Thứ Tư, 24 tháng 7, 2019

NHÀ BÁO NHÂN DÂN


NHÀ BÁO NHÂN DÂN
***
Tuyển tập lưu trữ những bài báo tâm đắc nhất của
 Cộng tác viên HANSY
Bút danh 
Báo chí: TRẦN QUANG THẮNG


***

CHÀO CÁC BẠN
HANSY tuyển lại và lưu trữ vào đây những bài viết tâm đắc của mình đã được đăng trong nhiều năm trên rất nhiều tờ báo lớn của làng báo Việt Nam, xem như đây là kỷ niệm không thể nào quên về những đứa con tinh thần xuất sắc của HANSY trong tháng ngày góp tiếng nói của mình vào làng báo Việt.
Chân thành cám ơn sự quan tâm theo dõi của các bạn.

HANSY
Bút danh Báo chí:
TRẦN QUANG THẮNG

**************************************************************


**************************************************************

64-NGÔN TÌNH


260 TỪ THÔNG DỤNG CỦA DÂN SÀI GÒN


260 TỪ THÔNG DỤNG
CỦA DÂN SÀI GÒN

1. À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha)
2. Áo thun ba lá, áo ba lỗ = Áo may ô
3. Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
4. Âm binh = phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách)
5. Bà chằn lửa = người dữ dằn (dữ như bà chằn)
6. Ba ke, Ba xạo
7. Bá Láp Bá Xàm
8. Bá chấy bù chét
9. Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa)
+ Bà quại = bà ngoại
10. Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường

11. Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng)
12. Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi
13. Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn
14. Bất thình lình = đột ngột
15. Bẹo = chưng ra (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa)
16. Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên
17. Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể
18. Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!)
19. Biết đâu nà, biết đâu nè = biết đâu đấy
20. Biệt tung biệt tích = không thấy hiện diện

21. Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo
22. Bình thủy = phích nước
23. Bình-dân = bình thường
24. Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít)
25. Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình)
26. Bỏ thí = bỏ
27. Bùng binh = vòng xoay
28. Bội phần = gấp nhiều lần
29. Buồn xo = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? )
30. Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)

31. Cà chớn cà cháo = không ra gì
32. Cà chớn chống xâm lăng -Cù lần ra khói lửa.
33. Cà kê dê ngỗng = dài dòng.
34. Cà Na Xí Muội
+ Cà rá = chiếc nhẫn
35. Cà nhỗng = rảnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhỗng tối ngày)
36. Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang
37. Cà rem = kem
38. Cà rịt cà tang = chậm chạp.
39. Cà tàng = bình thường, quê mùa,…
40. Cái thằng trời đánh thánh đâm

41. Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây
Coi được hông?
42. Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!)
43. Cụng = chạm
44. Cứng đầu cứng cổ
45. Chà bá , tổ chảng, chà bá lửa = to lớn, bự
46. Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! )
47. Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi! ” (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?)
48. Chả = không ( Nói chả hiểu gì hết trơn hết trọi á!)
+ Chả = thằng chả / thằng cha kia
49. Chậm lụt = chậm chạp, khờ
50. Chém vè (dè)= trốn

51. Chén = bát
52. Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên
53. Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không
54. Chì = giỏi (anh ấy học “chì” lắm đó).
55. Chiên = rán
56. Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn)
57. Chỏ = xía, xen vào chuyện người khác
58. Chổ làm, Sở làm = hãng, xưởng, cơ quan công tác
59. Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt
60. Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chổ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chổ dậy?)

61. Chưn = chân
62. Chưng ra = trưng bày
63. Có chi hông? = có chuyện gì không?
64. Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ
Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường)
65. Dấm da dấm dẳng
66. Dây = không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó
67. Dễ tào = dễ sợ
68. Dì ghẻ = mẹ kế
69. Dĩa = Đĩa
70. Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng)

71. Diễu dỡ = làm trò
72. Dỏm (dởm), dỏm đời, dỏm thúi, đồ lô (sau 1975, khi hàng hóa bị làm giả nhiều, người mua hàng nhầm hàng giả thì gọi là hàng dởm, đồ “lô” từ chữ local=nội địa)
73. Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi)
74. Du ngoạn = tham quan
75. Dù = Ô
76. Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”)
77. Dùng dằng = ương bướng
78. Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn )
79. Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói)
80. Dzừa dzừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá

81. Đá cá lăn dưa = lưu manh
82. Đa đi hia = đi chỗ khác.
83. Đài phát thanh = đài tiếng nói
84. Đàng = đường
85. Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?)
86. Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen
+ Đền = bồi thường
87. Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9
88. Đi bang bang = đi nghênh ngang
89. Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí
90. Đó = đấy , nó nói đó = nó nói đấy

91. Đồ già dịch = chê người mất nết
92. Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông 93. nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo
94. Đờn = đàn
95. Đùm xe = Mai-ơ
96. Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm
97. Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê
98. Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê
99. Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích
100. Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc!)

101. Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp
102. Hay như = hoặc là
103. Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn
Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết)
104. Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! )
105. Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa
106. Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay
107. Hổng có chi! = không sao đâu
108. Hổng chịu đâu
109. Hổng thích à nhen!
110. Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài

111. Hợp gu = cùng sở thích
112. Ì xèo = tùm lum, …
113. năn nỉ ỉ ôi
114. Kẻo = coi chừng
115. Kể cho nghe nè! = nói cho nghe
116. Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,….
Lanh chanh
117. Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm
118. Làm (mần) dzậy coi được hông?
119. Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh
120. Làm gì mà toành hoanh hết zậy

121. Làm nư = lì lợm
122. Làm um lên: làm lớn chuyện
123. Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu
124. Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chổ nào)
125. Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là
làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?)
126. Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen)
127. Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy)
128. Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
129. Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
130. Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!

131. Liệu = tính toán
132. Liệu hồn = coi chừng
133. Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt)
134. Lộn = nhầm (nói lộn nói lại)
135. Lộn xộn = làm rối
136. Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!)
137. Lùm xùm = rối rắm,
138. Lụt đục = không hòa thuận (gia đình nó lụt đục quài)
139. Má = Mẹ
140. Ma lanh, Ma le

141. Mã tà = cảnh sát
142. Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa
143. Mari sến = sến cải lương
144. Mát trời ông địa = thoải mái
145. Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ
146. Mắc cười = buồn cười
147. Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bởn cợt.
148. Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm
149. Mần ăn = làm ăn
150. Mần chi = làm gì

151. Mậy = mày ( thôi nghen mậy = đừng làm nữa)
152. Mét = mách
153. Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10.
154. Mình ên = một mình (đi có mình ên, làm mình ên)
155. Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò
156. Mồ tổ! = câu cảm thán
157. Mả = Mồ
158. Muỗng = Thìa, Môi
159. Mút mùa lệ thủy = mất tiêu
160. Nam Tàu Bắc Đẩu

161. Nào giờ = từ trước tới nay
162. Niềng xe = vành xe
163. Ngang tàng = bất cần đời
164. Nghen, hén, hen, nhen
165. Ngoại quốc = nước ngoài
166. Ngon bà cố = thiệt là ngon
167. Ngộ = đẹp, lạ (cái này coi ngộ hén)
168. Ngồi chồm hổm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … (Chợ chồm hổm – chợ không có sạp)
169. Ngủ nghê
170. Nhan nhản = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt

171. Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi
172. Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia
173. Nhiều chiện = nhiều chuyện
174. Nhìn khó ưa quá (nha)= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau
175. Nhóc, đầy nhóc : nhiều
176. Nhột = buồn
177. Nhựt = Nhật
178. Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm
179. Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói)
180. Phi cơ, máy bay = tàu bay

181. Quá cỡ thợ mộc…= làm quá,
182. Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình
183. Qua bên bển, vô trong trỏng, đi ra ngoải,
184. Quá xá = nhiều (dạo này kẹt chiện quá xá! )
185. Quá xá quà xa = quá nhiều
186. Quê một cục
187. Quê xệ
188. Rành = thành thạo, thông thạo, biết (tui hổng rành đường 189; này nhen, tui hổng rành (biết) nhen)
190. Rạp = nhà hát(rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát (dựng rạp làm đám cưới)

191. Rân trời = um sùm
192. Rốp rẽng (miền Tây) = làm nhanh chóng
193. Rốt ráo (miền Tây) = làm nhanh chóng và có hiệu quả
194. Ruột xe = xăm
195. Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai!
196. Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng
197. Sạp = quầy hàng
198. Sến = cải lương
200. Sến hồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà.

201. Sên xe = xích
202. Sếp phơ = Tài xế
203. Sườn xe = khung xe
204. Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ
205. Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi
206. Tàng tàng = bình dân
207. Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… 208. chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẫn
209. Tàu hủ = đậu phụ
210. Tầm xàm bá láp

211. Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi
212. Té (gốc từ miền Trung)= Ngã
213. Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư
214. Tía, Ba = Cha
215. Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …!
216. Tòn teng = đong đưa, đu đưa
217. Tổ cha, thằng chết bầm
218. Tới = đến (người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văn bản)
219. Tới chỉ = cuối
220. Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính

221. Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi ( trong đó tui = tôi )
222. Tui, qua = tôi
223. Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó
224. Tức cành hông = tức dữ lắm
225. Tháng mười mưa thúi đất
226. Thắng = phanh
227. Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ
228. Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói
230. Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm)

231. Thèo lẽo = mách lẻo ( Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! )
232. Thềm ba, hàng ba
233. Thí = cho không, miễn phí, bỏ ( thôi thí cho nó đi!)
234. Thí dụ = ví dụ
235. Thiệt hôn? = thật không?
236. Thọc cù lét, chọc cù lét = ??? làm cho ai đó bị nhột
237. Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó
238. Thôi hén!
239. Thơm = dứa, khóm
230. Thúi = hôi thối
231. Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác
232. Trà = Chè
233. Trăm phần trăm = cạn chén- (có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100%)
234. Trển = trên ấy (lên trên Saigon mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm)
235. Trực thăng = máy bay lên thẳng
236. Um xùm
237. Ứa gan
238. Ứa gan = chướng mắt
239. Vè xe = chắn bùn xe
240. Vỏ xe = lốp

241. Xả láng, sáng về sớm,
242. Xà lỏn, quần cụt = quần đùi
243. Xài = dùng, sử dụng
244. Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu
245. Xe cam nhông = xe tải
246. Xe hơi = Ô tô con
247. Xe nhà binh = xe quân đội
248. Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô (Xe đò lục tỉnh)
249. Xe Honda = xe gắn máy ( có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy?)
250. Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng ( Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăn gì hết)

251. Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút (tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh)
252. Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh
253. Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo)
254. Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ
255. Xía = chen vô (Xí! Cứ xía dô chiện tui hoài nghen! )
256. Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình ???? (gốc từ bài hát Tình anh lính chiến- Xuyên lá cành trăng lên lều vải)
257. Xiết = nổi ( chịu hết xiết = chịu hổng nổi = không chịu được)
258. Xỏ lá ba que = giống như chém dè (vè), tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu: “đừng có xỏ lá ba que nhe mậy”
259. Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… (ăn nói xỏ xiên)
260. Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi (gốc từ tựa bài hát Diễm xưa )

TONY

4-GIỌT BUỒN HỒ THỦ LỆ


4
GIỌT BUỒN HỒ THỦ LỆ
[Ngũ độ]

Nên hồ giữ lấy bờ mi lệ
Bởi đẹp nhưng buồn trong quãng xế
Khách sạn Hàn to những buổi về
Đường Kim Mã rộng nhiều câu kể
Mơ luồn kỷ niệm gối đầu kê
Mộng xõa thời gian dùng ảnh thế
Hỡi cánh ân tình đọng vẻ quê
Còn không lịm ngát hay đà trễ

Còn không lịm ngát hay đà trễ
Nẻo bụi che mờ hương cõi thế
Lậm gió ngờ nghi lỡ dở thề
Thêm lời bạc bẽo âm thầm kể
Trăng vàng giã biệt mối tình quê
Quãng bổng từ ly vành nguyệt xế
Lặng giữa tiêu điều thuở ái mê
Nên hồ giữ lấy bờ mi lệ*

HANSY
*Thủ Lệ= giữa hồ có dải đất lớn hình oval giống giọt nước mắt,
nên tên hồ hàm ý giữ lấy giọt lệ ở bên trong.
*
CHIỀU TRÊN HỒ THỦ LỆ
Nắng xoã dần buông hồ Thủ Lệ
Vương đầy kỷ niệm khi chiều xế
Bàn chân thiếu nữ thảnh thơi về
Giọng nói chàng trai thầm thĩ kể
Ngỡ đó thiên đường tuổi cặp kê
Ngờ trong cõi mộng nơi trần thế
Êm đềm dạo bước nẻo làng quê
Chẳng nhớ thời gian ù chậm trễ

Chẳng nhớ thời gian ù chậm trễ
Tìm quên nỗi khổ buồn nhân thế
Còn ai nguyện sống bởi câu thề?
Dẫu họ đang truyền bao tiếng kể
Đợi mãi chưa về ngắm cảnh quê
Mong hoài sẽ gặp nhìn dương xế
Theo dòng ảo vọng thẫn thờ mê
Nắng xoã dần buông hồ Thủ Lệ

Minh Hien

NHỚ


NHỚ

Nhớ chiều mới quen
Dáng nghiêng thỏ thẻ
Mắt tròn e lệ
Chúm chím môi cười.

Tiếng yêu thốt lời
Mà như gió thoảng
Trôi dài năm tháng
Vẫn mãi trong tim…

Ánh mắt lim dim
Chập chờn khúc huyễn
Líu lo quấn quyện
Thao thiết  nong tình.

Nồng nàn môi xinh
Ấp e vườn nguyệt
Mùa yêu diễm tuyệt
Ôi nhớ vô cùng…

HANSY

60.-GIÓ THOẢNG VỌNG RU


58
GIÓ THOẢNG VỌNG RU
[Thuận Nghịch-Bằng trắc]

Gió gửi lời ru khẽ vọng tình
Hương tràn nhuỵ toả ngát hồn linh
Đó người thương dõi say thầm cảnh
Kìa phận cảm mong nhớ mãi hình
Ngõ trước hoa ngời khoe vẻ đẹp
Hiên ngoài lụa thắm trải màu xinh
Cỏ cây trời mộng lừng tha thiết
Tỏ ước cùng trăng dụ dẫn mình

Mình dẫn dụ trăng cùng ước tỏ
Thiết tha lừng mộng trời cây cỏ
Xinh màu trải thắm lụa ngoài hiên
Đẹp vẻ khoe ngời hoa trước ngõ
Hình mãi nhớ mong cảm phận kìa
Cảnh thầm say dõi thương người đó
Linh hồn ngát toả nhuỵ tràn hương
Tình vọng khẽ ru lời gửi gió

HANSY

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2019

63-ỎNG EO


KHÔNG BIẾT THÌ LÀM SAO KIỂM TRA?


KHÔNG BIẾT
THÌ LÀM SAO KIỂM TRA?

TTCT - Trong bất cứ chế độ xã hội nào, năng lượng cung cấp cho hệ thống chính trị hoạt động đều bắt nguồn từ sự đóng góp của cải của toàn dân. Vì thế, ở đất nước ta mới có khái niệm “Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”.

Nhưng câu hỏi “Người dân ở đâu?” (Chọn lựa của xã hội - TTCT số 23, ngày 17-6-2007) đâu khác nào tiếng kêu thảng thốt dễ làm chùng lòng bao người.

Chẳng cứ gì trong việc này EVN đã phớt lờ “ông chủ dân” - những người đã miệt mài đóng góp, cả tiền lẫn máu, để họ có được cơ ngơi đàng hoàng, to đẹp như ngày hôm nay - mà trong quá khứ không ít lần, không ít việc khá nhiều “ông” khác từng “quên” hỏi ý dân, kể cả những ông dân rất to là Quốc hội.

Thật lạ lùng là các nhà quản lý cứ thì thầm với nhau, giấu giấu giếm giếm những việc chẳng có một tí gì gọi là “liên quan đến bí mật quốc gia”! Quyết định việc dân, việc nước mà cứ như là việc nội bộ của gia đình họ.

Nhà nước ta chủ trương tất cả là “của dân, do dân, vì dân”. Nhưng việc các ông lớn âm thầm biến tài sản của dân thành phần hùn của mình, lẳng lặng thành lập công ty mua bán điện duy nhất mà các ông là cổ đông nắm vận mệnh, tác động rất lớn đến quyền lợi toàn dân mà không thèm cho các đại diện dân biết một tí gì, liệu người dân sẽ nghĩ như thế nào về việc “nói không đi đôi với làm” này? Và người dân sẽ lấy gì để kiểm tra khi họ chẳng được nhà quản lý cho biết, cho bàn những việc liên quan sát sườn đến cuộc sống của chính họ?

TRẦN QUANG THẮNG 

ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ NGỤY BIỆN ĐANG LÂY NHIỄM


ĐẠO ĐỨC GIẢ VÀ NGỤY BIỆN
ĐANG LÂY NHIỄM

Một hãng tin phương tây vừa công bố kết quả cuộc khảo sát khá thú vị với nội dung “Tại sao chúng ta hành xử giống những người xung quanh”. Cuộc khảo sát đã phân tích những ảnh hưởng tốt, xấu của bạn bè, gia đình, cộng đồng xã hội đối với mỗi người mà thói quen bắt chước có thể làm thay đổi bản ngã của bất kỳ ai... Câu chuyện này khiến tôi bỗng nghĩ đến “thói quen vòi vĩnh” của công chức nước ta, cũng bắt nguồn từ cái sự “gần mực thì đen” khi mà những “ngọn đèn” không thể rạng được, thậm chí bị vùi dập, loại bỏ.

Tôi đã từng nghe một vị quan chức khá to cao giọng dạy bảo nhân viên phải sống, làm việc trung thực, nhân ái, có trách nhiệm, tránh xa những thói hư tật xấu... nhưng chính ông ta lại vừa bị công an bắt quả tang đang nhận hối lộ hàng trăm triệu đồng tại một quán nhậu, nhưng vẫn hung hăng: “Các anh bắt nhầm rồi!...”. Ông ta ngụy biện mọi lý do, ba hoa về cái sự liêm khiết của mình, rút điện thoại gọi cho ông A, bà B, tướng C... trình bày, nhờ can thiệp. Khám nhà ông, công an thu được khá nhiều vàng, USD và tại ngăn kéo bàn làm việc vẫn còn hàng chục phong bì tiền đút lót chưa kịp bóc dùng. Vụ án đang được mở rộng điều tra. Không ít người ngạc nhiên, kể cả cấp trên vì ông này thuộc diện quy hoạch, sắp được đề bạt lên một vị trí cao hơn, lý lịch trong sạch, tích cực tham gia chống tham nhũng và các hoạt động từ thiện...

Có người cho rằng vì biết sắp được lên ghế cao nên ông ta phải xoay xở “lót đường”cho nhanh... Nhưng theo tôi thì không hẳn vậy. “Thói quen kiếm chác” khi đã ngấm vào máu thì tiền cũng kích thích bộ não chẳng kém gì ma túy… Có điều mọi quan tham thời 4.0 đều rất tinh quái, biết che đậy mình bằng vỏ bọc hiền lành, liêm chính, cố tình tỏ ra giản dị, trung thực, nhân ái, lấy một phần tiền tham nhũng đi cứu trợ bão lụt, xây nhà trẻ cho làng nghèo... Lâu nay ta thường quan niệm “đạo đức giả” là “nói một đằng làm một nẻo”, tự đề cao những thứ mình không có, không làm, thậm chí che đậy sự xấu xa, độc ác. Với các quan tham thời nay “nói hay, làm cũng hay”, chỉ khác là làm để đánh bóng mình, lừa cấp trên, lừa thiên hạ chứ chẳng hề trong sáng vì lợi ích của xã hội. Không ai ngụy biện giỏi hơn các quan tham…

Nào là do biến đổi khí hậu, do tình hình thế giới, do quá nhiều việc, do nhu cầu cấp bách, phục vụ nguyện vọng của nhân dân... nên để xẩy ra tình trạng “đáng tiếc” như kiểu phát biểu của vị bộ trưởng khi nói về đoàn thanh tra bị bắt quả tang nhận hối lộ vừa rồi ở Vĩnh Phúc. Có lẽ ngài bộ trưởng quên mất quy định quan trọng của Đảng và Chính Phủ: Để xẩy ra tham nhũng, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm. “Đáng tiếc” hơn là ngay lập tức bộ này thành lập đoàn thanh tra mới, “khủng” hơn, tiếp tục thanh tra khi mà công an đang giữ toàn bộ hồ sơ để điều tra. Phải chăng đây là sự ngụy biện đầy cay cú nhằm “trả đũa” xã, huyện dám động đến quyên uy của một bộ to đùng. Dân chúng phì cười khi người ta dùng dao mổ voi của một bộ có mênh mông dự án khổng lồ để giết vài con nhặng ở xã mà vẫn cao giọng đạo đức giả rằng: - đã lập đoàn thanh tra thì phải làm cho xong, có kết luận đúng - sai . Trong khi có bao nhiêu công trình cao to ở ngay cạnh văn phòng bộ này sai phạm nghiêm trọng bao năm rồi vẫn ngang nhiên tồn tại.

Một vị tướng công an từng nói với tôi: - Thanh tra xây dựng, giao thông, quản lý thị trường... từ thấp đến cao đều từng xẩy ra tham nhũng bị xử lý khá nhiều, nhưng trắng trợn vòi vĩnh như vừa xẩy ra, bị bắt quả tang thì hơi hiếm. Thanh tra bộ xuống tận xã “cày ải” lại càng hiếm. Có cái gì đó khác hơn, lạ hơn là tỏ ra sâu sát của thói đạo đức giả và lối ngụy biện cùn. Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung Ương đã có chỉ thị phải rà soát thanh lọc hệ thống Thanh tra. Chắc sẽ có nhiều vụ lớn sẽ bị phanh phui. Những vỏ bọc đạo đức giả chỉ bị lột trần trước cán cân công lý với đủ chứng cứ khóa miệng lưỡi ngụy biện.

Đạo dức giả và ngụy biện thực chất là gian dối, che đậy sự xấu xa, sai lầm, bảo thủ, cố chấp… nhằm mục đích tự bảo vệ mình, đề cao mình và đối phó với công lý, với xã hội. Hầu hết những quan tham có chút ít chữ nghĩa đều sính đạo đức giả và “học thuyết ngụy biện” - Nói gì cũng quy về cái sự đúng đắn, tốt đẹp cho mình. Sai lớn ngụy biện lớn, sai nhỏ ngụy biện nhỏ. Người đứng đầu có “dũng cảm nhận trách nhiệm” thì cũng rất chung chung, nhận cho ra vẻ có đạo đức, xin lỗi để dân thương, vậy thôi! Mọi việc rồi lại vẫn như cũ, thậm chí càng cải cách càng tệ hơn, tốn kém hơn và càng biết cách ngụy biện khéo hơn. Ở nước ngoài một vị bộ trưởng vì vô tâm để cấp dưới yêu cầu một chuyến bay phải đợi mình, bị dư luận phê phán, đã vội vàng xin từ chức. Ở nước ta, một tổng giám đốc đã buộc một chuyến bay phải đợi bạn mình khá lâu mà còn ngụy biện là vì lý do nhân đạo… Lại có những vị dùng xe công ra tận sân bay đón vợ hoặc chở vợ đi cúng bái, đi sửa mắt xăm môi... cứ vô tư ngụy biện “tại nhân viên văn phòng tự ý làm, mình không hề biết gì”… Xem ra quy định “người đứng đầu phải chịu trách nhiệm” chỉ mới mang y nghĩa tượng trưng với ai đó, chứ bộ trưởng có trăm công nghìn việc quản sao nổi hàng chục vạn con người rải khắp đất nước!...

Một quan tham từng nói lời cuối trước tòa khi nhận án 30 năm tù: - Tôi đã bị cuốn vào cơn lốc gian dối, tha hóa... mà vẫn được thăng tiến trọng dụng nên phải giả vờ đạo mạo, giả vờ nghiêm minh, ngụy biện với cấp trên để được tin cậy hơn, tiêu xài thoải mái hơn. Cứ nghĩ, người như mình còn ai dám động đến... Đây là lời sám hối của tôi cũng có thể là lời ngụy biện cuối cùng: Xin tòa hãy xét đến truyền thống của gia đình, dòng họ với những đóng góp của chúng tôi cho đất nước mà khoan hồng giảm hình phạt cho kẻ đạo đức giả này còn được sống làm người tự do khi hết hạn tù…
Sống cao thượng, sống đẹp ai cũng mong muốn. Nhưng sống thế nào được coi là đẹp hẳn đã có chuẩn mực chung cho mọi cộng đồng xã hội nên mới có câu ngạn ngữ sâu sắc “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Khi một bộ phận cộng đồng “nhiều mực ít đèn” thì ảnh hưởng không nhỏ đến cách sống của bất cứ ai sinh ra và lớn lên trong bộ phận cộng đồng đó, mà sự gian dối là đặc trưng của thói quen đạo đức giả và ngụy biện, rất dễ tiêm nhiễm vào bản ngã của lớp trẻ, chiếm đoạt sự ngây thơ trong sáng. Bệnh thành tích, quá coi trọng bằng cấp đã dung dưỡng thầy cô, học trò và cả cha mẹ có những hành vi gian dối, lo lót, che đậy, và thế là kéo nhau cùng sống đạo đức giả, cùng ngụy biện, và rồi đến tham nhũng nhanh lắm…

Gia đình, trường học, bạn bè, tổ chức, truyền thông, văn học... luôn là chỗ dựa tinh thần cho thanh thiếu niên. Sống thế nào, học tập ai, học tập những gì... Lớp trẻ thời @ đọc vị nhanh lắm, bắt chức nhậy lắm. Yêu sớm, thực dụng sớm, đạo đức giả sớm, ngụy biện cũng sớm. Ví như một cậu ấm vòi tiền: - “Thời bố mẹ khác, chúng con khác! Không có bộ cánh xịn, không có xế hộp, dế chảnh, không có ái tình phí thì đừng yêu...”. Lại có chuyện một giám đốc tự hào khoe con trai ông không hề vòi tiền bố mẹ mà tự kiếm tiền bằng cách bán hàng qua mạng, sống hiền lành ngoan ngoãn lắm. Tìm hiểu kỹ mới biết cậu ta chuyên bán hàng cho những đối tác và nhân viên của bố mình với giá gấp đôi gấp ba mà họ vẫn vui vẻ mua. Một cách kiếm tiền hợp pháp từ những kẻ tham nhũng quyền lực.

Suy cho cùng gian dối, tham nhũng sản sinh ra thói đạo đức giả và đủ thứ giả, mà ngụy biện là thứ lý luận giả nguy hiểm nhất, làm băng hoại những giá trị đạo đức quý báu. Dù chỉ một bộ phận cộng đồng có đặc quyền đặc lợi thường hay đạo đức giả và ngụy biện, nhưng nó chi phối xã hội rất lớn và lây nhiễm rất nhanh, rất cần sự lên án mạnh mẽ của toàn dân, đặc biệt là truyền thông, báo chí, văn học nghệ thuật

VÕ KHẮC NGHIÊM