Thứ Hai, 23 tháng 9, 2019

123-BIỆT TÌNH


AI ĐƯA BÙI GIÁNG VÀO NHÀ THƯƠNG ĐIÊN?


AI ĐƯA BÙI GIÁNG
VÀO NHÀ THƯƠNG ĐIÊN?

Có cuộn băng cassette ghi lời kể của chính Bùi Giáng về nguyên do ông bị “áp tải” vào nhà thương điên Biên Hòa.

Những tài liệu này ghi nhận qua các buổi gặp gỡ với đại diện của Bùi tộc Vĩnh Trinh tại TP.HCM - ông Bùi Dương Thạch, hoặc những người từng sống gắn bó nhiều năm với Bùi Giáng như ông Nguyễn Thanh Hoài tại số 482/35/5 Lê Quang Định, P.11, Q.Bình Thạnh, TP.HCM. Chính ở địa chỉ đó, hiện vẫn còn lưu giữ các cuốn băng với nhiều chi tiết sống động do Bùi Giáng kể ra, được Thanh Hoài ghi âm:

“Những năm cuối đời của bác Giáng, nhất là từ 1990 trở đi, hai bác cháu thường ngồi nói những chuyện riêng tư cho đỡ buồn trước hiên nhà, hoặc dưới tàng cây trong sân vào mỗi đêm khi gia đình đã đi ngủ hết. Bác kể hết sức chi tiết về chuyện đời của bác, từ thời còn nhỏ cho đến lúc lớn lên, rời miền Trung vào Sài Gòn sinh sống, làm thơ và giao du với ai, cũng như việc sáng tác, in ấn như thế nào… Một bữa, tôi lấy máy cassette để ghi âm lại lời nói của bác thì thấy bác có vẻ băn khoăn hỏi: “Mi thâu làm cái chi?”. Tôi nói với bác thâu để có gì hay thì cháu nghe lại không thôi nó quên! Bác nói rứa thì được, mi cứ thâu đi, tao nói cho nghe”. Và Bùi Giáng nói về “sự cố” đã đẩy ông vào nhà thương Biên Hòa với nội dung như lời Thanh Hoài tóm lược dưới đây.

“Vào những năm đầu tiên của thập niên 1960, bác Giáng viết rất nhiều, gần như không có ngày nào dừng bút, bản thảo dày lên chưa kịp in thì xảy ra vụ cháy nhà nơi bác đang ở trên đường Phan Thanh Giản, nay là đường Điện Biên Phủ, khiến bao nhiêu bản thảo cháy rụi. Bác nói với tôi là tao quá tiếc và đau đớn nhất là công trình biên soạn về truyện Kiều ròng rã suốt 3 năm trời đã thành tro, làm tao buồn quá bỏ hết để rong chơi khắp lục tỉnh, sông nước kênh rạch chỗ nào có dịp là tao tới.

Khi về, thì Tòa đại sứ Pháp và Tòa đại sứ Đức ở Sài Gòn có mời tao đến hỏi thăm, họ nói nếu tao cần sách gì họ sẽ mang tặng không đòi một đồng nào. Nhưng nhà cháy rồi, lấy sách của Pháp của Đức về cũng không có chỗ để, nên tao cám ơn rồi từ chối, không nhận. Thế nhưng hai tòa đại sứ kia không biết thế nào vẫn lại tìm cách gửi đến tao mấy thùng sách quý của các tác giả nổi danh ở nước họ và trên thế giới. Tao đành phải nhận nhưng không biết cất nơi nào nên tao mới đến gặp ông chủ (tạm giấu tên) của NXB VT để vui vẻ tặng lại cho ông ta. Nhưng ông ta không nhận, vì ông nói người Pháp người Đức tặng cho anh toàn sách quý, nếu anh không có chỗ cất vì nhà đã cháy, thì tôi chỉ giữ giùm, khi nào anh cần đến nói là tôi giao lại cho anh. Tao vui vẻ ra về.

Đến không lâu sau tao kẹt quá, không có tiền đủ để ăn cơm bình dân và uống la-de con cọp chai loại lớn nên tao đến gặp ông chủ NXB kia để nhận lại số sách đã gửi. Nhưng kỳ cục là khi tao đến lấy, thì ông ta không giữ lời, nhất định không chịu trả. Tao nhắc lại là tại sao khi tao tặng thì không nhận, nói giữ giùm, bây chừ đến lấy tại sao lại không đưa? Ông ta cứ một mực tỉnh bơ, không trả. Tao nổi điên tao chửi một trận, rồi tao về. Bước ra ngoài đường tao thấy chiếc xe hơi kiểu Nhật sang trọng của ông chủ đó đang đậu trước nhà, luôn tiện tức quá tao lượm một cục đá xanh thiệt to ném thẳng vào chiếc xe đó cho hả giận, ai dè nó bể cái kính xe, mà lúc đó chiếc xe trị giá cả bạc triệu. Ông ta chạy ra thì sự đã rồi, vừa tiếc của, vừa giận tao lắm, mới điện thoại cho thằng em ruột của tao (không nêu tên) lúc ấy là sĩ quan của quân đội ông Thiệu đến mắng vốn và để chở tao về. Khi về đến nhà, thằng em ruột của tao ngao ngán nhìn tao và có lẽ nhớ đến chiếc xe đắt giá bị bể kiếng rồi sợ rằng tao ở trong nhà nó có thể cũng sẽ gây ra cảnh tương tự như thế. Nói trắng ra là thằng em tao với đứa con gái út của nó chắc hẳn nghĩ rằng tao điên nên đã cùng nói với tao là thôi để ngày mai tụi em chở anh về Vũng Tàu vài hôm nghỉ mát cho khỏe người tĩnh trí anh à. Tao cứ tưởng thật nên sáng hôm sau ngồi lên xe cho chúng chở đi về Vũng Tàu. Nào ngờ đến Biên Hòa tụi nó đã chở thẳng tao vào nhà thương điên để gửi, tao có nói gì đi nữa thì bọn “cai ngục” chung quanh cũng chẳng ai tin, mi thấy có đắng họng không?”. Về sau ông viết mấy câu: “Gặp người tôi tưởng người điên - gặp tôi tôi tưởng tôi điên như người”… (Còn nữa)
“Bùi Giáng chưa bao giờ điên. Cũng như anh chẳng bao giờ giả điên. Càng chưa bao giờ Bùi Giáng bất mãn trước bất cứ thời thế nào. Bởi lẽ dễ hiểu là Bùi Giáng chẳng sống theo thời thế, mà chỉ biết sống từ cõi văn nghệ lúy túy càn khôn của anh. Thời kỳ của Bùi Giáng bộc phát ra bên ngoài mà chúng ta gọi là điên, ấy là thời kỳ tĩnh tại và hưng phấn cùng độ của người nghệ sĩ. Tất cả lẽ chân thiện mỹ của nghệ thuật thi ca từ nhiều đời nhiều kiếp đều dồn về lúc đó… Bây giờ người thi sĩ này chỉ còn một cách duy nhất để sáng tác nguồn cảm hứng kia là sống. Sống dạt dào -  sống nóng hổi tươi mới. Sống và sống là thi ca tràn đầy trong thiên nhiên, trong tình cảm và giữa vạn loài. Ôi thời gian là thực chất mới mẻ đang dâng hiến, dâng hiến bất tuyệt cho người, cho ta, cho cây cỏ, cho nắng mưa, cho rượu chè, cho phở tái, cho tình yêu chan chứa giữa lòng nhau mà đau khổ càng rõ nét, càng vút cao tính khoan hòa thánh thiện… Tính cách này đạo Thiền gọi là phỉ lạc, Bùi Giáng gọi là Niết bàn của thi sĩ…”.
Trần Đới
(Thích Thông Bác)


Bùi Giáng qua ký họa của Chóe - Ảnh: Tư liệu

65-ĐIÊU TÀN NẺO CUỐI


65
ĐIÊU TÀN NẺO CUỐI
[Thuận Nghịch độc]

Thơ mù mịt rủ úa triền mê
Thẫm héo mùa đau dạ xám về
Mờ nguyệt bóng hoen đày đọa nuối
Xót lòng thân nhão dặc dằng kê
Ơ kìa oán hận yêu tàn thả
 Ấy nhĩ buồn thương ái rã kề
Lờ lặng ước duyên mòn mỏi bóng
Cơ cầu mộng ảo miệt mài tê

Tê mài miệt ảo mộng cầu cơ
Bóng mỏi mòn duyên ước lặng lờ
Kề rã ái thương buồn nhĩ ấy
Thả tàn yêu hận oán kìa ơ
Kê dằng dặc nhão thân lòng xót
Nuối đọa đày hoen bóng nguyệt mờ
Về xám dạ đau mùa héo thẫm
Mê triền úa rủ mịt mù thơ

HANSY
*
CÕI MÊ

Thơ thẩn bóng chiều cảnh đắm mê
Vắng hoang miền ảo chốn đâu về
Mờ sương trắng mỏng dường như khói
Nhạt nắng hanh vàng tưởng ngỡ kê
Ơ thế vẫn tìm may sát cạnh
Hỡi ơi nào biết họa bên kề
Lờ quên để sống buồn vui mặc
Cơ sự lắm sầu dạ tái tê

Tê tái dạ sầu lắm sự cơ
Mặc vui buồn sống để quên lờ
Kề bên họa biết nào ơi hỡi
Cạnh sát may tìm vẫn thế ơ
Kê ngỡ tưởng vàng hanh nắng nhạt
Khói như dường mỏng trắng sương mờ
Về đâu chốn ảo miền hoang vắng
Mê đắm cảnh chiều bóng thẩn thơ

Minh Hien

NẺO TÌNH LÁ LAY


NẺO TÌNH LÁ LAY


Đã vào trong cõi trần ai
Lưới tình lồng lộng, bám dai dẳng đời
Làm sao tả hết ngôn lời
Sầu bi, phúc hạnh dậy khơi chuyện cùng.

Ngàn năm gió thoảng mây chùng
Mà sao lụy vướng nẻo lùng bùng chao
Tưởng đâu mộng ngọt mơ ngào
Té ra chìm nổi khiến hao hớt nhiều.

Tình làm lắm kẻ liêu xiêu
Bơ vơ cuối dốc, đắm phiêu lãng mù
Đơn phương ôm khối tình u
Mà nghe man mác giữa mù mịt tim…

Người chưa biết, náo nức tìm
Kể vô trong rọ, sớm chìm nghĩm thôi…

HANSY

DỐC ĐÈO ĐẤT VIỆT


DỐC ĐÈO ĐẤT VIỆT

Hải Vân quả thực xứng danh đèo
Qua dốc Rù Rì vọng tiếng theo
Ngoạn Mục quành co lời suối réo
Cù Mông lờ lượn gió mây vèo
Bềnh bồng Tam Điệp hồn linh réo
Lãng đãng Quy Hồ thác núi reo
Khúc khuỷu An Khê cần lái dẻo
Prenn hiểm trở gắng tay chèo

Ngày xưa Mụ Giạ sáng hôm chèo
Đèo Cả vọng về tiếng biển reo
Nhớ mãi Phượng Hoàng cao vắt vẻo
Ớn luôn Mã Phục lướt veo vèo
Mẹ Bồng Con vẫy tim chùng kéo
Mã Pí Lèng vờn trí ngợp theo
“Bước tới Đèo Ngang…” tình khắp nẻo
Bông Lau trắng xoá những cung đèo

HANSY

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2019

122-VÀNG TRĂNG


Kỳ 157 -CHIÊM THÀNH CẦU HÒA ĐẠI VIỆT


Kỳ 157
CHIÊM THÀNH CẦU HÒA ĐẠI VIỆT
ĐỂ ĐẠI CHIẾN VỚI CHÂN LẠP

Các đợt tấn công liên tục của nước Chân Lạp trong kể từ khi vua Suryavarman II lên ngôi (năm 1113) đã khiến đất nước của người Chiêm bị tàn phá nặng nề. Thậm chí có khoảng thời gian Chiêm Thành bị xóa sổ khỏi bản đồ, trở thành thuộc địa của nước Chân Lạp. Năm 1150, vua Chiêm Thành là Jaya Harivarman I sau những nổ lực kháng chiến không ngừng nghỉ đã khôi phục lại được kinh thành Vijaya và góp phần gián tiếp khiến vua Suryavarman II thiệt mạng, nhưng mối họa xâm lăng đến từ nước Chân Lạp đối với Chiêm Thành vẫn còn tồn tại dai dẳng về sau. Và ở chiều ngược lại, nước Chiêm Thành cũng là một thế lực hiếu chiến khi họ trở nên hùng mạnh. Kể từ khi đất nước bị quân Chân Lạp tàn phá và chiếm đóng vào những năm 1145-1150, ý chí báo thù của người Chiêm quốc đã không còn nhắm vào nước Đại Việt mãnh liệt như trước mà chuyển sang căm thù người nước Chân Lạp. Ngoài ra, các đời vua Chiêm luôn phải bận tâm củng cố quyền lực trong nước, ngăn chặn xu hướng ly khai của các tiểu vương.

Từ hàng trăm năm trước, việc năm xứ của người Chiêm nắm giữ quyền tự trị quá cao luôn là một vấn đề nhạy cảm đối với bất cứ triều đại Chiêm Thành nào. Trải qua những nhiều biến cố, xứ Panduranga ở cực nam Chiêm Thành dần trở nên giàu mạnh, thách thức quyền lực của triều đình Vijaya. Cùng với đó, các xứ khác cũng chỉ phục tùng triều đình khi mà có chung lợi ích và nhà vua có đủ uy tín cũng như sức mạnh quân sự. Đến nửa cuối thế kỷ 12, nước Chiêm Thành là một quốc gia liên bang khá lỏng lẻo, và riêng xứ Panduranga gần như là một nước riêng biệt. Vua Jaya Harivarman I đối diện với nguy cơ đất nước của ông hoàn toàn bị phân rã.

Năm 1151, vua Jaya Harivarman I phải thân chinh đi đánh xứ Amaravati (thuộc Quảng Nam, Đà Nẵng ngày nay) vì chống đối lại uy quyền của triều đình Vijaya. Sau đó để được yên ổn mặt bắc, vua Jaya Harivarman I đã chủ động giao hảo với triều đình Thăng Long. Năm 1154, vua Jaya Harivarman I đã đem dâng con gái của mình cho vua Lý Anh Tông, một cử chỉ thể hiện sự thuần phục và kết thân. Vua Lý Anh Tông đã thu nhận người con gái nước Chiêm, qua đó cũng chấp nhận sự thuần phục về ngoại giao của Chiêm Thành. Sự kiện này là tiền đề quan trọng cho vua Jaya Harivarman I thực hiện kế hoạch phục hưng đất nước và báo thù nước Chân Lạp của mình. Khi đã yên mặt bắc, quân đội của triều đình Vijaya ồ ạt đánh xuống xứ Panduranga hòng buộc xứ này quay trở lại quỹ đạo của một đất nước Chiêm Thành thống nhất. Panduranga là một thế lực không dễ đối phó. Họ đã cầm cự với vua Jaya Harivarman I suốt hàng năm trời. Cho đến năm 1161, xứ này phải chịu khuất phục triều đình Chiêm Thành, công nhận vua Jaya Harivarman I là vua của toàn cõi Chiêm Thành. Panduranga vẫn giữ được nhiều quyền tự trị của mình và tiểu vương xứ này vẫn giữ được quyền thế tập.

Vua Jaya Harivarman I đã thành công trong việc tái thống nhất nước Chiêm Thành và củng cố quyền lực của Vijaya nhưng di sản của ông để lại không hề bền vững. Sau khi Jaya Harivarman I mất, con trai ông là vua Jaya Harivarman II không đủ năng lực để khuất phục các tiểu vương. Ở xứ Panduranga, Po Klong Garai trở thành tiểu vương mới một lần nữa nổi lên chống lại triều đình Vijaya. Là một nhân vật giỏi về quân sự và đầy tham vọng, Po Klong Garai đã cho thấy vua Jaya Harivarman II không phải là đối thủ của mình. Năm 1167, Po Klong Garai dẫn quân Panduranga đánh chiếm kinh thành Vijaya, lật đổ vua Jaya Harivarman II. Po Klong Garai trở thành vua của nước Chiêm Thành, lấy hiệu là Jaya Indravarman IV.

Vừa lên ngôi, vua Jaya Indravarman IV đã phải đối diện với nguy cơ bị nước Đại Việt tấn công, vì hành động không nhất quán của đời vua trước đó. Số là vào năm 1166 dưới thời vua Jaya Harivarman II, sứ giả nước Chiêm Thành tuy đến Thăng Long triều cống nhưng khi trở về lại tùy tiện cướp bóc dân ven biển ở hai châu Ô, Lý. Năm 1167, Thái úy Tô Hiến Thành lấy cớ đó đem đại quân vào đánh Chiêm Thành. Đại Việt dưới thời vua Lý Anh Tông vốn không còn hưng thịnh như các đời vua trước, nhưng binh uy so với Chiêm Thành vẫn mạnh hơn rất nhiều. Nhận thấy không thể đối địch được với láng giềng phương bắc, vua Jaya Indravarman IV đã đem lễ vật đến doanh của quân Đại Việt cầu hòa. Thái úy Tô Hiến Thành đã chấp nhận lời cầu hòa của nước Chiêm Thành, dùng lời phủ dụ răn vua Chiêm phải cư xử đúng mực nếu không muốn bị trừng phạt bằng vũ lực. Từ đó nước Chiêm theo định kỳ mà triều cống, luôn giữ lễ phiên thần với Đại Việt. Quan hệ hai nước lại tốt đẹp. Giải quyết xong những rắc rối với Đại Việt, Jaya Indravarman IV bắt tay ngay vào kế hoạch phục hưng nước Chiêm Thành.

Đồng thời với việc kết thân với Đại Việt, vua Chiêm cũng cố gắng kết bang giao với nước Tống để tranh thủ các lợi ích về thương mại. Các hoạt động buôn bán được mở rộng, thương cảng dọc bờ biển nước Chiêm Thành dần lấy lại vẻ thịnh vượng. Chiêm Thành dưới sự trị vì của Jaya Indravarman IV đã thực sự tái thống nhất. Các xứ Chiêm trở nên đoàn kết hơn, hứa hẹn đem tạo ra một sức mạnh to lớn.

Trên những nền tảng đó, vua Jaya Indravarman IV tập trung nguồn lực để xây dựng quân đội hùng mạnh, với mục đích là để báo thù nước Chân Lạp. Ban đầu, vua Chiêm có kế hoạch mua ngựa chiến từ nước Tống để xây dựng kỵ binh hùng mạnh, hòng giành ưu thế với Chân Lạp trong một cuộc chiến trên bộ. Nhưng kế hoạch đó đổ vỡ, bởi chính bản thân nước Tống cũng rất cần ngựa chiến nên đã không đáp ứng mong muốn mua ngựa của Chiêm Thành. Vả lại, Tống cũng rất kiêng dè khi giao thiệp với Chiêm quốc vì ái ngại sẽ đụng chạm đến nước Đại Việt. Thất bại trong kế hoạch mua ngựa từ nước Tống, vua Jaya Indravarman IV chuyển sang nổ lực xây dựng một hạm đội hùng mạnh để đột kích Chân Lạp bằng đường sông. Trong khoảng 10 năm trời, cả nước Chiêm Thành vừa khẩn trương xây dựng kinh tế, vừa hừng hực khí thế mài gươm báo thù.

Trong khi đó thì tại Chân Lạp, năm 1167 một viên quan trong triều đã làm chính biến lật đổ vua Yasovarman II và cướp ngôi, xưng là vua Tribhuvanadityavarman. Quân dân Chân Lạp nhiều người không phục mà nổi lên chống lại. Chân Lạp từ đó trải qua một thời kỳ rối loạn. Chớp lấy thời cơ, năm 1177 vua Jaya Indravarman IV thân chinh dẫn hạm đội Chiêm Thành theo dòng sông Mê Kong hành quân thần tốc tiến đánh Chân Lạp. Khi quân Chiêm Thành tiến đến hồ Tonle Sap (tức Biển Hồ), quân Chân Lạp đã hoàn toàn bị bất ngờ và bị kẻ địch đánh tan tác. Thừa thắng, Jaya Indravarman IV theo đường sông Siem Reap đánh chiếm kinh đô Angkor (bấy giờ gọi là thành Yasodharapura). Vua Tribhuvanadityavarman bị quân Chiêm Thành giết chết trong trận chiến, thành Angkor thất thủ. Nhân danh trả thù cho những gì người Chân Lạp đã gây ra trong những năm xâm lược và chiếm đóng Chiêm Thành xưa kia, vua Jaya Indravarman IV thả cho quân lính mặc sức cướp giết người Chân Lạp, đốt phá tan tành kinh thành Ankor.

Thế nhưng thắng lợi của quân Chiêm Thành dù to lớn thì vẫn chỉ là nhất thời. Từ vị thế kẻ bị xâm lược, người Chiêm lúc này đóng vai trò kẻ xâm lược cường bạo làm toàn thể người nước Chân Lạp căm phẫn và xích lại gần nhau hơn. Ngay sau khi tin tức thành Angkor bị tàn phá không thương tiếc, một hoàng thân nước Chân Lạp, con trai của vua Dharanindravarman II (vị vua trị vì Chân Lạp từ năm 1150 đến năm 1160) đã dấy binh khởi nghĩa và nhanh chóng tập họp được những lực lượng lớn mạnh, tiến hành kháng chiến chống quân Chiêm.

Trong bốn năm ròng chiến đấu, quân khởi nghĩa dần giành ưu thế và đánh bại quân Chiêm ngay tại hồ Tonle Sap. Một chiến thắng khác của người Chân Lạp tại đền Preah Khan thuộc Angkor vào năm 1181 buộc quân Chiêm Thành phải chịu rút lui. Lãnh tụ phong trào khởi nghĩa của người Chân Lạp bấy giờ lên ngôi vua, lấy hiệu là Jayavarman VII. Ông được xem là vị vua huyền thoại của nền văn minh Ankor, với chiến công giành lại độc lập cho đất nước là nhiều thành tựu lớn khác trong thời gian trị vì.

Đây là một giai đoạn đặc biệt khi mà cả hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp đều xuất hiện vua chúa có tài năng kiệt xuất. Cuộc đối đầu giữa vua Jaya Indravarman IV nước Chiêm Thành và Jayavarman VII nước Chân Lạp là một mảnh lịch sử lớn được khá nhiều sử gia phương đông và phương tây nghiên cứu. Những trận đại thủy chiến trên hồ Tonle Sap được lưu giữ trong ký ức cả người Chiêm Thành, Chân Lạp bằng hàng loạt các phù điêu, văn bia và truyện kể. Cuộc đối đầu này vốn là tiếp nối những ân oán giữa hai nước từ thời vua Suryarvarman II xâm lược Chiêm Thành, và nó còn kéo dài sang tận thế kỷ 13 với những sự kiện lớn đẫm máu khác đã góp phần làm suy yếu cả hai nền văn minh…

Quốc Huy


64-ĐÊM QUYỆN QUẤN LÒNG


64
ĐÊM QUYỆN QUẤN LÒNG

Êm ngào mật ngọt đẫm dòng lơi
Nếm thỏa lòng thơm quấn quyện đời
Thềm phả nhớ thương vằng vặc đợi
Bến lừng mơ mộng dạt dào tơi
Thêm hoài nghĩa lịm mê huyền cõi
Đếm mãi tình ân ái huyễn lời
Mềm lựng khách si quỳnh thắm khởi
Đêm nguyền hẹn ước dặt dìu khơi

Khơi dìu dặt ước hẹn nguyền đêm
Khởi thắm quỳnh si khách lựng mềm
Lời huyễn ái ân tình mãi đếm
Cõi huyền mê lịm nghĩa hoài thêm
Tơi dào dạt mộng mơ lừng bến
Đợi vặc vằng thương nhớ phả thềm
Đời quyện quấn thơm lòng thỏa nếm
Lơi dòng đẫm ngọt mật ngào êm

HANSY
*
ĐÊM NGỌT NGÀO

Êm ấm ngọt tình thả lỏng lơi
Nhớ thương thầm lặng diết da đời
Thềm loang ánh nguyệt màu hư ảo
Lối ngập hương quỳnh cánh nhẹ tơi
Thêm nuối để chìm mê lịm cảnh
Lại mơ còn ủ đắm say  lời
Mềm thân sát đất trời nghiêng ngả
Đêm mải miết nồng ái dậy khơi

Khơi dậy ái nồng miết mải đêm
Ngả nghiêng trời đất sát thân mềm
Lời say đắm ủ còn mơ lại
Cảnh lịm mê chìm để nuối thêm
Tơi nhẹ cánh quỳnh hương ngập lối
Ảo hư màu nguyệt ánh loang thềm
Đời da diết lặng thầm thương nhớ
Lơi lỏng thả tình ngọt ấm êm

DƯỜNG NHƯ XA VẮNG


DƯỜNG NHƯ XA VẮNG

Mình yêu nhau thật rồi phải không em?
Sao vẫn nghe trong lòng nhiều khoảng cách
Chiều mù sương lạc hồn bao ngõ ngách
Ngơ ngác tìm, hụt hẫng chẳng niềm chung...

Giữa yêu thương phảng phất chút lạnh lùng
Mơ hồ chen dường như là tách biệt
Sao không phải càng yêu càng tha thiết
Mà vẫn hoài trúc trắc, thế em yêu?

Tình ở đây chan giọt nhớ trong chiều
Chim sáo gọi tìm nhau về xây tổ
Ta cứ như vừa quen vừa bỡ ngỡ
Nắm trong tay dường thể thấy xa vời.

Lòng lúc nào cũng rộng mở mù khơi
Hồn buổi nao cũng phong phanh cửa mở
Đừng để tình đắn đo câu sấp ngửa
Kẻo tâm hồn ngơ ngác giữa mùa thương…


HANSY

VÔ THƯỜNG BỤI BẶM


VÔ THƯỜNG BỤI BẶM
[Ngũ độ]

Cảnh mộng vô thường huyễn sắc thôi
Nào đâu có thực giữa thay dời
Tèm lem kế hiểm thêm nhàu dạ
Hợm hĩnh thân giàu tổ ám hơi
Tỏ hững hờ thương là hẹp phước
Đừng ma mảnh ác lại tan đời
Từ xưa mãi tới ngàn sau vậy
Dưỡng đức cho lòng khỏe bạn ơi

Dưỡng đức cho lòng khỏe bạn ơi
Thì như trú ngụ ở tâm đời
Chiều lâng điệu hát tưng bừng nẻo
Sáng thỏa hương trà rạng rỡ hơi
Rộn rã kim bằng luôn kết thỏa
Nhàn an quyến thuộc chẳng di dời
Hoài mong khẩn niệm đường chân lý
Cảnh mộng vô thường huyễn sắc thôi

HANSY

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2019

121-MƠ


63-ĐAU THẦM KHÚC MỘNG


63
ĐAU THẦM KHÚC MỘNG
[Thuận Nghịch độc]

Mây trắng phả đầu toát lạnh sương
Ấy ơi sầu lệ xót xa trường
Đầy vơi mấy nữa nhiều thêm ngượng
Vậy rã cho cùng khẳm ái vương
Ngây khổ đắng thề tan mộng hướng
Dẫy loang khờ ước lạc mơ đường
Nầy đau đớn dạ buồn tê tái
Vây phủ mãi tình ngút viễn phương

Phương viễn ngút tình mãi phủ vây
Tái tê buồn dạ đớn đau nầy
Đường mơ lạc ước khờ loang dẫy
Hướng mộng tan thề đắng khổ ngây
Vương ái khẳm cùng cho rã vậy
Ngượng thêm nhiều nữa mấy vơi đầy
Trường xa xót lệ sầu ơi ấy
Sương lạnh toát đầu phả trắng mây

HANSY
*
RÃ ÁI

Mây chìm bóng nước phủ mờ sương
Thấy lại người xưa cảnh đoạn trường
Đầy ngập oán ân vì dạ vướng
Cậy nhờ ơn nghĩa bởi tình vương
Ngây thời phận gửi chân lầm hướng
Mấy thuở đời trao bước lạc đường
Nầy gió lạnh đông còn ngỡ tưởng
Vây vòng chịu rã ái ngàn phương

Phương ngàn ái rã chịu vòng vây
Tưởng ngỡ còn đông lạnh gió nầy
Đướng lạc bước trao đời thuở mấy
Hướng lầm chân gửi phần thời ngây
Vương tình bởi nghĩa ơn nhờ cậy
Vướng dạ vì ân oán ngập đầy
Trường đoạn cảnh xưa người lại thấy
Sương mờ phủ nước bóng chìm mây

Minh Hien

THƯƠNG YÊU THÊM NỮA


THƯƠNG YÊU THÊM NỮA

Hãy nồng mặn như làn thơm của nắng
Dẫu đôi mình cách quãng biển trời xa
Sát liền tim trong một dải trăng ngà
Cho muôn thuở la đà cơn huyễn mộng.

Hãy tha thiết để vần thơ ngào lộng 
Ủ ấp mơ trong ước vọng chung tình
Thơm thật thơm, dòng ái đẫm huyền trinh
Gom hết lại cho đôi mình thắm thiết.

Hãy dịu dàng để trời yêu luôn biếc
Ngọt ngào ơi, đừng nuối biếc tình trao
Dỗ trầm mê dậy sóng nhớ dâng trào
Đơm lấp lánh ngàn sao bừng thăm thẳm.

Hãy gần gũi để yêu thương nồng mặn
Lắng tai nghe chầm chậm sóng huyền linh
Ngày mai đây hương ái dậy trúc-quỳnh
Vòng tao ngộ buộc ràng tim hai đứa.

Hãy yêu nhé, thương nhau thêm chút nữa...

HANSY

LẶNG KHÚC DUYÊN VÙI


LẶNG KHÚC DUYÊN VÙI
[Ô thước]

Ta thường cuốc bộ dọc triền sông
Chẳng thấy nào đâu một bóng hồng
Để gió thu chuyền thêm ngát bổng
Cho làn hạ tới khỏi chờ trông
Vì sao gối nệm hoài trơ trống
Có phải tình duyên chẳng đượm hồng
Mắt lượn qua về nom phía cổng
Nhưng mà chỉ thấy mịt mù giông

Chỉ thấy trong ngoài lắm bão giông
Nào đâu quấn quyện ái ân nồng
Từng đêm tỉnh giấc hờn chao lộng
Mỗi bữa tê đời tủi giận rông
Mỹ nữ ân tình xin ghé mộng
Đài trang ái cảm ước mơ đồng
Cùng nhau hiệp cẩn trời lay động
Tỏa ngát mê bừng giữa quãng không

HANSY

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

120-CỬU TRƯỜNG


62-ĐƠN CHIẾC CÔ PHÒNG

62
ĐƠN CHIẾC CÔ PHÒNG

Hạ mãn thu tàn lạnh buốt đông
Thầm thương lắm kẻ ái đâu nồng
Lu mờ lãng tử đành tim trống
Lỡ cỡ thuyền quyên vuột chỉ hồng
Ngõ phúc ê càng xuân rã mộng
Cung tình lụn bại nước rời sông
Gia đình chẳng vẹn làm sao sống
Con trẻ trời ơi chả được bồng

Con trẻ trời ơi chả được nồng
Tịt ngòi pháo nổ vứt ngoài sông
Nàng xuân ỏng ẹo sầu đan trống
Ả ái chua ngoa chẳng chịu hồng
Sớm khoái mơ hoài đâu biếc bổng
Chiều mê thích suốt chả thơm nồng
Phòng loan tẻ ngắt đời vô vọng
Hạ mãn thu tàn lạnh buốt đông

HANSY
*
 LỠ NGÀY XUÂN
Bây giờ chớm lạnh buổi đầu đông
Ngả Bắc nhiều mưa ái nhạt nồng
Gió thổi từng cơn vào ngõ trống
Đàn buông một tiếng trải hoa hồng
Thương người phận hẩm đường chia mộng
Nhớ cảnh dương tà sáo biệt sông
Gửi tiếng yêu đầu trôi biển rộng
Ngàn dâu ở lại ngắm mây bồng

Ngàn dâu ở lại ngắm mây bồng
Lặng lẽ con đò ngủ bến sông
Cũng chẳng mơ gì tan bão lộng
Đành thôi bỏ vậy xót tim hồng
Đời trai lãng tử còn thơ mộng
Phận gái thuyền quyên đã mặn nồng
Lỗi hẹn mùa xuân về trước cổng
Bây giờ chớm lạnh buổi đầu đông

Minh Hien

CHUNG QUANH QUYỂN THI NHÂN VIỆT NAM [1932 -1941]


CHUNG QUANH QUYỂN
THI NHÂN VIỆT NAM
[1932 -1941]


1
Bây giờ thì khó mà tìm được bản in lần thứ nhất quyển sách này. Nhưng theo trí nhớ của tôi, cũng như xác nhận trong bộ "Hoài Thanh toàn tập", Nhà xuất bản Văn học 1998, thì tên đầy đủ là như trên, xin nhấn mạnh một lần nữa: "Thi nhân Việt Nam (1932-1941)".
Nhưng gần 80 năm nay, kể từ khi quyển sách ra đời, tôi thấy có đến gần 95% các nhà nghiên cứu và phê bình và cả nhiều người đọc, khi nhắc đến tên quyển sách này chắc là để cho gọn, chỉ thấy nói và viết có "Thi nhân Việt Nam". Thậm chí, có mấy Nhà xuất bản in lại quyển sách cũng chỉ ghi bốn chữ "Thi nhân Việt Nam" cụt lủn!

Tôi nghĩ như thế thật không ổn. Các tác giả không đặt cho sách mình cái tên cộc lốc như vậy. Những con số ở cuối tên sách xác định phạm vi mà các tác giả khảo sát. Nó hẹp hơn hẳn so với bốn chữ đầu. Chỉ cần đọc tên sách, người ta đã biết các tác giả viết về thi nhân Việt Nam ở thời kỳ nào.

Vì vậy, về phần tôi, những khi nói đến tên quyển sách, nếu chỉ một lần, tôi sẽ ghi đầy đủ là "Thi nhân Việt Nam (1932-1941)". Nếu nói nhiều lần (trong một bài) thì lần đầu, tôi ghi đầy đủ tên sách; từ lần thứ hai trở đi, để cho khỏi dài dòng, sẽ ghi "Thi nhân Việt Nam...". Ba dấu chấm thay cho những chữ số ở tên sách.

Tôi "kiến nghị" nên làm như thế cho hợp lý, mỗi khi nói đến tên quyển sách này
2.
"Thi nhân Việt Nam..." đã được tái bản nhiều lần, sau lần in đầu vào năm 1942. Lần nào, phía trên cùng của bìa sách và trang đầu sách cũng ghi tên tác giả: Hoài Thanh - Hoài Chân. Những dòng cuối cùng của quyển sách này ngay từ lần in đầu, cũng được viết một cách... vui và hóm:

"Bạn sẽ lấy làm lạ sao tác giả hai người mà lại cứ xưng tôi. Sự thực thì hai người cũng như một. Không có ý nào, lời nào là của riêng ai. Nhưng bây giờ quyển sách đã hết thiệt rồi, tôi lại biến thành chúng tôi, và chúng tôi xin ký cả hai tên cho đúng:

         Hoài Thanh và Hoài Chân"
Như vậy, không nghi ngờ gì cả, "Thi nhân Việt Nam..." là của Hoài Thanh và Hoài Chân.
Trên sách báo rất lâu nay, tôi thấy không ít nhà nghiên cứu, nhà phê bình, nhà văn, nhà báo... chỉ ghi mỗi tên Hoài Thanh khi trích dẫn những đoạn văn trong quyển sách, hoặc khi nhắc đến tác giả quyển sách.

Mấy chục năm trước, có lần tôi đã hỏi Hoài Chân, là em ruột Hoài Thanh và là một trong hai tác giả "Thi nhân Việt Nam..." chung quanh chuyện này. Ông tỏ vẻ buồn, nhưng chắc là ngại, không nói thẳng ra, mà cho biết, quyển sách in đầu năm 1942, nhưng được hai anh em ông chuẩn bị từ mười năm trước. Nó thể hiện sự say mê đối với Thơ mới và ý hợp tâm đầu của hai anh em ông. Trước khi tuyển chọn thơ cũng như viết những lời bình luận để đăng báo in vào sách, hai người đều bàn bạc kỹ với nhau. Hoài Thanh và Hoài Chân còn trao đổi thư từ với nhiều nhà thơ, tìm gặp không ít nhà thơ, và chính Hoài Chân đã từ Huế ra Bắc gặp một số nhà thơ khác. Khi thông qua kiểm duyệt, Hoài Chân đã phải khéo léo lắm việc xuất bản mới thuận buồm xuôi gió và quyển sách mới có diện mạo như sách đã in (lược bớt một đôi chỗ do phòng kiểm duyệt của Pháp).

Có điều, đọc "Thi nhân Việt Nam..." sẽ thấy văn phong từ đầu đến cuối là của Hoài Thanh, không lẫn với bất cứ ai khác, kể cả Hoài Chân (mà Hoài Chân xưa nay đều viết ít). Vì vậy, nếu kể công lao trong việc cho ra đời quyển sách này thì có thể nói Hoài Thanh nhiều hơn Hoài Chân.

Có lần, cũng đã lâu lâu, trên một tờ báo, tôi đã đề nghị, để thể hiện rõ điều này và để cho sòng phẳng, khi dẫn những gì trong "Thi nhân Việt Nam...", nên ghi tác giả là Hoài Thanh (và Hoài Chân). Hoài Chân để trong dấu ngoặc đơn.

Tôi thấy trên báo chí có nhà nghiên cứu đã hưởng ứng đề nghị này của tôi, và viết như vậy. Tuy nhiên, hưởng ứng hay không hưởng ứng, theo tôi, các nhà nghiên cứu nhất thiết phải lưu ý đến Hoài Chân khi nói bất cứ điều gì về "Thi nhân Việt Nam...".
3.
Bút danh của nhà phê bình Hoài Thanh (Nguyễn Đức Nguyên) có nghĩa là gì? Trong quyển "Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1932-1941)", Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1995, có hai cách giải thích khác nhau.

Một: Bài "Kỷ niệm về anh Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam" của nhà nghiên cứu Hoài Chân viết: "Hoài Thanh là tưởng nhớ thầy Thanh, một trong những người sáng lập đảng Tân Việt" (tr.202).

Hai: Bài "Hồi ức về Hoài Thanh" của nhà thơ Huy Cận viết: "Tên khai sinh của anh là Nguyễn Đức Nguyên, nhưng anh lại đặt tên văn học của mình là Hoài Thanh, chắc là với cái nghĩa nhớ tiếng, nhớ tiếng mẹ đẻ là nỗi niềm chung của chúng tôi lúc đó" (tr 209).
Nếu chỉ căn cứ vào nghĩa Hán Việt ở bút danh Hoài Thanh thì cả hai cách giải thích đều đúng, cho dù chúng khác hẳn nhau. Nhưng với hai cách giải thích trên, rõ ràng cách giải thích của Hoài Chân đáng tin cậy hơn: ông là em ruột của Hoài Thanh, đồng tác giả quyển "Thi nhân Việt Nam...", chắc chắn hiểu anh mình hơn hẳn những người khác.
(Tôi tiếc là đã mấy lần gặp nhà nghiên cứu Hoài Chân mà không hỏi bút danh của ông có nghĩa gì).

Vì không phải ai cũng đọc cả hai bài trên, và không phải không có người tin lời giải thích của nhà thơ Huy Cận, cho nên, phải chăng, những người làm sách, gặp trường hợp này, cần có lời chú (thường in ở cuối trang) để tỏ rõ chính kiến của mình, hoặc là cho ai đúng ai sai, hoặc là phân vân, chưa khẳng định?

Tôi nghĩ không nên để trong cùng một quyển sách mà có tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" như trên.
4.
Trong quyển sách "Nhà thơ và cuộc sống", Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1998, khi nhắc đến quyển "Thi nhân Việt Nam...", nhà thơ Đào Xuân Quý có viết:

"Trong lời mở đầu tập Thi nhân Việt Nam, anh Hoài Thanh khi nói về Xuân Diệu có viết: "Với nghệ thuật tinh vi học được của Baudelaire, anh đã diễn tả được lòng ham sống bồng bột trong thơ De Noailles và trong văn Gide". Nói như vậy, hóa ra Xuân Diệu và nhiều nhà thơ khác nữa trong giai đoạn này, theo anh Hoài Thanh, không có cái gì của mình cả: Tất cả đều là vay mượn, từ nghệ thuật đến tâm hồn, tình cảm! Sao lại có thể như thế được nhỉ" (tr.38).

Đoạn văn này cũng thấy in lại trong "Tuyển tập Đào Xuân Quý", Nhà xuất bản Văn học, 2002, tr 468.

Đúng là cách viết phê bình của một... nhà thơ (tất nhiên không phải tất cả các nhà thơ, khi viết phê bình đều viết như thế)! Chỉ có mấy dòng mà tập trung những phiến diện, sơ suất, lỏng lẻo... Nhà thơ đã không lưu ý rằng:

Một: Các tác giả quyển "Thi nhân Việt Nam..." chỉ nói đến "lòng ham sống bồng bột" thôi, không nói đến những thứ khác.

Hai: Các tác giả chỉ nói về nhà thơ Xuân Diệu thôi, không thể "hóa ra Xuân Diệu và nhiều nhà thơ" nào khác nữa "trong giai đoạn này".

Ba: Các tác giả không hề nói các nhà thơ trong giai đoạn này "không có cái gì của mình cả", "tất cả đều là vay mượn" như nhà thơ Đào Xuân Quý nghĩ.

Tất nhiên, "Thi nhân Việt Nam..." không phải là một quyển sách hoàn hảo, toàn bích. (Mấy khi có được một quyển sách hoàn hảo, toàn bích)! Nhưng nếu nhà thơ Đào Xuân Quý có phát hiện những bất cập của quyển sách (như đã nêu) thì phải tìm dẫn chứng có sức thuyết phục ở những chỗ khác, chứ không phải ở đoạn văn mà anh đề cập.

Có khá nhiều chỗ vô tình phản bác nhà thơ Đào Xuân Quý, nhưng hãy chỉ đọc một đoạn dưới đây trong "Lời nói đầu" quyển "Thi nhân Việt Nam..." mà nhà thơ Đào Xuân Quý đề cập - một đoạn văn rất có thể Hoài Thanh (và Hoài Chân) đã mượn hình thức diễn đạt của người khác:

"Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên... và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.

Từ người này sang người khác sự cách biệt rõ ràng...".

Các tác giả "Thi nhân Việt Nam..." không hề cho rằng "Xuân Diệu và nhiều nhà thơ khác nữa trong giai đoạn này... không có cái gì của riêng mình cả" như nhà thơ Đào Xuân Quý đã tưởng tượng ra và phàn nàn.

HỒNG DIỆU




THÔI NHÉ NGƯỜI ƠI



THÔI NHÉ NGƯỜI ƠI

Người ơi, lỗi nhịp câu thơ
Hẹn thề đến vậy mà giờ còn đâu
Thà đừng tính chuyện trầu cau
Gieo chi diễm mộng để đau lòng này.

Người rằng, vạ gió tai bay
Hay là trớ chuyện lấy trăng thay đèn
Bây giờ ngờ vực dần chen
Lòng người đổi trắng thành đen mấy hồi…

Thương nhau đã kết một lời
Sao không đi trọn một đời thủy chung
Một người vui với rượu hồng
Một người đơn lẻ xót lòng vì ai?

Thôi đừng nhắc chuyện ngày mai
Qua sông là hết tương lai cuộc tình…

HANSY


LÃNG ĐÃNG BỒNG CA


LÃNG ĐÃNG BỒNG CA
[Thuận Nghịch độc]

Hoa quyện quấn nồng kết ý thân
Tỏa vui mừng lộng thắm gian trần
Lòa thơm khúc lịm mù mê ngẩn
Lóa bổng câu đờ miết mải ngân
Khoa luyến thẫm nồng yêu trộn lẫn
Thỏa len bừng diệu ái trong ngần
Hòa tim buổi ước niềm hoan cẩn
Xoa hẹn hứa lòng dỗ ái nhân

Nhân ái dỗ lòng hứa hẹn xoa
Cẩn hoan niềm ước buổi tim hòa
Ngần trong ái diệu bừng len thỏa
Lẫn trộn yêu nồng thẫm luyến khoa
Ngân mải miết đờ câu bổng lóa
Ngẩn mê mù lịm khúc thơm lòa
Trần gian thắm lộng mừng vui tỏa
Thân ý kết nồng quấn quyện hoa

HANSY

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

119-NGÙ NGÂY


CẦU BA CẲNG VÀ NHỮNG TRUYỀN THUYẾT


CẦU BA CẲNG
VÀ NHỮNG TRUYỀN THUYẾT

Người Sài Gòn xưa thường nói “dân chơi cầu Ba Cẳng”. Vậy cầu Ba Cẳng là cây câu nào? Giờ nó ở đâu mà nhiều người Sài Gòn kiếm hoài không thấy?

Cầu Ba Cẳng thuộc vùng Chợ Lớn bắc qua một cái Vàm (Ngã ba kinh rạch) của kinh Hàng Bàng, do quan Khâm Sai người Pháp ra lệnh xây dựng. Cầu có tên tiếng Pháp là “Pont des 3 arches” (cầu có 3 nhịp vòng), được xây bởi công ty Brossard et Mopin – công ty từng xây chợ Bến Thành năm 1914.
Cầu ở cuối đường Kim Biên, đầu đoạn rạch Bãi Sậy, nay lấp thành đường Bãi Sậy và Phạm Văn Khoẻ quận 6. Nó nằm ở khúc rẽ phải ra kênh Tàu Hủ, hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành và chân kia ở bến Vạn Tượng.
Nhà văn Trương Đạm Thủy viết về cầu như sau: “Ở vùng quận 6, Chợ Lớn cách đây mấy mươi năm có một cây cầu bằng sắt, hình dạng rất lạ, có ba chân. Vì cầu chẳng có cái tên chính thức nào như cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Tân Thuận… nên người dân lấy hình mã đặt tên, tức cầu Ba Cẳng.”
Cây cầu này không đóng góp gì nhiều cho giao thông ở khu Chợ Lớn vì nó chỉ là cầu đi bộ giúp người dân tiện qua chợ Kim Biên, và là nơi hóng gió, hàn huyên… Nó bị “xoá sổ” hồi năm 1990 do bị sập.

Còn về cụm từ “dân chơi cầu Ba Cẳng” thì có nhiều giải thích khác nhau.

Người ta kể rằng hồi năm 1955, có một đám côn đồ sau khi làm việc phi pháp bị hai ông cảnh sát rượt đuổi. Chúng chạy lên cầu Ba Cẳng. Vì cầu có ba hướng lên xuống mà cảnh sát chỉ có hai người, do đó, chỉ chận được hai ngã. Bởi vậy, đám côn đồ thoát thân may mắn. Từ đó người ta nói “dân chơi cầu Ba Cẳng” với ngụ ý là dân giang hồ dám làm mà không dám chịu, nhưng lại may mắn mà né được nạn…
Cũng có cách giải thích khác rằng ngày xưa có 1 cuộc hỏa hoạn lớn ở đường Gia Long (nay là Trịnh Hoài Đức, Sài Gòn). Người ta đổ xô lên cầu chen lấn, đứng xem quá đông, khiến cầu (bằng gỗ) bị sập. Sau đó cầu được xây lại thành ba nhánh bằng “bê tông cốt sắt” vững vàng hơn. Dân chúng trong vùng không còn gọi là cầu Khâm Sai nữa và gọi theo hình dáng xây dựng. Vậy thì theo câu chuyện này, “dân chơi cầu Ba Cẳng” dùng để chỉ những ai làm ẩu, không có tính toán gì, cứ thấy chuyện lạ là nhào vô, thỏa ý tò mò tới độ cầu sập, sinh ra tai nạn.
Cũng có truyền thuyết kể rằng cái tên “dân chơi cầu Ba Cẳng” gắn liền với “hiệp sĩ” Mã Ban ở khu này, kẻ từng là nỗi khiếp sợ của đám du đãng ở Chợ Lớn. Cũng vì có thể trấn áp đám đu đãng nên Mã Ban dần trở thành bảo kê, được các chủ quán người Hoa “lì xì”, được một ông chủ người Hoa gả con gái cưng cho. Người ta kể rằng Mã Ban rất chịu chơi và thường là chịu chơi quá đà, mấy lần sạt nghiệp… Từ đó mới có cụm từ “dân chơi cầu Ba Cẳng”. (Xem bài: Sài Gòn xưa: Hiệp sĩ cầu Ba Cẳng)
Rạch Bãi Sậy hay kênh Hàng Bàng ngày này đã lấp đến 90% và trở thành đường Bãi Sậy và đường Phạm Văn Khoẻ. Nhà cửa mọc lên phủ kín bờ rạch, che khuất dấu vết cây cầu xưa. Dẫu sao đi nữa, cầu Ba Cẳng cũng là cây cầu đi bộ đầu tiên của Sài Gòn.

Lê Nguyên