Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

CÓ MỘT GIẤC MƠ


CÓ MỘT GIẤC MƠ

Hỡi người tình ngút thẳm chốn xa xôi
Không ngăn được khi men nồng dậy sóng
Cả không gian chỉ là trong tầm ngắm
Khi dắt em vào giấc mộng của đời ta!

Hỡi người tình dấu ái giữa bao la
Ngăn cách mấy vẫn gần trong nhung nhớ
Đêm mơ nồng em về theo tình tự
Điệu Nghê thường ngan ngát cả hồn yêu.

Hỡi người tình mỏng mảnh tấm thân kiều
Em ngọt lịm trong vòng tay si dại
Hương lửa ái ân, mộng vàng luyến mãi
Cho đôi mình tan chảy giữa mùa thương.

Hỡi người tình mát ngọt một tâm hồn
Phả ấm dịu trên đời ta lạnh lẽo
Thơm thảo hương lòng. Và dìu đi khắp nẻo
Để phiêu bồng mãi mãi chốn trần gian.

Hỡi người tình hò hẹn đã ngàn năm
Từ tiền kiếp trôi dài qua hậu kiếp
Nóng bỏng giấc mơ tình quyện lòng bất diệt
Lửa mặn nồng ân ái giữa EM – TA...

HANSY

KHÚC GIANG ĐẦU


KHÚC GIANG ĐẦU
[Láy]

Nào gieo thổn thức dậy nong sầu
Nẻo cũ âm thầm lặng bước sâu
Khập khiễng men tình đau khúc tửu
Triền miên lốc bão lụy chân cầu
Thì thôi hãy bớt tèm nhem lệ
Đã vậy xin dừng thảm thiết ngâu
Lộng lẫy nhan hồng thêm khốn khổ
Trầm hương rộn rã thuở yêu đầu

Trầm hương rôn rã thuở yêu đầu
Khắc khoải mơ về rã giọt ngâu
Tím rịm chiều loang buồn mọi lối
Đìu hiu mộng hẻo rớt bên cầu
Còn theo bóng nhạn trời hoang hoải
Mãi đợi son làn nẻo sắc sâu
Lặng lẽ mưa về vang giọt thảm
Trầm ngâm nghẹn giữa tiếng tơ sầu

HANSY –  QUẾ ANH

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019

Bình MÙA XUÂN MONG -Trần Dzạ Lữ


MÙA XUÂN MONG 

Người đi rồi – còn đâu vòng nguyệt quế
Nắng lụa vàng trôi theo nhớ thương ai?
Chiều lênh lang – ta cõng mộng đi hoài
Lưới cứ bủa mà tình không phải thế!

Ôi mùa xuân sao chim bay mau thế
Khi yêu người cứ tưởng núi kề sông
Ta đâu biết núi vẫn đời hoài vọng
Sông cứ buồn xuôi những chuyến tình không…

Ta đâu biết lần cầm tay để mất
Môi vừa hôn là khách lạ nhau rồi
Tóc quấn quýt cho hồn thêm đắm đuối
Để khi về nghĩ chuyện trăng vơi…

Bây giờ lỡ, người về phương hướng khác
Chuyện ngày xưa là giọt sương tan
Chiều mơ phai cuối trời ta đứng lại
Chợt thương mình còn nửa trái tim mong…
 

TRẦN DZẠ LỮ

***************** 

Mùa Xuân – thường được ví cùng với sự khởi đầu của hy vọng sáng tươi, lung linh và đầy hứa hẹn. Có những mùa Xuân của đất trời và cả những mùa Xuân của lòng người. Mà Xuân thì thường luôn ắp đầy mơ ước, xôn xao… 
Thế còn MÙA XUÂN của TRẦN DZẠ LỮ thì nhà thơ MONG gì trong đó? 

Người đi rồi – còn đâu vòng nguyệt quế
Nắng lụa vàng trôi theo nhớ thương ai?
 

Ôi, cánh cửa mở vào bài thơ sao mà da diết và nặng lòng đến thế. Những âm ba rên xiết, đớn đau của hoài vọng cứa nát tâm hồn của kẻ tình si, lạc lõng giữa góc đời chung thuỷ nhỏ nhoi, hiếm hoi và tội nghiệp. 

Chiều lênh lang – ta cõng mộng đi hoài
Lưới cứ bủa mà tình không phải thế!
 

Tất cả đã mù xa vào cuối trời hư ảo! Hết thật rồi những hương lửa của tình thơ! Nào còn đâu những sớm những trưa, những đan dệt của lâu đài tình ái. Nào còn đâu dấu xưa nhung lụa, của đài trang trong rạng rỡ men tình. Tỉnh cuộc mộng du quạng quờ tìm ngai bệ. Nguyệt quế ơi, sao nỡ biến thành gai nhọn xước tim này… 

Ôi mùa xuân sao chim bay mau thế
Khi yêu người cứ tưởng núi kề sông
Ta đâu biết núi vẫn đời hoài vọng
Sông cứ buồn xuôi những chuyến tình không…
 

Dẫu đã cố hết sức để gắng đưa chữ – XUÂN – vào bài thơ cho đỡ tủi cái nhan đề, nhưng có lẽ lực bất tòng tâm, nên vẫn không vực dậy được những khắc khoải thương đau trong nghẹn ngào nuối tiếc đã phủ tang buồn lên cả hồn thơ. Bởi những cái “tưởng” ngày nao giờ tan chảy lẹ làng như những hạt cát nhanh chóng luồn qua kẻ tay mà biến chìm trong huyễn ảo. Núi–Sông vẫn còn đó bên nhau nhưng chỉ là hình hài mường tượng trong tâm tưởng của kẻ chung tình, chứ dạ sông đã xuôi về biển cả nảo nào nao… 
Ôi! Đồng sàng dị mộng mất rồi! 

Ta đâu biết lần cầm tay để mất
Môi vừa hôn là khách lạ nhau rồi
Tóc quấn quýt cho hồn thêm đắm đuối
Để khi về nghĩ chuyện trăng vơi…
 

Tình yêu làm con tim mù loà, ngớ ngẩn, chẳng biết đâu là thực giả giữa giông đời. Vừa trao thề đã chớm rạn chia ly, môi chưa xiết đã nghe mùi gian dối. Điệp khúc mùa thương chen lầm vài phỉnh nịnh, để ngỡ ngàng khi chợt lặng giữa trời hoang… 

Bây giờ lỡ, người về phương hướng khác
Chuyện ngày xưa là giọt sương tan
Chiều mơ phai cuối trời ta đứng lại
 

Cũng đành thôi, gác lại những mơ màng. Vòng nguyệt quế trở thành ngàn kẽm gai bén nhọn giết hồn đau trong nuối tiếc vô bờ. Mộng lớn quá làm sao mang vác mãi được. Thôi thì thôi, sức kiệt lực tàn. Trở giấc liêu trai bàng hoàng tỉnh thức. Rệu rã tâm hồn, mục nát tim gan, gục xuống bên đời trong niềm đớn lạnh. Nhưng đốm lửa tình kia vẫn bướng đầu sót lại, cố loe lên chút nắng cuối cùng tội nghiệp: 

Chợt thương mình còn nửa trái tim mong… 

HANSY
 



Bài 3: THÔN TÍNH HOÀNG SA NƯỚC CỜ ĐẦU TIÊN CỦA TRUNG QUỐC NHẰM ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG


Bài 3
THÔN TÍNH HOÀNG SA
NƯỚC CỜ ĐẦU TIÊN CỦA TRUNG QUỐC
NHẰM ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG

Sơ đồ tác chiến của Hải quân Việt Nam Cộng hòa trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-20 tháng Giêng năm 1974, ảnh do Tiến sĩ Trần Công Trục cung cấp.
Cách đây 45 năm, sau "cú bắt tay Thượng Hải" năm 1972 và lợi dụng tình thế quân đội Mỹ buộc phải rút khỏi Niềm Nam Việt Nam, Trung Quốc đã huy động lực lượng xâm lược, cưỡng chiếm các đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm, phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, lúc đó đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý theo tinh thần Hiệp định Geneva 1954. 

Gây ra cuộc chiến xâm lược này, Trung Quốc đã hoàn thành giai đoạn đầu của chiến lược độc chiếm Biển Đông, dùng Biển Đông làm bàn đạp vươn lên tranh giành vị trí siêu cường quốc tế. 

Những bước tiến xuống Biển Đông có thể dược giới nghiên cứu ví như là  những “nước cờ” bất minh mà Trung Quốc đã tính toán để thực hiện trong bàn cờ Biển Đông.  

Toan tính thời cơ xâm lược nốt Hoàng Sa nằm trong kế hoạch dài hơi độc chiếm Biển Đông

Đầu những năm 1970, quan hệ quốc tế liên tục biến động và có nhiều thay đổi. Đặc biệt là trong chuyến “công cán lịch sử” đến Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972, Mỹ và Trung Quốc đã làm thay đổi cục diện bàn cờ quốc tế.

Nhiều quốc gia, dân tộc đã trở thành con cờ trong tay của 2 tay chơi mới đang hùa nhau chống lại Liên Xô.

Washington đã thỏa thuận không can thiệp khi Trung Quốc cất quân xâm lược nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, điều này được ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống chính thể Việt Nam Cộng hòa, đại diện Việt Nam quản lý 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa theo Hiệp định Geneva 1954, đã tiết lộ.

Thậm chí ông Thiệu đã tiên liệu rằng, sau khi thôn tính xong quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc sẽ đánh chiếm quần đảo Trường Sa bằng vũ lực giống như những gì họ đã làm ở Hoàng Sa, có sự tiếp tay hoặc làm ngơ (passer faire) của Mỹ.

Vào đầu năm 1974, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn đoạn cuối.

Trước đó, do bị thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973), công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút hết quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam.

Theo đó, Hạm đội 7 của Mỹ rút khỏi Biển Đông. Lợi dụng cơ hội này, Trung Quốc đã huy động lực lượng quân sự hùng hậu tiến hành đánh chiếm nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa do Hải quân Việt Nam Cộng hoà đang bảo vệ, quản lý.

Đây là sự nối tiếp của những “nước cờ” đã được sắp đặt từ trước.

Mở đầu là sự kiện năm 1909, Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 3 pháo thuyền ra khu vực quần đảo Hoàng Sa, đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm, sau đó phải rút lui vì sự hiện diện của quân đội viễn chinh Pháp, lực lượng được Chính quyền Pháp giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý, thực thi chủ quyền tại quần đảo này nhân danh Nhà nước Việt Nam đương thời. 

Tiếp đến, năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân đội Nhật Bản thua trận trong Thế chiến 2 , chính quyền Trung Hoa Dân quốc (Tưởng Giới Thạch) đưa lực lượng ra chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa.

Khi Trung Hoa Dân quốc bị đuổi khỏi Hoa lục chạy ra Đài Loan, họ phải rút luôn số quân đang chiếm đóng bất hợp pháp ở phía Đông quần đảo Hoàng Sa. 

Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Geneva và trong khi chính quyền miền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa theo Hiệp định này, Trung Quốc đã thừa cơ đưa quân ra chiếm đóng bất hợp pháp nhóm đảo An Vĩnh, phía Đông quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 21/02/1959, Bắc Kinh cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa hòng chiếm đóng nhóm Lưỡi Liềm, phía Tây quần đảo Hoàng Sa.

Lực lượng Việt Nam Cộng hòa đồn trú giữ Hoàng Sa đã ngăn chặn kịp thời, 82 “ngư dân” và 5 thuyền đánh cá vũ trang của Trung Quốc bị bắt giữ và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng. Sau đó được trao trả theo đúng thủ tục ngoại giao.

Cuộc xâm lược Hoàng Sa được Trung Quốc bày binh bố trận và chuẩn bị rất kỹ.
Điều này đã từng được ký giả người Anh, ông Bill Hayton đã mô tả rất rõ cho thế giới biết qua cuốn sách "Biển Đông: Cuộc chiến quyền lực ở châu Á", được đăng tải trên cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân huyện Hoàng Sa.

Những ngày trước khi diễn ra cuộc chiến xâm lược Hoàng Sa ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã bí mật bày binh bố trận, đổ bộ lên mộ số đảo, đồng thời ráo riết dọn đường dư luận cho cuộc xâm chiếm bằng sức mạnh của họ. 

Diễn biến cụ thể chi tiết của Hải chiến Hoàng Sa đã được Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đăng tải, bạn đọc quan tâm có thể tìm đọc.

Bản chất hải chiến Hoàng Sa là cuộc chiến Trung Quốc xâm lược lãnh thổ, vai trò giữ chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa dưới ánh sáng pháp lý quốc tế
Hải quân Sài Gòn đã chiến đấu bảo vệ quần đảo Hoàng Sa trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 là hoàn toàn chính nghĩa, phù hợp với Luật pháp và Thực tiễn quốc tế.  
Bởi lẽ quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, khi chúng còn là đất vô chủ, ít nhất là từ thế kỷ XVII.

Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, liên tục, hòa bình và rõ ràng. Việt Nam hoàn toàn có cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý để khẳng định và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình, đáp ứng đủ  những điều kiện mà nguyên tắc chiếm hữu thật sự đòi hỏi. 

Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là phi pháp, vi phạm luật pháp quốc tế. 

Hành động đánh chiếm các đảo trong quần đảo ở Biển Đông bằng vũ lực là một sự vi phạm nghiêm trọng Điều 2, Khoản 4 của Hiến chương Liên Hơp Quốc, trong đó cấm các quốc gia sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là cấm sử dụng vũ lực để xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia khác. 

Nội dung điều khoản này trong Hiến chương Liên Hợp Quốc là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đòi hỏi tất cả các nước thành viên của Tổ chức Liên hợp quốc, trong đó có Trung Quốc, phải tuân thủ.

Nguyên tắc này được phát triển và cụ thể hoá trong Nghị quyết 2625 ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc trong đó quy định:

“Các quốc gia có nghĩa vụ không đe doạ hay sử dụng vũ lực để vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác, hay (coi đe doạ hay sử dụng vũ lực) như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả những tranh chấp về đất đai và những vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia”.

Hành động Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa năm 1956 và chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo này năm 1974 thực chất là một hành động xâm lược lãnh thổ của Việt Nam bằng vũ lực.

Theo luật pháp quốc tế việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa không tạo ra được chứng cứ pháp lý để khẳng định yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo, đá mà họ đã dùng vũ lực để chiếm đoạt.

Nghị quyết 2625 ngày 24/10/1970 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc được trích dẫn ở trên đã nêu rõ:

“Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe doạ hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.

Hành động xâm lược nói trên không bổ sung vào bộ hồ sơ pháp lý về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Những hành động như vậy đã bị cộng đồng quốc tế lên án mạnh mẽ và chắc chắn sẽ bị các cơ quan tài phán quốc tế bác bỏ một khi chúng được đưa ra tòa án quốc tế nhằm minh chứng cho yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược

Lịch sử đã chứng minh, nước mất thì nhà tan, chủ quyền, lãnh thổ thường bị ngoại bang xâm phạm; khi Đất Nước bị chia cắt, khối đoàn kết Dân tộc bị suy giảm.

Khi mà trên dưới không đồng lòng; khi có sự tranh giành lợi ích, địa vị… giữa các cá nhân và nhóm lợi ích; khi có sự phân biệt chia rẽ trong nội bộ của một quốc gia, giữa các quốc gia, khu vực và quốc tế vì những tính toán ích kỷ, vụ lợi...thì các nước nhỏ sẽ trở thành miếng mồi cho các nước lớn xâu xé.

Ngược lại, đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn nguy hiểm đến đâu.

Sau năm 1954, do bối cảnh lịch sử Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền Nam, Bắc chờ tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneva, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam tiếp nhận sự bàn giao của Pháp, tiếp tục thực thi chủ quyền đầy đủ và liên tục đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thông qua việc cắt quân đồn trú, thị sát, quản lý, thành lập đơn vị hành chính.

Cả 4 lần Trung Quốc đem quân thôn tính Hoàng Sa (1909, 1956,1959 và 1974) đều là thời điểm Việt Nam đang phải đối mặt với chiến tranh.

Năm 1974, những người con đất Việt trong hàng ngũ Hải quân Việt Nam Cộng hòa có mặt trong trận Hải chiến không cân sức này đã chiến đấu và ngã xuống để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam.

Trong bối cảnh lịch sử lúc đó, lập trường chính trị 2 miền có thể khác nhau, nhưng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, việc các anh đã chiến đấu, ngã xuống là nhằm  bảo vệ chủ quyền của người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam ở Hoàng Sa.

Vì vậy, họ cần được ghi nhận và tôn vinh vì những giọt máu đổ xuống chính là bằng chứng của quá trình Nhà nước Việt Nam thực thi chủ quyền liên tục đối với quần đảo này trong suốt chiều dài lịch sử.

Nếu thiếu một sự tôn vinh và ghi nhận xứng đáng, chúng ta sẽ để mất một bằng chứng pháp lý có giá trị trong đấu tranh ngoại giao và pháp lý nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia, đồng thời bác bỏ các yêu sách vô lý và thủ đoạn chia rẽ nội bộ ta trong vấn đề Biển Đông từ phía đối phương chỉ vì những khác biệt về mặt lập trường, quan điểm.

Sáng 29/12/2018, tại thủ đô Phnom Penh, đã diễn ra Lễ khánh thành Tượng đài Thắng - Thắng, kỷ niệm 20 năm kết thúc nội chiến và thực hiện thành công chính sách Thắng - Thắng dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia Samdech Techo Hun Sen.

Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen nêu bật ý nghĩa to lớn của việc thực hiện chính sách Thắng - Thắng trong công cuộc kiến tạo hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc cho đất nước Campuchia.

Đối với sĩ quan, binh lính và những người ủng hộ Khmer Đỏ quy hàng, Chính phủ bảo đảm về an toàn tính mạng, nghề nghiệp, tài sản, đồng thời tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập với đời sống xã hội.

Chỉ sau hai năm thực hiện từ 1996-1998, hầu hết các cựu chỉ huy Khmer Đỏ cùng binh lính và gia đình đã chính thức giao nộp vũ khí, xin được đứng dưới ngọn cờ hòa hợp dân tộc của Thủ tướng Hun Sen và Đảng Nhân dân Campuchia.

Chưa cần nhìn tới nước Đức xa xôi, ngay người bạn láng giềng của chúng ta là một minh chứng hùng hồn cho sức sống của triết lý, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhiễu điều phủ lấy giá gương.

Những diễn biến trên bán đảo Triều Tiên năm qua cũng đang cho thấy, lợi ích quốc gia và dân tộc nếu thực sự được đề cao, những khó khăn về lập trường, nhận thức rồi cũng sẽ vượt qua, và dân tộc ấy, quốc gia ấy sẽ trở nên cường thịnh.

Nhân 45 năm ngày Hoàng Sa bị Trung Quốc thôn tính, chúng tôi viết vội mấy dòng như một nén tâm hương tưởng niệm anh linh 74 người lính đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.

Chúng tôi cũng bồi hồi tưởng nhớ đến tất cả các bậc tiên liệt, đồng bào chiến sĩ đã ngã xuống để bảo vệ non sống gấm vóc của dải đất hình chữ S này, xương máu cha anh đã hóa hồn thiêng sông núi, và gửi gắm hy vọng vào thế hệ hôm nay, thế hệ tương lai.

Tiến sĩ Trần Công Trục

DIỄM HƯƠNG


220
DIỄM HƯƠNG
[Điệp ngữ-Láy]

Diễm hương phảng phất diễm hương bày
Vũ khúc mơ màng vũ khúc bay
Chan chứa môi nồng chan chứa mẩy
Thiết tha ái lịm thiết tha dày
Mùa vui rộn rã mùa vui nhảy
Giấc bổng êm đềm giấc bổng lay
Trăng gió la đà trăng gió quẩy
Mộng tình khấp khởi mộng tình say

Mộng tình khấp khởi mộng tình say
Khúc hát lan tràn khúc hát lay
Chung thủy ân cần chung thủy dậy
Ái ân nũng nịu ái ân dày
Đừng phai lả lướt đừng phai chạy
Cứ bổng tưng bừng cứ bổng bay
Dào dạt trầu cau dào dạt ấy
Diễm hương phảng phất diễm hương bày

HANSY

MỘNG NẨY

Nỗi nhớ trong đêm nỗi nhớ bày
Chập chờn gió vẫy chập chờn bay
Từng cơn quặn xé từng cơn đẫy
Mấy đợt giằng co mấy đợt dày
Cung dạ chao chùng cung dạ nhảy
Quãng lòng quấn đảo quãng lòng lay
Hồn mơ thổn thức hồn mơ dậy
Giữa mộng dâng lùa giữa mộng say

Giữa mộng dâng lùa giữa mộng say
Mắt nồng cảnh huyễn mắt nồng lay
Lời êm dạ ước lời êm đẫy
Tiếng ngọt lòng mơ tiếng ngọt dày
Phiêu lãng cung tình phiêu lãng quậy
Lãng bồng điệu ái lãng bồng bay
Làm cho khúc dạ làm cho dậy
Nỗi nhớ trong đêm nỗi nhớ bày.

Hà Thu

NHỮNG CUỘC TÌNH THƠ


NHỮNG CUỘC TÌNH THƠ

Tình giữa Net, người cho hư ảo
Bởi lắm khi điên đảo, trắng đen
Thế mà đẫm ngát nồng men
Cũng nhung nhớ suốt, cũng kèn cựa nhau.

Nào hứa hẹn trầu cau cưới hỏi
Khát trông chờ trao gởi lòng tin
Nhắc câu sau trước giữ gìn
Hợp tan mấy bận, lại vin níu hoài.

Khi thất tình, mệt nhoài tâm trạng
Lúc chia tay, chán nản dòng thơ
Trí mông lung, mắt thẫn thờ
Còm-măng[1] chệch choạc,
pốt[2] ngơ ngác hồn.

Tình thơ đẹp, dẫu không chăn gối
Kỷ niệm lòng phơi phới ngàn năm
Nhiều đôi rạng rỡ trăng rằm
Óp-lai[3] mấy buổi đã khăng khít đời…

HANSY
[1]comment-[2]post-[3]offline

VỌNG NUỐI


VỌNG NUỐI
[Thuận Nghịch độc]

Nhiều thiết thảm vây úa quạnh đời
Tủi lòng chao dạ buốt nguyền rơi
Phiêu phờ rụi ước mơ tàn vợi
Mệt mỏi chìm hoan mộng ngoảnh rời
Kiều dỗi ái đơn thuyền xám đợi
Gió hờn tim lạnh bến mờ vơi
Xiêu hồn lạc xót đau tình hỡi
Chiều vọng ảo thương nuối nghẹn lời

Lời nghẹn nuối thương ảo vọng chiều
Hỡi tình đau xót lạc hồn xiêu
Vơi mờ bến lạnh tim hờn gió
Đợi xám thuyền đơn ái dỗi kiều
Rời ngoảnh mộng hoan chìm mệt mỏi
Vợi tàn mơ ước rụi phờ phiêu
Rơi nguyền buốt dạ chao lòng tủi
Đời quạnh úa vây thảm thiết nhiều

HANSY

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

Bài 2: TRUNG QUỐC ÂM MƯU THÔN TÍNH HOÀNG SA TỬ HỘI NGHỊ GENEVA 1954

Bài 2
TRUNG QUỐC ÂM MƯU 
THÔN TÍNH HOÀNG SA
TỬ HỘI NGHỊ GENEVA 1954

Ngày 19/1/2019 là tròn 45 năm kể từ khi Trung Quốc xâm lược nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Song theo người viết, có lẽ ít ai để ý cuộc chiến này đã được Bắc Kinh chuẩn bị từ Hội nghị Geneva 1954.

Tại Geneva, vấn đề gây nên tranh cãi nhất trong việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương chính là vạch giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt Việt Nam.

Chu Ân Lai (phải) gặp Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Pháp Mendès France (trái) tại Hội nghị Geneva 1954, ảnh: Getty.
Đối với Việt Nam Dân chủ cộng hòa, lập trường ban đầu là vĩ tuyến 13, sau lui ra vĩ tuyến 14 rồi chốt ở vĩ tuyến 16.

Tuy nhiên, phái đoàn Pháp không chấp nhận giải pháp này, mặc dù họ đã lui dần từ vĩ tuyến 19 xuống 18, thậm chí là 17,5 theo gợi ý của Mỹ.

Trước đó, phe Đồng minh đã sử dụng vĩ tuyến 16 làm ranh giới để giải giáp quân Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, lựa chọn này cũng phù hợp tương quan kiểm soát thực tế của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội Pháp trên chiến trường.

Thế nhưng phái đoàn Quốc gia Việt Nam muốn giới tuyến phải nằm phía bắc Huế, nơi có lăng tẩm của tổ tiên Quốc trưởng Bảo Đại, trong khi vương quốc Lào muốn có lối ra biển mà quốc lộ 9 chính là con đường ngắn nhất và thuận tiện nhất.

Để đảm bảo hành lang an toàn cho lối đi này, đường giới tuyến phải ở phía Bắc của quốc lộ 9.

Trên thực địa, cách đường 9 khoảng 10km về phía Bắc có con sông Hiền Lương, là điều kiện tự nhiên lí tưởng dùng để làm ranh giới phân cách đôi bên tham chiến và nó trùng với vĩ tuyến 17.

Tuy nhiên, với vị thế của Lào và Quốc gia Việt Nam lúc đó thì áp lực của họ khó có đủ sức nặng để buộc đại diện phái đoàn Pháp phải đấu tranh cho bằng được vĩ tuyến 17, nhất là khi phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa chấp nhận vĩ tuyến 16 với nhượng bộ:

1. Đà Nẵng có thể do phía Pháp bảo lưu thêm một thời gian, ví dụ một năm.
2. Lào có thể lợi dụng đường số 9 để ra biển.
3. Cố đô Huế có thể mở cửa cho hoàng tộc, để cho họ tảo mộ (như tác giả Tiền Giang - /Qian Jiang – đã đề cập trong cuốn “Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève 1954”, 2005), mà đơn giản là vĩ tuyến 17 trùng hợp với quan điểm của Mỹ, Pháp và đặc biệt là ý đồ của Trung Quốc.

Trong cuộc gặp ở Liễu Châu để thống nhất lập trường giữa hai nước Việt - Trung (đầu tháng 7/1954), dù hứa với Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ hết sức cố gắng để đạt được vĩ tuyến 16, nhưng trước khi chia tay, Chu Ân Lai (Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng, Trưởng đoàn Trung Quốc tham dự Hội nghị Geneva) lại xin được linh hoạt vì đường sá xa xôi, không kịp trao đổi!

Hồi ký “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết:
“Trước lúc đoàn ta ra về, đồng chí Chu nói với Bác: “Tôi sẽ bàn với đồng chí Môlôtốp (Ngoại trưởng Liên Xô - người viết chú thích) hết sức cố gắng thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ tịch.

Vì ở xa không có điều kiện trao đổi, nếu việc đấu tranh xác định ranh giới tạm thời gặp khó khăn, vạn bất đắc dĩ phải chọn vĩ tuyến 17”.

Điều này xác quyết rằng, Trung Quốc quyết định chọn vĩ tuyến 17 và muốn “gài” Việt Nam vào thế đã rồi.

Nếu nhìn đơn giản, vĩ tuyến 16 hay 17 đối với Pháp và Trung Quốc không quan trọng, bởi đó không phải đất của hai quốc gia này và nhất là khi họ đã xem Việt Nam Dân chủ cộng hòa ở giữa làm “trái độn”.

Việc Trung Quốc không “giúp” Việt Nam Dân chủ cộng hòa nhằm phục vụ ý đồ sâu xa của Bắc Kinh đối với Hoàng Sa, khi gần như toàn bộ quần đảo này (ngoại trừ đảo Tri Tôn và Đá Bắc) nằm gọn trong vĩ tuyến 16 đến vĩ tuyến 17.

Như vậy, sự dịch chuyển vị trí giới tuyến quân sự tạm thời từ vĩ tuyến 16 lên 17 không chỉ là 200 km từ Đà Nẵng ra sông Hiền Lương, gồm tỉnh Thừa Thiên Huế và phần lớn Quảng Trị trên đất liền, mà còn cả quần đảo Hoàng Sa ngoài biển.

Với vĩ tuyến 16, Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẽ là chủ thể quản lý quần đảo Hoàng Sa chờ ngày tổng tuyển cử theo tinh thần Hội nghị Geneva.

Điều này Trung Quốc nắm rất rõ bởi sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, theo quy định của Hội nghị Potsdam, song song với việc vào bắc vĩ tuyến 16, quân Trung Hoa Dân quốc đã có mặt ở Hoàng Sa để giải giáp quân Nhật và chỉ vừa rút khỏi quần đảo này vào tháng 4/1950.

Khi sự tương đồng ý thức hệ đóng vai trò chủ đạo, chi phối quan hệ giữa hai nước thì việc Trung Quốc ra tay chiếm đoạt Hoàng Sa từ Việt Nam Dân chủ cộng hòa sẽ khó có thể xảy ra.

Nhưng nếu chọn vĩ tuyến 17 làm giới tuyến, quần đảo này do phía đối địch với đồng minh của mình quản lý, mọi việc sẽ thuận lợi hơn cho Bắc Kinh.

Nhìn lại quá trình bành trướng của Trung Quốc xuống Hoàng Sa từ năm 1909, nhất là sau khi đề nghị của Liên Xô chuyển giao chủ quyền quần đảo này từ Nhật Bản qua Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Hội nghị San Francisco 1951 và bị bác bỏ, mới thấy thâm ý của Trung Quốc ở Hội nghị Geneva.

Với việc đẩy Hoàng Sa ra khỏi tay Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngay từ Hội nghị Geneva, Trung Quốc đã chuẩn bị xong điều kiện “cần” để xâm lược quần đảo này.
Trên thực tế, chỉ chưa đầy 2 năm sau Hiệp định Geneva, lợi dụng lúc Pháp rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, Trung Quốc đưa quân chiếm một nửa phía Đông quần đảo Hoàng Sa.

Và cuộc chiến xâm lược nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa năm 1974 chính là bước đi cuối cùng để hoàn thành ý đồ đã được vạch ra từ Hội nghị Geneva 1954.

Phó giáo sư Tiến sĩ Hoàng Chí Hiếu



Bài 1: BỐI CẢNH VÀ DIẾN BIẾN HẢI CHIẾN HOÀNG SA – 1974

Bài 1
BỐI CẢNH VÀ DIẾN BIẾN
HẢI CHIẾN HOÀNG SA – 1974


Ngày 11/01/1974, các sĩ quan Nam Việt Nam nhận được báo cáo về những động thái của Trung Quốc trên hai hòn đảo của Nam Việt Nam thuộc quần đảo Hoàng Sa. Hai ngày sau, Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn phái hai tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 và Trần Khánh Dư HQ-4 tới thám sát.

HQ- 16 tới đảo Hữu Nhật (Robert Island) vào 16/1 và nhận thấy đảo này đã bị “ngư dân” Trung Quốc, từ hai thuyền đang neo tại bãi ven đảo, chiếm đóng. Chỉ huy tàu HQ – 16 lệnh cho những người Trung Quốc rời đảo và bắn thị uy để họ hiểu ý định của ông. Sau đó họ bắn và phá hủy các lá cờ Trung Quốc và một khu vực chế biến cá mà những “người đánh cá” triển khai 6 ngày trước đó. HQ – 4 tới Hoàng Sa ngày 17/1 và phái một đơn vị đặc nhiệm SEAL của Nam Việt Nam lên đảo Hữu Nhật và đảo Quang Ảnh (Money Island) gần đó để nhổ những cờ Trung Quốc. Ngày 18/1, hai tàu chiến của Nam Việt Nam đuổi một tàu đánh cá bằng lưới rà của Trung Quốc, buộc con tàu bị phá hủy nặng nề này phải rời vùng biển. Sau đó các tàu khu trục Trần Bình Trọng HQ-5 và tàu quét mìn Nhật Tảo HQ-10 tới Hoàng Sa.

Sài Gòn nghĩ rằng đã chặn được nỗ lực trong suốt 6 tháng liền của Bắc Kinh nhằm chiếm nửa phía tây của Hoàng Sa. Những “ngư dân” có vũ trang của Trung Quốc trước đó hầu như đã đẩy được các ngư dân Nam Việt Nam ra khỏi vùng biển Hoàng Sa, và ít nhất có hai tàu đánh cá Trung Quốc đã bị phát hiện đang hoạt động tại vùng nước mà Nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Nhưng biến động gần nhất này của Trung Quốc lại là khởi đầu của một giai đoạn mới trong nỗ lực nhằm chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Lần này, những “ngư dân” Trung Quốc là thành viên của lực lượng Dân quân biển  – một lực lượng bán vũ trang của Hải quân Trung Quốc.

Hai chiếc tàu cá gần đảo Hữu Nhật báo cáo về Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải Trung Quốc. Ngày 16/1, Bộ Tư lệnh Hạm đội ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam tháp tùng lực lượng dân quân biển tới hiện trường, về mặt công khai là để bảo vệ ngư dân Trung Quốc, nhưng chủ yếu là để tập trung binh lực. Trung Quốc cũng hạ lệnh triển khai hai tàu quét ngư lôi. Bắc Kinh quyết định giải quyết tranh chấp tại Hoàng Sa bằng vũ lực nếu thời cơ cho phép.

QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

gồm 130 đảo san  hô, mỏm đá ngầm và bãi cát nằm rải rác trên 5.800 dặm vuông trên Biển Đông, cách gần đều cảng Đà Nẵng của Việt Nam (200 hải lý) và đảo Hải Nam của Trung Quốc (162 hải lý). Diện tích của toàn quần đảo (chỉ tính mặt đất) là khoảng 3 dặm vuông. Hầu hết các đảo hợp thành Nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) về phía đông bắc và Nhóm đảo Lưỡi liềm (Crescent Group) về phía tây, cách nhau khoảng 39 hải lý. Đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm An Vĩnh là lớn nhất trong các đảo thuộc Hoàng Sa, có diện tích khoảng 530 mẫu Anh.

Cho dù những tuyên bố chủ quyền của cả Việt Nam và Trung Quốc đều có từ các triều đại phong kiến xa xưa, gốc rễ của sự tranh chấp giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam gắn với những năm 1930 và các tham vọng của thực dân Pháp. Nước Pháp, cường quốc đô hộ Việt Nam từ 1858, đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ 1932 nhưng từ đầu không quan tâm đến việc chiếm giữ các đảo này trên thực tế. Điều này thay đổi vào năm 1937 khi cuộc chiến của Nhật Bản với Trung Quốc – vốn bắt đầu từ năm 1931 với việc Nhật chiếm Mãn Châu Lý –  leo thang khi Nhật tiến quân sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Người Pháp lo Trung Quốc hay Nhật sẽ chiếm các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) nên đã đặt một trại lính gồm khoảng 100 lính Pháp và Việt tại đảo Phú Lâm vào năm 1938 như một khu đệm để mở rộng chu vi phòng thủ cho các thuộc địa Đông Dương của Pháp.

Nhà cầm quyền Anh ủng hộ bước đi này của Pháp vì nó mở rộng phạm vi phòng thủ của thuộc địa Malaya của Anh. Cả hai cường quốc châu Âu này cho rằng cuộc chiến tranh của Nhật chống Trung Quốc chỉ là bước đi ban đầu của kế hoạch chiếm các thuộc địa của châu Âu ở Đông Nam Á. Nhưng thay vì răn đe hành động của Nhật trên Biển Đông, việc đồn trú tại Hoàng Sa của Pháp lại khiêu khích Nhật. Nhật cho một đơn vị nhỏ lính thủy đánh bộ đổ bộ lên đảo Phú Lâm chỉ một tháng sau khi Pháp cho quân đồn trú. Quân đồn trú trên đảo đầu hàng, không nố súng chống lại. Nhật sáp nhập Trường Sa và Hoàng Sa vào năm 1941, tuyên bố chúng thuộc Đài Loan, đảo đang bị Nhật chiếm đóng lúc đó.

Sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật ngày 6 và 9/8/1945, Tokyo bắt đầu rút quân khỏi các quần đảo này. Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite) hai tháng sau đó, và đặt một đồn trên đảo Phú Lâm vào tháng Giêng 1946. Pháp sau đó do không đẩy được quân Quốc dân Đảng ra khỏi Nhóm đảo An Vĩnh bằng một cuộc biểu dương lực lượng hải quân đành tuyên bố chủ quyền đối với Nhóm đảo Lưỡi liềm và đổ bộ một trung đội lê dương lên đảo Hoàng Sa (Pattle) để ngăn quân Quốc dân Đảng chiếm đóng đảo này.

Chính phủ Quốc dân Đảng lặp lại yêu sách đối với toàn bộ Biển Đông năm 1947, xuất bản một bản đồ đưa các yêu sách lãnh thổ vào khuôn khổ một “đường chín đoạn” dọc vành ngoài của Biển Đông. Năm 1949, quân Trung Cộng đẩy chính quyền Quốc dân Đảng ra Đài Loan. Nhật Bản từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo trên Biển Đông tại Hội nghị hòa bình San Francisco 1951, nhưng không giao quyền kiểm soát của mình cho bất cứ một bên có yêu sách cụ thể nào khác, đẩy vấn đề sở hữu các quần đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) rơi vào tình trạng không được giải quyết. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng họ thừa kế các yêu sách đối với Biển Đông từ chính phủ Quốc dân Đảng.

Mặc dù vậy Nam Việt Nam đã chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi liềm từ năm 1954 và đặt một lực lượng đồn trú nhỏ trên ba hòn đảo. Trung Cộng giành quyền kiểm soát nhóm đảo An Vĩnh và đảo Phú Lâm vào năm 1956. Ngư dân Trung quốc đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan) năm 1959 nhưng phía Nam Việt Nam đã đuổi họ đi.

Khi Chiến tranh Việt Nam leo thang, Sài Gòn, tin tưởng vào sự hỗ trợ của Hải quân Mỹ, đã rút các đơn vị đồn trú của mình. Tới năm 1967, sự hiện diện của Nam Việt Nam tại quần đảo chỉ còn một trạm khí tượng. Trung Quốc tỏ ra chấp nhận nguyên trạng.

Hai biến chuyển trong tình hình những năm 1970 đã thay đổi bàn cờ Biển Đông: các báo cáo về trữ lượng dầu tại thềm lục địa vùng này xuất hiện vào giữa năm 1972, và Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam. Các lãnh đạo châu Á đột nhiên nhận thấy tranh chấp Biển Đông không chỉ là một vấn đề chính trị và hành chính, mà còn là vấn đề phát triển kinh tế. Nhóm thân cận với Mao tính toán rằng những phần thưởng về kinh tế lớn hơn những rủi ro xảy ra xung đột quân sự. Vả lại, những rủi ro đang giảm xuống.

Mao nhận thấy một chính phủ Mỹ đang rút chân khỏi Nam Việt Nam sẽ thiếu ý chí dấn vào một cuộc xung đột khác, lại đang mong được Trung Quốc hỗ trợ chống lại một Liên Xô đang ngày càng thách thức hơn. Nguyên thủ Trung Quốc kết luận rằng chế độ Sài Gòn khó có khả năng được Mỹ hỗ trợ, và sự tồn tại của nó cũng đang được tính bằng ngày. Nhóm thân cận với Mao cũng hiểu rằng Bắc Việt Nam vẫn còn cần viện trợ của Trung Quốc trong nỗ lực chiến thắng Nam Việt Nam, đồng thời đồng minh khác của Hà Nội là Liên Xô không có lực lượng trên địa bàn này để cản trở Trung Quốc hành động đối với các đảo (trên Biển Đông). Mao ra lệnh tiến hành một loạt những bước đi nhằm ép Nam Việt Nam từ bỏ Hoàng Sa.

Không biết các ý định của Bắc Kinh, Sài Gòn tuyên bố quyền kiểm soát về hành chính tại nhóm đảo Lưỡi liềm vào tháng 8/1973 và một tháng sau cho phép thực thi các hợp đồng thăm dò dầu khí tại các vùng nước quanh nhóm đảo này. Cuộc đột nhập đầu tiên của đội tàu đánh cá của Trung Quốc xảy ra vào cuối tháng 7. Một số “ngư dân” có vũ trang, và ít nhất một tàu trong số này là loại bọc thép, nhưng chúng rút ngay mỗi khi các đơn vị Hải quân Nam Việt Nam tới. Sài Gòn triển khai các đơn vị đồn trú có quân số khoảng một trung đội trên ba hòn đảo thuộc nhóm đảo này.

Tháng 10/1974, các tàu đánh cá lưới rà số 402 và 407 của Trung Quốc đưa thủy thủ đoàn đổ bộ lên đảo Quang Hòa, thiết lập một trạm cung cấp, hầm hào, và cắm cờ Trung Quốc khắp trên đảo. Nam Việt Nam bắt giữ một số tàu đánh cá Trung Quốc vào tháng 11 cùng thủy thủ đoàn của chúng. Các thủy thủ Trung Cộng bị đưa về Đà Nẵng nơi họ phải thú tội trên truyền hình về các hành động phạm pháp và các tội ác đối với nhân dân Việt Nam trước khi được thả. Nhưng những vụ tàu đánh cá Trung Quốc tấn công dân chài Việt Nam tiếp tục diễn ra. Cùng kỳ, Mao ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc chuẩn bị hành động quân sự để hỗ trợ các ngư dân Trung Quốc.

NGÀY 10.01.1974

một nhóm ngư dân Trung Quốc tiến hành đánh bắt cá tại đảo Hữu Nhật thuộc nhóm đảo Lưỡi liềm. Nhóm này đã bị các dân chài Việt Nam phát hiện 3 ngày trước, nhưng họ không thông tin được cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cho tới khi về tới Đà Nẵng hôm 11/01/1974. Cùng ngày, Bắc Kinh ra tuyên bố nhắc lại chủ quyền không thể tranh cãi của nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như bãi ngầm Macclesfield, một đảo san hô vòng cách quần đảo Hoàng Sa 70 hải lý về phía Đông.

Nhận thấy những ý đồ của Bắc Kinh, Sài Gòn cử các tàu khu trục HQ-16, HQ-4, HQ-5, và tàu quét thủy lôi HQ-10 chở đội đặc nhiệm SEAL đến đảo Hữu Nhật. Hai trong số các tàu khu trục trên là thủy phi cơ đời Thế chiến II được cải tiến, tháo bỏ các thiết bị hỗ trợ thủy phi cơ, còn chiếc thứ ba là tàu khu trục hộ tống được cải tiến. Tất cả chúng ở trong tình trạng kém, thường xuyên xảy ra các vấn đề về kỹ thuật và vũ khí, khiến tốc độ và hỏa lực đều bị hạn chế.

Đến nơi vào ngày 16/1, các tàu chiến của Nam Việt Nam đã nhanh chóng đuổi các ngư dân Trung Quốc đi. Tàu đánh cá (TQ) số 407 báo cáo sự việc HQ-16 tới lên Bộ chỉ huy dân quân biển tại Du Lâm trên đảo Hải Nam ngay sáng 16. Điện báo này về tới Bắc Kinh vài giờ sau.

Chiều tối hôm đó, Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc phái hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt mang số hiệu 271 và 274 đón một đại đội dân quân biển gồm bốn trung đội (mỗi trung đội 10 người) từ đảo Phú Lâm đưa sang Nhóm đảo Lưỡi liềm. Bắc Kinh cố gắng tăng viện cho quân của họ, nhưng giống như đối phương, tàu chiến của Trung Quốc cũng ở trong tình trạng tồi tệ.

Cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc – một cuộc thanh trừng chống các ảnh hưởng phi chủ nghĩa xã hội và các đối thủ của Mao – đã làm hư hoại gần như hoàn toàn các xưởng đóng tàu của nước này. Hơn 2 triệu nhà khoa học, kỹ sư, nhà giáo, công nhân lành nghề, cán bộ hành chính bị tù đày hoặc giết chết, gồm cả những người đã đóng và bảo dưỡng tàu bè của nước này cũng như mạng lưới đường sắt chuyển vật tư tới các xưởng đóng tàu.

Kết quả là tàu chiến tốt nhất của Hải quân Trung Quốc, các khu trục hạm loại Type 065 đã không thể khởi hành. Còn chiếc 271 vừa xuất xưởng và chưa hoàn tất việc chạy thử trên biển, và chiếc 274 với động cơ diesel ở tình trạng kém, không thể đạt tốc độ 18 hải lý/giờ. Vậy mà chúng vẫn nhanh hơn, được trang bị tốt hơn các tàu của hải quân Nam Việt Nam. Hai chiếc tiêm kích Thẩm Dương J-6, bản copy của MIG – 19 do Liên Xô sản xuất, yểm hộ đường không cho các tàu săn ngầm, nhưng không có năng lực hoạt động tầm xa đủ để trực chiến trên đầu các tàu khi chúng nhập cuộc sáng 17/1.

Vào rạng sáng 18/1, hai tàu Trung Quốc đã đưa được một trung đội dân quân biển lên đảo Duy Mộng, một trung đội khác lên đảo Quang Hòa tây, và hai trung đội lên đảo Quang Hòa. Các trung đội này lập tức tiến hành đào hầm hào và đặt mìn và bẫy phía trước trận địa của họ. Hai tàu rà thủy lôi loại Type 10 đóng ở Quảng Châu, mang số hiệu 389 và 396, được lệnh tăng cường cho các tàu săn ngầm loại Kronstadt mang số hiệu 271 và 274. Chúng cũng đến nơi vào cuối buổi sáng hôm đó.

Hai chiếc tàu chiến khác có thể hoạt động được lúc đó của Trung Quốc là hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam được điều từ Sán Đầu, cách đó khoảng 476 hải lý. Chúng tiến về Hoàng Sa với tốc độ tối đa, được tiếp dầu ở Trạm Giang, phía nam Hồng Kông, và tại Du Lâm. Các tàu chiến này được lệnh hỗ trợ các thuyền đánh cá của dân quân biển với điều lệnh chiến đấu “không gây sự; không bắn trước; nhưng nếu lâm chiến, phải thắng”.

VÀO SÁNG SỚM 19.1

hạm trưởng chia tàu của Trung Quốc thành hai nhóm: tốp đầu gồm 4 chiếc do các tàu săn ngầm Kronstadt dẫn đầu, và tốp sau gồm các tàu săn ngầm lớp Hải Nam vừa tới. Hạm trưởng được lệnh đáp trả mọi thách thức đối với các tàu đánh cá của dân quân biển và hỗ trợ các ngư dân trên các đảo nếu cần.

Hải quân Nam Việt Nam cũng chia thành hai tốp. Tốp đầu bao gồm các tàu khu trục HQ-4 và HQ-5. Tốp này chạy vòng quanh các đảo Quang Ảnh (Money) và Hải Sâm (Antelope) từ phía nam và tiếp cận đảo Quang Hòa. Tốp thứ hai gồm các tàu quét mìn HQ-10 và tàu khu trục HQ – 16, băng qua vùng đầm phá tại Nhóm đảo Lưỡi liềm từ phía tây bắc.

Hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt của Trung Quốc chiếm vị trí để theo dõi các tàu HQ-4 và HQ-5, trong khi các tàu quét mìn loại Type 10 bám theo các tàu HQ-10 và HQ-16. Hạm trưởng HQ – 16 dự cảm trận đánh sắp xảy ra – đã tăng tốc vượt lên các tàu quét mìn Trung Quốc, và 14 lính đặc nhiệm của Nam Việt Nam được đưa lên hai thuyền cao su để giành lại đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây. HQ-16 đâm mạnh và làm hỏng nặng tàu quét mìn 389; thủy thủ trên chiếc 389 bắn vào cầu tàu và ụ súng phía trước của HQ-16, giết hoặc làm bị thương hầu hết thủy thủ Nam Việt Nam trên đó. Cuộc giao chiến sau đó đã diễn ra theo như ý đồ của Trung Quốc.

Các lính đặc nhiệm, từng dự kiến có hải quân yểm hộ, nay phải một mình đối đầu với các tàu Trung Quốc. Họ lên bờ giữa ban ngày, đối địch với một lực lượng kẻ thù đông, cố thủ trong chiến hào trên cả hai đảo Quang Hòa và Quang Hòa Tây, nên nhanh chóng bị đẩy lùi. Họ cố trở lại các thuyền cao su dưới làn đạn kẻ thù, trong khi các tàu hải quân Nam Việt Nam dàn hàng ngang tiến thẳng vào đội hình địch, bắn vào buồng hoa tiêu của địch và tìm cách xoay chuyển thế trận thành một cuộc chiến của pháo tầm xa. Không may cho lực lượng Nam Việt Nam, họ không có được tốc độ, do đó các tàu cơ động hơn của Trung Quốc có thể quyết định khoảng cách giao tranh. Hạm trưởng Trung Quốc ra lệnh: “Tăng tốc tiến lên, đánh cận chiến, thọc mạnh”. Biết rằng các tàu của mình trang bị kém và sẽ bị áp đảo trong một cuộc đấu súng tầm xa, hạm trưởng Trung Quốc quyết định dùng chiến thuật “giáp lá cà”. Sau 10 phút giao tranh, chiến trường đã thu hẹp từ phạm vi 2, 3 hải lý xuống còn vài trăm mét.

Các tàu săn ngầm lớp Kronstadt bắn cấp tập vào HQ-4, trong khi các tàu quét mìn Type 10 tập trung hỏa lực pháo 37mm vào chiếc HQ-16, nhằm vào buồng hoa tiêu, trung tâm thông tin và các radar. Bị bắn hỏng nặng, chiếc HQ-16 phải thoái lui. Các tàu quét mìn chuyển sang bắn vào HQ-10, nhằm vào kho đạn ở đuôi tàu, gây một tiếng nổ khiến phần động cơ phía trước con tàu này tê liệt.

Các tàu quét mìn chỉ cách HQ-10 có khoảng mười thước, khiến các nòng pháo còn lại của chiếc tàu Nam Việt Nam này không thể bắn vào những con tàu thấp và nhỏ hơn của đối phương đang tiếp cận sát thân tàu. Súng bộ binh của thủy thủ Trung Cộng quét dọc ngang sàn tàu và buồng hoa tiêu, sát hại thuyền trưởng và hầu hết thủy thủ điều khiển tàu.

Chiếc HQ-16 bị hư hại cố tiếp ứng cho HQ-10 nhưng bị đẩy ra xa bởi hỏa lực của quân Trung Quốc. Nó phải rút về phía đông nam, trong khi HQ-4 và HQ-5 rút về phía nam. Hai tàu săn ngầm lớp Hải Nam của Trung Quốc tới nơi khoảng trưa 19/1, bắn tiếp vào chiếc HQ-10 khiến nó chìm vào lúc 1h chiều.

Cùng lúc, Bắc Kinh lo ngại Sài Gòn sẽ tăng cường quân cho các đồn còn lại trên các đảo, gồm khoảng 2 đại đội bộ binh trên các đảo Hữu Nhật, Hoàng Sa (Pattle), và Quang Ảnh, và các lính đặc nhiệm còn sống sót. Hạm đội Nam Hải pha trộn một đội hình chắp vá gồm tất cả những đơn vị nào còn có thể lên đường: một tàu khu trục, năm tàu phóng lôi, và tám tàu tuần tra loại nhỏ. Được tổ chức thành ba đội tàu đổ bộ và vận tải, các tàu này chở 500 lính thuộc 3 đại đội bộ binh, một đại đội dân quân và một nhóm trinh sát vũ trang.

Đội tàu này triển khai thành đội hình thuận cho xuất phát. Tốp đầu gồm bốn chiếc tàu tuần tra và các tàu lưới rà của dân quân biển mang số hiệu 402 và 407, mang  theo một đại đội bộ binh 100 lính. Tốp hai gồm một đại đội bộ binh và đội trinh sát thủy – bộ được rải ra trên bốn chiếc tàu tuần tra và chiếc tàu quét mìn 389. Chiếc tàu khu trục Nam Ninh, vốn là một tàu hộ tống của Nhật trước đây, trở thành thê đội ba, chở một đại đội bộ binh và được bổ nhiệm làm soái hạm của chiến dịch này.

Tốp đi đầu tiến công đảo Hữu Nhật, bắn pháo vào những người giữ đảo để đẩy họ khỏi bờ biển, rồi đổ bộ lính bộ binh bằng các thuyền cao su và xuống ba lá. Hữu Nhật thất thủ sau 10 phút. Thê đội 2 tiến đánh đảo Hoàng Sa (Pattle), đẩy 30 lính giữ đảo về phía giữa đảo nơi họ đầu hàng sau một giờ giao tranh. Trong trận đánh trên đảo này, Trung Quốc bắt được viên thiếu tá Nam Việt Nam chỉ huy lực lượng đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa và viên cố vấn được phái tới từ Đại sứ quán Mỹ. Các lính đặc nhiệm trên đảo Quang Ảnh bỏ vị trí trước khi Hải quân Trung Quốc tiến công, trốn thoát được vài ngày trước khi bị bắt.

Cho đến cuối chiều 20/1, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc. Hơn 100 lính Nam Việt Nam bị giết hoặc bị thương, và 48 lính Nam Việt Nam và một sĩ quan liên lạc người Mỹ bị bắt, so với 18 lính Trung Quốc bị chết, 67 người khác bị thương.

Đây là một thắng lợi lớn của Hải quân Trung Quốc: một tàu phá thủy lôi của Nam Việt Nam bị chìm, ba tàu khu trục bị hư hỏng nặng, so với hai tàu săn ngầm, một tàu quét thủy lôi và một tàu đánh cá của Trung Quốc bị hư hỏng nặng.

TRUNG QUỐC DÀNH 2 TUẦN TIẾP THEO

để gia tăng sự hiện diện hải quân xung quanh các đảo và củng cố phòng ngự, bao gồm cả việc triển khai một tàu ngầm lớp Romeo và ba tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường lớp Thành Đô, mang theo các tên lửa hành trình chống hạm loại Styx.

Về chiến thuật, các đơn vị hải quân Nam Việt Nam có hỏa lực mạnh hơn đối phương, nhưng họ không có một hệ thống radar điều khiển hỏa lực, do đó phải bắn qua lỗ ngắm, làm giảm đáng kể khả năng bắn trúng các mục tiêu cơ động nhanh như các tàu tuần tiễu của Trung Quốc. Mặc dù tình trạng kỹ thuật của tàu chiến cả hai bên ngăn cản họ hành động ở tốc độ cao nhất, các tàu của Trung Quốc vẫn đạt được tốc độ tới 7-10 hải lý/giờ, một ưu thế khiến họ có thể quyết định cự ly giao tranh.

Một khi đã đạt được cự ly cách các tàu của Nam Việt Nam nửa dặm, các vũ khí nhẹ, tác xạ nhanh của tàu Trung Quốc và sự linh hoạt tạo cho họ một ưu thế rõ ràng. Chiến trường được quyết định trong một khoảng cách chỉ 200 thước. Không gian chỉ huy, hoa tiêu và liên lạc của các tàu Nam Việt Nam đối mặt với hỏa lực tầm gần chính xác, và các pháo lớn của họ bị vô hiệu ở tầm bắn gần. Các tàu của Nam Việt Nam đành rút lui, để các đơn vị đồn trú trên các đảo không được hỏa lực hải quân hỗ trợ.

NAM VIỆT NAM ĐE DỌA

sẽ trả đũa nhưng nhận thấy cán cân lực lượng hải quân nghiêng về phía Trung Quốc. Hơn nữa, Sài Gòn có nhiều mối lo đè nặng. Cơ quan tình báo Sài Gòn đang dõi theo các đường vận tải và chuyển quân của Bắc Việt đổ theo hướng qua Lào và đông Campuchia. Việc dồn quân dọc biên giới Nam Việt Nam là một dấu hiệu gây lo ngại về ý định của Hà Nội.

Cùng lúc, Hà Nội phản đối động thái này của Bắc Kinh nhưng không hành động gì. Bắc Việt vẫn cần sự ủng hộ của Trung Quốc để tổ chức, động viên lực lượng của mình cho trận đánh cuối cùng nhằm giành quyền kiểm soát Nam Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước vào tháng 4/1975, Hà Nội nhanh chóng giành quyền kiểm soát các đảo do Nam Việt Nam nắm giữ trên quần đảo Trường Sa. Những năm sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục phản đối việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và duy trì tuyên bố khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo này, cũng như với các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Việt Nam tuy vậy chưa bao giờ tìm cách chiếm lại Hoàng Sa. Nước này còn bị thua trong một cuộc hải chiến vào những năm 1980 khi Trung Quốc tấn công ba đảo đá san hô do Việt Nam kiểm soát thuộc quần đảo Trường Sa.

Trong các cuộc giao tranh kể trên và trong các hành động gần đây, Bắc Kinh đã lặp lại các chiến thuật nó đã sử dụng vào năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa. Thứ nhất, cho các tàu đánh cá thâm nhập vùng tranh chấp, trong đó có cả các tàu đánh cá của lực lượng dân quân biển, để xua đuổi lực lượng bên kia. Các tàu của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc được triển khai gần đó nhằm hỗ trợ các tàu đánh cá nếu cần, còn xa hơn là các nhóm tàu hải quân để hỗ trợ các tàu Hải cảnh. Cả lực lượng hải cảnh lẫn các đơn vị hải quân đều không bắn trước, nhưng nếu chiến sự xảy ra, họ sẽ phải chiến thắng. Trung Quốc cũng thiết lập một sân bay quân sự trên đảo Phú Lâm và đồn trú quân trên một số đảo san hô mà họ chiếm được gần đây tại Trường Sa.

Việt Nam cũng đáp lại bằng cách vũ trang cho các tàu đánh cá của mình và thiết lập quan hệ đối tác quân sự với Ấn Độ và Nhật Bản, đồng thời tìm cách hợp tác quân sự với cựu thù Hoa Kỳ. Với 5 bên cùng tuyên bố chủ quyền chống lại Trung Quốc, Biển Đông đã trở thành một “điểm nóng” và kích thích một cuộc chạy đua vũ trang khu vực mà có người lo ngại sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến tranh mới.

Nguồn: Carl O. Schuster,
Battle for Paracel Islands”, Historynet, 06/2017.
Biên dịch: Lê Đỗ Huy
Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Carl O. Schuster là một sĩ quan Hải quân đã nghỉ hưu sau 25 năm công tác, với những năm cuối cùng phục vụ trong ngành tính báo quân sự. Hiện sống ở Honolulu, Schuster tham gia giảng dạy chương trình Ngoại giao và Khoa học Quân sự tại Hawaii Pacific University.