Thứ Hai, 25 tháng 3, 2019

HƯ ẢO


HƯ ẢO
[Thuận nghịch độc]

Tim nát vỡ nguyền giữa quạnh đông
Chạnh xưa thề ước tủi chen lồng
Dìm trơ phú thảm buồn loang cõi
Hẹn lỗi thơ sầu xám trải sông
Im lặng ái tàn đêm nguyệt yến
Đớn đau tình bạc kiếp nhan hồng
Ghìm tê tái dạ ngùi thương nuối
Phim nhạt tẻ đời mỏi ngóng trông

Trông ngóng mỏi đời tẻ nhạt phim
Nuối thương ngùi dạ tái tê ghìm
Hồng nhan kiếp bạc tình đau đớn
Yến nguyệt đêm tàn ái lặng im
Sông trải xám sầu thơ lỗi hẹn
Cõi loang buồn thảm phú trơ dìm
Lồng chen tủi ước thề xưa chạnh
Đông quạnh giữa nguyền vỡ nát tim

HANSY

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

Kỳ 132 -NGUYỄN TRÃI DÙNG TÂM LÝ CHIẾN MỘC THẠNH RUN RẨY THẢM BẠI


Kỳ 132
NGUYỄN TRÃI DÙNG TÂM LÝ CHIẾN
MỘC THẠNH RUN RẨY THẢM BẠI

Trong lần tăng viện cuối năm 1427, ngoài 10 vạn quân của Liễu Thăng từ Quảng Tây tiến đánh nước ta từ hướng đông bắc còn có cánh quân của Mộc Thạnh với 5 vạn quân từ Vân Nam tiến đánh vùng tây bắc. Mộc Thạnh theo nhận định của tướng lĩnh Lam Sơn là đã già và thận trọng. So với mặt trận đông bắc đánh Liễu Thăng, thì mặt trận hướng tây bắc là thứ yếu. Tuy nhiên, điều này cũng không cho phép nghĩa quân Lam Sơn được lơ là mặt trận này. Bởi nếu biết được quân ta bố trí lực lượng mỏng yếu, Mộc Thạnh ắt sẽ thừa thế tiến vào đánh phá vây cho thành Đông Quan. Ở phía tây Đông Quan, các trận địa bao vây của quân ta sẽ bị uy hiếp trầm trọng từ cả hai phía.

Cánh quân Vân Nam mặc dù không tiến đánh gấp, nhưng đã kiềm chế một bộ phận không nhỏ lực lượng của quân Lam Sơn, cùng với các tướng lĩnh tài ba là Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung... Theo lệnh của Bình Định vương Lê Lợi, các tướng lĩnh tại mặt trận phía tây bắc này không chủ động tung quân đánh lớn, mà đặt phục binh để đợi giặc. Nhưng Mộc Thạnh thận trọng không mắc mưu, cứ án binh bất động. Quân ta cũng không thể rút bớt lực lượng tăng cường cho nơi khác khi mà địch tập trung dày đặc bên kia chiến tuyến.

Theo chính sách vừa đánh vừa chiêu dụ, Bình Định vương Lê Lợi cũng sai Nguyễn Trãi dùng danh nghĩa của vua bù nhìn Trần Cảo viết thư cho Mộc Thạnh. Tuy rằng Thạnh mưu trí và thận trọng, nhưng cũng là kẻ cầu toàn, so với Liễu Thăng thì kém ở dũng khí. Nắm được tâm lý của tướng giặc, Nguyễn Trãi không thiên về kích động sự kiêu ngạo như những thư gởi cho Liễu Thăng mà đi sâu vào phân tích sự được mất, lợi hại. Thư có đoạn:

“… Kể ra đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm. Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến. Còn việc dùng binh đến cùng, cậy vào vũ lực là điều mà xưa nay vẫn răn dạy. Từ khi quân nhà vua dẹp yên cõi Giao Chỉ đến giờ, binh đao liền liền, tai vạ chồng chất, một ngày một quá lắm. Người Trung Quốc [chỉ nước Minh] thì bị đòi bắt tần phiền, quân và ngựa đều bị chết. Cái lấy được không bù cho cái bị mất, cái cướp được không chữa được vết tổn thương. Trừ ra, nguyên số quân đi đánh lần tước, và nhiều lần tiếp tục, quân và ngựa chết hại không biết đâu mà tính. Không kể, năm ngoái, lại điện phát quân và ngựa ở ba tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu hiện nay mười phần không còn một phần. Cứ xem thế, bảo đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm, há chẳng đúng lắm ru ? … ”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Sau khi phân tích thiệt hơn, Nguyễn Trãi vừa khuyên Mộc Thạnh trình thư về vua Minh và cho lui binh. Mộc Thạnh xem thư, chừng ý chí tiến quân càng giảm xuống, nhưng hắn vẫn không dám cho lui binh vì như thế sẽ phạm quân kỷ của nước Minh.

Trong khi Mộc Thạnh cùng các tướng Lam Sơn ghìm nhau không giao chiến, thì chiến sự đông bắc diễn ra ác liệt với những tổn thất nặng nề cho đạo quân 10 vạn người ngựa dưới trướng Liễu Thăng, liên tiếp hai tướng soái của quân Minh bị giết trong mấy ngày. Việc giành được lợi thế ở mặt trận chính này cũng mở ra những triển vọng dứt điểm mặt trận tây bắc. Bức thư thứ hai mà Nguyễn Trãi gửi cho Mộc Thạnh được gởi đi ngay sau khi Liễu Thăng bị giết ở trận Chi Lăng như một đòn giáng mạnh vào tâm lý của tướng giặc :
“ … Nay đem thực sự bày tỏ hết để đại nhân rõ:

Ngày tháng 9 năm này, An viễn hầu Liễu Thăng thống lĩnh đại quân đến địa phận thành Khâu Ôn. Tôi đã hai ba lần gửi thư nói kỹ về thiên thời, về nhân sự (thời trời, việc người), nói đi nói lại không ngại rờm lời, mà Liễu công cho lời nói của tôi là không đáng tin, bèn mạo hiểm tiến quân vào sâu chuyên việc chém giết, ý định giết hết không để sót người nào. Nhưng không biết đạo trời ưa sống, lòng người ghét loạn. Thành hay bại, phúc hay họa, chỉ trong khoảng trở bàn tay thôi. Ngày 20 tháng 9, tiến quân đến cửa Chi Lăng, quân lính giữ cửa ải của tôi không làm thế nào được, liền phải chống cự lại. Liễu công bị chết tại trận, không biết lẫn lộn vào đâu. Bảo Định bá, Thái đô đốc, Lý thượng thư cũng nối nhau chết nốt. Còn các quân lính đều bỏ trốn chạy tan. Đó tuy cũng là tội lỗi của tôi, cố nhiên không thể chối cãi được, mà cái họa của Liễu công tất phải tự mình chuốc lấy. Người xưa có câu nói: “Cậy vào đức thì tốt, cậy vào sức thì chết”, tức là thế đấy ...”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Lời thư của Nguyễn Trãi vẫn rất ân cần, nhưng rõ ràng đã lấy Liễu Thăng làm tấm gương răn đe Mộc Thạnh. Nguyễn Trãi đã chỉ cho Mộc Thạnh thấy rõ cái giá của việc không nghe lời dụ, cố chấp tiến quân của Liễu Thăng. Những chiến lợi phẩm là bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng, cùng tù binh bắt được trong trận Chi Lăng gồm ba thiên hộ, một đô chỉ huy được Bình Định vương sai đem đến chỗ quân Mộc Thạnh, cho chúng tận mắt thấy bằng chứng về sự bại vong của bọn Liễu Thăng.

5 vạn quân Minh đóng trước cửa ải Lê Hoa đều sợ mất mật khi trông thấy những nhân chứng, vật chứng mà quân Lam Sơn mang đến trước mặt chúng, không còn lòng chiến đấu nữa. Mộc Thạnh biết quân không còn nhuệ khí, bản thân cũng đã khiếp sợ, lập tức hạ lệnh lui binh. Quân tướng nước Minh rút lui trong sự sợ hãi. Thuận đà, Phạm Văn Xảo cùng Trịnh Khả tung quân truy kích toàn tuyến. Giặc nhác thấy quân Lam Sơn, hoảng loạn giày xéo lên nhau mà chạy. Quân ta truy kích đến Lãnh Câu, Đan Xá, đánh giết một trận lớn. 1 vạn quân Minh chết tại trận, 1.000 tên bị bắt sống. Quân Lam Sơn thu 1.000 ngựa chiến cùng vũ khí, lương thực, của cải nhiều hơn cả lúc phá thành Xương Giang. 

Xử lý xong cánh viện binh Mộc Thạnh, giờ là lúc quân Lam Sơn chuẩn bị dứt điểm với quân Minh ở cánh đồng Xương Giang.

Quốc Huy


VỌNG BUỒN


VỌNG BUỒN 

Sợi buồn con nhện giăng tơ
Người đi theo bước dại khờ vòng tim
Xa rồi mù mịt cánh chim
Qua sông quên hết chuyện chìm đắm nhau.

Người đi, sót lại khối sầu
Khiến xa xót mãi niềm đau đớn dài
Dấu xưa quên hết tình ai
Đêm trường vọng lại những dai dẳng buồn.

Đã xa – sầu mãi cứ luồn
Muốn quên – sao lại cứ tuôn chảy về
Giã từ nhé những niềm mê
Cho trời thương cũ khỏi ê ẩm lòng.

Còn gì đâu nữa mà mong
Thì xin khâm liện thuở ong bướm nào…

HANSY 

TẮT ĐIỆU NGHÊ THƯỜNG


TẮT ĐIỆU NGHÊ THƯỜNG
[Sắc ẩn-Ngũ độ-Láy]

Thanh hòa lả lướt cõi đời vinh
Lục vấn mơ màng thỏa mãn xinh
Phảng phất Lam nhoàm khe khẽ định
Ân cần Tử tế dạt dào nghinh
Cam đành quạnh quẽ đường khôn tính
Bạc bẽo triền miên vẻ khó trình
Quá vãng Hoàng hôn vào nẻo tịnh
Hồng loan rộn rã ước mơ tình


Vẫn đượm Hồng loan mải miết tình
Đừng vương Xám xịt kẻ đăng trình
Êm đềm Trắng dã ân lồng định
Rực rỡ Xanh lè ái thỏa nghinh
Tím rịm cung đàn mơ nẻo vĩnh
Lơ là khúc điệu rã đường xinh
Thơ bàng Bạc tỏa lòng chân chính
Lả lướt Thanh hòa cõi mộng vinh

HANSY

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2019

XẾ ĐIẾC


XẾ ĐIẾC

Sài Gòn vào cuối thập niên 30 đầu thập niên 40 ,người Nam Kỳ chúng ta còn gọi Xe đạp là xe máy, tuy đã bán ra khá nhiều nhưng không phải ai cũng có thể sở hữu dễ dàng.

Nhiều nhà phải dành dụm thời gian dài mới sắm được và phải đi từng bước, mua xe cũ rồi tiến lên mua xe mới, thời đó trừ một số ít người có xe hơi, ai nấy đi đâu thì cuốc bộ, đi xa thì dùng xe ngựa, ai sắm được xe máy thì rất sướng, chủ động đến nơi mình muốn, thênh thang trên đường lộ là cảm thấy vui và có chút hãnh diện.

Lúc đó còn là chú bé mới hơn mười tuổi, Phú mừng rơn khi bố dắt về chiếc xe đạp kiểu nam mua ở cửa hàng với giá gần 300 đồng bạc Đông Dương, ngày nào cha không đi đâu, Phú mượn chiếc xe ra tự tập. Chân chưa đủ dài để ngồi trên yên hoặc trên khung đạp được một vòng bàn đạp, Phú luồn chân phải qua dưới ống sườn ngang để chạm bàn đạp phải. Bọn trẻ cùng xóm đứng xem trầm trồ ngó chiếc xe mơ ước đó.

Xe đạp ở Sài Gòn kể từ thập niên 1940 trở đi không cần phải đăng ký, mang biển số, không phải kê khai lý lịch và cũng không phải mua bảo hiểm.

Người ta chỉ cần một tờ hóa đơn giấy mua bán hoặc giấy mua bán viết tay, có chính quyền địa phương thị thực là đủ.

Giá cả thì rất phù hợp với túi tiền người dân.

Có xe rồi, chỉ cần mua một ổ khóa nho nhỏ kèm sợi dây xích (gọi là khóa “ăn-ti-vôn” – đọc trại từ tiếng Pháp antivol – khóa chống trộm) khóa lại là xong. Thời đó hầu như không có trường hợp bẻ khóa ăn cắp xe,

Đến thập niên 1950 là thời hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn. Số xe đạp được dùng ở thành phố này tăng lên ngày càng nhiều, thầy thợ đều có xe để đi làm các công tư sở.
Các trường trung học, trường nữ như Marie Curie, trường nam như Taberd, Chasseloup Laubat hầu như học sinh đều dùng xe đạp làm phương tiện di chuyển đến trường và về nhà.

Mức độ thông dụng của xe đạp gần như nó là đôi chân của con người.

Một người từ tỉnh lên Sài Gòn chỉ cần đạp xe từ nhà ra bến xe đò, mua vé. Lơ xe đứng trên mui xe đón chiếc xe do khách tự đưa lên hoặc do người phụ lơ đưa lên mui. Họ ràng buộc rất chắc chắn, khách vô ghế ngồi. Xe đến Sài Gòn, lơ xe cởi dây thả xe xuống, khách nhận xe đạp đến địa chỉ cần tìm.

Chẳng phải đi bộ bước nào. Ai nấy đều thấy quá tiện lợi, thậm chí có xe gắn máy cũng không làm được như vậy vì nặng nề.

Người dân Sài Gòn từ thầy, thợ, học sinh, đàn ông, đàn bà… hầu như ai cũng biết “cỡi” xe đạp. Tùy hoàn cảnh và địa vị trong xã hội mà người ta sắm những chiếc xe đạp phù hợp. Việc di chuyển bằng xe thổ mộ (xe ngựa) giảm dần, để rồi sau đó hầu như chỉ dành cho tiểu thương vận chuyển hàng từ nhà quê, ngoại thành ra các chợ và trở về khi chợ tan.

Cùng với sự phát triển xe đạp, sau này xe xích lô trở thành phổ biến. Nhà nào dù giàu hay nghèo cũng phải có ít nhất một chiếc xe đạp, đặc biệt các nữ sinh trung học, hầu như cô nào cũng có một chiếc xe đạp nữ với kiểu dáng thanh thoát.. Để tà áo dài của các cô nữ sinh khi di chuyển không bị dính vô các cây căm (nan hoa) của xe, bánh sau xe đạp nữ có thêm hai mảnh lưới đan nhiều màu sắc rực rỡ, che phủ gần phân nửa bánh sau, khiến chiếc xe nhìn càng duyên dáng.

Các loại xe đạp thời bấy giờ: kiểu xe chắc chắn, loại phổ thông là xe nam với ghiđông (tay cầm) hình chữ U, hai tay nắm vểnh cao để người điều khiển không phải cong người khi đạp cho xe di chuyển.

Loại này yên to, có lò xo dưới yên, còn poọc-ba-ga (porte bagage) được làm bằng thanh sắt đặc rất cứng. Hai tay thắng cũng bằng thanh sắt đặc uốn lượn theo ghiđông, song song với cổ xe, xuống đến đầu thắng.

Xe tuy cổ kính, nặng nề nhưng rất chắc chắn, người Hoa thường dùng loại xe này chở hàng. Có người đồn rằng ống tuýp để hàn sườn xe được hàn bằng ống tuýp nước, vừa rẻ vừa cứng chắc.

Xe kiểu cách, thời trang thường được nhập từ Pháp như các hiệu Reynold, Royal St Giới thượng lưu chơi xe, thích nhất là sườn xe được làm bằng chất liệu nhẹ, chuộng nhất ở hiệu Reynold, với giá cao. Trong giới đua xe đạp, sườn xe đạp đua được ưa chuộng chỉ có hai loại, nhất là tuýp Reynold, nhì là tuýp hiệu Tube.

Xe nữ thì thanh tuýp ngang của xe nam được hạ xuống, chéo từ cổ xe xuống gần bàn đạp của trục yên xe. Riêng xe Royal Stella và Peugeot thì thanh chéo này được làm bằng hai thanh tuýp song song, uốn lượn xuống gần trục bánh xe sau….

Năm 1960 có giá cỡ 1.000 $

Các cửa hàng buôn bán xe và phụ tùng ở Sài Gòn nhái theo các kiểu cách xe nhập cảng, hàn khung xe… nhưng do kỹ thuật hàn chưa tốt và chất liệu ống tuýp thường dày hơn xe Pháp, nên trọng lượng xe thường nặng hơn xe nhập cảng cùng kiểu dáng, có khi nặng hơn gấp rưỡi, lại dễ bị đứt mối hàn ở cổ xe, khiến người điều khiển bể mặt, gãy răng là chuyện thường nhật ….

Theo page SaiGon Xư


ĐỢI TA NHÉ


ĐỢI TA NHÉ

Đợi Ta nhé, dù đường xa khuất lối
Dẫu mưa giăng, bão tố chặn đường về
Tình một thuở nõn nà hương ái trỗi
Thắm đượm hoài giữa nụ ngát tình mê.

Đợi Ta nhé, dẫu đôi nơi cách biệt
Dù trăm sông nghin suối cản chân về
Ta ngóng mãi tình Em nồng thắm thiết
Đợi trùng phùng cho dậy sóng hương mê. 

Tình đã nặng làm sao quên cho được
Lòng nhủ hoài có lúc ngộ phu thê
Ta thao thức suốt canh dài ô trược
Mãi tìm về nơi xưa cũ tình quê.

Đừng vuột mất mùa yêu thương đắm mượt
Phút chia xa chẳng nhạt bớt câu thề
Hãy cuộn lòng vào tình xưa say khướt
Thắm đẫm hoài khúc ái mộng đê mê…

HANSY

THƯƠNG – YÊU


THƯƠNG – YÊU
[Ngũ độ-Bát điệp]

THƯƠNG hoài giữa dạ chỉ mình em
Rạng rỡ lòng THƯƠNG  ánh vẻ thèm
Thỏa lịm nguồn THƯƠNG hoài mãi ém
THƯƠNG tràn cõi nhớ chẳng hề lem
Dòng THƯƠNG trỗi mộng choàng cung tém
Nỗi ước bừng THƯƠNG đượm nẻo kèm
Rộn rã THƯƠNG lời trao sắc lẻm
THƯƠNG chiều nũng nịu đến dùng kem

YÊU hồi miệng ấy thoảng mùi kem
Diễm khúc tình YÊU tỏa lịm kèm
Hãy dạt dào YÊU đừng thả ném
YÊU đờ đẫn mộng chớ lầm lem
Mầm YÊU quãng ái mơ màng lẹm
Nẻo nhớ lời YÊU rộn rã thèm
Vẫn đượm YÊU hoài luôn ngát lẻm
YÊU người sáng rực thỏa lòng em

HANSY

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

CHUYỆN CÁI GIỌNG SÀI GÒN


CHUYỆN CÁI GIỌNG SÀI GÒN

Giọng Sài Gòn cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định… Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào… mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa; không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt; giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng… Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu: “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười: “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói: “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên: “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con?” – “Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc?” – “Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ… dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay.

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “hổm nay”… người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó đẹp ghê” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với“hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó đẹp lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thúy, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thúy, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó: “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ: “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như: “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen”, “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.

Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu: “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi: “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong: “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “Cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này: “Lấy cái tay ra coi!”; “Ngon làm thử coi!”; “Cho miếng coi!”; “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi: “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói: “Sao kỳ dzậy ta?”; “Sao rồi ta?”; “Được hông ta?”… Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà… hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”

Trích lại từ bài viết “Cái giọng Sài Gòn” của tác giả Hải Phan
Theo Saigonxua.org và Fanpage Saigonxua


NGẬM NGÙI


NGẬM NGÙI

Xuân thì chẳng vẹn câu thơ
Trách cao xanh ấy lắm mờ ảo duyên
Khiến cho bến phải xa thuyền
Tình trong ngấn lệ, nát uyên ương rồi.

Người giờ cuối nẻo mồng tơi
Biết bao giờ mới hiệp ngời rạng tim
Mịt mờ biển bắc bóng chim
Để phương nam luống nỗi im ắng lòng... 

Xa tình vợi cả ước mong
Trăng khuya lẻ bạn nhớ ròng rã chan
Một hai tấc dạ gởi nàng
Xin cho khúc hẹn vẫn sang sảng lời.

Nặng tình dỗ giấc cuối trời
Gió mây múa hát, chớ hời hợt thương
Nhớ nhau, xa cũng một đường
Tình thơ hòa khối dậy vương vấn hoài…

HANSY 

HUYỄN CẢNH GIÔNG ĐỜI


HUYỄN CẢNH GIÔNG ĐỜI
[Ngũ độ]

Giữa thế nào ai chẳng muộn phiền
Do đời ít thẳng lại nhiều xiên
Tèm lem nổi dậy lay chòng miễu
Cũng khó ngồi yên để tọa thiền
Những lối đi về đâu thỏa mộng
Nên rồi điểm lại mấy hoàn viên
Thành ra trí não hoài mê muội
Ngụ nẻo dương trần ước cõi tiên

Ngụ nẻo dương trần ước cõi tiên
Mơ hoài quá vãng thuờ đoàn viên
Nhiều khi quạnh quẽ sầu muôn kiểu
Lắm buổi chòng chao lặng giữa thiền
Nẻo sống thêm buồn câu gạt gẫm 
Giông đời lắm nản dạ mờ xiên
Thì nên xả hết rồi tâm niệm
Giữa thế nào ai chẳng muộn phiền

HANSY

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2019

ĐÁNH GIÁ MỘT CÔNG BỘC

ĐÁNH GIÁ 
MỘT CÔNG BỘC
Vừa qua có những đề xuất rất “buồn cười” khiến dư luận đặt câu hỏi về trình độ quản lý, lãnh đạo của các công bộc, lãnh đạo bộ ngành. Có nên coi đó là một thứ tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cán bộ.
Thỉnh thoảng, dân tình lại điêu đứng bởi những đề xuất như “ngực lép không được lái xe”, “thu giá thay thu phí”, “mất bằng lái xe phải thi lại”, “nước mắm truyền thống phải sản xuất như trong phòng lab” hay “heo không được ăn bèo tây, thân chuối”... Nhiều người hẳn phải thắc mắc là vì sao các quan chức có chuyên môn lại có những “đề xuất rất buồn cười” như một vài ví dụ kể trên.
Điều đáng suy nghĩ là với những đề xuất này, thì người dân có công cụ gì để thể hiện việc đánh giá năng lực được của một công bộc. Hẳn phải có một “trình độ” nào đó thì người những công bộc này mới đưa ra được những quyết định “gây ồn ào không đáng có”, “rất dở” và “rất buồn cười” vậy như nhận xét mới đây của Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng.
So với các doanh nghiệp tư nhân thì việc đánh giá năng lực của công bộc nhà nước là rất khó. Một doanh nghiệp tư nhân, nếu quản lý tốt, thì từ người lãnh đạo cho đến một nhân viên đều có bản mô tả công việc và đánh giá hiệu quả công việc theo các tiêu chuẩn ISO chẳng hạn. Không ai có thể “núp lùm” vào tập thể để yếu kém hay trốn việc và hiệu quả chung của mọi người chính là đồng tiền, là doanh số sản xuất, kinh doanh cụ thể đi lên hay đi xuống.
Đối với các công bộc thì người ta không biết rõ lắm là vì sao ông ta lại đứng ở vị trí lãnh đạo hay chuyên môn đó, công việc của ông ta ra sao, đem lại hiệu quả gì cụ thể cho kinh tế xã hội. Kể từ năm 2006, theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng TCVN ISO 9001:2000 cho các cơ quan hành chính nước ta đã triển khai, thế nhưng việc áp dụng như thế nào và hiệu quả của chúng ra sao thì chưa thấy ai nhắc tới.
Nước Mỹ, kể từ sau những chính trị gia lãnh đạo theo những chính sách tương đối mơ hồ thì người dân đã bầu cho một vị tổng thống xuất phát từ một “nhà buôn” chính cống, Tổng thống Donald Trump. Ông Trump lãnh đạo nước Mỹ theo cái cách mà ông lãnh đạo các doanh nghiệp của ông, nghĩa là theo những mục tiêu kinh tế xã hội cụ thể, có thể thấy được hiệu quả hay không một cách rõ ràng và theo tôn chỉ “Nước Mỹ trước tiên” (America First). Thậm chí, nội các mà ông thành lập không phải là các chính trị gia chuyên nghiệp mà gồm nhiều nhà tài phiệt nắm giữ các tập đoàn, công ty hàng đầu của nước Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của ông, nền kinh tế của Mỹ đã phục hồi, người dân Mỹ có thêm nhiều công ăn việc làm hơn.
Ở nước ta, mặc dù kinh tế đang phát triển với tốc độ đáng kể, những có lẽ khó ai chỉ ra được đó là hệ quả của những quyết định, chính sách cụ thể từ các bộ, ngành nào, từ một cá nhân hay một tập thể cụ thể nào. Mặt khác, những đề xuất “buồn cười” khiến cho dư luận đặt câu hỏi về trình độ quản lý, lãnh đạo của bộ ngành lâu nay. Chưa kể nhiều vị trí lãnh đạo ở các bộ ngành thời gian qua còn vướng vào các vụ án tham nhũng, hối lộ lớn.
Việc đánh giá năng lực của các lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, Hội đồng nhân dân hằng năm chỉ thông một kỳ lấy phiếu tín nhiệm, nhưng hầu như chưa có một vị trí nào phải “mất chức” bởi phiếu tín nhiệm thấp.
Vậy, nên chăng, cần có thêm những tiêu chuẩn đánh giá nào đó để giữ chức hay thôi chức các công bộc, như tiêu chuẩn không được đưa ra những đề xuất “làm trò cười cho thiên hạ”...?
Đoàn Đạt


Bình EM VỀ -Vũ Miên Thảo


EM VỀ!

Em về!
nỗi nhớ lăn quay
câu thơ ngan ngát hương say hoa vàng
duyên xuân
cài thắm Ngọc Lan
tóc mây xoã mộng chào ban mai hồng!

Em về!
có cũng như không
bao giờ không – có?
long bong cuộc tàn!
huơ tay
chặn bóng ngày tan
níu tà huy lại nhuộm vàng long đong

Em về!
Lối cũ nhuộm hồng
hoa tan tác cánh rắc hồng dấu xưa
ta ngồi
giữa tháng chờ mưa
nồng oi khoảng nhớ
ve lùa oán âm

Em về!
núi chẳng xanh mầm
truông mây nóng đá
suối trầm nguồn khô
cây xoè trăm ngón tay thô
khẳng khiu cành nhớ dật dờ gió run

Em về!
cứ thế!
mông lung
có – không
không – có
chập chùng
bóng mây!
vậy mà!
cứ trống vòng tay
ôm tim…
chạm phải lạnh đầy sương khuya

Vũ Miên Thảo
*****************
*
Trong cõi mê màng huyễn hoặc khói sương tình tự thoáng em về lung linh diễm ảo chợt gần chợt xa tựa dáng dấp của một bóng hình liêu trai mộng mị nào đó vờn lại qua song cửa sổ hão huyền như đang cợt giỡn trái tim yêu bé bỏng của một gã tình si

Em về!
cứ thế!
mông lung
có – không
không – có
chập chùng
bóng mây!
vậy mà!
cứ trống vòng tay
ôm tim…
chạm phải lạnh đầy sương khuya

Em có đó mà cũng như không, làm chênh chao nỗi nhớ đồng vọng thuở nào khiến tâm thức hụt hẫng đi khi dẫu đang là thực tại vẫn mơ hồ một thoáng xa xăm huyễn ảo không thật. Cái ngỡ ngàng đau đáu giữa mộng và thực còn hơn cả một nỗi lo xa nặng trĩu tâm lòng

Ôm em trong tay mà nhớ em những ngày sắp tới
(Thanh Tâm Tuyền)

Vẫn mãi hoài bồng bềnh trong sâu thẳm của nỗi niềm suy tưởng mơ đón em về cho kịp buổi hẹn trùng lai, mà dẫu là có khác biệt nhau giữa Mộng và Thực, giữa Chân và Ảo đi nữa thì người ơi, đó vẫn là hai mặt thực tế của cuộc đời này, nhờ đó mà hồn ta đẫm ngát thi vị hóa về cõi ta bà đầy bụi bặm khô khốc ấy!  

Em về!
có cũng như không
bao giờ không – có?
long bong cuộc tàn!
huơ tay
chặn bóng ngày tan
níu tà huy lại nhuộm vàng long đong

Muốn đoạt cả quyền tạo hóa trong ngày em về bên ta để vĩnh viễn sở hữu những ngọc ngà mộng tưởng mà bấy lâu tâm thức luôn xáo động với những khao khát đợi chờ, nào khác chi ước vọng bất khả này

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi. 

(Xuân Diệu)

Vì rằng tháng ngày không em đâu chỉ có lòng ta ốm o thê thiết mà đến cả những gì hiện hữu quanh ta cũng đều bị “nhiễm trùng” xác xơ úa nhạt tiêu điều…

núi chẳng xanh mầm
truông mây nóng đá
suối trầm nguồn khô
cây xoè trăm ngón tay thô
khẳng khiu cành nhớ dật dờ gió run

Mà có thế nào chăng nữa tình ơi, đã thệ nguyện cùng nhau từ muôn kiếp trước thì dẫu buộc phải muộn màng trong kiếp này đi nữa vẫn xin người cho ta được ngộ phùng hoan lạc trong buổi trùng lai… Bởi tim này đã mỏi mòn mong ngóng ngày đêm với bao dặc dằng trăn trở

Đi là đi mãi không em?
Ước nguyện mai sau có vẹn tuyền?
Nước có ngân lời hoài vọng cũ?
Gởi về cây bóng lá sơ nguyên?

(Bùi Giáng)

Để tiên cảnh bồng lai mà đã hoài khắc đậm sâu nơi tận đáy trái tim lòng si dại này sẽ được cây đủa thần tình yêu biến thành hiện thực vĩnh viễn

Em về!
Lối cũ nhuộm hồng
hoa tan tác cánh rắc hồng dấu xưa
………
Em về!
nỗi nhớ lăn quay
câu thơ ngan ngát hương say hoa vàng
duyên xuân
cài thắm Ngọc Lan
tóc mây xoã mộng chào ban mai hồng!

*****
Thơ Vũ Miên Thảo thường chập chùng ẩn ngữ trời cho, lại được ông dày công sáng tạo những ngôn từ nghệ thuật mới lạ, hiếm hoi, hiểm hóc và đầy tính biểu tượng… nên khó một ai có thể bóc tách hết mấy tầng ngữ nghĩa ẩn tàng sau lớp vỏ con chữ của bài thơ!

Một chút sẻ san gọi là đồng cảm đâu đó về một tứ thơ lãng mạn chuốt trau đã đánh thức khoái cảm trong hồn tha nhân đồng điệu…

HANSY

TỪ THỨC GẶP TIÊN-2-CỨU NẠN GIÁNG HƯƠNG


TỪ THỨC GẶP TIÊN
2.
CỨU NẠN GIÁNG HƯƠNG

Cạnh huyện đường có ngôi chùa nọ
Trồng mẫu đơn hoa nở tuyệt trần
Tháng Hai-Bính Tý mùa xuân
Người đi trẫy hội hưởng tuần du chơi.

Một kiều nữ thảnh thơi dạo gót
Thấy hoa nồng đã trót vịn xem
Nào hay lỡ nặng tay kèm
Khiến cành hoa gãy, họa đem phức phiền.

Vì không có bạc tiền trả chuộc
Người coi hoa đành buộc giữ thân
Tội thay vóc hạc trong ngần
Sa đường hiểm lụy chịu ân oán này.

May Từ Thức rõ hay sự việc
Cởi áo cừu đặc biệt đền cho
Khiến nàng thoát cảnh đôi co
Cám ơn nồng nhiệt chàng lo liệu giùm.

HANSY
Chú thích:
Từ Thức là một nhân vật huyền thoại vào đời nhà Trần trong truyện dã sử Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Ông quê ở Tống Sơn - Hòa Châu - Thanh Hóa và được hư cấu là một người gặp được tiên và ở cùng tiên nữ trong chốn tiên cảnh. Tương truyền nơi ông gặp tiên chính là động Từ Thức

HÀNH LÍ


HÀNH LÍ

Hành lí là một từ dễ hiểu chỉ “đồ dùng mang theo khi đi xa”. Hành () có nghĩa là “đi”, còn lí () nghĩa là gì, lai lịch của nó thế nào thì ý kiến của các học giả Việt Nam cũng như Trung Quốc còn khác nhau.

Ở Việt Nam, Bửu Kế cho rằng hành có nghĩa là “đi”, còn lí dùng để chỉ “người đi đường”, về sau dùng theo nghĩa “vật đem theo để đi đường”; từ hành lí bắt nguồn từ phong tục xưa, đi đường xa thường mang theo một giỏ mận để tặng bạn. Ở đây, chúng ta thấy nghĩa của lí do Bửu Kế nêu ra là có tính chất phỏng đoán từ nghĩa của hành líchứ thực ra trong tiếng Hán lí () chỉ có nghĩa là “cây / quả mận”, không hề có nghĩa là “người đi đường”.

Cũng là một sự phỏng đoán khi Bửu Kế nói rằng vì ở Trung Quốc có tập tục đi đường xa mang theo một giỏ mận để tặng bạn nên lí có nghĩa là “vật mang theo để đi đường”. Nếu như ở Trung Quốc có tập tục này thì sự suy luận của Bửu Kế là đúng. Điều đáng tiếc là Bửu Kế không nói rõ ông căn cứ vào tài liệu nào để nói rằng ở Trung Quốc có tập tục này. Nếu có thì các học giả Trung Quốc đã dựa vào đó để giải thích lai lịch của lí trong hành lí. Nhưng qua tài liệu mà chúng tôi có được thì không có học giả nào khẳng định ở Trung Quốc có tập tục này.

Nguyễn Lân và Đào Duy Anh không dựa vào tập tục như Bửu Kế nhưng hai tác giả này cũng cho rằng lí () có nghĩa là “đồ đem theo đi đường”. Giải thích như vậy là chưa chính xác vì “đồ đem theo đi đường” là nghĩa của từ hành lí chứ không phải là nghĩa của riêng lí. Thiều Chửu thì cho rằng lí có nghĩa là “sắm sửa đồ dùng khi đi đường”, chữ cùng nghĩa với chữ . Vũ Ngọc Khánh và Nguyễn Thị Huế giải thích: “... hành: đi; lí: sửa soạn. Khi đi đâu phải mang quần áo đồ dùng dọc đường (hành); việc sửa soạn này là cần thiết (lí). Do đó hành lí có nghĩa là đồ đạc của người mang theo khi đi xa. Ý kiến của các tác giả này theo tôi cũng là một sự phỏng đoán vì chữ và chữ trong tiếng Hán không có nghĩa là “sửa soạn” hay “sắm sửa”.

Bàn về nghĩa và lai lịch của lí () trong từ hành lí, điều đáng chú ý trước hết là ở cuốn Tả truyện, một bộ sách chép sử rất có giá trị của Tả Khưu Minh đờinhà Chu, Trung Hoa, cách đây khoảng 3.000 năm có hai từ 行理(hành lí) và 行李 (hành lí), cách đọc giống nhau, chữ viết khác nhau nhưng nghĩa lại giống nhau. Ở “Tả truyện, Chiêu Công thập tam niên” có câu: hành lí chi mệnh, vô nguyệt bất chí (行理之命, 无月不至). Hành lí (行理) trong câu này được Đỗ Dự chú là “người được sai đi sứ” (tức là người đi làm công việc ngoại giao). Và câu này có nghĩa là “Sứ mệnh sứ giả không tháng nào là không có”. Với nghĩa này và theo cách viết này thì lí () có nghĩa là “làm, giải quyết (công việc ngoại giao)”. Hành lí thời đó là một chức quan nhỏ chuyên việc đốingoại.

Ở “Tả truyện, Hi Công tam thập niên” lại có từ hành lí (行李) trong câu “Hành lí chi vãng lai, cọng kì phạt khốn” (行李之往来, 共其乏困). Đỗ Dự chú: “hành lí (行李) là người được phái đi”. Và câu này có nghĩa là “việc đi về của sứ giả đều rất mệt nhọc”.

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao hai từ hành lí đọc giống nhau, nghĩa giống nhau mà cách viết lại khác nhau ở hai chữ lí. Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng từ hành lí viết đúng phải là 行理. (lí) ở đây có nghĩa là “trị” () tức là “xử lý, giải quyết công việc”. Còn chữ (lí) có nghĩa là “cây / quả mận” nghĩa này chẳng liên quan gì đến nghĩa hành lí, chẳng qua đây là lối viết giả tá. Giả tá là mượn chữ đã có biểu thị một từ đồng âm khác nghĩa. Đó là mối quan hệ giữa chữ và chữ trong 行理行李. Riêng bản thân chữ trong từ 行理 các học giả Trung Quốc cũng còn có ý kiến khác nhau.

Có người cho chữ ở đây phải viết là (lại), 行理 phải viết là 行吏 (hành lại; lạilà một chức quan nhỏ). Hành lại chỉ chức quan được phái đi làm ngoại giao.

Hành lí (行李) ngoài nghĩa danh từ, còn được dùng với nghĩa động từ như câu sau đây ở “Nguỵ thư Tống khâm truyện”: “ 顷因行李, 承足下高, 伫之劳, 为日久矣 ” (Khoảnh nhân hành lí, thừa túc hạ cao vấn, diên trữ chi lao, vi nhật cửu hĩ), có nghĩa là “Vừa rồi nhờ đi sứ, được túc hạ (từ tôn xưng bạn lúc gửi thư), cao vấn (thăm hỏi, quan tâm), công mong chờ, kể đã lâu ngày”. Hành lí ở đây có nghĩa là “đi sứ” tức là “làm công việc ngoại giao”.

Đến đời Hán Đường 行李 (hành lí) bắt đầu được dùng với nghĩa “lữ hành” tức là “đi xa” như trong câu thơ sau đây của Đỗ Phủ: “ 别离已五年, 尚在行李中 ” (Biệt li dĩ ngũ niên, thượng tại hành lí trung) có nghĩa là: “Biệt lí đã năm năm, vẫn còn đang lữ hành”. Cũng có lúc 行李 được dùng với nghĩa danh từ như trong câu sau đây của Thích Vi đời Nguyên: “ 舟行两日, 遂抵兰溪, 行李往, 为通道 ” (Châu hành lưỡng nhật, toại để Lan Khê, hành lí vãng hoàn, thử vi thông đạo) có nghĩa là “Đi thuyền hai ngày đến được Lan Khê, khách lữ hành qua lại, đây là con đường giao thông”.

Khoảng đến đời Minh thì 行李 (hành lí) mới được dùng với nghĩa là “vật mang theo khi đi xa” như hiện nay.

Tóm lại chữ (lí) trong từ hành lí (行李) là một chữ giả tá, thông với chữ (lí) có nghĩa là “trị; xử lí, giải quyết công việc”. Từ hành lí (行李) đã trải qua một quá trình biến đổi ý nghĩa: Trước hết chỉ “người đi sứ” và chỉ “việc đi sứ”. Có lẽ do đi sứ là đi xa nên phái sinh nghĩa mới là “lữ hành, đi xa” và “khách lữ hành, người đi xa”. Người đi xa bao giờ cũng phải mang theo đồ đạc nên hành lí phái sinh thêm một nghĩa mới nữa là “đồ đạc mang theo khi đi xa”.

PGS, TS LÊ XUÂN THẠI

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001.
[2] Thiều Chửu, Hán - Việt tự điển, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997.
[3] Bửu Kế, Từ điển Hán Việt từ nguyên, NXB Thuận Hoá, 1999.
[4] Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006.
[5] Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế, Từ điển từ nguyên giải nghĩa, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1998.
Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư,