Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2019

ĐẦY MƠ THỎA ƯỚC


ĐẦY MƠ THỎA ƯỚC

Thương người, ngóng đợi triền miên
Mong chờ tin đẹp đã biền biệt lâu
Sương mờ mấy dặm ngàn lau
Mà nghe mằn mặn giữa đau đáu nguyền.

Nhớ ngày bịn rịn lên thuyền
Chia tay trĩu nặng sợ duyên kiếp tàn
Bến sông lệ đẫm trào chan
Người đi kẻ ở dạ man mác hoài…

Đêm trường vọng nhớ hình ai
Phòng đơn cô lẽ, nhuốm ai cảm về
Gối chăn lạnh buốt trầm mê
Người xưa liệu có lậm chê chán nào.

Tình ơi, sóng dậy ba đào
Khiến cho đôi ngã đanh xao xác tình
Cầu mong sum hợp đôi mình
Thỏa lòng ước mộng, đón bỉnh minh lên…

HANSY

4-GIỌT TÌNH SẦU


GỞI GẮM TRÁCH THẦM


GỞI GẮM TRÁCH THẦM
[Ô thước]

Người ơi lại nỡ quá vô tình
Chi nữa xưa kìa đón với nghinh
Đã hết nguyền ân thời ổn tĩnh
Còn đâu ái cảm thuở an bình
Âm thầm ái rã tan đường chính
Phờ phạc duyên mòn ám nguyệt minh
Có lẽ trời cao giờ đã định
Nghiệt thay phận số tủi thân mình

Phận số giờ đây chịu lẻ mình
Đâu còn mộng tưởng ánh bình minh
Nào khi rộn rã ngời an vĩnh
Hay lúc triền miên dậy ổn bình
Cứ ngỡ muôn đời luôn ngát kỉnh
Đâu dè mấy buổi đã chìm nghinh
Trầm hương nhạt thếch tàn câu vịnh
Lặng lẽ đời ta bóng giễu tình

HANSY

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2019

3-NGẨN NGƠ


LÃNG TỬ CA


LÃNG TỬ CA
[Xa luân]
1.
Tang bồng hồ thỉ  ngẫm mà hay
Tạo hóa ban cho rất đủ đầy
Nọ bức tranh đồ thu vạn rẫy
Kia triền sông núi cuộn rừng cây
Êm đềm khuỷnh suối mơ màng chảy
Lộng  lẫy triền sương lả lướt bày
Ngắm cảnh sinh tình tâm rực cháy
Mơ hồ huyễn mộng khẽ khàng lay
2.
Tạo hóa ban cho rất đủ đầy
Muôn loài quyến tụ dưới ngàn cây
Chiều hôm sấm động trời nhay nháy
Buổi sớm tình loang cảnh bộn bày
Khe khẽ thơ lòng vang ngát trẩy
Âm thầm phú dạ tỏa bừng lay
Xoay vần nhật nguyệt theo guồng máy
Chắt lưỡi khen thầm thiệt quá hay
3.
Kia rừng sông núi cuộn rừng cây
Cảnh trí chao ôi thỏa thích bày
Thấp thoáng nai vàng chân nhún nhẩy
Chập chờn bướm đẹp cánh lờ lay
Chích chòe rượng đực vô cùng mẩy
Khỉ khọt ru bồ quá sức hay
Trời đất đúng là ngon hết sẩy
Cái chi cũng có lại xôm đầy
4.
Rộn rã miền sương lả lướt bày
Mê mòng tâm trí mượt tình lay
Xem rồi ngó lại mà không ngấy
Biết đó hiều rành vẫn cứ hay
Thích nhất bình minh cùng nắng dậy
Khoái hai ánh nguyệt luyến mơ đầy
Trèo lên giữa đỉnh đều trông thấy
Sóng lượn chập chùng gió nựng cây
5.
Mơ hồ huyễn mộng khẽ khàng lay
Cuộc sống an bình lắm tuyệt hay
Trí đạo bừng lên ngào ngạt dẫy
Thiện tâm hứng khởi chứa chan đầy
Cần chi phố chợ làm như máy
Hãy giống sơn hà thản tựa cây
Cát bụi thân này mau chứng thảy
Làm cho huệ nhãn được khơi bày

HANSY

BÙI GIÁNG: MỘT TIẾNG LÁ RƠI DỘI TRONG SƯƠNG MÙ



THI NHÂN BÙI GIÁNG:
MỘT TIẾNG LÁ RƠI DỘI TRONG SƯƠNG MÙ

Phải nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, tôi mới biết đến một con người kỳ dị trong làng văn: Bùi Giáng. Nói đúng hơn là tôi chỉ biết đến những tác phẩm của ông mà chưa bao giờ có dịp được diện kiến ông lần nào. Càng đọc những tác phẩm của ông, cái phần không hiểu lại càng lớn hơn cái phần hiểu được!

Nhưng rồi dần dần, tôi mới ngẫm thấy rằng điều đó chẳng quan trọng mấy. Nếu cứ đâm đầu vào đi tìm hiểu xem Bùi Giáng viết gì thì có ngày cũng dễ điên giống ông! Cái đọng lại trong tôi mỗi khi đọc Bùi Giáng, ấy là một cảm giác hân hoan không cưỡng lại nổi, cứ như thể được nhận quà từ tay một chú bé hồn nhiên, vui vẻ.
Cả thơ, cả văn hay khảo cứu của ông đều gây cho tôi cái cảm giác ấy. Với tôi, có lẽ thế là đủ.

Trong 73 năm sống trên cõi đời này, Bùi Giáng là người phiêu hốt qua hàng hàng chữ nghĩa. ông lãng đãng ngay từ bản khai lý lịch không “đụng hàng” với bất cứ ai:

Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa
Gọi tên là một, hai, ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

Có vẻ như với Bùi Giáng, đời là một cuộc vui bất tận và ông tận hưởng nó, diễn giải nó, yêu thương nó, như cái cách mà ông đã từng viết: “Thơ vô tận vui”.

Mở đầu cho Mưa nguồn, thi phẩm đầu tiên của Bùi Giáng được xuất bản năm 1962, ngoài lời đề từ giỡn cợt “rất Bùi Giáng” là “tặng ba người con gái - chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu”, Bùi Giáng còn rút ra hai câu trong bài Chào Nguyên Xuân có trong tập này, như một lời thề về cuộc đời (và có lẽ toàn bộ chữ nghĩa) của ông:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau

Đấy là cái tâm thế của một người tung tăng trên đường đời, chào gặp và giã biệt bất cứ ai dù lạ hay quen; và đời sống ông chảy trôi giữa hai cảnh giới: luôn có một mùa xuân vẫy gọi tíu tít ở phía trước, trong khi phía sau là những giấc ngủ dài.
Đời sống phiêu bồng của Bùi Giáng vang vọng trong thơ ông. ông như một người lữ thứ đi trong cuộc đời, không biết từ đâu đến và cũng không biết đi về đâu:

Ngày sẽ hết và tôi không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.
(Phụng hiến).

Trong cõi trần gian ấy, Bùi Giáng sống tận hiến cho từng satna một, với một niềm vui sống bất tuyệt, như ông đã viết, vẫn trong bài Phụng hiến:

Tôi đã gửi hồn tôi biết mấy bận
Cho mây xa cho tơ liễu ở gần
Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật
Quả tim mình nóng hổi những chờ mong
Một tình yêu mãnh liệt đời sống với những sắc thái tế vi của nó:
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.

Có lẽ, cái tình yêu đời sống mãnh liệt ấy đã là đôi cánh bướm mỏng nhẹ nhàng mang thơ ông len lỏi vào trái tim những người yêu thơ.  

Trong nền thơ Việt Nam, có một thế giới thơ tình Nguyễn Bính. Có một thế giới thơ tình Xuân Diệu. Vậy liệu có một thế giới thơ tình Bùi Giáng hay không?

Theo tôi là có.

Trong thơ Bùi Giáng, hình ảnh người con gái lớn mênh mông mà cũng thật nhỏ nhoi. Tựu trung lại, nàng bao giờ cũng đẹp:

Ôi một người con gái
Là đúng một bầu trời
Là sinh con đẻ cái
Đẹp bằng hột mưa rơi
ôi một người con gái
Dù là gái đốt than
Cũng đẹp như suối ngàn
Chảy từ trên núi xuống.
(Ôi một người con gái).

Trong tình yêu của thơ Bùi Giáng, nỗi nhớ luôn hiển hiện như một thành tố không thể thiếu. Có một thời, có lẽ do bị ảnh hưởng bởi những tiểu thuyết cổ trang, Bùi Giáng thường xưng “Trẫm”, như một vị vua trước các thần dân trong vương quốc tưởng tượng của riêng Bùi Giáng. Vị vua này cũng không được miễn nhiễm khỏi cái sắc thái thông thường của người đang yêu:

Trẫm ở bên trời
Trẫm nhớ em
Trên trời trẫm nhớ
Trẫm thương thêm
Trẫm buồn như thể
Trời buồn thảm
Trẫm khóc vô ngần
Trẫm nhớ em.
(Trẫm một mình nhớ nhung hoàng hậu của trẫm).

Và hiển nhiên là vị vua Bùi Giáng, khi xa cách em, cũng rối ren, cũng dằn vặt với câu hỏi thường xuyên đặt ra: “Em đâu?”. Hồi đó chưa có điện thoại di động, những người yêu nhau bình thường giải tỏa nỗi nhớ bằng cách viết thư cho nhau, còn Bùi Giáng thì…làm thơ:

Em ở đâu rồi Trẫm nhớ em
Trẫm buồn chẳng biết viết gì thêm
(Em có nhớ Trẫm chăng em nhỉ
Trẫm viết dòng nào
Cũng rối ren).
(Em ở bên trời).

Bùi Giáng là một trong số hiếm hoi những nghệ sỹ mà ngay khi ông còn sống đã có vô vàn những giai thoại vây quanh. Trong số đó, có một giai thoại về việc Bùi Giáng tự viết “tiểu sử” trong một bản thảo chép tay ghi trong cuốn sổ gửi vào chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn ngày 10-11-1993. Trong cái “tiểu sử” giai thoại này, có những dòng liên quan đến đối tượng luyến ái của ông:

“1942: trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế…
1970: Lang thang du hành lục tỉnh, gái Châu Đốc thương yêu và gái Long Xuyên yêu dấu
Gái Chợ Lớn khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)”.

Không rõ sự chân thực của những dòng “tiểu sử” giai thoại này đến đâu, nhưng trong suốt cuộc đời mình, ngoài người vợ chính thức Bùi Thị Ninh đã không may mất sớm, Bùi Giáng có vô số những người yêu trong mộng. Danh sách “người yêu” của Bùi Giáng, cũng là những nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ông, trải dài từ Nam Phương hoàng hậu, Phùng Khánh (Thích Nữ Trí Hải), ca sỹ Hà Thanh, kỳ nữ Kim Cương cho đến những minh tinh màn bạc ngoại quốc tài danh đương thời Bùi Giáng như Marilyn Monro và Brigitte Bardot! Đấy là còn chưa kể đến những người tình không tên như “em Mọi nhỏ” mà Bùi Giáng luôn nhắc đến với niềm trân trọng.

Có lẽ bởi đó là những người yêu trong mộng tưởng nên tình yêu của Bùi Giáng đối với họ thấm đẫm những ẩn ức tình dục libido. Có thể thấy cái chất libido này lại thấm đẫm trong nhiều câu thơ của Bùi Giáng. Khả năng tận dụng từ ngữ tiếng Việt phi phàm cho phép Bùi Giáng tung hứng với những cách nói lái dân gian điển hình. Trong thơ ông xuất hiện với tần suất cao những “tồn lưu”, “liên tồn”, “lưu tồn”, “cồn hoa lá”, “lộn đàng”; thậm chí Bùi Giáng còn lấy bút danh của mình là “Vân Mồng” cho bản dịch tiểu thuyết Khung cửa hẹp của André Gide, lấy tên nhà xuất bản cho tập tiểu luận Đường đi trong rừng là Lá hoa cồn, hay đưa hẳn cái từ Lá hoa cồn này vào tên một tập thơ: Mưa nguồn và Lá hoa cồn, nhà An Tiêm xuất bản năm 1973!

Đây:
Mép bờ nước mọc nguyên tiêu
Tờ điên hoa dậy trăng Chiều Dã Man
Đất về lịch sử thênh thang
Cồn Hoa Lá trút cho hàng ngửa nghiêng.
(Cồn hoa lá).

Đây:
Trăm năm trong cõi sinh tồn
Cá bờ mương nhảy sô hồn xuống hang
Biết bao là gái lộn đàng
Nhớ nhung như nhớ lang thang mây chiều
Một ngàn cỏ lá cồn trơ
Đẩy ngang ngửa nhịp nước cờ chiêm bao
Dấn thân thể dấn bước vào
Xịch mành sực tỉnh hàng rào chắn ngang.
(Bờ tồn sinh).

Đây nữa:
Mở hai hàng cỏ long đong
Úp môi vào thút thít trong một vùng.
(Mở cỏ vào môi).

Đọc những câu thơ này của Bùi Giáng, thoảng như thấy Hồ Xuân Hương đâu đây.
Nhiều người biết Bùi Giáng là một dịch giả siêu phàm với hàng ngàn trang dịch các tác phẩm triết học khó nhằn của các triết gia, các tiểu thuyết, kịch hiện sinh của André Gide, Gérard de Nerval, Albert Camus, W.Shakespeare…ông cũng có những trang dịch với ngôn ngữ tuyệt đẹp các tác phẩm đầy thơ mộng của Saint Exupéry như Hoàng tử bé, Cõi người ta…

Nhưng ít ai biết được là Bùi Giáng đã từng dịch truyện chưởng!

Trong số các “đại gia võ hiệp” của tiểu thuyết chưởng Tàu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngọa Long Sinh là một tên tuổi nổi bật, sánh ngang với những Cổ Long, Lương Vũ Sinh, Gia Cát Thanh Vân…, có lẽ chỉ kém Kim Dung tí chút. Tiểu thuyết của các tác giả này được độc giả đô thị miền Nam nồng nhiệt đón nhận hồi thập niên 60-70, được dịch và in với số lượng lớn.

Một trong những tác phẩm của Ngọa Long Sinh mà Bùi Giáng chọn dịch là Kim kiếm điêu linh, sau này được những người dịch khác lấy cái tựa đề dễ hiểu hơn là Xác chết loạn giang hồ!

Cách đây nhiều năm, Bùi Giáng từng viết, trong bài thơ cuối của tập Mưa nguồn, bài Mai sau em về:

Ta đi còn gửi đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù?

Cuộc đời cũng như sự nghiệp chữ của Bùi Giáng cũng giống như một tiếng lá rơi dội trong sương mù của đời sống. Tiếng dội ấy sẽ còn vang rất xa, rất sâu…

Yên Ba


TẶNG GÌ THÌ TẶNG XIN ĐỪNG TẶNG THƠ


TẶNG GÌ THÌ TẶNG
XIN ĐỪNG TẶNG THƠ

Hết hồn là cảm giác sau khi gõ cụm từ “CLB thơ” tại thanh tìm kiếm của Facebook. Bởi vì không mất nhiều thời gian, ngay lập tức xuất hiện cả ngàn kết quả, từ CLB thơ Việt, thơ quê hương, thơ vùng miền, thơ sông núi… cho đến hàng loạt thơ tỉnh thành, quận huyện, phường xã, thôn xóm, thậm chí một xã thôi cũng có hẳn vài CLB.

Không khí làm thơ vang rền Facebook. Bất kể ai cũng có thể trở thành “nhà thơ mạng”. Khi yêu, khi thổn thức, khi thưởng thức cái đẹp, khi bất bình… đều có thể làm thơ. Chẳng ai cấm vì là quyền tự do cá nhân. Buồn buồn, các “nhà thơ mạng” tự liên kết nhau, hội họp ngoài đời thực, rồi thành lập ra vô số các CLB thơ trên Facebook. Có những CLB lập cho vui, để những người yêu thơ và làm thơ được dịp khoe thơ, giao lưu thơ và nói chuyện về thơ. Những cũng có không ít những CLB được lập lên để khoe mẽ, ca tụng nhau…

Trong số đó, rầm rộ nhất có lẽ là CLB thơ F.V.N, với lời hiệu triệu: “Hiện nay, sức ta đã mạnh, người ta đã đông, nhiều bạn thơ FB đã xin tham gia và gần 20 CLB thơ FB, trang thơ FB xin gia nhập mái nhà chung. Để phù hợp với tình hình phát triển của CLB và phù hợp với đặc thù thơ ca trên mạng, chúng ta phải xây dựng CLB vững mạnh đáp ứng phong trào thơ ca FB, của lực lượng sáng tác là các bạn thơ FB”.

Trong bài thơ của một hội viên được sáng tác vào ngày 26-11, ngay khi cơn bão số 9 ảnh hưởng đến TPHCM đăng trên trang này, có lẽ do tức cảnh… sinh thơ, nên những câu thơ cũng đầy tính hiện thực, ngô nghê và cũng… sai chính tả. Đây là một khổ trong bài (nguyên văn): “Bão số chín mây đen vần vũ/ Nước dâng tràn mây phủ gió giông/ Thành phố nước chảy thành dòng/ Lộ xe tắt nghẽn giao thông khổ đời”. Nếu có thời gian, chịu khó ngồi đọc thêm trong CLB thơ kiểu này, có thể nhặt được hàng tá những bài thơ như vậy. Đơn cử là một khổ trong bài thơ đăng ngày 5-12 mới đây của một tài khoản tên là V.C: “Anh đưa em về bên nớ/ Nơi tình vươn tới nảy mầm/ Nơi anh và em thấu thẩm/ Nơi mình… đẹp như bài thơ”. Đọc xong, không hiểu thơ gì cứ trôi tuồn tuột, như thể làm cho xong để đăng lên cho người người xúm nhau vào thả tim vậy!

Trong một lần tình cờ phát hiện ra CLB thơ F.V.N, Tiến sĩ văn học Hà Thanh Vân cảm thán trên trang cá nhân của mình: “Lạy trời, Việt Nam có thể chưa thành cường quốc về mọi mặt, nhưng nhất định đã là một cường quốc thơ. Và là người làm thơ thì chẳng bao giờ có lỗi vì làm thơ cũng là một thú vui, lỗi là ở chỗ những bài thơ dở cứ đập vào mắt chúng sinh mà thôi”.

Dù biết cũng chẳng hy vọng gì ở cái chốn lao xao, nơi vàng thau lẫn lộn (mà thau nhiều hơn vàng) nhưng một khi người ta còn ngụy biện là làm thơ cho vui, còn tự tôn quá mức về tài thơ của mình, không quen nghe những góp ý thẳng thật thì lúc đó, nói như Tiến sĩ Hà Thanh Vân “thơ dở cứ đập vào mắt chúng sinh mà thôi”. Và hậu quả nữa là, thơ vốn đã mất giá lại càng khiến người ngoài nhìn vào và lắc đầu ngao ngán, ví von theo kiểu: “Gặp nhau tay bắt mặt mừng/ Tặng gì thì tặng, xin đừng tặng thơ”.

HỒ SƠN


VỜI VỢI TÌNH XA


VỜI VỢI TÌNH XA

Chiều đó hai ta phải chia ly
Buồn hắt hiu giữa buổi phân kỳ
Em vương sắc lạnh lên đôi mắt
Ta thẩn thờ, hoang vắng vần thi….

Chiều ấy buồn đong sầu chia phôi
Chia tay dạ bỗng xót xa bồi
Em đi tóc rồi không buồn chải
Ta về hong lại trái tím côi.

Mỗi đứa một phương thẳm vợi vời
Đường xa mịt hướng bóng chiều rơi
Người xa biết bao giờ trở lại
Chốn cũ, vườn xưa cũng nghẹn lời.

Có nhớ xin gói nhau trong tim
Mù xa biền biệt biết đâu tìm
Xin em một chút hương thừa cũ
Ấp ủ trong hồn dói bóng chim...

HANSY

MÃI VỌNG CỐ HƯƠNG


MÃI VỌNG CỐ HƯƠNG

Thăm thẳm ơi người dõi ngút xa
Hồn mơ thắm gởi tận quê nhà
Nhớ hoài thuở ấy mùi rơm rạ
Thương lắm hôm nào dáng mẹ cha
Nắng sớm nương đồng đau xác lả
Mưa chiều ruộng rẫy nhọc người ra
Làm sao con được đền ân trả
Một chút lòng thôi để gọi là

Một chút lòng thôi để gọi là
Của lời con trẻ với tình cha
Giờ ai tiếp mẹ chiều đơm cá
Nào kẻ cùng tay buổi phụ nhà
Ruộng hỡi bao mùa luôn mượt nhá
Quê hời lắm buổi mãi ngời nha
Tình son sắt vẹn dù muôn ngả
Vẫn thắm trong tim đĩa muối cà

HANSY

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2019

2-SAO EM BIẾT


HUYỄN ẢO MÊ TÌNH


HUYỄN ẢO MÊ TÌNH
[Liên hoàn-Thuận nghịch độc]

Mang huyễn ảo vần dệt tứ thơ
Vãng lai ngời vọng ngút thương bờ
Vang bồng điệu biếc canh trường mở
Rạng đẫm cung nồng vũ khúc mơ
Vàng lịm ái lâng cuồn cuộn nhớ
Lãng phiêu hồn dại chứa chan đờ
Trang tình khớp mộng ươm làn thở
Quang cảnh thẫm hòa quyện tóc tơ

Quang cảnh thẫm hòa quyện tóc tơ
Sáng khêu bừng nguyệt giữa mê đờ
Nàng thơm thảo lộng ngào tim trở
Quãng ái ân ngời thắm dạ mơ
Sàng mộng thỏa đêm ngào ngọt cỡ
Khoảng nguyền ươm mộng thiết tha bờ
Sang mùa dậy nõn tươi lòng trở
Khang diệu cõi trầm quyện nét thơ

*****
Thơ nét quyện trầm cõi diệu khang
Trở lòng tươi nõn dậy mùa sang
Bờ tha thiết mộng ươm nguyền khoảng
Cỡ ngọt ngào đêm thỏa mộng sàng
Mơ dạ thắm ngời ân ái quãng
Trở tim ngào lộng thảo thơm nàng
Đờ mê giữa nguyệt bừng khêu sáng
Tơ tóc quyện hòa thẫm cảnh quang

Tơ tóc quyện hòa thẫm cảnh quang
Thở làn ươm mộng khớp tình trang
Đờ chan chứa dại hồn phiêu lãng
Nhớ cuộn cuồn lâng ái lịm vàng
Mơ khúc vũ nồng cung đẫm rạng
Mở trường canh biếc điệu bồng vang
Bờ thương ngút vọng ngời lai vãng
Thơ tứ dệt vần ảo huyễn mang

HANSY

HẠT – HỘT – TRỨNG


HẠT – HỘT – TRỨNG

Chữ hạch [] không còn được dùng với nghĩa gốc của nó (là “hạt/ hột”) trong tiếng Việt hiện đại nữa.

Trong nam, từ 'hột' được dùng với nghĩa là 'trứng' trừ trứng ngỗng lại không gọi là 'hột' -ẢNH: Đ.N.THẠCH
Nhưng có một điều là, bên cạnh âm “hạch”, nó còn có một âm nữa là “hột”, như đã được ghi nhận trong Tập vận và Chính vận, mà Khang Hy tự điển đã dẫn lại: “hồ cốt thiết” [胡骨切]. Từ hải (bản cũ) và Từ nguyên (bản cũ) đều phiên: “hồ ngột thiết” [胡兀切]. Thì cũng là hột; và tương ứng với âm hột Hán Việt thì khẩu ngữ Bắc Kinh hiện đang còn có hú, bên cạnh hé tương ứng với hạch. Cứ như trên thì, trong tiếng Việt hiện đại, hột hiển nhiên là một từ Hán Việt chính tông chứ không phải Hán Việt Việt hóa, càng không phải là “thuần Việt”, như nhiều người có thể lầm tưởng.

Từ điển Việt Bồ La của A.de Rhodes (1651) chỉ ghi nhận “hột” mà không có “hạt”, giúp ta có cơ sở để khẳng định rằng chữ [] đã đi thẳng vào nước Đại Việt với âm “hột”, để tiếp tục sống một cách bền bỉ cho đến hiện nay trong phương ngữ miền Nam (hột đậu, hột gạo, hột lúa, hột mè, hột bụi, hột cát, hột cườm, hột xoàn...) trong khi ở miền Bắc thì nó đã trở thành “hạt”, trễ nhất cũng là trước cuối thế kỷ XIX.

Dictionarium Latino -Annamiticum của M.H.Ravier (Ninh Phú, 1880) đã đối dịch granum là “hạt”, granatim là “từng hạt một”, granatus (danh từ) là “sự sinh hạt”, granatus (tính từ) là “có hạt”, granifer là “sinh nhiều hạt”, granosus là “đầy hạt”. Quyển từ điển này không có “hột” vì từ này không còn được dùng trong phương ngữ của miền Bắc nữa. Như thế, trong khi ngoài Bắc người ta đã chuyển hột thành hạt thì người trong Nam vẫn giữ đúng cái âm nguyên thủy của chữ [] (là “hột”) mà dùng. Vì vậy ở đây ta có một sự đối ứng về phương ngữ giữa “hạt” (Bắc) và “hột” (Nam) để chỉ cùng một khái niệm mà Từ điển tiếng Việt của Vietlex giảng là “bộ phận nằm trong quả, do noãn cầu của bầu hoa biến thành, nảy mầm thì cho cây con” (nghĩa 1). Người Bắc không nói “hột mè, hột đậu” mà người Nam cũng không nói “hạt mè, hạt đậu”; chứ không phải “hạt” và “hột” có thể thay thế cho nhau mọi lúc mọi nơi ở cả hai miền. Nhưng đây chỉ là chuyện “đời xưa”, chứ sau 1954 (lần thứ nhất), rồi sau 1975 (lần thứ hai) thì đã có sự “hòa nhập” trong một số cách dùng từ.

Trong Nam, người ta chỉ dùng từ “hột” với nghĩa là “trứng” trong hai danh ngữ sau đây mà thôi: “hột gà”, “hột vịt”; rồi “ăn theo” hai danh ngữ này là mấy cấu trúc “hột vịt lộn”, “hột vịt muối”, “hột vịt bắc thảo”, “hột vịt ung”... “Hột gà lộn” cũng ít dùng vì ít ăn. Đến như ngỗng, cũng là một loài gia cầm quen thuộc cùng với gà, vịt nhưng trong Nam người ta cũng không hề gọi trứng của nó là “hột ngỗng”. Chỉ có “trứng ngỗng” và học trò mà “ăn trứng ngỗng” tức là bị điểm “không” (zéro). Vậy tất cả chỉ có thế chứ ngay ở trong Nam thì “trứng cá”, “trứng chí (chấy)”, “trứng chim”, “trứng cút”... cũng không bao giờ được thay bằng “hột cá”, “hột chí”, “hột chim”, “hột cút”... cả. Nghĩa là, ngoài mấy trường hợp kể trên, cả trong Nam lẫn ngoài Bắc đều thống nhất dùng “trứng”.

AN CHI

VẦNG TRĂNG ĐÃ TẮT


VẦNG TRĂNG ĐÃ TẮT

Cuối mùa trăng nhẹ giữa đêm
Gió vờn mây bạc, sương mềm mại rơi
Tóc mây một thuở mơ ngời
Xõa ngang đời kẻ lịm chơi vơi tình.

Lặng hồn, thấm lạnh tim mình
Sao nghe chát đắng giữa linh cảm ngờ
Đêm. Ta lần giở trang thơ
Mà nghe tình úa quẩy vờ vật xa.

Người ơi, hãy đến cùng Ta
Ngàn năm là mấy lại xa cách nồng
Dẫu mai lặn biển trèo non
Thì xin giữ mãi lòng son sắt nào.

Người ơi, tim dậy chùng chao
Có còn nhớ phút dạ lao xao thề
Ta ngồi sầu chảy lê thê
Tàn cơn mộng mị đẫm tê tái đời..

HANSY

NGÙI NUỐI THƯƠNG NỒNG


NGÙI NUỐI THƯƠNG NỒNG
[Giao cổ]

Nuối tiếc vô cùng kỷ niệm ơi
Tình thơ cách đoạn xót đau rời
Tàn khuya héo thẫn thờ câu đợi
Lặng lẽ khúc chờ hẻo ái vơi
Cứ tưởng đêm rồi mai sẽ tới
Dè đâu mộng vắn dạ toang bời
Mòn trong quạnh quẽ nào hương mới
Chỉ thấy sắc nguyền nhạt nhẽo rơi

Chỉ thấy sắc nguyền nhạt nhẽo rơi
Giờ đây quá vãng đẫm hương bời
Mùa hương ái cảm đà tan vợi
Khuỷnh sắc ân thề cũng lụn vơi
Có phải mê mù dang dở gợi
Mà gây xa xót thảm thê rời
Từng đêm tưởng nhớ mùa thương khởi
Nuối tiếc vô cùng kỷ niệm ơi

HANSY

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019

1-HỒI ỨC MƯA


TỨ QUÝ

TỨ QUÝ
(Thủ nhất thanh-Láy)
XUÂN
XUÂN trời lả lướt điểm nồng khai
XUÂN sực nức hương giữa nguyệt đài
XUÂN rạng rỡ miền đơm quả trái
XUÂN ngào ngon cõi lựng thềm mai
XUÂN thơm lộng lẫy gieo vần hái
XUÂN biếc lững lơ dệt tứ cài
XUÂN mặn mà lâng niềm ước trải
XUÂN tình ngan ngát vọng chờ ai


HẠ
HẠ loáng nghiêng thềm rộn rã ai
HẠ thương dào dạt tóc mây cài 
HẠ lung linh nắng vờn hương cải
HẠ lóng lánh tình nhớ sắc mai
HẠ rực chân trời xao xuyến chảy
HẠ loang cuối nẻo thảo thơm nhoài
HẠ về ngúng nguẩy mùa hoa trái
HẠ nhắn nhủ lòng chớ bợt phai


THU
THU vàng mảnh khảnh lá dần phai
THU chạnh sương khuya lặng lẽ hoài
THU vắng vẻ thềm mơ khả ái
THU đìu hiu nẻo hẹn trùng lai
THU trời sắc dịu triền miên trải
THU cõi ngàn khoe mải miết cài
THU khúc mơ màng thoang thoảng lại
THU hoài lặng lẽ mộng về ai


ĐÔNG
ĐÔNG khắc khoải chờ một dáng ai
ĐÔNG ơi đừng trỗi điệu bi hài
ĐÔNG trầm ngâm dạ sầu đong mãi
ĐÔNG héo hắt lời chẳng chịu phai
ĐÔNG biệt muôn trùng thăm thẳm hải
ĐÔNG xa vạn kiếp thảm thê đài 
ĐÔNG đan lạnh lẽo niềm đau ngoái
ĐÔNG khúc khuỷu hồn nuối mộng phai

HANSY


CÁI GHEN NHÂN TỪ CỦA HOẠN THƯ


CÁI GHEN NHÂN TỪ
CỦA HOẠN THƯ

Không một người Việt Nam nào mà không biết tên Hoạn Thư và cái “đức” ghen của nàng. Nhưng có lẽ ít người tìm hiểu sâu xa về cái “đức” ghen đó. Ai cũng cho rằng Hoạn Thư là con người thâm độc, nham hiểm, tàn nhẫn khi hành hạ Thúy Kiều. Vì thế, tên Hoạn Thư đồng nghĩa với sự ghen tuông độc ác của một người đàn bà.

Trong thập niên 50, đầu 60, ở miền Nam Việt Nam, báo chí đã tường thuật nhiều vụ đánh ghen rất khủng khiếp. Có người thì đốt cho chồng cháy như cây đuốc (mà danh ca Trần Văn Trạch đã có bài hát “Đốt hay không đốt”), và có kẻ thì tạt át xít vào mặt tình địch, hủy hoại nhan sắc xinh đẹp của một cô vũ nữ… Như vậy, so với cái ghen của Hoạn Thư còn độc ác gấp ngàn lần. Thế mà không ai “nổi tiếng” bằng Hoạn Thư. Và người đời vẫn chỉ nhớ đến Hoạn Thư mỗi khi nói tới ghen tuông.

Thật ra, nếu tìm hiểu kỹ hơn về cách đánh ghen của Hoạn tiểu thư trong Đoạn Trường Tân Thanh, chúng ta sẽ thay đổi thái độ với nàng, chứ không khắc nghiệt như hiện nay. Điều mà những người đọc Kiều ít quan tâm tới là tâm trạng giận chồng của Hoạn Thư. Thoạt tiên, nàng không hề thù ghét Kiều :

Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm, tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa.
Ví bằng thú thật cùng ta,
Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình.

Sở dĩ Hoạn Thư không muốn “rước lấy tiếng ghen” vì lễ giáo của nhà Nho không phản đối việc người đàn ông có thể đèo bòng tới “năm thê, bảy thiếp” miễn phải thông báo cho bà chính thất biết. Bà chính thất là “vợ cái con cột” nắm quyền “nội tướng” (tương đương với bộ trưởng Nội vụ) trong gia đình. Ngoài ra, Hoạn Thư không dám ghen vì nàng còn có một nhược điểm quan trọng là chưa có con để nối dõi tông đường.

Khi Thúc Sinh đang đắm đuối trong tình yêu mới được chính quan phủ sở tại ở Lâm truy se duyên, Kiều sáng suốt nhận ra rằng chàng Thúc phải qua thủ tục “thông báo” cho đúng lễ nghi :

Xin chàng liệu kíp lại nhà,
Trước người đẹp ý, sau ta biết tình.
Đêm ngày giữ mực giấu quanh,
Rày lần mai lữa như hình chưa thông!

Dù không muốn xa Kiều, nhưng thấy lời khuyên của nàng rất hợp lý, chàng Thúc “đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang”. Rồi khi tiễn biệt, Kiều còn nhắc nhở :

Nàng rằng: Non nước xa khơi,
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
Dễ lòa yếm thắm trôn kim,
Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng.
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
Đến nhà trước hãy nói sòng cho minh.
Dù khi sóng gió bất tình,
Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
Lại mang những việc tày trời đến sau.

Nhưng khi về đến nhà, Thúc Sinh lại quên hết lời dặn dò của Kiều, chỉ vì Hoạn Thư chẳng đả động gì tới chuyện “vợ lẽ” :

Mấy phen cười nói tỉnh say,
Tóc tơ bất động mảy may sự tình.

Có lẽ nàng Hoạn muốn chồng phải lên tiếng trước. Nhưng Thúc lại không hiểu như vậy, nên :

Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
Nào ai có khảo mà mình lại xưng?
Những là e ấp dùng dằng,
Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Phải chăng vì chờ mãi không thấy chồng đề cập tới chuyện có vợ nhỏ ở Lâm Truy, Hoạn Thư đã khéo léo mở hé một cánh cửa cho chồng bước vào :

Rằng: Trong ngọc đá vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông dài,
Bướm ong lại đạt những lời nọ kia.
Thiếp dù vụng, chẳng hay suy,
Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười.

Nếu nhân dịp này, Thúc mạnh dạn cho biết chàng mới có vợ nhỏ, chắc chắn Hoạn phải đành lòng chấp thuận. Nhưng, tiếc thay, Thúc lại ngu xuẩn nghĩ :

Thấy lời thủng thẳng như chơi,
Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn.

Thế rồi chàng ở nhà cả năm trời mà không nói được gì. Khi chàng nhấp nhỏm muốn ra đi, nhưng lại nhút nhát không dám ngỏ lời. Hoạn Thư biết ý, khôn khéo lên tiếng trước:

Tình riêng chưa dám rỉ răng,
Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
Cách năm, mây bạc xa xa,
Lâm Truy cũng phải tính mà thần hôn.

Bất ngờ được vợ cho phép, Thúc mừng quá, bèn :

Vó câu thẳng ruổi nước non quê người.

Thế là bao nhiêu lời dặn dò, cảnh cáo của Thúy Kiều thành vô ích hết. Cái mục đích về để “thông báo” không được thực hiện.

Vì không được chính thức thông báo, Hoạn Thư bây giờ có quyền thi hành kế hoạch riêng của mình với sự tính toán chu đáo.

Kế hoạch của Hoạn Thư là cho một đội “biệt kích” chớp nhoáng vượt biển sang Lâm Truy bắt cóc Thúy Kiều đem về Vô Tích để hành hạ anh chồng phản bội cho bõ ghét. Bọn Khuyển, Ưng, tay sai của họ Hoạn, đã thành công mỹ mãn trong vụ bắt cóc này. Chúng còn khôn khéo đánh tráo một cái xác vô thừa nhận ở bên sông để làm lạc hướng nhà họ Thúc. Chúng không đưa Thúy Kiều thẳng về nhà Hoạn Thư mà đưa về cho phu nhân, mẹ Hoạn Thư, đánh phủ đầu và dạy nghề làm tôi tớ. Khi Kiều đã trở thành một thị tì quen việc, Hoạn Thư mới đưa tình địch về nhà mình. Nhưng nàng ghen thì ít mà giận chồng thì nhiều nên đối với Kiều cũng không khắc nghiệt quá đáng. Một hôm, nàng hỏi đến tài đánh đàn của Kiều :

Phải đêm êm ả chiều trời,
Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
Lĩnh lời nàng mới lựa dây,
Nỉ non thánh thót dễ say lòng người !
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.

Như vậy, rõ ràng Hoạn Thư không giống những người đàn bà đánh ghen khác. Nàng đã có lòng khoan nhân với tình địch. Những người (cả đàn ông lẫn đàn bà) đang trong cơn ghen, thấy tình địch là muốn băm vằm, đâm chém cho hả cơn ghen. Thế mà Hoạn Thư lại “thương tài” tình địch và còn bớt nghiêm khắc đi vài phần. Như vậy không phải là cái ghen bình thường của những phụ nữ khác. Có thể nói nàng là một người đàn bà hiếm có trên cõi đời này.

Trong khi đó, Thúc Sinh đi đường bộ về đến Lâm truy thì Thúc ông đã lo xong việc tang lễ cho Kiều (thực ra là cái thây vô chủ) :

Lễ thường đã đủ một hai,
Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ.
Bước vào chốn cũ lầu thơ,
Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.
Sang nhà cha, đến trung đường,.
Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên.

Thúc vật vã khóc than, rồi nhờ thầy phù thủy đánh đồng thiếp xuống âm phủ tìm Kiều. Thầy pháp xuất thần một lát rồi trở về cho biết Kiều còn sống và phải đợi một năm nữa hai người mới được gặp nhau, nhưng :
Hai bên giáp mặt chiền chiền,
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay.

Nửa tin nửa ngờ, chàng khắc khoải sống trong nỗi thương nhớ Kiều khoảng một năm trời thì nguôi ngoai. Nhớ nhà, chàng trở về Vô Tích với Hoạn Thư. Sau khi hai vợ chồng hàn huyên, Hoạn cho gọi Kiều ra. Lúc đó hai người mới “tá hỏa tam tinh” .

Nhà hương cao cuốn bức là,
Phòng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa.
Phải rằng nắng quáng đèn lòa,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc sinh ?
Bây giờ tình mới tỏ tình,
Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai!

Còn Thúc thì hoảng sợ vô cùng :

Sinh đà phách lạc hồn xiêu,
Thương ôi! Chẳng phải nàng Kiều ở đây?
Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi, ta đã mắc tay ai rồi!

Cả hai đều không dám trái lời Hoạn Thư, nên kẻ thì :

Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.

người thì :

Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.

Bây giờ đến màn đánh ghen của Hoạn Thư. Nàng sai bày tiệc rượu, gọi là tiệc “tẩy trần” và bắt Kiều hầu rượu :

Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay.

Thương người yêu bị hành hạ, Thúc cáo say, từ chối. Hoạn Thư dọa đánh Kiều, chàng đành “chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.” Sau đó, Hoạn Thư còn bắt Kiều đàn cho Thúc nghe :

Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt sương.

Nhưng khi Kiều bị Hoạn Thư thét mắng về tội làm Thúc buồn, Thúc lại phải

Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.

Màn đánh ghen của Hoạn Thư đến đây là hết :

Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm,
Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay.

Như vậy cuộc đánh ghen quá nhẹ so với bất cứ cuộc đánh ghen nào khác trên cõi đời này. Sau trận đánh ghen nhân từ, rất trí tuệ và độc đáo của Hoạn Thư, Kiều tiếp tục làm bổn phận của một thị tì, nhưng lúc nào cũng tỏ vẻ buồn rầu. Hoạn Thư động lòng mới hỏi nguyên do. Kiều thưa:

Lựa lời nàng mới thưa qua,
Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.

Hoạn Thư bèn nhờ chồng hỏi lại cho rõ chuyện. Kiều dâng lên một lá đơn :

Cúi đầu quì trước sân hoa,
Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.
Diện tiền trình với tiểu thư,
Thoắt xem dường có ngẩn ngơ chút tình.
Liền tay trao lại Thúc sinh,
Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương!
Ví chăng có số giầu sang,
Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên !
Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời.

Sau đó, Hoạn chiều theo ý Kiều mà cho nàng được đi tu :

Tiểu thư rằng: Ý trong tờ,
Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa không.
Thôi thì thôi cũng chiều lòng,
Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra.

Điều này chứng tỏ Hoạn Thư rất rộng lượng với Kiều. Ngoài ra, Hoạn Thư làm như vậy cũng là để giữ thể diện cho bản thân và cho gia đình vì Kiều không phải là một loại con hầu thông thường. Vì hoàn cảnh éo le, nàng đã trở thành một loại nô lệ cho nhà họ Hoạn. Ngay lúc đầu, Hoạn bà đã nói rõ :

Đã đem mình bán cửa tao,
Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này!

Rồi chính Hoạn Thư cũng xác nhận như vậy :

Rằng: Hoa nô đủ mọi tài…

Bây giờ Hoạn cho Kiều đi tu, tình trạng nô lệ vẫn còn nhưng được nhẹ bớt đi rất nhiều. Vì thế, nhân lúc vợ vắng nhà, Thúc sinh lẻn ra “Quan Âm các” thăm Kiều, nàng đã cầu khẩn xin Thúc:

Liệu bài mở cửa cho ra,
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu.

Trong khi hai người đang kể lể, than khóc thì Hoạn Thư trở về. Nhưng nàng không xuất hiện ngay :

Hoa rằng: Bà đến đã lâu,
Dón chân đứng núp độ đâu nửa giờ.
Rành rành kẽ tóc chân tơ,
Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường.
Bao nhiêu đoạn khổ tình thương,
Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than.
Ngăn tôi đứng lại một bên,
Chán tai rồi mới bước lên trên lầu.

Vụ “nghe lén” này đã làm Hoạn Thư an tâm, không còn sợ mất chồng nữa, vì Thúc đã dứt khoát cho Kiều biết dù còn thương nàng, chàng cũng không thể “lên thác xuống ghềnh” với nàng được :

Đã cam tệ bạc với tình,
Chúa xuân để tội một mình cho hoa.
Thấp cơ thua trí đàn bà,
Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời.
Vì ta cho lụy đến người,
Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh.
Quản chi lên thác xuống ghềnh,
Cũng toan sống thác với tình cho xong.
Tông đường chút chửa cam lòng,
Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai.
Thẹn mình đá nát vàng phai,
Trăm thân dễ chuộc một lời được sao?

và chàng còn khuyên Kiều trốn đi :

Liệu mà xa chạy cao bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi.
Bây giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?

Hoạn Thư thấy cuộc đánh ghen của mình đã đạt kết quả tốt đẹp, nên khi xem Kiều viết Kinh thì tỏ ra vui vẻ :

Khen rằng: Bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp Lan đình nào thua !
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
Nghìn vàng thực cũng nên mua lấy tài.

Phải nói rằng chưa có một người đàn bà nào lại khen ngợi tình địch đến như vậy. Vì thế, khi Kiều báo ân, trả oán, không thể trừng phạt nổi Hoạn Thư mà phải tha kẻ thù của mình. Trong cuộc báo ân, trả oán của Kiều, Hoạn Thư là tội phạm đứng đầu sổ :

Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Ai cũng tưởng Hoạn nương sẽ phải lãnh một hình phạt rất nặng nề, không bị băm vằm thì cũng bị đánh nhừ xương. Nhưng, sau khi nghe Hoạn trình bày, Kiều phải tha cho nàng :

Rằng: Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi các viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng cũng kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều được ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?

Trước những lý lẽ vững chắc đó, Kiều đành nói :

Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen
Đã long tri quá thì nên,
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.

Hai chữ “nhỏ nhen” chứng tỏ rằng Thúy Kiều cũng biết Hoạn Thư đã dễ dãi và rất rộng lương với mình, nên không có lý do gì mà hành hạ kẻ thù. Hay nói một cách khác Kiều hiểu Hoạn Thư không thực sự đánh ghen mà chỉ muốn “dằn mặt” Thúc Sinh vì cái tội có vợ nhỏ mà không “thông báo” cho đúng phép tắc. Hoạn đã nói rõ điều đó khi về bàn tính với mẹ :

Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Nghĩ rằng: ngứa ghẻ hờn ghen,
Xấu chàng mà có ai khen chi mình.

Đến đây chúng ta có thể nói rằng nếu Hoạn Thư đánh ghen (như người ta vẫn gán cho nàng) thì cuộc đánh ghen đã rất nhân từ, độ lượng, không giống những vụ đánh ghen độc ác, tàn nhẫn khác. Riêng chúng tôi nghĩ rằng Hoạn Thư muốn hành hạ Thúc Sinh, nhưng luân lý ngày xưa không cho phép vợ được hỗn láo, lăng loàn với chồng. Hoạn phải chọn Kiều để hành hạ vì biết rằng Thúc sẽ đau khổ hơn chính chàng bị hành hạ. Và Hoạn Thư đã đạt mục đích: Thúc không những đau khổ vô cùng mà còn đành phải “cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai”. Hoạn Thư còn mong gì hơn nữa khi đã dành được chồng khỏi tay tình địch. Nàng đã mãn nguyện nên khi Kiều lấy trộm chuông vàng khánh bạc lẻn trốn đi, không sai người đuổi bắt lại.

Tạ Quang Khôi