc] của người Việt Nam, bởi lẽ chính quyền rất hiểu rõ lợi ích mà việc làm ăn với Trung Quốc đem lại [cho Việt Nam]. Điều đó không tách rời được Trung Quốc”.

“Mười năm trước bãi biển Mỹ Khê chẳng có gì cả, chỉ có một ít lều quán xơ xác, bây giờ cả khu này đã xây dựng đầy những khách sạn to đẹp. Thu nhập của dân sở tại mấy năm nay tăng lên không ít.” Cô Trang là hướng dẫn viên tại Đà Nẵng của phóng viên “Thời báo Hoàn cầu”, cô hướng dẫn các đoàn du khách Trung Quốc, mỗi tháng thu nhập đại để vào khoảng 2-3 nghìn Nhân dân tệ [khoảng 7-10 triệu VNĐ], cao hơn nhiều so với mức thu nhập khoảng 1500 Nhân dân tệ [khoảng 5 triệu VNĐ] của người dân sở tại bình thường. “Mới đầu khi tôi vào đại học định học tiếng Trung Quốc, cha mẹ tôi đều không đồng ý, cảm thấy chắc chắn sẽ không tìm được việc làm, một số người xung quanh cho rằng học tiếng Trung Quốc là bán nước. Bây giờ khi thấy tôi làm việc và có thu nhập, họ đều nghĩ rằng ban đầu tôi đã lựa chọn đúng, rất ủng hộ tôi.”

Xu hướng –  “Trung Quốc rất tiên tiến, tôi muốn đi thăm Trung Quốc xem thế nào”

Trong thời gian ở Đà Nẵng và Nha Trang, phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” có bảo người dân địa phương dùng ba từ để hình dung Trung Quốc trong suy nghĩ của họ. Kết quả cuối cùng mấy từ có tần suất cao nhất là: phát triển, sầm uất và công nghệ.

“Tôi thấy người Trung Quốc rất có năng lực, trong một thời gian ngắn mà họ có thể xây dựng đất nước mình được tốt như vậy.” Đoàn Xuân Hoàng 34 tuổi nói với phóng viên “Thời báo Hoàn cầu”. Trong ấn tượng của anh, Trung Quốc là một quốc gia lớn, giàu có và tiên tiến, nhất là công nghiệp chế tạo phát đạt. Anh bạn trẻ này chỉ vào các phụ kiện điện thoại di động bán trong cửa hiệu của anh và nói: “Toàn bộ những thứ này đều nhập từ Trung Quốc. Tôi thật sự muốn đi Trung Quốc xem xem các bạn chế tạo những thứ ấy như thế nào.”

Phạm Thị Sáng đang học đại học ngoại ngữ ở Đà Nẵng nói với phóng viên bản báo rằng phần lớn những người có cách nhìn tiêu cực về Trung Quốc là những người già, “Bởi lẽ quan điểm của họ về Trung Quốc dừng lại ở quá khứ”, còn phần lớn lớp trẻ Việt Nam đã có nhận thức tương đối khách quan về sự phát triển chính trị, văn hóa và kinh tế của Trung Quốc, rất nhiều người còn đầy những suy tưởng hướng về Trung Quốc. Sáng và nhiều bạn xấp xỉ tuổi cô đều rất hâm mộ văn hóa Trung Quốc, thích xem phim Trung Quốc, xem phim truyền hình và nghe nhạc Trung Quốc. “Trong suy nghĩ của tôi, Trung Quốc là một đất nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có trình độ phát triển kinh tế rất cao, sau này Việt Nam có rất nhiều cái có thể học Trung Quốc”.

“Tứ đại phát minh mới” của Trung Quốc[1] cũng đang ảnh hưởng tới Việt Nam một cách không cảm nhận thấy. Tại một hiệu giày dép ở Nha Trang, trên quầy thu ngân có mã hai chiều thanh toán WeChat Bảo Hòa (một phương thức nhận diện chủ yếu cho ứng dụng di động; ở đây là nói mã QR của công ty Trung Quốc Bảo Hòa; WeChat chữ Hán là vi tín). Điều khiến người ta ngạc nhiên hơn là chủ hiệu lại không phải là người thuộc lớp trẻ bám sát trào lưu hiện đại, mà là một bà trên 50 tuổi. Bà chủ nói với phóng viên “Thời báo Hoàn cầu” là thanh toán WeChat Bảo Hòa rất tiện lợi, “Hiện nay rất nhiều cửa hiệu Việt Nam đều đã bắt đầu sử dụng rồi”. Khi phóng viên bản báo chia tay ra về, bà còn không quên nhét vào tay phóng viên một tấm danh thiếp có in mã vạch hai chiều của cửa hiệu mình: “Tôi làm một tài khoản công chúng cho cửa hiệu của tôi, nếu rảnh anh có thể vào xem xem?”

Ngay cả ông Đoàn luôn cảm thấy “Trung Quốc bắt nạt Việt Nam” cũng cho con gái đang học đại học bắt đầu học tiếng Trung Quốc. “Tôi nghĩ sau này nhất định sẽ càng ngày càng có nhiều dịp giao thiệp với Trung Quốc, lũ trẻ học tiếng Trung Quốc thì trong tương lai chắc chắn sẽ có tiền đồ tốt hơn”. Khi phóng viên nhắc ông rằng “Bác từng bảo bác ghét Trung Quốc cơ mà” thì ông Đoàn hơi ngượng ngùng nói: “Cái đó cũng là để có thể nói lý lẽ với người Trung Quốc thôi!”

Thế nhưng trong cửa hàng đồ điện gia dụng của bà vợ ông Đoàn thì hàng hóa Trung Quốc cũng ngày một nhiều. Khi có người nghi ngờ chất lượng những mặt hàng này thì người phụ nữ Việt Nam ấy sẽ bực mình trả lời theo một phản xạ có điều kiện: “Hàng hóa toàn thế giới đều là do Trung Quốc sản xuất cả đấy ạ !”

—————-
[1] Tứ đại phát minh mới của Trung Quốc trong bài này nói kết quả bình chọn hồi tháng 5/2017 của thanh niên 20 nước dọc “Một vành đai, một con đường”, đó là: 1) Đường sắt cao tốc;  2) Alipay [Chi phó bảo, do tập đoàn Alibaba TQ sáng tạo, là hình thức thanh toán trực tuyến không có phí giao dịch của bên thứ ba, tức một kênh trung gian để thanh toán, đem lại nhiều tiện lợi cho người dùng, hiện được 300 triệu dân TQ sử dụng];  3) Xe đạp dùng chung; 4) Mua hàng qua mạng. Tứ đại phát minh cũ của Trung Quốc là: 1) Thuốc nổ; 2) Kim chỉ nam; 3) Công nghệ làm giấy; 4) Công nghệ in chữ rời.



Thứ Ba, 31 tháng 3, 2020

108-THỎA


BỤNG ĐÓI CẬT RÉT


BỤNG ĐÓI CẬT RÉT

“Bụng đói” thì có lẽ khỏi phải bàn, nhưng “cật” trong “cật rét” là gì? Vấn đề tưởng đơn giản, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu rất khác nhau, kể cả nghĩa của “cật” trong các bản trái nghĩa “no cơm, ấm cật”, “ấm cật, no lòng”. Sau đây, xin tạm chia thành ba cách hiểu về “cật”:
1-
“Cật” là phần lưng, thắt lưng (được ghi nhận nhiều nhất):
- “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (Nhóm Vũ Dung).: “Bụng đói cật rét (cật: phần lưng chỗ ngang bụng) Ngđ: Đã đói lại rét. Ngb: Nghèo khổ thiếu thốn”.
-Nhóm Vũ Dung tái khẳng định: “được bụng no, còn lo cật ấm (cật: phần lưng ở chỗ ngang bụng). Phải lo toan có đủ ăn đủ mặc”.
- “Từ điển tiếng Việt” (Vietlex): “cật [cũ] phần lưng ở chỗ ngang bụng: (…) “Đói thì đầu gối biết bò, No cơm ấm cật còn lo lắng gì.” (Cdao)”.
-“Việt Nam tự điển” (Hội Khai trí tiến đức): “cật • Lưng <> No thân ấm cật (…) Văn-liệu: Đói trong không ai biết, rách ngoài cật nhiều kẻ hay (T-ng)”.
2-
“Cật” là quả thận: “Từ điển thành ngữ-tục ngữ ca dao Việt Nam” (Việt Chương): “Bụng đói cật rét: “Cật là cơ quan có tác động làm cho bộ phận sinh lý hoạt động. Do đó khi bụng đói thì người ta chỉ nghĩ đến cái ăn, chứ không còn ham muốn sinh thú gì nữa. Nghĩa bóng: nghèo khổ thiếu thốn”.
3-
“Cật” là “hai vai” người ta. “1575 thành ngữ tục ngữ cần bàn thêm” (Lê Gia) giảng: “Đây là chữ “cật” có nghĩa ngang bằng. Ta gọi cái vai, phần ngang bằng trên thân thể, là “cái cật” như “ấm cật no lòng” và “chung lưng đấu cật”. “Cật rét” là cái vai bị rét. Khi ta mặc quần áo hay đắp chăn mền thì phải mặc, phải đắp trùm che hai vai thì mới đủ ấm, nếu không thì dù mặc gì, đắp gì nữa cũng vẫn cảm thấy còn lạnh. Khi tắm nếu ta xối nước lạnh vào vai trước tiên thì ta sẽ cảm thấy lạnh…” 
 
 Chúng tôi cho rằng, các nhà biên soạn từ điển đều chưa hiểu đúng nghĩa chữ “cật” trong “bụng đói cật rét”, cũng như “cật” trong “no cơm, ấm cật”. Theo đó, “cật” ở đây có nghĩa là phần da thịt bên ngoài (không kể là lưng, hay vai), đối với “bụng” (lục phủ ngũ tạng) bên trong. Đây chính là nghĩa của “cật” trong “lạt cật” (lạt được chẻ ra từ phần ngoài cùng cây tre, nứa), “lạt bụng” (được chẻ ra từ phần bên trong cây tre nứa).

Ăn giúp cho cái bụng được no; mặc giúp cho thân mình được ấm. Dù cật có thiếu áo mặc, nhưng bụng được ăn no, thì sẽ đỡ rét hơn. Ngược lại, nếu cật đã rét, mà bụng lại đói nữa, thì đã rét, lại càng thêm rét, đã đói lại càng thêm đói. “Bụng đói, cật rét”, hay “no cơm, ấm cật” chính là nói đến nhu cầu tối thiểu ăn và mặc. Ví dụ:

-“Đói trong không ai biết, rách ngoài cật nhiều kẻ hay”. “Rách ngoài cật” ở đây không thể hiểu là “rách” ở phần “lưng chỗ ngang bụng”, hay ở “hai vai”, mà là rách quần áo che thân.

Theo đây, có thể loại bỏ luôn cách giải thích “cật” là quả thận, “cơ quan có tác động làm cho bộ phận sinh lý hoạt động” (ham muốn “sinh thú”) của Việt Chương.

-“Được bụng no còn lo ấm cật”. “Lo ấm cật” ở đây, là lo cái mặc, cái che ngoài thịt da (ngoài cật) của con người nói chung, chứ không riêng gì phần “lưng”, hoặc “phần lưng chỗ ngang bụng”, hay lo cho “quả thận” được ấm.

-“Xưa kia kén lấy con dòng, Bây giờ ấm cật no lòng thì thôi”. “Ấm cật no lòng” chẳng qua là cách diễn đạt khác của “No cơm ấm áo”. Mà “ấm áo” ở đây có nghĩa là quần áo lành lặn, đầy đủ nói chung, chứ không riêng gì quần áo rét, hoặc chỉ che phần “thắt lưng”, hay “hai vai”.

-“Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi.” (Nguyễn Đình Chiểu).

“Ngoài cật”, ở đây cũng có nghĩa là thân mình chỉ có “một manh áo vải”, không được trang bị giáp trụ, vũ khí gì đáng kể.

Để làm rõ thêm nghĩa của “cật”, xin trích dẫn một số ngữ liệu:

-“Nhớ hồi bé đi úp nơm, đến gần ngọ, bụng đói, cật rét, bỗng mò bắt được con tôm càng, liền bóc vỏ ăn sống” (Trần Giang Nam-baoquangninh.com.vn).

-“Em bé đáng thương bụng đói cật rét vẫng lang thang trên đường.” (“Cô bé bán diêm”- Hans Christian Andersen).

-“Bụng đói cật rét: Không những đói mà còn rét, bụng càng đói thì lại càng rét.” (“Cái đói không thể nào quên được của thời bao cấp”-Minh Tiệp-Đại Kỷ Nguyên).

-“Đời sống vốn thiếu thốn, quần áo không đủ, chăn mền hiếm hoi, ăn uống ít, bụng đói cật rét,…” (“Nhớ mùa đông xứ Bắc”-Xuân Quỳnh-Một thế giới).

-Đại Nam Quấc âm tự vị: "cật: lưng; sấp cật: sấp lưng; ấm cật: bận ấm; đâu cật: hiệp sức, đâu lưng nối lấy nhau; tre cật: tre lưng, tre chắc, lấy ở phía gần vỏ nó, phía trong kêu là ruột tre; bề cật: bề lưng, bề ở gần vỏ (nói về về tre, mây, v.v...); mây cật: mây lưng, mây chắc ở phía gần vỏ nó; nang nghiêng, nan cật: nan chẻ có lưng có ruột kêu là nan nghiêng, lấy lưng không kêu là cật; Đói trong ruột không ai biết, rách ngoài cật nhiều kẻ hay: đừng cho người ta biết tâm sự mình"

Như vậy, “cật” trong “bụng đói cật rét” được hiểu là da thịt, thân mình. “Bụng đói, cật rét” có nghĩa cùng lúc người ta phải chịu đựng cả đói và rét; đã đói, lại rét; bên trong thì đói, bên ngoài thì rét. Thế nên, thành ngữ Hán cũng có câu đồng nghĩa “Cơ hàn giao bách” 飢寒交迫 (cùng lúc phải chịu đựng cả cái đói và cái rét rất khốn khổ).

Cũng cần nói thêm rằng, “bụng đói cật rét” thường được dùng để chỉ tình thế, cảnh ngộ đói rét cụ thể, nhất thời nào đó, chứ không phải chỉ nói hoàn cảnh “nghèo khổ, thiếu thốn” (về kinh tế) nói chung, như cách giải thích của nhiều nhà biên soạn từ điển.

Hoàng Tuấn Công



QUAN HỆ VIỆT-TRUNG QUA CON MẮT CỦA MỘT HỌC GIẢ TRUNG QUỐC


QUAN HỆ VIỆT-TRUNG
QUA CON MẮT
CỦA MỘT HỌC GIẢ TRUNG QUỐC

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng

Đầu tháng 2 năm nay, tôi có chuyến thăm thứ hai đến Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Khác với chuyến thăm lần đầu cách đây bốn năm, lần này tôi quyết định dành phần lớn thời gian trong năm ngày ở đây để khám phá các bảo tàng trong thành phố. Ở Việt Nam lúc này là mùa khô, và các bảo tàng sẽ cung cấp một nơi trú ẩn dễ chịu trước cái nóng hầm hập trên đường phố. Vả lại, con trai tôi mới bốn tuổi trong chuyến thăm đầu, và tôi nghĩ lớn thêm bốn năm là đủ cho nó học được chút gì đó từ các bảo tàng về lịch sử và văn hóa của một đất nước mà nó đã đến thăm hai lần.

Quan trọng hơn, là một nhà khoa học chính trị, tôi hy vọng chúng sẽ giúp tôi tìm hiểu xem Việt Nam nhìn nhận như thế nào về mối quan hệ với Trung Quốc. Với vai trò hết sức quan trọng của các bảo tàng – cũng như bản đồ và các cuộc điều tra dân số – trong quá trình hình thành bản sắc quốc gia, như Benedict Anderson đã thảo luận sâu rộng trong cuốn sách được đánh giá cao The Imagined Communities của ông, tôi chắc chắn câu chuyện của chính phủ Việt Nam về mối quan hệ song phương sẽ khác câu chuyện của chính phủ Trung Quốc, nhưng tôi không biết chính xác thì khác như thế nào.

Sáng ngày thứ hai, tôi đến Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. Tôi đã nghe những người từng đến thăm bảo tàng nói đây là nơi dành riêng cho cuộc chiến giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Tôi cũng biết rằng Trung Quốc đã cung cấp một lượng lớn viện trợ cho Việt Nam trong cuộc chiến, mặc dù Bắc Kinh chưa bao giờ tiết lộ con số chính xác. Một nguồn tin của Trung Quốc ước tính con số này rơi vào khoảng 20 tỷ USD (tính theo cơ sở giá trong những năm 1970). Hơn nữa, Bắc Kinh cũng gửi 300.000 nhân viên quân sự qua biên giới trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1968, theo một nguồn tin khác. Bởi vậy mà trước khi đến bảo tàng, tôi đã nghĩ sẽ có ít nhất một hai hiện vật để ghi nhận sự giúp đỡ hào phóng mà Trung Quốc dành cho Việt Nam.

Tầng trệt của bảo tàng là một bộ sưu tập ảnh và áp phích. Các bức ảnh cho thấy các cuộc tập hợp, diễu hành, biểu tình phản đối chiến tranh trên khắp thế giới (và cả ở Mỹ), trong khi các tấm áp phích dùng từ ngữ và hình ảnh để truyền tải sự ủng hộ của quốc tế dành cho Việt Nam và phản đối Hoa Kỳ. Đến cuối bộ sưu tập tôi gặp ba bức ảnh. Bức thứ nhất chụp cảnh Mao Trạch Đông bắt tay với Hồ Chí Minh. Bức thứ hai chụp hai quả khinh khí cầu treo hai dải băng rôn dài – một ghi “Mao chủ tịch muôn năm” và một ghi “Hồ chủ tịch muôn năm” – trên quảng trường Thiên An Môn đông đúc ở Bắc Kinh. Bức thứ ba chụp cảnh Mao đón tiếp một phái đoàn Việt Nam. Hóa ra chỉ có ba bức ảnh này trong bảo tàng cao ba tầng gợi ý sự thừa nhận và biết ơn của Việt Nam đối với sự trợ giúp của Trung Quốc trong Chiến tranh Việt Nam.

Chiều ngày thứ tư, tôi đến thăm Bảo tàng Lịch sử. Sau khi nhanh chóng đi qua hai gian trưng bày đầu tiên, có các hiện vật và trang phục truyền thống, tôi đến lối vào gian trưng bày thứ ba. Ở đầu lối vào là một tấm bảng ghi “Bắc thuộc – Đấu tranh giành độc lập.” Gian trưng bày thứ ba này có khoảng hai chục tấm áp phích và bản đồ phục dựng. Tôi đặc biệt thấy cuốn hút trước một tấm áp phích, ghi (nguyên văn) như sau:

Sau khi An Dương Vương thất bại trong cuộc kháng chiến chống Triệu Đà (179 TCN), Việt Nam bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị, bóc lột, và đồng hóa. Trong hơn 1.000 năm, người Việt Nam đã cố gắng hết sức để gìn giữ văn hóa truyền thống, ngôn ngữ dân tộc, tiếp nhận và Việt hóa các yếu tố văn hóa Hán; đồng thời tổ chức hơn 100 cuộc nổi dậy chống lại những kẻ xâm lăng để giành chủ quyền với cuộc nổi dậy đầu tiên là của Hai Bà Trưng (40–43 CN). Năm 938, Ngô Quyền đánh đuổi hoàn toàn quân Trung Quốc xâm lược trên sông Bạch Đằng lịch sử, bắt đầu kỷ nguyên tự do và độc lập cho người Việt Nam.

Sau tấm áp phích là một chuỗi các bản đồ phục dựng, thể hiện không chỉ các tuyến đường của “quân Trung Quốc xâm lược” liên tiếp, mà còn cả vị trí của các cuộc kháng chiến. Một tấm bản đồ mô tả “các cuộc nổi dậy tiêu biểu chống quân xâm lược phương Bắc (thế kỷ 1–10).” Một tấm thể hiện “chiến thắng của quân đội Đại Việt trước quân Tống xâm lược (1076–1077).” Tấm bản đồ thứ ba cho thấy “cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427).” Đến khi bước ra khỏi lối vào, tôi đã có một cái nhìn rõ ràng về cách mà Trung Quốc từng – và có lẽ là vẫn – được nhìn nhận bởi người láng giềng phương Nam.

Đến tối về lại phòng khách sạn, tôi cố gắng lý giải những gì mình đã thấy trong Bảo tàng Lịch sử. Tình cờ tôi có mang theo một cuốn sách du lịch của Lonely Planet năm 2014 về Việt Nam, nên tôi bắt đầu đọc phần giới thiệu ngắn gọn về lịch sử đất nước. Rồi tôi thấy một mục có tiêu đề “China Bites Back” (Trung Quốc nổi giận), viết như sau:

Trung Quốc một lần nữa nắm quyền kiểm soát ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 15, đem văn khố quốc gia và một số trí thức của đất nước về Nam Kinh [kinh đô nhà Minh] – một tổn thất có tác động lâu dài lên nền văn minh Việt Nam. Sưu cao thuế nặng và lao động khổ sai cũng là điển hình của thời kỳ này. Nhà thơ Nguyễn Trãi (1380–1442) viết về giai đoạn này: “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội. Nhơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.”

Thành thật mà nói, tôi đã không hề chuẩn bị tinh thần để đón nhận một đoạn thơ như thế. Quả thật, với tôi, nó nghe cũng giống như một đoạn thơ lên án quân Nhật Bản xâm lược Trung Quốc nếu tác giả không được nêu tên. Tôi thực sự choáng váng trước mức độ oán hận trong hai dòng thơ này. Chắc chắn là tôi nhận thức được rất rõ rằng hai đất nước đã trải qua một mối quan hệ nhiều rắc rối kể từ cuối những năm 1970: một cuộc đụng độ biên giới năm 1979, các cuộc đụng độ trên biển vào cuối những năm 1980, và căng thẳng trên các đảo tranh chấp ở Biển Đông kể từ năm 2010. Nhưng tôi không biết sự thù địch của Việt Nam với Trung Quốc lại sâu đậm và mạnh mẽ như thế. Như một “bách niên quốc sỉ” đã trở thành một phần không thể tách rời trong ký ức tập thể của người Trung Quốc, “ngàn năm Bắc thuộc” cũng phát triển thành một thành tố cốt lõi trong bản sắc dân tộc của người Việt Nam, bất kể ký ức của người Trung Quốc thay đổi như thế nào, hay bản sắc Việt Nam là do tự phát triển hay được hình thành một cách nhân tạo.

Bỏ cuốn Lonely Planet xuống, tôi cố gắng lý giải mối quan hệ Việt-Trung. Bỗng nhiên tôi nhớ ra một đoạn trích thường được [một số học giả phương Tây] cho là của Hồ Chí Minh, vị cha già của Việt Nam hiện đại. Ông Hồ được cho là đã nói như sau vào năm 1946, ít lâu sau khi ông đồng ý cho phép quân đội Pháp trở lại Việt Nam:

Các anh thật thiển cận! Các anh không nhận ra Trung Quốc ở lại nghĩa là thế nào sao? Các anh không nhớ lịch sử của mình sao? Lần cuối đến đây, họ đã ở lại một ngàn năm. Pháp là người ngoài. Họ yếu. Chủ nghĩa thực dân sắp chết. Người da trắng đã tận số ở châu Á. Nhưng nếu ở lại bây giờ thì người Trung Quốc sẽ không bao giờ rời đi. Còn tôi, tôi thà ngửi cứt Pháp trong năm năm tới còn hơn ăn cứt Tàu cả cuộc đời.

Sự tha thứ nhanh chóng của Hồ Chí Minh đối với thực dân Pháp góp phần giải thích thái độ rộng lượng dễ thấy của người Việt đối với người Mỹ. Một vật trưng bày trong Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh nói rằng 3 triệu người Việt (trong đó có 2 triệu dân thường) đã bị giết, 2 triệu người bị thương, cộng thêm 300.000 người mất tích trong cuộc chiến chống Mỹ. Bên cạnh tổn thất kinh hoàng về người còn có tổn hại to lớn mà chất độc da cam gây ra cho cả môi trường địa phương và người dân sống ở đó. Rất có thể những hành động ô nhục và tội ác mà người Mỹ gây ra trong khoảng mười năm còn tồi tệ hơn nhiều so với những gì mà Trung Quốc đã gây ra (cho Việt Nam) trong hơn một ngàn năm. Vậy mà người Việt Nam vẫn có vẻ nhanh chóng vượt qua được sự tàn ác của Mỹ.

Quá khứ có thể cho chúng ta biết gì về tương lai của mối quan hệ Việt-Trung? Một bài học có vẻ đúng: Các lực lượng ly tâm của chủ nghĩa dân tộc mạnh hơn rất nhiều so với các lực lượng hướng tâm của chủ nghĩa cộng sản. Cũng như Mao cuối cùng đã cắt đứt với Stalin, cuối cùng Hồ Chí Minh cũng quay lưng lại với Mao. Cào vỏ bọc một người cộng sản, rồi ta sẽ thấy không sâu bên dưới lớp da là một nhà dân tộc chủ nghĩa. Chừng nào những ký ức về “ngàn năm Bắc thuộc” còn tươi mới trong ý thức tập thể của người Việt, hứa hẹn của Bắc Kinh về sự trỗi dậy hòa bình sẽ còn không đáng tin, và những căng thẳng tiếp diễn ở Biển Đông chỉ khiến hứa hẹn đó thêm phần đáng ngờ. Hà Nội sẽ tiếp tục tìm kiếm sự ủng hộ từ những bên thứ ba để chuẩn bị nghênh đón sự trỗi dậy không hòa bình của Trung Quốc.

Với những suy nghĩ này, tôi chuẩn bị cho điểm dừng tiếp theo: Yangon, Myanmar.

Xie Tao (Tạ Thao)
Giáo sư ngành khoa học chính trị tại Trường Anh ngữ và Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, là tác giả cuốn U.S.-China Relations: China Policy on Capitol Hill(Routledge, 2009). Bài viết thể hiện quan điểm của riêng tác giả.





255 VỌNG NUỐI ĐƯỜNG XƯA


255
VỌNG NUỐI ĐƯỜNG XƯA
[Ngũ đ]

Hồng duyên gặp gỡ cuối mưa chiều
Nẻo vắng tâm tình rạng rỡ yêu
Quãng nhạc tưng bừng tim trở xiếu
Thơ lòng rộn rã ý dời phiêu
Rồi em ngúng nguẩy trong làn diệu
Khiến dạ mơ màng giữa nẻo kiêu
Thẩm ước trao đời bên cội liễu
Mà sao chả dám gợi câu liều

Mà sao chả dám gợi câu liều
Để lịm tơ lòng chút hãnh kiêu
Có phải ân nguyền không ngõ diệu
Hay là ái cảm lặng đường phiêu
Làm cho kỷ niệm càng suy yếu
Để khiến cung tình lại loãng yêu
Quá vãng thơm về trong ảo điệu
Hồng duyên gặp gỡ cuối mưa chiều

HANSY
*
MONG NHỚ

Quãng vắng tìm anh một buổi chiều
Nghe lòng rộn rã tiếng người yêu
Mùa mưa tháng Bẩy hồn du lãng
Cội liễu Tây hồ gió thả phiêu
Ghép mảnh thuyền nan cùng vẽ mộng
Trao đời thục nữ chẳng làm kiêu
Hàng me kỷ niệm còn vương tóc
Vẫn nhớ ngày xưa hỏi thật liều

Vẫn nhớ ngày xưa hỏi thật liều
Tim dường nhảy nhót sợ nàng kiêu
Ngờ đâu lửa ái bùng hoang dại
Bởi thế dây tình buộc lãng phiêu
Những phút êm đềm không thể lại
Bao giờ hạnh phúc mãi còn yêu
Dù xa trở ngại cầu Ô thước
Quãng vắng tìm anh một buổi chiều

Minh Hien

MỴ CHÂU – TRỌNG THỦY [6] LẦM MƯU GIÁN ĐIỆP

MỴ CHÂU – TRỌNG THỦY
6.
LẦM MƯU GIÁN ĐIỆP

Bọn phía Bắc muôn đời lấn chiếm
Đất phương Nam địa hiểm người khôn
Triệu Đà sai tướng công đồn
Nỏ thần vang dậy quyết chôn xác Tàu.

Thua mấy trận xót đau nghĩ kế
Xin giảng hòa cốt để bày mưu
Lại sai Trọng Thủy giả cừu
Mỵ Châu hôn ước tạo lưu luyến dài.

Trọng Thủy vốn đẹp trai Thái tử
Gây xiêu lòng ái nữ nhà vua
Làm như đang bị bỏ bùa
Vào mê ra mẩn, mãi đùa cợt vui.

Vua cũng nghĩ, nên lùi một bước
Cho quốc gia mãi được hòa an
Ngờ đâu kế hiểm, lời gian
Khiến cơ đồ ấy phải tàn tợ ma.

HANSY
Chú thích:
Mỵ Châu là một nhân vật truyền thuyết rất nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Nàng là con gái của An Dương Vương Thục Phán, người đã đánh bại Hùng Vương và khai sinh ra nước Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam.
Câu chuyện truyền thuyết về nàng gắn liền với sự tích "Rải lông ngỗng dẫn Trọng Thủy", một điển tích qua đó nàng đã để lộ thông tin quân sự cho chồng là Trọng Thủy, dẫn đến thất bại toàn diện của Âu Lạc trước quân đội của Triệu Đà.
Khu di tích Cổ Loa nằm trên địa phận 3 xã Cổ Loa, Dục Tú và Việt Hùng thuộc huyện Đông Anh (Hà Nội), cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 17km về phía bắc.
Hiện nay giếng Trọng Thủy - Mỵ Châu nằm ngay cửa đền An Dương Vương, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh (Hà Nội).
Pho tượng công chúa Mỵ Châu bị chặt đầu được đặt bên trong đền thờ. 

PHIÊN KHÚC TÌNH CA


PHIÊN KHÚC TÌNH CA
[Thuận Nghịch độc]

Vơi não khiến tình ái lộng nơi
Thẫm mơ lồng ước diệu âm ngời
Mời câu thả ngát bừng cơn khỏa
Đón rẻo giăng lừng đẫm cuộc chơi
Khơi trỗi vạn niềm hoan tiếng ạ
Nhớ thùa trăm nuộc thỏa lòng ơi
Rơi ào diễm mộng thương dìu luyến
Trời lịm thắm yêu gió gọi vời

Vời gọi gióyêu thắm lịm trời
Luyến dìu thương mộng diễm ào rơi
Ơi lòng thỏa nuộc trăm thùa nhớ
Ạ tiếng hoan niềm vạn trỗi khơi
Chơi cuộc đẫm lừng giăng nẻo đón
Khỏa cơn bừng ngát thả câu mời
Ngời âm diệu ước lồng mơ thẫm
Nơi lộng ái tình khiến não vơi

HANSY

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2020

107-ĐÀ ĐƯỢM


VÌ SAO NGƯỜI VIỆT NAM ÍT THÂN THIỆN VỚI NGƯỜI TRUNG QUỐC?


VÌ SAO NGƯỜI VIỆT NAM
ÍT THÂN THIỆN VỚI NGƯỜI TRUNG QUỐC?

Hôm nay [17/02/2009] là một ngày nhân dân hai nước Trung Quốc, Việt Nam đều không thể nào quên. Ngày này 30 năm trước, quân đội Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích” Việt Nam trên biên giới Trung Việt. Cuộc chiến tranh này đã trở thành vết thương khó có thể hàn gắn giữa nhân dân hai nước. Nếu bỏ qua cuộc chiến đó để xem xét “Mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam” hiện nay, dù là quan hệ nhà nước hay nhân dân, thì sẽ là què quặt, cũng là phiến diện không hoàn chỉnh.

Ba quốc gia có liên quan trực tiếp nhiều nhất tới cuộc chiến đó là Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia có cách nhìn khác hẳn nhau đối với cuộc chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam 30 năm trước.

Phía Trung Quốc cho rằng phía Việt Nam quấy rối biên cương Trung Quốc, cho nên Trung Quốc phát động “Cuộc chiến tự vệ phản kích”. Phía Việt Nam cho rằng chính phủ Trung Quốc vì để ủng hộ chính quyền Khmer Đỏ mà phát động bành trướng xâm lược Việt Nam, thể hiện chiến tranh bá quyền. Phía Campuchia tuy không tỏ thái độ rõ ràng đối với cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nhưng ngày 7 tháng 1 năm nay đã tổ chức một cuộc mít-tinh quy mô chưa từng có tại Phnom Penh chúc mừng 30 năm ngày nhân dân Campuchia thoát khỏi ách thống trị của Khmer Đỏ. Tại cuộc mit-tinh, Chủ tịch Thượng viện Campuchia Chia Xim cảm ơn Việt Nam “đã cứu Campuchia”, đánh giá cao bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh to lớn để tiêu diệt chính quyền Khmer Đỏ tàn sát nhân dân, và đã kịp thời ngăn chặn được số phận bất hạnh nhân dân Campuchia tiếp tục bị tàn sát.

Giờ đây chính phủ Trung Quốc đang ra sức làm mờ nhạt cuộc chiến 30 năm trước ấy, không tổ chức bất kỳ hoạt động kỷ niệm chính thức nào. Tại Việt Nam, chính phủ và nhân dân đều tổ chức hoạt động tưởng niệm với quy mô lớn [?] những người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến đó, giáo dục người Việt Nam chớ quên cuộc chiến này. Rốt cục trong cuộc chiến tranh ấy ai phải ai trái, ở đây tác giả không muốn bàn thảo. Bao giờ các tài liệu mật được dần dần công khai, sau khi nhìn thấy chân tướng, tự nhiên người ta sẽ hiểu rõ.

Tác giả muốn nhân dịp ngày đặc biệt hôm nay để nói qua về một số cảm nhận của mình tại Việt Nam, hy vọng qua đó người trong nước sẽ hiểu được tại sao đa số người Việt Nam có thái độ không hữu hảo với Trung Quốc. Để nhìn nhận Việt Nam một cách khách quan, chúng ta nên xuất phát nhiều hơn từ góc độ của mình mà suy nghĩ. Ngoài việc cuộc chiến đó cần thời gian để hàn gắn vết thương giữa nhân dân hai nước ra, hiện nay vấn đề người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc chủ yếu có mấy mặt sau đây đáng để người nước ta [tức Trung Quốc] cảnh giác và suy nghĩ.

Trước hết, người Trung Quốc chưa hiểu tình hình Việt Nam – đây là một nguyên nhân khiến người Việt Nam ghét người Trung Quốc. Hai nước tuy là láng giềng gần nhau, truyền thống văn hóa và tập quán giống nhau nhưng tuyệt đại đa số người Trung Quốc lại chưa hiểu Việt Nam. Việt Nam là quốc gia nhược tiểu, chính phủ không đủ tài lực […], thế nhưng sự nghèo khó của chính phủ không đại diện cho sự bần cùng của dân chúng. Người Trung Quốc có quan niệm là chỉ cần thấy nước này chỗ nào cũng rách nát, thiết bị hạ tầng cơ sở chưa hoàn thiện, đường phố không rộng rãi tráng lệ thì cho rằng nước này hỏng rồi.

Thực ra nhìn bên ngoài không bằng nhìn thực chất. Việt Nam luôn luôn theo đường lối giấu ngầm sự giàu có vào dân chúng. Chỉ cần đến thăm nhà thường dân Việt Nam để cảm nhận một chút, bạn sẽ thay đổi ấn tượng về Việt Nam. Trong các gia đình Việt Nam […], các loại đồ điện gia đình và thiết bị trong nhà không hề ít hơn dân Trung Quốc. Nghèo nữa thì cũng có một chiếc xe máy. Gia đình dân chúng Việt Nam chưa thể coi là giàu có nhưng cũng tuyệt nhiên không nghèo. Tuyệt đại đa số người Trung Quốc từng đến Việt Nam phần lớn chỉ nhìn thấy hiện tượng bên ngoài chứ không phải đời sống thực chất của người Việt Nam bình thường, do đó có sự hiểu lầm về Việt Nam. Ngược lại, người Việt Nam cũng từ xương cốt coi thường một bộ phận người Trung Quốc.

Thứ hai, tâm trạng ưu việt cao ngạo của người Trung Quốc đã làm cho người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc. Người nước ta tự cho rằng thực lực Trung Quốc mạnh hơn Việt Nam, phần lớn người Trung Quốc khi đến Việt Nam thì có thái độ thiếu thân mật và khiêm tốn với người Việt Nam. Thường xuyên có bạn hỏi tôi: Việt Nam chẳng phải là rất nghèo đấy ư, có phải là ở Việt Nam đi mua hàng phải vác cả bọc tiền to tướng, có phải Việt Nam thừa phụ nữ, có thể lấy mấy vợ cũng được phải không?  … đều là những câu hỏi làm người ta cười gượng.

Thực tế Việt Nam khác xa những gì chúng ta tưởng tượng. Chính quyền Việt Nam nghèo, thậm chí rất tham nhũng, song dân chúng Việt Nam không nghèo. Đồng bạc Việt Nam giá trị cao nhất là 500 nghìn đồng, tương đương 200 Nhân Dân Tệ Trung Quốc, ra phố mua hàng đâu có cần vác rất nhiều tiền, thậm chí còn ít một nửa so với người Trung Quốc đi mua hàng. Phụ nữ Việt Nam không nhiều, tỷ lệ nam nữ cơ bản bằng nhau, thậm chí tỷ lệ nam cao một chút, chớ có sang Việt Nam làm giấc mộng lấy mấy cô vợ. Người Việt Nam coi người Trung Quốc không ra gì không phải không có nguyên cớ.

Thứ ba, nhà đầu tư Trung Quốc đến Việt Nam rất bị nghi ngờ về chữ tín. Cuối thập niên 1990, rất nhiều người Trung Quốc đến Việt Nam đầu tư, tưởng là ở đấy có thể dễ kiếm được tiền. Khi phát hiện đầu tư trên toàn thế giới đều có cùng một nguyên tắc là “không có đầu tư vào thì không có sản phẩm ra”, kiếm tiền đâu có dễ như tưởng tượng. Thế là người Trung Quốc ào sang như một đàn ong rồi lại ào ào đại rút lui như một đàn ong, rút vốn về nước một cách bất hợp pháp, để lại một đống tạp chứng khó chữa như nợ lương, nợ thuế, nợ vốn với đối tác hợp tác, khiến chính quyền Việt Nam rất đau đầu. Sự thành thật giữ chữ tín của thương nhân Trung Quốc phổ biến bị người Việt Nam nghi ngờ.

Cùng sang Việt Nam kiếm tiền, người Nhật, người Hàn Quốc trước lúc đi đã xem xét coi đây là vấn đề khá  phức tạp, khi gặp phải các vấn đề tồn tại trong xã hội Việt Nam họ giải quyết dễ hơn người Trung Quốc. Tâm lý quá ư đầu cơ của nhà đầu tư Trung Quốc, thái độ oán trách mỗi khi gặp khó khăn đã gây ra hậu quả người Việt Nam cho rằng người Trung Quốc có độ tin cậy thương mại không cao. Trung Quốc khi đưa vốn ra nước ngoài cũng đem theo những bệnh bất trị vốn có trong xã hội thương mại của mình sang nước ngoài. Điều này không những các nhà đầu tư chúng ta phải suy ngẫm mà chính phủ Trung Quốc cũng nên cảnh giác.

Thứ tư, việc các thương gia Trung Quốc phán đoán sai lầm về thị trường tiêu dùng Việt Nam đã không những làm cho sản phẩm Trung Quốc khó tiêu thụ ở Việt Nam mà cũng tổn hại nghiêm trọng tới hình ảnh và thanh danh của người Trung Quốc. Do hiểu biết lệch lạc về tình hình nội bộ và thói quen tiêu dùng của Việt Nam, cho rằng người Việt không tiêu dùng nổi những sản phẩm chất lượng tốt cấp cao, mà người Trung Quốc chuyển sang Việt Nam những dây chuyền sản xuất lạc hậu bị đào thải trong nước, kết quả thế nào có thể suy ra mà thấy. Ở Trung Quốc, nhà sản xuất xe máy Trùng Khánh huênh hoang là đã chiếm được bao nhiêu thị phần thị trường Việt Nam. Đáng tiếc là người viết bài này ở Việt Nam cho tới nay chưa hề phát hiện thấy một chiếc xe máy Trùng Khánh nào chạy trên đất nước này, dù ở vùng nông thôn tương đối nghèo hay đô thị phồn hoa đều khó mà thấy bóng dáng nó.

Trong lòng người tiêu dùng Việt Nam thì hàng Trung Quốc là đại danh từ của “chất lượng xấu”. So với người Trung Quốc, rõ ràng người Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả người Âu Mỹ đánh giá quan niệm tiêu dùng của người Việt Nam chính xác hơn nhiều; ngay từ đầu họ đã đưa hàng chất lượng tốt sang thị trường Việt Nam, giành được sự ủng hộ của người tiêu dùng nước này. Đây cũng là nguyên nhân hàng hóa Trung Quốc ở Việt Nam đại bại trước hàng hóa Nhật Bản, Hàn Quốc và cũng là một nhân tố lớn làm cho người Việt Nam khinh thường [nguyên văn bỉ thị] người Trung Quốc.

Trung Quốc và Việt Nam núi liền núi sông liền sông, có hơn 2.000 năm tiếp xúc văn hóa, thế nhưng sự hiểu biết của chúng ta về Việt Nam lại dừng ở hồi ức trong quá khứ, thiếu con mắt tỉnh táo và thận trọng để nhìn nhận người hàng xóm này, khiến cho giữa nhân dân hai nước hình thành một vết thương khó có thể vượt qua. Đồng thời với việc mất tín nhiệm của dân chúng Việt Nam, chúng ta cũng dần dần chắp tay nhường cho Nhật Bản, Hàn Quốc lợi ích thị trường to lớn ở Việt Nam mà người Trung Quốc vốn dĩ nắm được.

Người Việt Nam không hữu hảo với người Trung Quốc tuyệt nhiên không chỉ là do cuộc chiến tranh 30 năm trước mà còn nhiều cái nữa đáng để tất cả người Trung Quốc suy ngẫm!

Nguyễn Hải Hoành
biên dịch 



254 VIẾNG MỘ ĐẠM TIÊN


254
VIẾNG MỘ ĐẠM TIÊN
[Tích]

Lạnh lẽo tàn hoang nép rẻo đường
Ấy mồ ca kỹ thuở nồng hương
Lừng danh tài sắc hồi lâng nguyệt
Nổi tiếng thi kỳ lúc rạng dương
Còn sống tao nhân hoài bế huệ
Khép tim mặc khách chẳng thăm hường
Trần gian vẫn lắm trò oan nghiệt
Vợ khắp chết rồi nỏ kẻ thương

Vợ khắp chết rồi nỏ kẻ thương
Đời sao thảm thiết cánh nhan hường
Rồi bao gió bão làm xiêu mộng
Cũng một thân đời chẳng sáng dương
Nghĩ lại đau buồn thêm nuối sắc
Than thầm cảm xúc thấy ngùi hương
Trời cao nỡ để mồ hoang tủi
Lạnh lẽo tàn hoang nép rẻo đường

HANSY
*
THUÝ KIỀU KHÓC ĐẠM TIÊN

Ngày xuân dạo cảnh thấy ven đường
Mộ Đạm Tiên buồn chẳng khói hương
Hỏi kỹ hồng nhan đời bạc số
Sống nhiều tri kỷ buổi hồng dương
Tài năng bổn mệnh người quân tử
Sắc đẹp trời ban kẻ má hường
Nữ ái kiêu kỳ chưa chịu khổ
Bây giờ chết rũ họ nào thương

Bỗng động tâm lòng để khóc thương
Người dưng đẹp tựa cánh hoa hường
Ai ngờ số mệnh nào vui cảnh
Có phải đời mình cũng lụi dương
Lặng lẽ ra về chân mỏi bước
Âm thầm nghĩ đến phận tàn hương
Từ đây cuộc sống theo chiều dẫn
Một cánh phù dung ở giữa đường

Minh Hien