Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2018

VỚI ĐIỆN ẢNH


VỚI ĐIỆN ẢNH

Chẳng hạn bên điện ảnh, tôi từng hạnh ngộ và la cà với rất nhiều người, những người có bụng “lân tài” giúp đỡ tôi về mặt tinh thần lẫn cơm áo cũng không ít. Tôi có thể kể tên đến cố đạo diễn Hồng Sến, cố diễn viên Lê Chánh, đạo diễn Hồ Ngọc Xum, tài tử đẹp trai Nguyễn Chánh Tín… Các huynh đệ khác như Lê Cung Bắc, Châu Đen, Phạm Thùy Nhân…

Với đạo diễn Hồng Sến thuở còn sinh tiền mỗi lần có cha ông lên thăm là ông luôn nhớ đến tôi. Ông đãi tiệc bắt tôi đọc hai bài thơ ÔNG GIÀ RỪNG SÁT và ÔNG GIÀ BẮT RẮN cho phụ thân ông thưởng lãm. Các bạn thử tưởng tượng Hồng Sến hơn tôi gần 20 tuổi thì “ông cụ” của ông phải bô lão đến chừng nào. Thế mà khi đọc xong hai bài thơ trên, đôi mắt “bô lão” của ông ướt như trẻ con. Đến giờ này tôi vẫn hãnh diện về những buổi đọc thơ cho gia đình đạo diễn Hồng Sến lúc ông còn sống.

Với Nguyễn Chánh Tín thì lại hoàn toàn bất ngờ. Chúng tôi làm quen nhau ở nhà họa sĩ kiêm diễn viên Lê Chánh trên đường Vườn Chuối đầu thập niên 80. Thuở ấy tất cả đều nghèo, trên mâm rượu chỉ có “xị sô” Gò Đen, Cây Lý và me xoài cóc ổi. Thuở ấy Nguyễn Chánh Tín đã là một ca sĩ phòng trà thành danh và là diễn viên điện ảnh có khuôn mặt “mỹ nam tử” hút hồn phụ nữ, còn tôi là một thi sĩ giang hồ bụi bặm. Thuở ấy chỉ cần “ngửi” nhau qua một bài nhạc có đẳng cấp hay qua một bài thơ khẩu khí độc đáo là mọi người đã thương nhau như ruột thịt. Thuở ấy đẹp đến nỗi mãi hơn 20 năm sau này tôi mới tái ngộ Nguyễn Chánh Tín mà hai người vẫn nhớ như in những bài thơ đã đọc, những bài nhạc đã hát ngày xưa lúc anh Lê Chánh còn sống. Chính kỷ niệm gắn bó hơn 20 năm trước đã kết dính tôi và Nguyễn Chánh Tín thành “cặp bài trùng” hiện nay trong điện ảnh. Hiện nay chúng tôi đang hợp tác làm việc cùng nhau qua thương hiệu một hãng phim tư nhân được thành lập vào năm 2007 mang tên là CHÁNH TÍN FILM. Tôi đảm nhận việc viết kịch bản phim còn Nguyễn Chánh Tín làm đạo diễn. Chúng tôi chủ trương khôi phục dòng phim kinh dị đã mất tích từ sau giải phóng bằng hàng loạt phim nhựa ngắn 45 phút chiếu các rạp lớn trên toàn quốc và phát hành đĩa DVD tại Bắc Mỹ và Châu Au. Chúng tôi đã thực hiện liên tiếp 4 phim mang tựa NGÔI NHÀ BÍ ẨN, SUỐI OAN HỒN, CHẾT LÚC NỬA ĐÊM, BỐN THÍ NGHIỆM TRONG ĐÊM TÂN HÔN và hiện lên kế hoạch làm 2 phim kinh dị, hành động mang tựa NỢ MÁU, SÁT THỦ ra mắt công chúng trong và ngoài nước vào dịp Tết Nguyên Đán sắp tới.

Cuộc đời Nguyễn Chánh Tín cũng thăng trầm không kém gì tôi. Anh từng vượt biên nhiều lần và bị bắt một lần để đời. Nếu không nhờ ông Dương Đình Thảo, giám đốc Sở Văn Hóa Thông Tin Thành Phố lúc đó bảo lãnh đóng phim VÁN BÀI LẬT NGỬA của Trần Bạch Đằng thì chắc bây giờ còn lâu anh mới tái xuất giang hồ cùng tôi lần nữa. Lần được ông Dương Đình Thảo “cứu bồ” đó, Nguyễn Chánh Tín đã gây dấu ấn xuất sắc trong làng điện ảnh nước nhà với vai diễn trung tá tình báo Nguyễn Thành Luân, một nhân vật ảo từ nhân vật có thật là trung tá Phạm Ngọc Thảo. Nếu ai đó “chụp mũ” anh vì anh tham gia một cuốn phim “Việt Cộng” thì họ đã quá lầm. Thật ra Nguyễn Chánh Tín chỉ là một thanh niên Việt Nam yêu nước đến tận cùng không hề phân biệt chủ nghĩa quốc gia hay cộng sản.

BÙI CHÍ VINH

LỊM NGƠ


194
LỊM NGƠ
[Ngũ độ]

Đã mộng thương nàng thuở bén thơ
Cùng bao ấp ủ dệt mong chờ
Triền miên dõi nhớ trong thầm lặng
Nhấp nhổm tìm yêu giữa mịt mờ
Hãy chuốc hoa tình thêm tỏa đượm
Và lâng nhịp ái phả say đờ
Nghê thường vũ điệu bồng lai nhé
Khiến nẻo dương trần cũng lịm ngơ

Khiến nẻo dương trần cũng lịm ngơ
Mùa hoan rộn rã đến mê đờ
Trầm hương diệu bén êm đềm phả
Hạnh phúc ngời loang thỏa mãn chờ
Cũng lại lơi tình khi nắng tỏa
Rồi thêm lả mộng lúc sương mờ
Cùng vui vũ khúc vầy hoan lạc
Đã mộng thương nàng thuở bén thơ

HANSY

ĐẮM NGẨN

Mong hoài kẻ ghép đượm hồn thơ
Dệt mãi ngàn thương thảo luyến chờ
Ghép lại chung vần cho đẫm ngỏ
Chan vào lẫn ý để say đờ
Lời da diết quyện trong chiều vỡ
Điệu đắm nồng quay giữa gió mờ
Rát bỏng khung trời hương ngọt mở
Ơ này mộng hỡi chớ làm ngơ

Ơ này mộng hỡi chớ làm ngơ
Hãy trải lời yêu ngọt thắm đờ
Dệt những câu tình say đắm mở
Đan từng điệu ái thỏa mê đờ
Và trao diễm mắt tràn hương nhớ
Sẽ gửi hường môi ngập sắc chờ
Để ánh mơ nồng êm nhịp thở
Mong về kẻ ghép đượm hồn thơ.

Hà Thu

CÂY ĐỜI VẪN XANH


CÂY ĐỜI VẪN XANH

Giữa bến nhớ, yêu thương vẫy gọi
Rộn lòng mơ vời vợi niềm tin
Cây đời tỏa bóng dịu êm
Chở che thân phận nỗi chìm thế gian.

Đông giá lạnh, đông tàn xuân đến
Hết mưa giông, vàng ánh mặt trời
Reo ca tấu khúc chơi vơi
Ru hồn thi sỹ cung trời thiên thai.

Đêm có dài, ban mai sẽ rạng
Ấm tình người năm tháng buồn vui
Sẻ chia một chút nghĩa lời
Mà nghe vang vọng cả trời xuân ca.

Trăm năm ấy có là chi sá
Hãy đơm vui trên ngã đường đời
Dốc lòng thơ viết chơi vơi
Nghe tim khẽ nhủ cây đời vẫn xanh…

HANSY

KHÚC MƯA ĐÊM


KHÚC MƯA ĐÊM
[Thuận Nghịch độc]

Đêm tẻ nhạt tình lặng giữa mưa
Nếm đau hồn chạnh lửng lơ thừa
Mềm môi đợi mãi nhàu hương tựa
Điểm mắt trông hoài mỏi dáng đưa
Thêm lụy ý lời ngao ngán vữa
Đếm xiêu lòng dạ chán chê bừa
Thềm hoang hoải đoạn sầu chan chứa
Chêm đắng rượu đời não nhặt thưa

Thưa nhặt não đời rượu đắng chêm 
Chứa chan sầu đoạn hoải hoang thềm
Bừa chê chán dạ lòng xiêu đếm
Vữa ngán ngao lời ý lụy thêm
Đưa dáng mỏi hoài trông mắt điểm
Tựa hương nhàu mãi đợi môi mềm
Thừa lơ lửng chạnh hồn đau nếm
Mưa giữa lặng tình nhạt tẻ đêm

HANSY


Thứ Năm, 29 tháng 11, 2018

NGHĨA CỦA CHỮ “BỒN” TRONG “LÂM BỒN”


NGHĨA CỦA CHỮ “BỒN”
TRONG “LÂM BỒN”

 “Lâm bồn” là một từ Việt gốc Hán, không mấy thông dụng trong giao tiếp, nhưng lại được sử dụng khá nhiều trên sách báo hàng ngày. Ví dụ một số báo đặt tít: “Đến lúc lâm bồn mới biết mang thai.” (dantri.com.vn); “Cô gái không biết mình có thai...đến lúc lâm bồn.”(thanhnien.vn); “Tại sao đàn ông không nên gần vợ lúc lâm bồn.”(vietnam.net.vn); “10 dấu hiệu cho biết bạn sắp lâm bồn.”(nuoiconkieumy.com);“Chuẩn bị đến ngày lâm bồn.” (songkhoe.vn)...

          Nhóm từ điển thứ nhất giải thích “lâm bồn” như sau:

1 - Từ điển tiếng Việt (Vietlex): “lâm bồn • 臨盆 đg. [cũ, kc] [phụ nữ] đẻ: sản phụ lúc lâm bồn”. 
2 - Việt-Nam tân từ-điển (Thanh Nghị): “lâm-bồn • đt. Đến lúc sinh đẻ <> Thời-kỳ lâm-bồn”.
 3 - Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên):  “lâm bồn • ở cữ (cũ)”.

  4 - “Hán Việt từ điển” (Nguyễn Văn Khôn): “lâm bồn 
臨盆 Lúc đàn bà sắp sanh đẻ”.
          Theo đây, “lâm bồn” chỉ phụ nữ trở dạ và sinh đẻ. Nhưng tại sao lại gọi là “lâm bồn”? Nhóm từ điển thứ hai cho chúng ta biết rõ:

1 - “Hán Việt tân từ điển” (Nguyễn Quốc Hùng): “lâm bồn 臨盆 Tới cái chậu, ý nói đàn bà tới lúc sanh đẻ”.
2 - “Việt Nam tự điển” (Hội Khai trí tiến đức): “lâm-bồn • Tới cái chậu tắm. Tức là đẻ <> Đàn-bà khi lâm-bồn phải kiêng khem kỹ”.
3 - “Từ điển Việt Nam phổ thông” (Đào Văn Tập): “lâm-bồn • Tới lúc sinh đẻ (tới lúc cần đến cái chậu tắm)”.
4 - “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức): “lâm bồn • đt. Tới bồn tắm. • (Bóng) Chuyển bụng đẻ, sinh-nở: Tới lúc lâm-bồn”.
5 - “Từ điển tiếng Việt” (New era): “lâm bồn: Tới cái chậu, ý nói người đàn bà tới lúc sinh đẻ”.
6 - “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân): “lâm bồn đgt (H. lâm: đương lúc; bồn: cái chậu) Nói lúc sản phụ đẻ: Lúc vợ lâm bồn, anh chồng cuống quýt chạy ra, chạy vào”.

          Như vậy, Nhóm từ điển 2 đã thống nhất nghĩa của “lâm bồn” 臨盆 là “đến cái chậu”, hay “đến cái chậu tắm”, “cần đến cái chậu tắm”. Tuy nhiên, nếu quả thật khi sinh đẻ, dứt khoát sản phụ cần phải có cái chậu tắm, thì bà đỡ sẽ đem cái chậu tắm lại, đâu có chuyện sản phụ phải tự tới chỗ cái chậu tắm. Mà "đến cái chậu tắm" để làm gì? Tắm cho mẹ, hay tắm cho đứa con ngay sau khi sinh? Người xưa sau khi sinh đẻ, thường lau khô cho đứa trẻ, chứ không tắm (họ kiêng nước cho cả mẹ và con). Giả sử với tộc người Hán, họ tắm rửa sau khi sinh, hoặc thực hiện nghi thức tắm rửa cho đứa trẻ sơ sinh, cũng đâu dứt khoát phải tiến hành ngay tại vị trí sản phụ vừa mới sinh, để rồi "bồn" (cái chậu tắm) hay "lâm bồn" ("đi đến chỗ cái chậu") là vật dụng không thể thiếu khi sinh, đến mức trở thành nghĩa chỉ việc sinh đẻ.

          Theo chúng tôi, “bồn” , trong “lâm bồn” 臨盆 là gọi tắt của “bồn xoang”盆腔, tức là “xoang chậu” [pelvic cavity] của người phụ nữ (cụ thể là sản phụ), chứ không phải là “cái chậu”. 

          Hán điển (zidic.net) giảng nghĩa của từ “lâm bồn” như sau: “lâm bồn: Thai nhi đã di chuyển xuống đến vùng bồn xoang [xoang chậu] (của sản phụ)”. [Nguyên văn: “臨盆 línpén [parturient;be giving birth to a child;be confined;be in labour] 胎兒以降臨至盆腔 - lâm bồn: thai nhi dĩ giáng lâm chí bồn xoang]”.

            Vẫn mục từ "lâm bồn", Hán điển, giải thích nghĩa từ vựng của "lâm bồn" [
臨盆] là "phụ nữ phân miễn" [婦女分娩], nghĩa là “phụ nữ sinh đẻ”.

          Từ “bồn xoang” 盆腔, được Hán điển giảng là: “Khoang chậu phía trong của khung xương chậu. Các bộ phận như bàng quang, tử cung, buồng trứng, đều nằm ở trong khoang chậu này”. [Nguyên văn: “盆腔骨盆部的空腔.膀胱,子宮卵巢等器官皆在此空腔中 - bồn xoang: Cốt bồn nội bộ đích không xoang.Bàng quang, tử cung, noãn sào đẳng khí quan giai tại thử không xoang trung”].

          Vậy tại sao yếu tố “bồn” , lại được dùng trong từ “lâm bồn” 臨盆? Hán điểngiảng hai nghĩa cơ bản của “bồn” : “1.Đồ đựng, hoặc dụng cụ rửa ráy, như: bồn cảnh 盆景, bồn hoa 盆花, bồn tài 盆栽 (trồng cây trong chậu [bon-sai]), kiểm bồn 臉盆 (chậu rửa mặt),v.v...2.Đồ vật ở giữa lõm vào giống hình dáng của cái chậu: bồn địa 盆地 (lòng chảo) cốt bồn 骨盆 (khung chậu, khung xương chậu).” [Nguyên văn: 盛放東西或洗滌的用具盆景盆花盆栽,臉盆...2.中央凹入象盆狀的東西盆地盆骨 - Thịnh phóng đông tây hoặc tẩy địch đích dụng cụ: bồn cảnh, bồn hoa, bồn tài, kiểm bồn...2.Trung ương ao nhập tượng bồn trạng đích đông tây”].

          Từ “lâm bồn” có nghĩa tương tự như “chuyển dạ”, “chuyển bụng” hoặc “trở dạ”, mà Từ điển Vietlex giảng: “chuyển dạ • đg. có triệu chứng [thường là đau bụng] sắp đẻ: chị ấy chuyển dạ lúc nửa đêm. Đn: chuyển bụng, trở dạ”. Chính "Việt Nam tự điển" của Lê Văn Đức sau khi giảng “lâm bồn • đt. Tới bồn tắm", đã giảng thêm: "(Bóng) Chuyển bụng đẻ, sinh-nở: Tới lúc lâm-bồn”.

Khi “chuyển dạ” tức là lúc (quá trình) thai nhi di chuyển từ bụng trên xuống bụng dưới để ra ngoài chào đời trong cơn đau sinh hạ của người mẹ. Có rất nhiều dấu hiệu chuyển dạ (như đau bụng, vỡ ối...), trong đó các chuyên gia sản phụ thường có lời khuyên nhận biết là: Cảm giác thai nhi di chuyển xuống: Đầu của thai nhi di chuyển xuống khung chậu nên có cảm giác thai nhi tụt xuống. ("Làm sao mẹ bầu  bụng sắp tụt xuống để sinh con" - GDTĐ)

            Phim khoa học (xem video đăng kèm trong bài) mô phỏng quá trình sinh đẻ, cho biết qua hình ảnh và lời thuyết minh: “giai đoạn đầu của chuyển dạ có thể kéo dài từ 12-19 tiếng, bắt đầu ngay khi em bé di chuyển xuống vùng xương chậu. Giai đoạn hai của chuyển dạ có thể kéo dài từ 20 phút đến 2 tiếng. Khi tử cung kéo giãn được khoảng 10cm, đầu em bé bắt đầu chui qua cổ tử cung để vào ống dẫn đẻ...”

          Như vậy, theo chúng tôi, “bồn” 
, vốn có nghĩa gốc là “cái chậu”, sau được dùng để chỉ hình trạng vật gì lõm vào giống như cái chậu. Cụ thể “bồn” trong “lâm bồn” 臨盆, có nghĩa là xoang chậu của sản phụ. "Lâm bồn" vốn chỉ trạng thái "thai nhi đã di chuyển xuống đến vùng bồn xoang", (đồng nghĩa với thai nhi sắp ra đời). Sau này, "lâm bồn" được hiểu theo nghĩa phái sinh chỉ phụ nữ đẻ, hoặc quá trình từ lúc người phụ nữ chuyển dạ đến khi sinh con.

Trong tiếng Hán, có một số từ đồng nghĩa với "lâm bồn", là "ngoạ nhục" 臥蓐 (nằm nệm; "nhục"  = nệm); "toạ nhục" 坐蓐 (ngồi nệm); "toạ thảo" 坐草 (ngồi [nệm] cỏ); "thượng thảo" 上草 (ngồi lên [nệm] cỏ). “Hán ngữ võng” (漢語網) giảng: “Thời cổ đại, sản phụ khi chuẩn bị đẻ thì nằm, ngồi trên nệm cỏ để đẻ, nên [sinh đẻ] gọi là ngồi nệm.” (因古代產婦臨產有坐在草蓐上分娩者,故名坐蓐).

       Điều thú vị là từ "ngoạ nhục" 
臥蓐 (nằm nệm), hay "toạ thảo" 坐草 (nẳm nệm cỏ), đồng nghĩa với từ "nằm ổ" trong tiếng Việt. "Ổ" chính là cái giường, nệm được trải bằng rơm, quây kín như buồng tằm trong suốt quá trình sinh đẻ và kiêng kị. Nếu "lâm bồn", hay chuyển dạ, chuyển bụng, chỉ quá trình và thời điểm thoát thai của hài nhi (diễn ra bên trong bụng mẹ), thì "ngoạ nhục", nằm ổ ("nệm" và "ổ" là điều kiện thiết yếu bên ngoài), vừa chỉ việc sinh đẻ, lại vừa chỉ chung thời kỳ sau khi sinh (ở cữ). Điều này có vẻ hợp lý hơn, vì với người phụ nữ (cũng như đứa trẻ sơ sinh), cái mà gắn với họ, quan trọng nhất với họ khi sinh đẻ và sau khi sinh đẻ, chính là giường, nệm, ổ, chứ không phải là "cái chậu tắm". 

Hoàng Tuấn Công
3/2017



HOÀI NIỆM


HOÀI NIỆM

Ta ngồi đây nghe kỷ niệm tìm về
Man mác cõi hồn một dòng luyến nhớ
Nơi xa thẳm có còn không mắt đỏ
Khóc giữa chiều ân ái chợt vỡ tan.

Chiều nào Em - Ta ngắm ánh hôn hoàng
Cùng mơ một giấc ngập tràn hạnh phúc
Em gối đầu trên muôn ngàn háo hức
Ta mong cầu niềm hoan lạc bừng khơi...

Sao lòng này khắc khoải nhớ về Em
Dẫu biết cách chia đã là sự thật?
Cuối nẻo đường tình, niềm yêu vụt tắt
Ta lao đao trong ngỏ lối hoang mù.

Thôi thì thôi, tình chỉ thoáng phù du
Duyên phối ngẫu chỉ là niềm hoang tưởng
Hãy thật với nhau không còn ngường ngượng
Khi đường đời lỡ bước sát bên nhau…

HANSY 

XỰC BÁNH XÈO


XỰC BÁNH XÈO
[Sắc-Tập danh]

Diệu Huyền Ngũ vị ngọt ngào chưa 
Bột gạo xay đêu Trắng đốp ưa
Bếp Đỏ rền vang ngùn ngụt chứa
Môi Hồng liến thoắng miệt mài đưa
Ngời Xanh Diếp cá bao lần lựa
Thẫm Biếc Ngò gai mấy điệu vừa
Tím rịm Bạn bè chung một bữa
Bánh Xèo Vàng rộm buổi trời mưa

Bánh Xèo Vàng rộm buổi trời mưa
Giá Trắng tinh khôi xực mấy vừa
Đỏ rực Ớt cay mồm cọ cứa
Xanh dờn Rau húng cọng đùng đưa
Tôm Hồng hào ngọt nghe mồn ứa
Mắm Tía lia nồng dậy món ưa
Mời Bạn xơi cùng Thanh thản nữa
Diệu Huyền Ngũ vị ngọt ngào chưa 

HANSY

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI


TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió” nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng.

Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway) (*). Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.

Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt. Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”. So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc. Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”…

Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”. Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ. Họ nhảy múa với ngôn ngữ. Họ thăng hoa với ngôn ngữ. Họ bay bổng với ngôn ngữ. Sự cuồng nhiệt trong tình yêu ngôn ngữ của họ đã tạo ra một nền văn hóa trong đó tiếng Việt vượt qua cả khái niệm ngôn ngữ như là ký hiệu giao tiếp thuần túy mà vươn lên đến chóp đỉnh của một thứ trừu tượng hơn: linh hồn dân tộc. “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Tình yêu của họ với tiếng Việt đã làm đẹp tiếng mẹ đẻ, làm sang trọng tiếng mẹ đẻ, và cuối cùng làm nên một nền văn hóa đẹp đẽ.

Chỉ những giai đoạn tiếng Việt bay bổng thì nền văn hóa mới thăng hoa, hay là ngược lại, thật khó có thể nói chính xác. Nhưng, có thể đoán chắc rằng một nền văn hóa xuống cấp luôn đi đôi với việc ngôn ngữ và cách dùng ngôn ngữ xuống cấp. Nó bị dùng sai là một chuyện. Nó bị xem thường mới là điều đáng nói. Khi tiếng Việt không còn được tôn trọng, văn hóa và xã hội sẽ không còn được tôn trọng. Con người cũng không còn được tôn trọng. “Tiếng Việt còn, nước ta còn”. Nhưng tiếng Việt bầy hầy, như đang thấy trên báo chí hàng ngày, trong các ca khúc được hàng triệu người nghe, thì “nước ta” còn gì?

Đừng trông chờ ở những khẩu hiệu “giữ gìn tiếng Việt” hay “làm trong sáng tiếng Việt” hô hào chiếu lệ trong nền giáo dục hiện tại. Tiếng Việt đang bị hỏng không chỉ bởi các MC tung hứng bừa bãi với những câu chữ làm màu “cho sang”, như “điểm trang” thay vì phải nói cho đúng là “trang điểm”; không chỉ bởi các phát thanh viên truyền hình học nhau cách nói rập khuôn, hay các nhà báo viết bài không bao giờ xem lại lỗi chính tả; không chỉ bởi những cách dùng sai như “cặp đôi” hay “fan hâm mộ”; không chỉ bởi các từ ghép Hán-Việt vô nguyên tắc như “phượt thủ”… Nguồn gốc khiến tiếng Việt hư chính là từ giáo dục. Không ngôn ngữ nào có thể bay bổng trong một mô hình giáo dục giáo điều. Chẳng ai có thể sửa lại tiếng Việt với đà tuột dốc của nền giáo dục hiện nay. Muốn “làm trong sáng tiếng Việt”, hệ thống giáo dục phải tự làm trong sáng mình. Điều này sẽ chẳng bao giờ có, không bao giờ thành hiện thực, khi mà giáo dục đang nằm dưới bàn chân của những “chủ trương” và “đường lối”. Đừng mong chờ những thay đổi trong giáo dục. Sẽ chẳng có thay đổi tích cực gì cả. Tiếng Việt sẽ tiếp tục bị hành hạ và văn hóa sẽ tiếp tục bị tra tấn.

Dường như không ai có thể cứu tiếng Việt nhưng tiếng Việt có thể được cứu nếu mỗi người trong chúng ta cùng quay lại với con đường “tôi yêu tiếng nước tôi”. Tìm kiếm và đọc lại những quyển sách của một thời làm nên sự kỳ vĩ một nền văn hóa, như một cách thức tự giải độc khỏi những luồng khí đen đang bủa quanh, có thể được xem là một cách thức. Nhiều giá trị hiện bị mất đi đang nằm trong những quyển sách đó. Văn hóa sẽ đi lạc vĩnh viễn nếu chẳng có ai tìm. Con đường đi tìm văn hóa đã mất có thể sẽ giúp tìm lại ánh hào quang của tiếng Việt, và cuối cùng, dẫn đến việc nhìn lại sự cần thiết phải tôn trọng tiếng Việt.

Không người dân nào có thể thay đổi được hệ thống giáo dục hiện tại. Họ không có quyền hạn để làm điều đó. Tuy nhiên không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa để dung nạp một nền văn hóa khác với “hệ văn hóa” tuyên truyền. Cũng không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa đọc gì bên ngoài phạm vi những bài văn mẫu hay nên đọc gì trên những trang mạng xã hội. Đó là sự chọn lựa cần thiết, và cấp bách, để “tôi yêu tiếng nước tôi” có thể còn tồn tại và còn có cơ may truyền lại cho hậu sinh.

Theo Facebook Mạnh Kim

(*) Ngày 8/9/2018, tác giả đăng đính chính về một chi tiết trong bài: “Bài “Tôi yêu tiếng nước tôi” (đăng lần đầu vào ngày 1/12/2017) có một chi tiết sai về cách dịch “For whom the bell tolls”. Tôi nhầm lẫn viết rằng dịch giả Huỳnh Phan Anh đã dịch thành “Chuông nguyện hồn ai”. Thật ra bản dịch của ông Huỳnh Phan Anh in năm 1972 là “Chuông gọi hồn ai”. Chữ nghĩa là vô cùng, kiến thức cũng vô tận, trong khi trí nhớ thì có hạn. Nay có đôi lời nói lại cho rõ vì không thể để một cái sai lan truyền như vậy. Cũng xem đây như một lời xin lỗi.”
Chú thích của TTVN: Cách dịch “Chuông nguyện hồn ai” là của hai tác giả Nguyễn Vĩnh, Hồ Thể Tần trong tác phẩm in năm 1963. Bản dịch của Huỳnh Phan Anh là “Chuông gọi hồn ai”, được in năm 1972.

Nhạc sĩ Phạm Duy (Ảnh: Internet)


LẶNG LẼ ĐÊM BUỒN


193
LẶNG LẼ ĐÊM BUỒN
[Giao cổ]

Đêm về lặng lẽ giọt buồn rơi
Kỷ niệm ngày nao chẳng chịu rời
Khúc ái sao đành cam tẻ rạn
Tơ lòng nỡ đoạn để chùng lơi
Tàn mơ nguyệt lẻ loi triền nhớ
Vụn vỡ bờ thương héo mộng đời
Dẫu biết ai kìa xa biệt mãi
Sao hoài thả mắt dõi trùng khơi

Sao hoài thả mắt dõi trùng khơi
Để tấm lòng đơn rũ rượi đời
Nuối khúc thề xưa sầu nguyệt vỡ
Mơ làn nguyện cũ dỗ mùa lơi
Hoan nồng lặng cỗi cằn mơ mộng
Đau đớn mù mê khổ khó rời
Rát bỏng tâm hồn khê kỷ niệm
Đêm về lặng lẽ giọt buồn rơi

HANSY

THẦM THÌ

Ái hỡi mơ nào đổ rớt rơi
Vì thương đã ngộn lẽ đâu rời
Không nè loãng giọt ngày mưa nổi
Chẳng nhé loang buồn buổi gió lơi
Vẫn trải huơng lòng hoan bến đợi
Và gieo sắc dạ thắm nương đời
Tình say đượm nở cung đàn khởi
Mắt rỡ hoan cười dệt đắm khơi

Mắt rỡ hoan cười dệt đắm khơi
Vài câu nhắn nhủ đến bên đời
Đừng cho mộng úa loang màu đợi
Chớ để đêm tàn nhạt ánh lơi
Nhớ sẽ chan đầy hương chẳng vợi
Rồi mong quyện đẫy sắc không rời
Niềm ơi dạ ấy hoài duyên khởi
Ái hỡi mơ nào đổ rớt rơi.

Hà Thu

SỢI LÒNG


SỢI LÒNG

Sợi lòng nhuốm đẫm tình xưa
Heo may còn đó mà thưa thớt rồi
Ngẩn ngơ xao xác giữa đời
Ngàn thương trăm nhớ đã dời đổi nao.

Người đi vọng xót câu chào
Để người ở lại sẫm lao xao buồn
Thức  hoài chờ nối nhịp Ngâu
Mà bao năm tháng vẫn rầu rĩ tim.

Đau duyên - Ta mãi đi tìm
Đau lòng – gặm hết nỗi chìm nghỉm xưa
Người ơi, nhớ mấy cho vừa
Mà nghe chao chác giữa bừa bộn mơ.

Sợi lòng vắt lại thành thơ
Gởi hương quá vãng chút mưa móc tình…

HANSY

MÈ NHEO


MÈ NHEO

Mấy chục năm qua loáng cái vèo
Thân đời lủng lẳng tóp dần theo
Hàn đông thế sự hoài lôi kéo
Nóng hạ khuôn đời cũng đuổi reo
Lãng đãng tìm hên dần tý mẹo
Làng nhàng rớt nhục khỉ bò heo
Cầu cho chân cứng lời thơm dẻo
Trí lực tâm lòng mãi sáng veo 

Trí lực tâm lòng mãi sáng veo 
Sao đời khốn nạn chả bằng heo
Làm ăn đụng chuyện toàn hư méo
Giải trí va người cũng khó reo
Đến chỗ công quyền hay xiếu vẹo
Vô rừng lão khổ vẫn duồng theo
Làm cho cuộc sống tèm lem sẹo
Mấy chục năm qua loáng cái vèo 

HANSY

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

LƯỠI CON NGƯỜI TA DÙNG ĐỂ LÀM GÌ?


LƯỠI CON NGƯỜI TA DÙNG ĐỂ LÀM GÌ?

Những cuốn từ điển tiếng Việt nhiều sai sótmang tên NXB Thanh Niên vẫn bày bán công khaitại Nhà sách FAHASA -Ảnh: HTC
“Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh, sinh viên” (Ngọc Hằng - Kỳ Duyên, NXB Thanh Niên 2016) viết: “LƯỠI (danh từ) miếng thịt ở trong miệng dùng để nếm”. Sách này không nói rõ đó là “miếng thịt” lợn, hay thịt bò. Tuy nhiên, cứ theo đây, thì ngoài chứng câm điếc bẩm sinh, thì người ta bị câm, hay nói ngọng, hoàn toàn không phải do trong mồm không ngậm “miếng thịt”, hay “miếng thịt” ấy ngắn, dài thế nào. Nói cách khác, nếu thiếu đi “miếng thịt” mà từ điển tiếng Việt mang tên NXB Thanh Niên mô tả, thì người ta vẫn nói được như thường, chỉ mỗi tội không nếm được mà thôi.

          Nghĩa là chứng câm không liên quan gì đến lưỡi!

          Dĩ nhiên, đây là cách giảng sai của hai tác giả Ngọc Hằng - Kỳ Duyên. Chúng ta có thể tham khảo một số cách giải thích đúng của các cuốn từ điển khác:

          - “Từ điển tiếng Việt” (Trung tâm từ điển học Vietlex): “lưỡi d. 1 bộ phận mềm trong miệng, dùng để đón và nếm thức ăn, và ở người còn dùng để phát âm : thè lưỡi liếm ~ lắc đầu lè lưỡi ~ lưỡi không xương nhiều đường lắt léo (tng)”.
          - “Việt Nam tân từ điển” (Thanh Nghị): “lưỡi • dt. Bộ phận ở trong miệng dùng để nếm, để nói <> Lưỡi không xương nhiều đường lắt-léo (Tng)”.

           “Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh, sinh viên” (Ngọc Hằng - Kỳ Duyên, NXB Thanh Niên 2016) là một trong rất nhiều cuốn từ điển mang tên NXB Thanh Niên, có những sai sót rất nghiêm trọng, mà chúng tôi đã từng chỉ ra trong ba bài viết đăng trên báo “Nông Nghiệp Việt Nam” và báo “Người Lao Động”, vào đầu năm 2017. (Ví như: “giao phối” nghĩa là “kết hôn”; “giao cấu” nghĩa là “lấy nhau”...).

Từ điển tiếng Việt (được cho là) mạo danh NXB Thanh niên hiện bày bán tại Nhà sách Tiền Phong (TP Thanh Hoá) -Ảnh: HTC
Theo Nhà xuất bản Thanh Niên, thì đây là những cuốn từ điển mạo danh. Nghĩa là Nhà xuất bản Thanh Niên không hề cấp phép xuất bản. Còn theo Ban biên tập các báo “Nông Nghiệp Việt Nam” và “Người Lao Động”, thì ngay sau khi các báo đăng bài phản ánh sự việc (trước Tết Nguyên đán), cơ quan chức năng đã vào cuộc điều tra để làm rõ vấn đề. Thời điểm này, chúng tôi e rằng, bọn phạm pháp sẽ mau chóng tẩu tán, nên đã phải chuẩn bị đối phó bằng cách củng cố, lưu giữ thêm một số chứng cứ. Tuy nhiên, sự đề phòng, lo lắng của chúng tôi chẳng khác nào lo trời sập! Bởi đã gần 2 tháng trôi qua, những cuốn từ điển “mạo danh” này vẫn bày bán công khai ở các nhà sách như FAHASA, Nhà sách Tiền Phong, Nhà sách Việt Lý... (TP Thanh Hoá). Trong khi, thủ phạm làm sách giả, mạo danh Nhà xuất bản Thanh Niên, nhằm vào đối tượng học sinh, sinh viên để moi tiền, huỷ hoại sự trong sáng của tiếng Việt, vẫn bặt vô âm tín.

          Lẽ nào vụ làm giả hàng ngàn cuốn từ điển tiếng Việt này sẽ chìm vào im lặng và quên lãng?

 HOÀNG TUẤN CÔNG
25/2/2017

THÔI NHÉ EM


THÔI NHÉ EM

Em mến yêu, kỷ niệm mãi vẫn còn
Lẩn quẩn trong tim đong đầy nỗi nhớ
Chút ân tình ngày xưa mình trao lỡ
Cho Em, cho tình sống mãi ngày đêm.

Dẫu thới gian muôn kiếp vẫn thương mềm
Quay quắt mãi vì thuyền không cập bến
Duyên gặp gỡ mà nợ hoài không đến
Biết làm sao qua nghịch cảnh cao xanh...

Dẫu biết Em vẫn một dạ chân thành
Hoài muốn chúng ta chung đường thề nguyện
Cớ làm sao chúng mình không thành chuyện
Để bây giờ than thở, hỡi Em yêu.

Thôi nhé em, chuyện cũ đã nghiềng chiều
Chắp cánh vần thơ tiễn tình về địa mộ
Ngày mai đó dấu lòng đừng thổ lộ
Kẻo vết thương nào lại làm khổ con tim…

HANSY 

THÔI ĐÀNH GỠ


THÔI ĐÀNH GỠ
[Ngũ độ]

Yêu đà lạc bước thôi đành gỡ
Giã biệt tim sầu tê kẻ nhớ
Dẫu biết hoan nồng hẻo trọi trơ
Còn chi thú vị mà trăn trở
Làn thương hụt hẫng buốt đêm chờ
Nẻo ái tèm lem nhàu cội vỡ
Quá vãng ơi người chẳng chịu lơ
Dần đau dạ xám hoài than thở

Dần đau dạ xám hoài than thở
Thắc thỏm đêm dài nghe dạ vỡ
Tình ơi liệu phải ước điên khờ
Mộng hỡi vì đâu thề trắc trở
Đã hết bao mùa vẻ mộng mơ
Và tan những buổi trời nhung nhớ
Thì xin kỷ niệm hãy làm lơ
Yêu đà lạc bước thôi đành gỡ

HANSY

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

SAO LẠI KHÔNG ĐƯỢC DÙNG NGUỒN INTERNET LÀM NGUỒN THAM KHẢO


SAO LẠI KHÔNG ĐƯỢC
DÙNG NGUỒN INTERNET
LÀM NGUỒN THAM KHẢO

Internet đang giành thế ưu thắng về mọi mặt. Tôi không phủ nhận văn hóa sách, nhưng dù muốn hay không, Internet đã làm thay đổi toàn diện văn hóa nhân loại bằng sức mạnh của nó. Sức mạnh đó chính là sự nhanh nhạy, tiện dụng, dồi dào, đặc biệt là kết nối thông tin đa chiều.

Nhiều trang web đang là kho lưu trữ khổng lồ mà không thư viện nào chứa nổi.
Hàng ngày những ông bà nhà báo, những ông bà nhà khoa học vẫn dùng Internet. Họ dùng bằng nhiều cách: đọc, tra cứu, cập nhật thông tin,… Thậm chí khi thấy xuất bản sách, báo bị ế, tức không người đọc, tức không thể nổi danh, họ viết và truyền bá sản phẩm của mình trên Internet.

Tôi nói thật rằng, hàng ngày tôi phải dùng Internet để đọc, để tra cứu, cập nhật thông tin. Nhiều nguồn Từ điển, nhiều sách khoa học tiếng Việt lẫn tiếng Anh tôi phải lấy từ các thư viện điện tử, vì tôi không có điều kiện và tiền để mua sách. Tôi không thuộc loại háo danh, vì càng nổi danh càng thêm phiền toái. Nhưng tôi thích viết Internet hơn vì không bị biên tập, cắt xén, không phải chờ báo đăng hay phải đi đóng tiền cho mấy nhà xuất bản để nuôi kẻ kinh doanh sách. Đặc biệt viết Internet là để mang thông tin đến cho bạn đọc đông đảo và kịp thời, kể cả chấp nhận sự phê phán kịp thời để học hỏi.

Đó là lý do tôi có đến 4 tập bản thảo dày, nhưng chưa in sách.

Tôi thật ngạc nhiên khi nhiều lần nghe rằng, mỗi khi gặp ai đó, nhất là học trò làm luận văn, luận án đưa Internet vào nguồn tham khảo, lập tức những ông bà trên kia trịnh trọng khuyến cáo: “Internet là nguồn không đáng tin cậy”. Lại còn nhấn thêm: “Nguồn Internet không thể kiểm chứng”.

Vậy sách, báo là nguồn đáng tin cậy, dễ kiểm chứng? Trong khi đến Kinh Thánh, Kinh Phật, và các loại Kinh từ xưa đến nay từng có vô số cách chú giải và bị mang ra mổ xẻ, cãi nhau triền miên, huống hồ là sách báo của thời thổ tả này. Đã sai sót thì đến sách giáo khoa gọi là “chuẩn pháp lý” cũng sai sót, thậm chí sai sót nghiêm trọng, dù đã có hội đồng thẩm định. Một định kiến chủ quan thôi đã có thể sai vạn dặm, dù người đó có trình độ cao siêu cỡ nào. Chẳng hạn khi đưa Nam quốc sơn hà vào SGK lớp 7 đổi mới, người biên soạn cố công giải thích theo định hướng, rằng “định phận” thì “định” phải là “quyết định”, “phận” là rút gọn của “giới phận”, “địa phận”, là phần đất đã được giới hạn…”. Trong khi lại giải thích “thiên: trời, thư: sách”, “Thiên thư” là sách trời. (Ngữ văn 7, tr.62). Một mặt, người soạn sách không muốn xem “định phận” thuộc nội hàm của Thiên mệnh trong tư tưởng Nho gia, đánh tráo vấn đề lãnh thổ là đường biên giới cố định, nhưng mặt khác, lại thừa nhận có “sách trời” một cách duy tâm cuồng tín và đầy mâu thuẫn. Vì cố định hướng theo cách hiểu của mình nên dẫn đến thoát ly khỏi văn bản và làm cho cả hai mặt đều sai. Đất nước chưa bao giờ cố định mà di chuyển tùy từng lúc quốc gia mạnh yếu khác nhau, còn biên giới lãnh thổ là do con người tạo ra chứ chẳng có sách trời nào cả.

Trong văn bản, câu “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, “định phận” hay “thiên thư” thuộc vấn đề Thiên mệnh chứ chẳng là gì khác mà cứ phải định hướng cho hại não học sinh. Đã gọi là “bài thơ thần”, mượn thần linh đe dọa quân giặc, hiển nhiên tác giả phải sử dụng thuyết Thiên mệnh chứ cố tình bẻ lái làm gì?

Tôi không giỏi về chữ Hán, nhưng biết cách đọc và biết hoài nghi bằng cách tra cứu, truy nguyên tận cùng. Một vài giáo sư cũng rất giỏi Hán học, nhưng cứ nhất quyết “hy sinh” là mang nghĩa “cái chết vì nghĩa lớn” chứ không phải “sinh vật tế thần”, từ “giao hoan” là “vui vẻ” chứ không có nghĩa là “quan hệ xác thịt” rồi cãi, trong khi từ ngữ đâu chỉ biết mặt chữ hay tra vài quyển từ điển là… biết tuốt?

Khi nào rảnh, tôi lôi cả đống các quyển Đường thi do các nhà Hán học biên soạn để chỉ ra cách dịch rất tùy tiện, chủ quan vì họ tưởng người đọc đến thời chữ Quốc ngữ chỉ còn lại toàn bọn mù chữ nên phán gì cũng được!

Căn bệnh xem sách ta là chuẩn, ta có danh thì là ta nói đúng, cho nên mới có cái họa Từ điển Nguyễn Lân.

Khái niệm “tham khảo” không có nghĩa là phải dựa vào chuẩn nào, trừ những kẻ mắc bệnh cuồng tín, không dám trình bày chính kiến đến mức cứ phải mở mồm ra là theo mẫu “Tử viết…”, “Mác viết…” một cách nô dịch. Tham khảo của khoa học hiện đại là dựa vào một nguồn hay nhiều nguồn và chấp nhận trò chơi tương tác: tương tác giữa ta và người đi trước, giữa các ý kiến khác biệt nhau, khác với lối tầm chương trích cú xưa.

Trong sự tương tác ấy, theo tôi, chỉ có Internet mới là môi trường dễ kiểm chứng nhất. Thời chưa có Internet, những quyển sách được gọi là “kinh điển” mới thống trị niềm tin nhân loại cả ngàn năm, Từ điển Nguyễn Lân và những sách tương tự như Nguyễn Lân mới có khả năng nhồi sọ niềm tin con người cả thế kỷ. Hiện nay, trò lưu manh học thuật vẫn tồn tại vì nó lẩn trốn vào trong các quyển sách ít người đọc, sách cho, biếu, tặng để làm sang. Còn khi đã phô ra trên Internet thì… loại sách ấy hết đường sống, đến mức một chữ bịp bợm lẩn trốn trong rừng chữ của sách trước sau cũng bị vạch mặt!

Sách cũng đang là thứ u u minh minh, cha đẻ và nuôi dưỡng cho nạn đạo văn. Nhiều kẻ đạo văn từ sách rất khó phát hiện và kiểm chứng. Trong khi Internet rất minh bạch, đạo văn từ nguồn Internet là phát hiện và kiểm chứng được ngay, vì chỉ cần một phần mềm quét một phát là lòi cái bản mặt ăn cắp ra ngay!

Internet có cả thật lẫn giả, có tinh hoa lẫn rác trong mối quan hệ tương tác đa chiều của nó. Sử dụng tốt Internet bằng cách biết sàng lọc, tương tác mới là cao minh, hơn là tự nhồi sọ từ sách. Với tôi, kẻ làm khoa học thời nay không biết sử dụng thông tin trên Internet làm nguồn tham khảo rồi tri hô Internet “không đáng tin cậy” hay “không thể kiểm chứng” là loại cáo chê nho xanh hay kẻ… mù chữ. Kẻ mù chữ thường từ chối văn minh, nếu không thì là bảo thủ, học phiệt.

CHU MỘNG LONG


KHÚC TÌNH


192
KHÚC TÌNH
[Thuận Nghịch-Trắc Bằng]

Xinh cười dáng nhớ thương nguyền bạn
Định xuyến xao thề cung mở rạng
Vinh mãi sắc hòa để mộng sang
Nhỉnh hoài mơ thuận cho lòng sáng
Linh chồng chất lại níu mùa lan
Lĩnh ngát ngan về nương gió mạn
Tình vút bổng ân diệu cánh làn
Tin niềm giữa ái tâm nào nản

Nản nào tâm ái giữa niềm tin
Làn cánh diệu ân bổng vút tình
Mạn gió nương về khao khát lĩnh
Lan mùa níu lại chất chồng linh
Sáng lòng cho thuận mơ hoài nhỉnh
Sang mộng để hòa sắc mãi vinh
Rạng mở cung thề xao xuyến định
Bạn nguyền thương nhớ dáng cười xinh

HANSY

MỘNG XINH

Xinh mộng thắm đời trao đến bạn
Định hương nồng ái huyền mơ rạng
Vinh lành bến đợi đón thuyền sang
Nhỉnh phước bờ mong chờ nguyệt sáng
Linh ngời lộng diễm mắt bồng lan
Lĩnh bổng bay hồng môi lãng mạn
Tình say đắm cảnh đượm mơ làn
Tin mãi nguyện thề vương chớ nản

Nản chớ vương thề nguyện mãi tin
Làn mơ đượm cảnh đắm say tình
Mạn lãng môi hồng bay bổng lĩnh
Lan bồng mắt diễm lộng ngời linh
Sáng nguyệt chờ mong bờ phước nhỉnh
Sang thuyền đón đợi bến lành vinh
Rạng mơ huyền ái nồng hương định
Bạn đến trao đời thắm mộng xinh.

Hà Thu

THÁNG MƠ


THÁNG MƠ

Tháng mơ nũng nịu bao lời
Gởi yêu trao nhớ, gọi mời mọc si
Âp e duyên mối xuân thì
Trầu thương têm sẵn, yêu ghi tạc này.

Tháng mơ muối mặn gừng cay
Liếc tình một thuở lại say khướt lòng
Lung linh một sợi tơ hồng
Cột hai tim lại, hứa nồng mặn ngheng.

Tháng mơ trời rộ hoa đèn
Để con én mộng thỏa len lỏi vào
Sóng ngần qua lại chòng chao
Mà nghe thoáng vọng những dào dạt đưa.

Tháng mơ ủ ước sao vừa
Tìm trong sương khói đượm lưa thưa tình…

HANSY