Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2020

48-THIẾT THAO


SỰ NHẦM LẪN GIỮA 2 BỨC TRANH CHUỘT


SỰ NHẦM LẪN
GIỮA 2 BỨC TRANH CHUỘT

So với các con vật khác như gà, lợn, trâu... đề tài “chuột” được phản ánh trên tranh dân gian khá ít ỏi.

Trước hết có lẽ phải kể đến bức tranh “Chuột múa rồng”, phản ánh hoạt động vui chơi múa rồng qua phương thức nhân hóa cả đám rước toàn là chuột, hân hoan nhảy múa, thổi kèn, đánh trống, gõ phèng la... cờ giong trống mở múa rồng đón xuân vui tết.

Bức tranh thể hiện sự khát khao hoà bình, cầu cho mưa thuận gió hoà và mong cho toàn dân được mùa, cuộc sống bình an, no đủ.
Tranh Chuột múa rồng.

Hai bức tranh nữa có nhân vật chính là chuột, là bức Đám cưới chuột và Chuột vinh quy vốn là hai bức tranh khác nhau, thế nhưng, xưa nay khá nhiều người nhầm lẫn, cho rằng đó chỉ là hai tên gọi của cùng một bức tranh dân gian Đông Hồ.

Quả thật, thoạt trông thì 2 bức tranh có vẻ giống nhau, nhưng nếu đặt cạnh nhau và quan sát kỹ thì ta mới cảm nhận được sự khác biệt giữa chúng.
Tranh Đám cưới chuột.

Tranh Đám cưới chuột diễn tả một “đám cưới chuột” khá long trọng, tưng bừng, rộn rã. Giữa không khí tưng bừng, “chuột anh” cưỡi ngựa hồng đi trước, “chuột nàng” ngồi kiệu theo sau. Lũ lượt theo hầu hạ, đón rước là đông đảo họ hàng nhà chuột.

Tranh bố cục theo kiểu bình đồ dân gian, phân làm 2 tuyến. Tuyến trước (gần) là chuột anh, chuột nàng và quân sĩ theo hầu trong dáng vẻ sợ hãi, thấp thỏm, ngơ ngác, mắt lấm la lấm lét, ngó trước, nhìn sau.

Tuyến sau (xa) là “phái đoàn” họ nhà chuột đi “lót tay” cho lão mèo già, đang khúm núm “cống nạp” phẩm vật là những “đặc sản” khoái khẩu của họ nhà mèo như: chim câu, cá chép…

Bố cục hai tuyến gần như cân bằng trên - dưới, miêu tả 2 sự việc khác nhau diễn ra ở 2 không gian khác nhau nhưng vẫn không hề gây cảm giác bức tranh bị cắt đôi.

Lão mèo già đang giơ chân, phồng má, trợn mắt, gương râu, múa vuốt ra uy doạ dẫm được bố trí ở góc trên bức tranh, là “nhân vật trung tâm” được các tác giả dân gian tập trung khắc họa, tạo sự chú ý tập trung của người xem.

Đáng lưu ý thêm là những chữ Hán làm rõ thêm nội dung bức tranh: miêu (mèo), tống lễ (lễ biếu), tác nhạc (tấu nhạc), lão thử thủ thân (chuột già giữ mình), chủ hôn, nghênh hôn…
Tranh Chuột vinh quy

Tranh Chuột vinh quy lại diễn tả một “đám rước chuột” vinh quy, cũng tưng bừng, rộn rã với đông đảo họ hàng nhà chuột.

Tranh cũng bố cục theo kiểu bình đồ phân tuyến, nhưng không có đường phân cách giữa tranh. Và phẩm vật “cống nạp” cho lão mèo già đã bị lược đi bớt con chim câu, chỉ còn mỗi cá chép.

Các chữ Hán trên tranh cũng đổi khác cho phù hợp với nội dung bức tranh: trước con chuột xách cá có ba chữ hiệu thủ lễ (lễ đi cống nạp), hai con chuột theo sau thì kèn, trống inh ỏi.

Hàng dưới có con chuột rước cờ ngũ sắc ghi hai chữ vinh quy dẫn đầu và con chuột thứ 3 vác tấm biển ghi hai chữ tiến sỹ.

Cả 2 tranh Chuột vinh quy và Đám cưới chuột cùng là những minh họa sống động và hóm hỉnh cho quan hệ mạnh hiếp yếu trong xã hội.

Tranh “Đám cưới chuột” và “Chuột vinh quy” cùng có nội dung phê phán hiện tượng“Cá lớn nuốt cá bé”.

Cả 2 bức tranh đều là minh họa sống động cho quan hệ kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu trong xã hội phong kiến.

Người ta mượn hình ảnh chuột để châm biếm chua cay, hài hước về một tệ nạn mà xã hội cần lên án và loại bỏ.

Ý tưởng sâu xa của 2 bức tranh là chất châm biếm, đả kích sâu cay, lên án, tố cáo tệ nạn nhũng nhiễu, tham ô, hối lộ, ăn của đút lót của bọn quan lại phong kiến thống trị.

Qua tranh dân gian Đông Hồ, con mèo như là đại diện cho thế lực quan lại, thống trị; con chuột thuộc tầng lớp hạ đẳng bị cai trị, áp bức, bần cùng.

Cả đời nhà chuột từ lúc sinh ra, cả khi học hành “đỗ đạt thành tài”, vinh quy bái tổ, hoặc lúc lập gia thất “cưới vợ” sinh đàn, khi nào cũng phải sống nhẫn nhục trong nguy cơ, đe dọa của loài mèo.

Do vậy, loài chuột trong bức tranh, vô hình trung lại trở thành nhân vật được người xem tranh thương cảm, yêu mến.

Hai bức tranh dân gian Đông Hồ tuy cùng tái hiện đám rước chuột có vẻ giống nhau, nhưng nội dung phản ánh qua tên tranh cũng như qua hình ảnh minh họa, chữ viết trên tranh gợi nên 2 nội dung không hoàn toàn giống nhau về ngày vu quy và ngày vinh quy.

Nhân dịp đầu xuân Canh Tí, chúc bạn đọc Báo điện tử Giáo dục Việt Nam có thêm nhiều phát hiện mới về sự khác biệt giữa hai bức tranh chuột nổi tiếng này.

Đỗ Thành Dương

195 SÁC THU HỜ HỮNG


195
SÁC THU HỜ HỮNG
[Bát điệp-Sắc]

Vàng vọt THU trời lá cuốn bay
Rừng THU đo Đỏ sắc hao gầy
THU vờn Trắng bệch bơ phờ nẻo
THU nhuộm mơ màng Tím rịm cây
Huyền diệu THU chuyền ngan ngát vậy
Bạc phơ THU trải chứa chan này
Nguyền THU Hồng phúc khều trăng lượn
THU Tía lia lòng chuyện gió mây

THU chiều mỏng mảnh Lục tìm mây
Dìu dịu Hồng THU lả lướt này
Gió đuổi THU Vàng thơm mộng ấy
THU vờn nắng nhạt Biếc vòm cây
Trăng choàng ái Đỏ tình THU trỗi
Đàn rót THU Hường phím nhạc lay
THU hỡi Xanh hoài tim vậy nhé
Cho lòng THU đượm giữa Điều ngây

HANSY
*
THU HÀ NỘI

Thu Hà Nội gió thoảng vờn bay
Nắng đổ chiều Thu cội liễu gầy
Lấp loáng hồ Thu, đàn cá nhẩy
Mơ màng Thu cúc gửi tàng cây
Tình Thu một buổi trao lòng ấy
Nghĩa bạn ngàn Thu ở chỗ này
Khẽ gọi mà Thu người chả thấy
Thu còn vương vấn gửi làn mây

Thu dáng yêu kiều vạn sắc mây
Hồn Thu bát ngát chạm tim này
Yêu từng góc phố vàng Thu vẩy
Nhớ mỗi Thu đường rợp sải cây
Tím rỡ ràng Thu mùa cốm ngậy
Sầu man mác dạ bóng Thu gầy
Thu mang giấc mộng tìm ai đấy
Hà Nội Thu về tiếng thoảng bay

Minh Hien

LỒNG LỘNG TRIỀN MÊ


LỒNG LỘNG TRIỀN MÊ
[Thuận Nghịch độc]

Tay ngả ngớn tình huyễn ảo quyên
Thoảng mơ dìu nhẹ lướt trăng thuyền
Đài trang ngát diễm ngào ngon mộng
Ái cảm thơm lừng hứa hẹn duyên
Say đắm dạ hồn lơi lả ngậy
Lộng ngời thân ý ngọt ngào xuyên
Cài chan chứa nguyệt bừng mơ tỏa
Hoài mãi biếc yêu thắm đượm nguyền

Nguyền đượm thắm yêu biếc mãi hoài
Tỏa mơ bừng nguyệt chứa chan cài
Xuyên ngào ngọt ý thân ngời lộng
Ngậy lả lơi hồn dạ đắm say
Duyên hứa hẹn lừng thơm cảm ái
Mộng ngon ngào diễm ngát trang đài
Thuyền trăng lướt nhẹ dìu mơ thoảng
Quyên ảo huyễn tình ngớn ngả tay

HANSY


Thứ Năm, 30 tháng 1, 2020

47-LÃNG PHIÊU


CẢM NHẬN MỚI VỀ BÀI ĐỒNG DAO “MÈO – CHUỘT”


CẢM NHẬN MỚI
VỀ BÀI ĐỒNG DAO “MÈO – CHUỘT”

Đồng dao - một bộ phận của ca dao, là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam.

Với ranh giới mang tính tương đối, đồng dao bao gồm nhiều thể loại: các bài hát vui của trẻ em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em, câu đố vui trẻ em...

Trong đó, quen thuộc nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi của trẻ em, vừa hát vừa chơi - vừa chơi vừa hát.

Bài đồng dao “Con mèo mà trèo...” hết sức quen thuộc mà bao thế hệ người Việt từng được nghe bà, mẹ hát ru từ thuở nằm nôi, từng thuộc lòng được ghi lại trong sách giáo khoa (dẫn nguyên văn) như sau:

“Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
Chú chuột đi chợ đàng xa.
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo!”                  

Ảnh: Sách giáo khoa Ngữ văn 7 (trang 53, tập I), Nhà xuất bản Giáo dục, 2007

Như các bài đồng dao trong các trò chơi trẻ em người Việt ở mọi miền trên đất nước đều có nội dung khá giống nhau, bài “Con mèo mà trèo...” lưu truyền ở các vùng cũng chỉ khác biệt nhau một vài từ/ tiếng địa phương mà thôi.

“Con/ (chú) mèo mà/ (mày) trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
Chú chuột đi chợ đàng/ (đường/ đồng) xa.
Mua mắm mua muối giỗ cha con/ (chú) mèo!”
Dễ dàng nhận thấy, bài đồng dao “Con mèo mà trèo cây cau” này nằm trong hệ thống các bài ca dân gian có cùng mô-típ câu mở đầu theo cấu trúc quen thuộc (chủ thể - “mà” - vị thể) như: Con kiến mà leo cành đa.../ Con cò mà đi ăn đêm.../ Cái kiến mà kiện củ khoai...

Bài ca dao đối đáp này có thể tạm xác định hai phần hỏi - đáp rõ rệt:

- Con mèo mà trèo cây cau
 Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
 - Chú chuột đi chợ đàng xa
 Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo!

Hai nhân vật cũng được xác định rõ và nhắc đi nhắc lại trong bài ca dao, với từ xưng hô phân biệt: chú chuột và con mèo.

Tuy chỉ gồm 4 câu ngắn gọn, cô đúc bài đồng dao đã gây băn khoăn, thắc mắc cho người đọc từ bao đời nay.

Chúng ta đều biết, mèo là một trong những con vật nuôi gần gũi, thân thiết của con người. Mèo còn giúp con người bắt chuột, hạn chế những thiệt hại do lũ chuột gây ra. Còn chuột, ai cũng biết, là loài phá hoại, đáng ghét.

Trong đời sống mèo là kẻ thù truyền kiếp, không đội trời chung với chuột, có tập tính bắt chuột để ăn thịt. Quan hệ giữa chúng là mối quan hệ loại trừ.

Khá nhiều băn khoăn nảy sinh trong bao thế hệ người đọc khi tiếp xúc với bài đồng dao, như: Chuột có làm tổ trên cây cau? Mèo có ăn mắm muối? Nhân vật nào hỏi và trả lời? Và băn khoăn bao trùm nhất chính là ý nghĩa của bài đồng dao là gì?

Có ý kiến cho rằng: Bài đồng dao phản ánh sự giả tạo của con mèo và sự khôn ngoan của chú chuột. Ý hàm ngôn là trong xã hội còn kẻ mạnh ức hiếp người yếu và kẻ mạnh thường nguỵ trang tinh vi bằng bộ mặt giả nhân giả nghĩa.

Bài ca dao toát lên một tiếng kêu công lý, một tiếng cười thông minh, sắc sảo như một màn kịch ngắn hấp dẫn và thú vị, kết thúc bằng câu chửi gằn giọng độc địa của chú chuột “cha con mèo”!

Ý kiến khác lại cho rằng: Chú chuột đã “chơi khăm” con mèo thông qua sự việc “giỗ cha con mèo” bằng mắm với muối, thực chất là nhằm nguyền rủa dòng họ nhà mèo.

Cách dùng từ “hỏi thăm”, “chú chuột” nói lên sự dối trá, tinh quái của mèo. Nhưng chú chuột tinh khôn, láu lỉnh không dễ bị đánh lừa, lại nói kháy mèo cho bõ ghét, cho hả giận.

“Đi chợ đàng xa”, nghĩa là chuột muốn nói với mèo rằng mình đã cao chạy xa bay rồi, không tóm được đâu. Mèo tinh quái nhưng chuột còn tinh ranh hơn. Kết cuộc là cảnh chú chuột nhỏ bé tinh khôn đã thắng lão mèo to xác hung dữ - một kết thúc có hậu.

Thêm một góc nhìn khác: Chẳng hề có chuyện mèo chuột ở đây, mà chính là chuyện con người. Bài đồng dao mách nước cho kẻ yếu cách ứng xử với kẻ mạnh; chuột khôn khéo, mềm mỏng đáp lại sự “ân cần hỏi han” của mèo để cầu sự bình an theo phương châm “Mạnh dùng sức, yếu dùng chước”.

Nhà sưu tập từng trải N.U ở Thành phố Hồ Chí Minh qua trao đổi ý kiến với chúng tôi thì lại quả quyết rằng: “Ý nghĩa bài đồng dao tương tự như bức tranh Đông Hồ “Đám cưới chuột”, chúng đều là kiệt tác nghệ thuật dân gian, nhằm phản ánh hiện thực xã hội đương thời; qua đó phê phán nạn vòi vĩnh, hối lộ, tham nhũng... Những giá trị văn hóa ấy có ý nghĩa trường tồn”.

Ta thường thấy ở các làng quê Việt Nam, hiện tượng “con mèo trèo cây cau” mài vuốt là theo tập tính giống loài thông thường của nó. Mượn hình ảnh ngộ nghĩnh đó, tác giả dân gian đã sáng tác nên bài đồng dao vui vẻ, sinh động mà trong đó, hai nhân vật mèo - chuột trở thành đôi bạn thân thiết, biết sống quan tâm đến nhau.

Trong bài đồng dao, với những hình ảnh đẹp, không còn mối quan hệ đối nghịch sống chết giữa mèo và chuột, mà trở thành câu chuyện cảm động trong thế giới tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên qua nhiều thế hệ. Qua “đôi mắt xanh non” của trẻ em, đôi bạn mèo - chuột hiện lên chan hòa tình bằng hữu thân thiện, nhân hậu.

Tác giả dân gian đã rất có lý khi quan niệm rằng chưa nên vội sớm gieo vào đầu óc trẻ thơ chuyện thù hằn, giết chóc lẫn nhau giữa muôn loài, mà hãy nên nuôi dưỡng tình cảm nhân hậu, yêu thương, nghĩa tình trong đầu óc thơ trẻ.

Rõ ràng, bài đồng dao này đưa ra một bài học cho trẻ em về lòng nhân ái, chung sống hòa bình, chưa biết đến hận thù giữa muôn loài.

Lời lẽ dung dị, dễ hiểu, không triết lý cao siêu, nhưng gói ghém tình ý rất sâu sắc; không phải chỉ để ru em, mà còn nhằm cho người lớn suy ngẫm và giáo huấn con cháu.

Trên khắp thế giới cũng không thiếu những con chuột khác nổi tiếng từ bao lâu nay. Đó là chú chuột Mickey, hay như cặp Tom & Jerry trên phim ảnh thiếu nhi, chúng không hề đối kháng sống - chết mà chỉ vui đùa, hóm hỉnh, nghịch ngợm, chung sống hòa bình, được cả trẻ em lẫn người lớn yêu thích.

Chúng tôi thiên về quan điểm đây chỉ là một bài đồng dao thuần túy, trước hết nhằm cung cấp cho trẻ em những hiểu biết thường thức từ gần đến xa, từ cụ thể đến trừu tượng, trong buổi đầu các cháu làm quen, tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội xung quanh mình, qua lời hát ru của bà, của mẹ, tương tự như các bài hát ru khác: “Con mèo con chuột có lông/ Cây tre có mắt, nồi đồng có quai” hay bài “Con gà cục tác lá chanh...”, “Thằng Cuội ngồi gốc cây đa...”.

Về mặt nghệ thuật, bài đồng dao “Con mèo mà trèo cây cau” ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc đã tái hiện màn hoạt cảnh sinh động giữa 2 nhân vật mèo và chuột một cách hết sức tự nhiên.

Trẻ em tìm thấy ở đây một mẩu chuyện vui, hấp dẫn về những con vật quen thuộc; người lớn cũng cảm nhận từ bài đồng dao triết lý nhẹ nhàng, giàu tính nhân văn của ông cha mình.

Chính vì vậy mà bài đồng dao này được các thế hệ người Việt thuộc lòng và chắc chắn sẽ còn được lưu truyền mãi trong dân gian từ đời này sang đời khác.

Đỗ Thành Dương

194 SẼ SÀNG KHÚC MỘNG


194
SẼ SÀNG  KHÚC MỘNG
[Thuận Nghịch độc]

Gởi tình chan ái giữa niềm khơi
Trào cánh diệu ân bổng vút trời
Đợi gió thương về ngan ngát dậy
Chao mành nhớ lại ngọt ngào cơi
Bởi lòng nhô nhấp mơ hoài trỗi
Vì dạ khát khao mộng khó rời
Vợi níu cung thề xao xuyến cõi
Cởi làn thương mộng duỗi đầy vơi

Vơi đầy duỗi mộng thương làn cởi
Cõi xuyến xao thề cung níu vợi
Rời khó mộng khao khát dạ vì
Trỗi hoài mơ nhấp nhô lòng bởi
Cơi ngào ngọt lại nhớ mành chao
Dậy ngát ngan về thương gió đợi
Trời vút bổng ân diệu cánh trào
Khơi niềm giữa ái chan tình gởi

HANSY
*
GỞI MẾN THƯƠNG

Gởi mến thương tình ái dậy khơi
Chờ trông đỏ mắt dõi xa trời
Đợi thành mong mãi mong rồi luyến
Quên để nhớ hoài nhớ lại cơi
Bởi xuyến xao lòng nên vẫn níu
Vì mơ mộng cõi được sao rời
Vợi sầu cho sóng dâng tràn biển
Cởi ánh dương chiều buổi nắng vơi

Vơi nắng buổi chiều dương ánh cởi
Biển tràn dâng sóng cho sầu vợi
Rời sao được cõi mộng mơ vì
Níu vẫn nên lòng xao xuyến bởi
Cơi lại nhớ hoài nhớ để quên
Luyến rồi mong mãi mong thành đợi
Trời xa dõi mắt đỏ trông chờ
Khơi dậy ái tình thương mến gởi

Minh Hien

ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ

ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ

Cuộc thế như là áng bạch vân
Thường hay chuyển đổi biết bao lần
Người lo chẳng thể tròn duyên phận
Kẻ ước may nhờ vẹn nghĩa ân
Thỏa mãn an bình đâu mấy bận
Hồ nghi khốn khổ lại muôn phần
Trong lòng bởi vậy luôn cầu khấn
Sảng khoái tâm hồn được mãi ngân

Sảng khoái tâm hồn được mãi ngân
Vầng trăng hạnh phúc đượm loang dần
Bình an chính thực là son phấn
Ổn định thành ra vốn hậu cần
Góp nhặt từ tâm hòng đổi phận
Bồi trau thiện tính mộng gieo vần
Đức nhiều thắng số thay thời vận
Dẫu cuối con đường vẫn tuổi xuân

HANSY

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2020

46-CHỎNG CHƠ


ĐẠO THƠ KHÓ LƯỜNG MÀ DỄ… HIỂU?


ĐẠO THƠ KHÓ LƯỜNG
MÀ DỄ… HIỂU?

Những ngày giáp Tết Canh Tý, làng thơ lại xôn xao vì một vụ đạo thơ khó tin. Đó là cuộc thi thơ “Tổ quốc - Quê hương - Biên giới - Hải đảo” do một tạp chí đăng cai, đã trao giải Ba cho một bài thơ “trộm nguyên con”. Nhà thơ Trần Trí Thông không thể ngờ bài thơ “Lục bát chân bùn” mà anh đã in trong tập “Điều anh muốn nói với em” do NXB Văn Nghệ ấn hành năm 2004, bỗng dưng biến thành bài thơ “Lục bát tôi về” ký tên “tác giả” Tất Đính để được vinh danh.

Trường hợp mượn thơ của người khác để… đoạt giải của “tác giả” Tất Đính, khiến công chúng nhớ lại vụ bài thơ “Buổi sáng” của nhà thơ Phan Ngọc Thường Đoan bị “hiệu đính” thành bài thơ “Bạch lộ” in trong tập “Sẹo độc lập” được trao giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội từng ầm ĩ một dạo. Rõ ràng, thực trạng đạo thơ đã đến mức báo động trong đời sống văn hóa.

Nếu đạo thơ để thỏa mãn sự thèm khát của những người không có năng lực sáng tạo, đã đáng chê trách. Đằng này, đạo thơ để mưu cầu giải thưởng thì thật khó lý giải. Vai trò của những người chấm giải, phải phán xét trách nhiệm ra sao? Không khó để tìm ra bài thơ “Lục bát tôi về” của nhà thơ Trần Trí Thông trên các trang mạng văn chương. Cũng như không khó phát hiện bài thơ “Buổi sáng” của nhà thơ Phan Ngọc Thường Đoan được nhạc sĩ Phú Quang phổ thành ca khúc “Catinat cà phê sáng” trên các diễn đàn âm nhạc. Tuy nhiên, không ai nỡ nghi ngờ phẩm giá đạo đức của những người cầm bút, nên hội đồng giám khảo cũng dễ dàng bị qua mặt.

Một nguyên nhân quan trọng của nạn đạo thơ hoành hành, chính là sự lạm phát thơ. Đành rằng, một xã hội cởi mở thì khuyến khích mọi người thăng hoa với nghệ thuật. Thế nhưng, làm thơ để thù tạc, làm thơ để ngâm vịnh, hoặc làm thơ để dưỡng sinh hoàn toàn khác với làm thơ để theo đuổi danh lợi. Mỗi năm có hàng ngàn tập thơ được xuất bản, thì không ai dám vỗ ngực cam kết đọc hết thơ trên toàn cõi Việt Nam. Môi trường đa thanh đa sắc của thi ca, khiến vài kẻ nảy sinh ham muốn kỳ quặc là… sở hữu luôn những bài thơ mà mình cảm thấy thú vị. Có thể hình dung đơn giản, ban đầu họ chỉ học thuộc bài thơ của người khác để đọc ở các dịp giao lưu vui vẻ, rồi khi được tán thưởng thì hứng chí nhận bừa do bản thân viết ra. Vài lần như vậy, dẫn đến kết cục ký luôn tên mình vào bài thơ của người khác, mà đem đi in báo, đem đi in sách, đem đi dự thi.

Câu hỏi nữa, vì sao lạm phát thơ? Rất đơn giản, vì cái mác “nhà thơ” dễ kiếm nhất. Muốn viết nhạc, viết kịch, viết văn thì phải hiểu biết ít nhiều về thể loại và phải tốn công sức. Còn thơ ư? Chỉ cần biết… chữ, là có thể ghép vần cho nhịp nhàng, rồi nhờ người chỉnh sửa. Chả mấy ai viết dùm ai một vở kịch hay một tiểu thuyết, nhưng có thể viết dùm một bài thơ như một món quà ân tình. Và các kiểu “nhà thơ” vay mượn vẫn ung dung xuất hiện trước đám đông, mà không sợ đối diện với sự nghi ngờ về năng lực và trình độ. Nếu anh đứng tên một ca khúc mà anh không xướng âm được thì cũng hơi ê mặt, nếu chị đứng tên một vở kịch mà chị không phân biệt được vai chính vai phụ thì cũng hơi ngượng ngùng. Ngược lại, cái bài thơ mà anh lấy của người khác hoặc anh nhờ người khác viết, thì rất thoải mái giải thích “phụ thuộc vào… cảm xúc lúc dạt dào tin yêu hoặc lúc ngơ ngác hy vọng”.

Cũng từ lạm phát thơ đã kép theo hệ lụy khủng hoảng thừa ứng viên thi sĩ nộp đơn vào Hội Nhà văn, kể cả Hội Nhà văn trung ương lẫn Hội Nhà văn địa phương. Đã làm thơ vì háo danh thì phải háo danh đến cùng. Hiện tại, riêng Hội Nhà văn VN đang tồn đọng gần 1000 đơn xin gia nhập Hội, mà đông nhất là lĩnh vực thơ. Gần như năm nào xét kết nạp hội viên mới cũng có tiếng bấc tiếng chì, chứng tỏ sự xưng tụng “nhà thơ” vẫn hấp dẫn giữa thời kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Không thể ngăn chặn nạn đạo thơ trong một sớm một chiều, khi cơn lốc háo danh đang che mờ lý trí và tự trọng của không ít người. Với người sáng tạo đích thực, thì công việc làm thơ rất nhọc nhằn. Còn với người bon chen thân phận, thì nhãn mác nhà thơ rất… cám dỗ. Hai thái cực ấy đang song song chi phối đời sống thi ca, gây nên những chuyện dở khóc dở cười. Công chúng đành chờ đợi thái độ nghiêm túc và quyết liệt của những người cầm bút trung thực hết lòng vì thơ, chứ không vì những thứ phù phiếm ngoài thơ.

LÊ THIẾU NHƠN

193 SẮC PHẤN HƯƠNG NGỜI


193
SẮC PHẤN HƯƠNG NGỜI
[Thuận Nghịch độc]

Hương phấn diễm tình phả vọng đêm
Tưởng tâm ngời ước huyễn trăng thềm
Nhường mơ duỗi mộng ngon ngào chiếm
Dưỡng sắc ươm lòng mải miết êm
Sương ảo huyễn bồng loang mắt đệm
Phượng ngây ngù lịm lướt môi mềm
Thường khi diễm tuyệt nồng thơ kiếm
Dương phả ái nguyền hứa hẹn thêm

Thêm hứa hẹn nguyền ái phả dương
Kiếm thơ nồng tuyệt diễm khi thường
Mềm môi lướt lịm ngù ngây phượng
Đệm mắt loang bồng huyễn ảo sương
Êm miết mải lòng ươm sắc dưỡng
Chiếm ngào ngon mộng duỗi mơ nhường
Thềm trăng huyễn ước ngời tâm tưởng
Đêm vọng phả tình diễm phấn hương

HANSY
 *
HƯƠNG ĐÊM

Hương toả ngát quỳnh diễm mộng đêm
Lả lơi đùa gió gọi sau thềm
Nhường trăng sắc đẹp hoài ngơ ngẩn
Thả cánh hoa nồng mãi dịu êm
Sương lạnh giá về ôi cõi ảo
Bóng xưa mờ hiện bỗng tim mềm
Thường nghe vẫn thấy lòng mơ ủ
Dương thế giữa đời cảnh tội thêm

Thêm tội cảnh đời giữa thế dương
Ủ mơ lòng thấy vẫn nghe thường
Mềm tim bỗng hiện mờ xưa bóng
Ảo cõi ôi về giá lạnh sương
Êm dịu mãi nồng hoa cánh thả
Ngẩn ngơ hoài đẹp sắc trăng nhường
Thềm sau gọi gió đùa lơi lả
Đêm mộng diễm quỳnh ngát toả hương

Minh Hien

XUÂN NỒNG


XUÂN NỒNG
[THTK-Bằng trắc]

XUÂN khỏa vương đầy cảnh sắc tươi
VỀ ươm dương thế thỏa môi cười
ƯỚC nguồn phước hạnh luôn hoài tới
VỌNG chốn thanh bình được mãi khơi
TRÀO lộng Tếu-Hài loang khuỷnh đợi
DÂNG bừng Hỷ-Lộc thỏa miền chơi
LỐI danh đường nghĩa nhiều hưng lợi
TẾT ĐẾN MONG CHỜ DẬY KHẮP NƠI

TẾT hưng thịnh biếc ươm ngời tuổi
ĐẾN với trần gian mừng điệu trỗi
MONG ngát hồn tim tỏa lén chồi
CHỜ thơm hoa lá bừng loang cội
DẬY hòa vạn nẻo ái ân trồi
KHẮP tỏa ngàn hương tình mộng nối
NƠI thảo thơm lừng diệu ngát môi
XUÂN VỀ ƯỚC VỌNG TRÀO DÂNG LỐI

HANSY

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2020

45-MẦM YÊU


HOÀI NIỆM TẾT TRONG THƠ XƯA


HOÀI NIỆM TẾT
TRONG THƠ XƯA

Đời người, trong tất cả những năm tháng đã qua cũng như những năm tháng của tương lai, Tết bao giờ cũng là một khoảng thời gian thiêng liêng, lắng đọng, mang đến cho mỗi chúng ta thật nhiều xúc cảm. Người thì đến với Tết bằng đoàn tụ sum vầy, người thì đến với Tết bằng lạc quan hy vọng, người thì đến với Tết bởi những khắc khoải nhớ thương… Mở lại hợp tuyển "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh - Hoài Chân, thi phẩm đầu tiên gắn với Tết mang lại cho ta bao cảm xúc bùi ngùi, buồn thương của một lớp người đã tàn phai, đã dần xa những con người của thời hiện tại. Đó là bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên. Hình tượng trung tâm của tác phẩm là ông đồ cho chữ, đại diện cho một lớp người với thú vui tao nhã thanh cao.

Tác phẩm gián tiếp phản ánh với chúng ta một biến cố quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội của đất nước, đó là sự "thất sủng" của chữ Hán bởi chế độ khoa cử bằng chữ Hán đã lần lượt bị xóa sổ ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Địa vị của chữ Hán thay đổi khiến cho những người tìm đến ông đồ xin chữ, xin câu đối càng ngày càng ít hơn xưa, để rồi: "Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua đường không ai hay/ Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay/ Năm nay đào lại nở/ Không thấy ông đồ xưa/ Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ". Thực ra, toàn bài thơ không có một chữ Tết nào, nhưng cái không khí Tết mà thi phẩm gợi ra là một điều có thật. Không khí Tết ấy đến từ hoa đào nở, từ cảnh ông đồ ngồi cho chữ. Và rồi cuối cùng, cũng là một cái Tết nhưng thay vào đông vui nhộn nhịp lại là sự cô đơn lẻ loi của một người ngồi bên lề, đã bị lãng quên…

Cũng viết về Tết nhưng với Đoàn Văn Cừ lại là một cách tiếp cận khác. Bài thơ "Chợ Tết" nổi tiếng của ông gồm 44 câu chính là một trong 4 tác phẩm được Hoài Thanh - Hoài Chân tuyển chọn để đưa vào "Thi nhân Việt Nam". Thi sĩ đã tái hiện sống động quang cảnh của chợ Tết ở một vùng nông thôn Bắc Bộ với đủ các sắc màu, nhân vật, hoạt động vô cùng phong phú, đa dạng. Trong đoạn đầu, ta bắt gặp màu trắng của mây, màu đỏ của đỉnh núi, màu xanh của mép đồi, màu biếc của cỏ, màu đỏ của áo thằng cu, màu trắng của giọt sương, màu xanh của núi. Ở đoạn tiếp theo, ta bắt gặp một loạt các nhân vật với các hoạt động khác nhau như anh hàng tranh thì gánh đôi bồ, thầy khóa thì viết chữ, cụ đồ vuốt râu đọc câu đối, bà cụ bán hàng, cụ lý bị sấn kéo, lũ trẻ con ngắm tranh, các cô gái cười rũ rượi, một anh chàng bán pháo, một người mua gà đang kiểm tra gà. Thế nhưng ở đoạn cuối cùng với 6 câu khép lại tác phẩm, những huyên náo sống động được thay thế bằng sự vắng lặng u buồn bởi chợ Tết đã tan. Nếu như ánh mặt trời xuất hiện trong đoạn đầu của bài thơ được diễn tả gắn với những cảm xúc vui tươi: "Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa/ Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh/ Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh"; thì ánh mặt trời trong đoạn kết thúc đượm buồn, được đặt bên cạnh hình ảnh lá rụng: "Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê/ Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ". Dường như thi sĩ cố tình tránh nỗi buồn thời đại mà rồi cuối cùng vẫn không thể chối bỏ, không thể lãng quên được. Nỗi buồn vẫn xuất hiện như một day dứt khôn nguôi trong lòng người.

Nếu như Vũ Đình Liên và Đoàn Văn Cừ, mỗi người chỉ có một bài thơ nổi danh về Tết, thì một thi sĩ lãng mạn cùng thời khác là Nguyễn Bính đã viết rất nhiều câu thơ Tết, bài thơ Tết. Đầu tiên, Tết xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính với tính chất tả thực: "Có cô thợ nhuộm về ăn Tết/ Sương gió đường xa rám má hồng" (Không đề); "Em chưa lấy chồng/ Má hồng còn thắm/ Tết Tết xuân xuân/ Đời vui vẻ lắm" (Xuân). Ngày Tết trong thơ Nguyễn Bính luôn gắn với một cảm xúc, một ước ao được sum vầy đoàn tụ. Thế nên nếu Tết mà phải xa nhau, phải ly biệt thì đó chắc chắn sẽ trở thành nỗi buồn day dứt khôn nguôi trong lòng người: "Năm ngoái Tết rồi/ Năm nay lại Tết/ Ai đi biền biệt/ Hai Tết rồi đây/ Buồng hương lẳng lặng/ Then chẳng thiết cài/ Còn đợi chờ ai/ Biết bao Tết nữa" (Tết).

Những ngày Tết vui nhất trong thơ Nguyễn Bính là những ngày Tết vọng về trong hồi ức, lúc thiếu thời. Có những cái Tết gắn với hình ảnh người mẹ tần tảo, hiền từ: "Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/ Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều/ Sân gạch tường hoa người quét lại/ Vẽ cung trừ quỷ trồng cây nêu (...) Xong ba ngày Tết mẹ tôi lại/ Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con/ Rồi một đôi khi người giậm gạo/ Chuyện trò kể lại tuổi chân son" (Tết của mẹ tôi). Có những cái Tết gắn với hình ảnh người bạn gái thuở hoa niên: "Trời đen như mực, tối ba mươi/ Diễm lén sang nhà để gặp tôi/ Hai chúng tôi ngồi trên đệm rạ/ Lắng nghe nồi bánh rộn ràng sôi" (Thi vị). Nhưng những cái Tết xuất hiện nhiều nhất trong thơ Nguyễn Bính là những cái Tết xa nhà, phải đón xuân nơi xứ người. Danh từ Tết vì thế thường có một loạt yếu tố đi sau để nhấn mạnh cái sự xa quê ấy như: "Tết ngoài thiên hạ", "Tết quê người", "Tết người ta": "Bốn bể vẫn chưa yên sóng gió/ Xuân này em chị vẫn tha hương/ Vẫn ăn cái Tết ngoài thiên hạ/ Son sắt say hoài rượu viễn phương (...) Đêm ba mươi Tết quê người cũng/ Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương" (Xuân vẫn tha hương), "Quán trọ xuân này hoa lại nở/ Lại ngồi xem Tết, Tết người ta" (Quán trọ).

Và mọi cái Tết ở xứ người ấy đều là những cái Tết vô duyên, những cái Tết không mang đầy đủ ý nghĩa thực sự. Nỗi khát khao sum họp trong những ngày Tết vì thế mà càng cháy bỏng, nhưng bởi không thể trở về nên con người đành chấp nhận mà ôm lấy nỗi buồn tủi nhiều khi đến bẽ bàng: "Chiều ba mươi hết năm rồi/ Nhà tôi riêng một mình tôi vắng nhà/ Tôi còn lận đận phương xa/ Để ăn cái Tết thật là vô duyên" (Xuân về nhớ cố hương); "Rượu chẳng say cho đèn cũng lụi/ Ngày mai xuân nở khắp giang san/ Ngày mai ăn Tết bằng chi nhỉ/Ăn Tết bằng hai cánh cửa quan" (Tết biên thùy).

Bài thơ xuất hiện nhiều từ Tết nhất và khắc khoải da diết nhất là thi phẩm "Xuân tha hương", gồm 100 câu được bắt chung một vần. Cái điệp khúc "Tết này chưa chắc em về được/ Em gửi về đây một tấm lòng" trở đi trở lại đến 7 lần trong toàn bộ bài thơ. Rải rác trong bài còn có 6 từ Tết khác, nâng tổng tần số xuất hiện của Tết trong thi phẩm lên tới 13 lần. Cái cảm giác bơ vơ, lạc lõng, cô đơn, vô định dễ khiến người ta phải trào nước mắt: "Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết/ Một mình em vẫn cứ tay không/ Vườn nhà Tết đến hoa còn nở/ Chị gửi cho em một cánh hồng/ Tha hương chẳng gặp người tri kỷ/ Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng (...)/ Chị ơi Tết đến em không được/ Trông thấy quê hương thật não nùng (...)/ Tết này ồ thế mà vui chán/ Những một mình em uống rượu hồng (...)/ Chị ơi Tết đến em mua rượu/ Em uống cho say đến não nùng/ Uống say cười vỡ ba gian gác/ Ném cái chung tình xuống đáy sông...".

 Tết không chỉ như một ám ảnh mà còn trở thành định mệnh của thơ và đời Nguyễn Bính. Chẳng thế mà trong những câu cuối của bài "Nhạc xuân", thi sĩ dường như đã buông ra một "lời sấm" cho sự ra đi mãi mãi của mình: "Năm mới tháng giêng mùng một Tết/ Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân/ Huyền Trân ơi!/ Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi/ Giờ đây chín vạn bông trời nở/ Riêng có tình ta khép lại thôi".

Sau 27 năm kể từ khi công bố bài "Nhạc xuân" (1939), Nguyễn Bính đã vĩnh viễn rời cõi tạm vào đúng ngày 29 tháng Chạp (năm đó không có ngày 30), ngay trước thềm mùng một Tết năm Bính Ngọ (1966), để lại bao nuối tiếc xót xa trong lòng những người ở lại.

Qua ba thi sĩ của phong trào Thơ Mới: Vũ Đình Liên, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính, chúng tôi muốn làm một cuộc hành hương, hoài niệm về Tết trong thơ xưa. Đó là những mùa xuân, những cái Tết mà nỗi u buồn sầu thương vẫn còn giăng mắc, bàng bạc trong hầu hết các thi phẩm bởi đất nước chưa được độc lập tự do, vẫn còn nằm trong sự cai trị của thực dân.Thế nhưng cái tình của con người với Tết, với quê hương, với gia đình luôn là một điều chân thành, gây niềm xúc động mạnh mẽ cho người đọc, không chỉ của thời bấy giờ mà còn tiếp tục chinh phục mỗi chúng ta hôm nay.

ĐỖ ANH VŨ



192 SẦU ƠI VỌNG MÃI


192
SẦU ƠI VỌNG MÃI
[Thuận Nghịch độc]

Lầu thương úa rã mộng thơ tàn
Lặng ước mơ tình xót thở than
Đau đớn vẳng lời cung buốt dậy
Thảm thê buồn phận nẻo tê tràn
Sầu loang ảo cảnh ngùi xa vắng
Khổ lặng mê nguồn tủi trái ngang
Châu lả khiến người tâm đảo lộn
Cầu mong mãi đượm ủ hương nàng

Nàng hương ủ đượm mãi mong cầu
Lộn đảo tâm người khiến lả châu
Ngang trái tủi nguồn mê lặng khồ
Vắng xa ngùi cảnh ảo loang sầu
Tràn tê nẻo phận buồn thê thảm
Dậy buốt cung lời vẳng đớn đau
Than thở xót tình mơ ước lặng
Tàn thơ mộng rã úa thương lầu

HANSY
*
VỌNG NGUYỆT LẦU

Lầu nguyệt vọng khuya cảnh úa tàn
Cuộc đời đeo khổ tiếng thầm than
Đau lòng tự khóc mi buồn phủ
Tủi phận mình rơi lệ ứa tràn
Sầu vạn có hay mùa gió trở
Héo nghìn thêm nữa buổi chiều ngang
Châu thờ thẫn chảy tuôn gò má
Cầu để mãi yêu nguyện nhé chàng

Chàng nhé nguyện yêu mãi để cầu
Má gò tuôn chảy thẫn thờ châu
Ngang chiều buổi nữa thêm nghìn héo
Trở gió mùa hay có vạn sầu
Tràn ứa lệ rơi mình phận tủi
Phủ buồn mi khóc tự lòng đau
Than thầm tiếng khổ đeo đời cuộc
Tàn úa cảnh khuya vọng nguyệt lầu

Minh Hien

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

ĐÓN hưởng sum vầy đượm sắc Xuân
CHÀO men hạnh phúc thật đơn thuần
RẠNG bừng cuộc ái luôn ngời chuẩn
RỠ sáng duyên thề mãi tuyệt luân
HAI gắng sang về thăm cố quận
KHÔNG quên trở lại rước tân tuần
MƯỜI phen họa xướng vui bàn luận
CHÍN nẻo yên bình đạt quán quân

THÂN bằng quyến thuộc lẫn tình quân
CHÚC mọi người say giữa diễm tuần
HẢO dệt tâm lòng thơ giáo huấn
HỮU choàng trí dạ phú kinh luân
THÀNH tâm rạng rỡ ngời anh tuấn
CÔNG đức triền miên quyện phác thuần
HẠNH nối gia đình nên hiếu thuận
PHÚC dài vạn thuở lịm hồng Xuân

HANSY

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2020

44-ĐẰNG ĐẴNG


191 SẮC MÂY HUYỄN TÌNH


191
SẮC MÂY HUYỄN TÌNH
[Bát điêp-Sắc]

Nhớ lắm MÂY VÀNG lượn quãng không
Tình ân thơm BIẾC cụm MÂY lồng
MÂY choàng HỒNG phúc thầm mơ mộng
MÂY tỏa THANH bình gợi ước trông
ĐỎ thắm trời MÂY ngàn cõi rộng
Ngời XANH non nước vạn MÂY bồng
Nguyền xuân TÍM thẫm MÂY vờn lộng
HOÀNG hạc MÂY thùa tỏa diệu bông

HOÀNG hạc MÂY thùa tỏa diệu bông
Ngàn MÂY bàng BẠC thẫm chao bồng
Tình yêu ái gởi HUYỀN MÂY lộng
Hạnh phúc MÂY chuyền LỤC nẻo trông
MÂY TÍA lia lời thơm ngát bổng
MÂY GHI nhớ thệ ngọt mê lồng
Lửng LƠ diễm sắc vầng MÂY rộng
Nhớ lắm MÂY VÀNG lượn quãng không

HANSY
*
MÀU HOA

HOA Quỳnh Trắng mịn giữa tầng không
Diễm ảo Hồng HOA ánh nguyệt lồng
Dải Xám ngân hà HOA Mộc vẽ
HOA Vàng cửa ngõ nụ Bầu trông
Đen tuyền hạt Nhãn màu HOA phủ
Đỏ thẫm trời HOA sắc Phượng bồng
Ruộng Cúc HOA nhiều Xanh bãi cỏ
HOA Cà Tím nhạt trổ đầy bông

HOA Cà Tím nhạt trổ đầy bông
Nõn Bạch Trà HOA gió thổi bồng
Liễu rủ Lam chiều HOA đợi ngóng
HOA chìm khói Lục Cải chờ trông
Tràm HOA Chuối ngự im lìm nghĩ
Bích thuỷ Đào HOA diễm lệ lồng
Bưởi ngọt Cam sành HOA ngát ngõ
HOA Quỳnh Trắng mịn giữa tầng không

Minh Hien

TÌNH XUÂN


TÌNH XUÂN
 [Nhạc-Ô thước-Giao cổ]

RỒI cũng ngào lâng ước vọng thành
DẶT lòng thơm thảo nựng trời xanh
DÌU thương trỗi dạ bừng câu lảnh
MÙA lộng niềm vui dỗ luyến phành
XUÂN ngát mộng duồng mơ diễm cảnh
THEO làn ngọt nước Tết ngời tranh
ÉN bay rộn rã niềm mê quánh
VỀ giữa nguồn hoan khẽ chạm mành

MÙA hoan đẫm thắm giữa cây cành
BÌNH địa loang bừng huyễn ảo nhanh
THƯỜNG ngụ trú tình mong mỏi sánh
MÙA chan chứa phả mãi song hành
VUI chiều sớm dạo ngời hương ánh
NAY đượm thơ lòng rộn bưởi chanh
ĐÃ chuyển xuân hồng ban sức mạnh
VỀ trăm phố thị phước ân dành

MÙA rộn rã về phước lóng lanh
XUÂN ơi ngồn ngộn ước ao rành
MƠ màng ái cảm luôn vành vạnh
ƯỚC nguyện ân tình mãi phát sanh
ĐANG buổi mai đào khoe lộng cánh
ĐẾN khi cúc huệ trổ thơm nhành
ĐẦU xuôi đuôi lọt đời ngon bảnh
TIÊN giới địa đàng ắt nổi danh

KHÓI huyễn thiên đàng phả trí Anh
BAY loang trần thế phớt sao đành
TRÊN dào dạt gió mây lành lạnh
SÔNG nước ơ hờ dưới quẩn quanh
TIẾNG ái tình khua ngời phước hạnh
GÀ duyên nợ hót dậy an lành
GÁY thầm giữa dạ nguyền lanh lảnh
TRƯA nắng giang đầu nhớ Ái Khanh

HANSY


HANSY


Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2020

43-QUẤN QUYỆN


TẢN MẠN CHUYỆN ĂN NGÀY TẾT


TN MẠN CHUYỆN ĂN
NGÀY TẾT

Năm 1993, JC Pomonti có viết một bài báo tựa là “Quand les Saigonnais mangent le Têt – Khi người Sài Gòn ăn Tết”. Khi dùng cụm từ “manger le Têt”, dù đã có dạy học ở Việt Nam (trường JJR và Đại HọcVăn Khoa) và lấy vợ Việt, hình như ông cựu giáo sư đại học, phóng viên của tờ báo Le Monde này muốn tỏ sự hiểu biết sâu sắc về Việt Nam bằng cách viết một bài nói về lối đón mừng năm mới của dân ta. Trong bài báo, ông ấy nêu lên những nét đặc thù của sự “ăn Tết” của ta như sau:

– Người Việt Nam ăn Tết có nghĩa là cỗ bàn linh đình, ai nấy đều mời nhau ăn uống (les Vietnamiens mangent le Têt, ce qui veut dire banquets et tables familiales ouvertes… tout le monde invite tout le monde)

– Người ta chăm lo việc ăn uống cho cả ông bà tổ tiên, thần thánh (on nourrit également ancêtres, dieux et génies)

– Tết mà không xài tiền (đánh bạc, mua sắm) thì không phải Tết (Le Têt n’est pas le Têt quand on ne gaspille pas son argent)

– Ngày đầu năm, trẻ con đứng vòng tay nói lời chúc tụng (như con vẹt) cha mẹ và các bậc trưởng thượng để được thưởng tiền bằng những đồng bạc mới (lì xì) (Le Jour de l’An, debout et les bras croisés, les enfants récitent leurs souhaits aux parents et ainés, en échange de quoi ils reçoivent des billets de banque neufs…)

Cái “ăn Tết” của ông ấy nói đến là lối ăn Tết của những người Miền Nam Việt Nam ở Sài Gòn tân thời trong những thập niên gần đây… Cách “ăn Tết” với mấy đặc điểm trên kia rất khác xa với tục ăn Tết cổ truyền của ta. Cho nên Pomonti không hiểu được người Việt Nam chính thống, thuần túy ăn Tết trong tinh thần Đón Mừng Năm Mới, tống cựu nghinh tân, như thế nào và cái sự “ăn Tết” của người Việt Nam có những cái đặc biệt gì.

Phải hiểu rõ những cái đặc biệt ấy mới hiểu tại sao người Việt nói là “ăn Tết”.
Với bài này của tôi không có dụng ý châm biếm một người trí thức không cùng văn hóa nhưng tôi muốn bàn đến cái ưu việt của văn hóa Việt Nam. Tại sao người Việt Nam ta nói là “ăn Tết”. Trong ngôn ngữ của ta, ăn là cái gì và Tết là cái gì mà mình “ăn” được? Xin thưa ngay, chúng ta nói phải nói là “ăn Tết” thì chúng ta mới nói lên được tất cả cái hay, cái đẹp, cái lý thú, cái cao siêu của những ngày lễ hội đầu năm ấy. Vâng, sự “ăn Tết” của ta bao gồm cả một trời triết lý tuy huyền nhiệm nhưng rất “dễ thương”. Xin bàn rõ hơn:
1-
Trước hết là vấn đề ăn:

Theo Socrate thì con-người muốn sống cho “ra người” phải dùng phương châm: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Mấy ông Tây xưa này nói chuyện triết lý nghe kỳ cục quá. Làm như vậy thì hóa ra người cũng nên “làm” giống như mọi sinh vật khác; trâu, bò chó, ngựa, voi, khỉ, vượn, hươu, nai… ăn cỏ, cây trái “để sống”; beo, cọp, sư tử, chó sói, diều hâu, cá mập v.v. ăn thịt tươi sống cũng “ăn để sống”. Còn nói rằng “ăn cho ra người”, thì theo tôi, phải ngược lại: người ăn thì phải có cái ý muốn cao siêu, đặc biệt là “thực tri kỳ vị”. “Ăn cho ra người” là ăn cho có ý nghĩa, là phải biết ngon dở, phải biết mùi vị, tốt xấu, là phải ăn cho có… nghệ thuật (nghệ thuật là nhân tính). Nói cách khác: người muốn sống cho ra người thì phải tìm cái thú, cái hay trong “sự ăn”; nói rộng ra “biết sống là phải biết ăn” hay nói cho gọn, cho tiện: “sống để mà ăn”. Sự sống và sự ăn liên kết với nhau trong cuộc sống, tuy hai mà một không như sự sống và sự chết liên kết với nhau như bóng với hình.

Tôi không nói hàm hồ đâu. Cách ăn uống là thước đo trình độ văn minh của mỗi dân tộc. Nhân loại thời ở lỗ, ở hang mới “ăn lông” còn khi đã tìm ra lửa, trồng được ngũ cốc thì không “ăn lông” nữa. Về sau, tùy trình độ văn minh tiến bộ, dân tộc nào cũng tìm ra một lối ăn, một nghệ thuật ăn hợp với lối sống của mình. Có dân tộc ăn bốc, có dân tộc dùng đũa, có dân tộc dùng muỗng, nĩa, dao, kéo, v.v.. Có dân tộc ăn bò bo, có dân tộc ăn khoai mì (sắn), có dân tộc ăn lúa mì, có dân tộc ăn gạo, v.v..

Các dân tộc khác thì tôi không biết rõ chứ người Pháp cổ, đối với nghệ thuật ăn uống, họ cũng suy nghĩ kỹ càng lắm. Từ thế kỷ thứ 16, trong tinh thần hâm mộ nét cao siêu về sự ăn của dân Gaulois vào thời kỳ xa xưa, ông Rabelais, đã “chế tạo” ra những nhân vật Gargantua, Pantagruel để nhiệt thành quảng cáo cho sự “sống để mà ăn, ăn cho ra người”. Ông ấy đưa ra những câu phương châm rất xác đáng (đối với một dân tộc trân trọng sự ăn) để khuyến dụ sự tôn vinh việc ăn:

– Càng ăn nhiều càng khoái nhiều, càng uống nhiều càng sướng nhiều – l’appétit vient en mangeant… la soif s’en va en buvant

– Thượng Đế tạo hành tinh (còn) con-người (thì) chế thức ăn ngon – le Grand Dieu fit les planètes, Nous faisons les plats nets

Nhờ tinh thần “tham ăn” ấy mà triết lý Pháp tìm ra được lẽ uyên nguyên của thuyết nhân bản. Và nước Pháp mới đoạt được cái tước hiệu huy hoàng “xứ sở của sự ăn ngon mặc đẹp” mà các dân tộc Âu Mỹ khác thường sùng thượng hoặc… ganh tị. Người Pháp chính thống phải biết biết thưởng thức mùi vị tuyệt diệu của mỗi món phó-mát (mùi càng nồng nặc vị càng đậm đà) khi ăn kèm với một loại rượu thượng thặng, vừa nhắp nhẹ khỏi môi, thấm vào đầu lưỡi đã thấy tâm thần đê mê ngây ngất. Muốn chính lý hóa sự “điệu nghệ” ấy người Pháp có hệ thống định hướng thẩm vị Michelin để xếp hạng những nhà hàng ăn theo giá trị của những món ăn ngon và “không khí” ăn ngon. Người sành ăn (chơi) phải tìm đến những nhà hàng bốn, năm sao để thưởng thức mùi vị và tài nghệ nấu ăn của Đại Pháp.
Nhưng “sự ăn” được người Pháp chú trọng về phương diện nghệ thuật chứ không hẳn về ý nghĩa, về tinh thần ăn. Đấy là vấn đề của những nước có một nền văn minh vật chất, khoa học kỹ thuật cấp tiến. Người Á Đông thì không “làm” như vậy. “Sự ăn” của Tàu, của Nhật, của Đại Hàn không giống như vậy. Ăn đối với người Á Đông trước hết và căn bản là một hành động để sinh tồn, để tiếp dẫn sự có mặt của mình trong vũ trụ. Mà đã nói đến sinh tồn thì phải có ý nghĩa của nó, phải hợp với lẽ sinh tồn của con-người nói riêng, của vạn vật nói chung. Cho nên “ăn” đối với người Á Đông không phải là một nghệ thuật mà thôi, ăn cho khoái khẩu, ăn cho đã thèm, đã no; ăn đối với người Á Đông là đặt vấn đề thụ ân thiên địa.

Do đấy, riêng đối với người Việt, sự ăn phải được thể hiện theo “đạo Trời”. Khi ăn, không những người ăn phải nhớ đến công lao của người nông phu (kiểu suy nghĩ của Sully Prudhomme trong bài Le semeur); người ăn phải biết trân trọng cái “hột ngọc” của Trời ban cho. Khi nói đến việc “ăn”, người Việt Nam luôn nhắc đến chữ “cơm” như ăn cơm tiệm (dù sẽ ăn phở, ăn không có cơm), ăn cơm tây (với bánh mì), ăn cơm tàu (với những món tầu ăn kèm với mì sợi làm bằng bột mì) vì món ăn chính của ta là cơm, nấu bằng gạo. Miếng cơm thơm ngon dẻo ngọt mà ta ăn ấy trước kia là luá, là gạo được tạo thành bằng mồ hôi bằng công sức của người nông phu:

Dưới đầm cạn, trong đầm sâu
Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa.

Và của Ông Trời đã làm cho mưa thuận gió hòa, thể theo lời

Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm.
Lấy rơm đun bếp…

Từ tinh thần tôn thờ Trời ấy, từ tính cảm nhiệm sự có-mặt (immanence) của Trời trong mọi “sự” (phénomènes) và “vật” (choses, êtres) ấy, con-người Việt xem “sự ăn” là một vấn đề tinh thần và chữ “ăn” được ghép vào mọi hành vi của mình. Cho nên, ngôn ngữ Việt Nam có gần một trăm cách nói có dùng chữ “ăn”.

Trong sự sống của loài người, Việt Nam ta hay ai ai cũng vậy, chỉ có mấy vấn đề sau đây là quan trọng, liên quan đến sự điều động cuộc sống bình thường:

– Ăn uống:
ngay về mặt thực tế “ăn để mà sống”, không ăn thì chết (đói) cũng đã có vấn đề “tinh thần ăn” rồi: đói mới ăn, khát thì uống, nhưng phải có chừng mực, giờ giấc, điều độ. “Tham thực cực thân” là một phương châm trở thành tính chân lý rồi, ai cũng biết. Nhà Nho nói “thực vô cầu bảo”, đấy là phương châm của những bậc đại nhân quân tử trên đường “minh minh đức” còn người dân-thường nói dễ hiểu hơn: ăn uống phải từ tốn không nên ăn tham, ăn như mỏ khoét, uống ừng ực như trâu bò; khi ngồi vào ăn phải nhớ ăn trông nồi, ngồi trông hướng, v.v..

– Ăn nằm:
bên cạnh “sự ăn” để sống, để bảo vệ sự trường tồn của giống người, có chuyện “ăn nằm” mà người Việt Nam xem là quan trọng bậc nhất. “Ăn nằm” là chuyện nam nữ, chuyện vợ chồng, chuyện kết hợp giữa hai giống người, biểu tượng cho sự hòa hợp âm dương trong Trời, Đất. Do đấy, từ ngàn xưa, luân lý, luật pháp của người Việt ta, từ thời nhà Lý đã chuẩn định trên nguyên tắc đạo đức, hợp với “đạo Trời”. Ăn nằm phải có đạo đức.

Ngoài ra, trong cuộc sống xã hội, muốn cho có sự thuận hòa trong sự liên hệ của “ta” với “người”, ngôn ngữ của ta có nói đến ba vấn đề “ăn” khác. Ba vấn đề ấy phải được xem là căn bản của tâm thức Việt Nam; đó là:

– Ăn ở:
vào trường hợp này, chữ “ăn” được ghép vào chữ “ở” không phải để chỉ riêng mặt cụ thể của hai vấn đề: ăn cho no bụng và nhà cửa, nơi ăn chốn ở; trái lại, đấy là một cụm từ mang một ý nghĩa rộng rãi, bao bọc cả cuộc sống “xã hội” của con-người. Nó xác định được cái “bào hao” của từng con-người. “Ăn ở” có nghĩa là cách cư xử. Lối ăn, nếp ở là phong cách của một con-người trong xã hội, là sự đối đãi của một cá nhân này với cá nhân khác, là nề nếp của một xã hội lấy “đạo Trời” làm gốc

Câu thơ:

Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê

và câu tục ngữ

Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

xác định rõ ràng, khéo léo vấn đề cách đối xử với nhau của con-người; nó cần bao gồm tất cả ý nghĩa sâu sắc của triết thuyết trung hòa trong nguyên lý tam tài: trời, đất, người nên ta phải nói là “ăn ở”.

– Ăn nói:
không phải nhờ đến ảnh hưởng Nho học người dân Việt mới đặt tiêu chuẩn cho cái đẹp tinh thần của cái chuyện “lời ăn tiếng nói” này. Trong số “Mười thương” xác định vẻ đáng quí, đáng yêu của người phụ nữ Việt Nam, “ăn nói” được xếp vào hàng nhì:

Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

Thật vậy, để bảo vệ sự “hạp nhãn”, sự thu hút người nam đến với người nữ thì mái tóc là vóc con-người. Còn trong cuộc sống chung đậm đà, êm đẹp, lời ăn tiếng nói “mặn mà” làm đẹp tình người đã đành (gừng cay muối mặn, xin đùng bỏ nhau), lối “ăn nói” dịu dàng, từ tốn, khôn khéo là nền móng của sự “nên duyên”.

Do đấy, đạo lý Việt Nam chấp nhận dễ dàng khuôn phép trau dồi đức hạnh cho con-người bằng ngũ thường, bằng tứ đức của Khổng Mạnh. “Trai thời trung hiếu làm đầu” là phương châm của nam tử trong xã hội, còn cái thước đo giá trị của con-người ứng viên làm quân tử nằm trong khuôn khổ của năm hạnh: nhân, nghĩa, lễ trí, tín. Mà trong năm hạnh này, đã có ba cái liên quan trực tiếp đến cách “ăn nói” rồi; nó tóm gọn tất cả ba hạnh: lễ (ăn nói đứng đắn, có phép tắc), trí (ăn nói khôn ngoan), tín (nói không sai lời, nói và làm phải giống nhau).

Đối với phân nửa kia của nhân loại, tôi thiết tưởng, muốn đóng trọn vai trò “nội tướng” theo Nho phong, người phụ nữ cũng phải chú trọng đức “ngôn”. Lê Quí Đôn dùng lời mẹ “khuyên con lúc về nhà chồng” cốt để tôn vinh cái đẹp tinh thần của “lời ăn tiếng nói”.

– Ăn chơi:
liên quan đến sinh thú ở đời. Có lẽ đây là vấn đề hay đẹp nhất trong tâm thức của người Việt Nam. Ăn để mà sống, nhưng sống mà không chơi, không có lúc nghỉ xả hơi, không có cách làm cho sự sống được thoải mái thì không hợp lý. Huống nữa, dân Việt Nam vốn sống với nghề nông, đầu tắt mặt tối, chân lấm tay bùn, mà không có lúc chơi thì… không được. Đã có “ăn” thì phải có “chơi”. Cho nên, người Việt Nam rất trọng sự “ăn chơi”, nghĩa là xem sự tìm kiếm thú vui (sinh thú) là một điều không thể bỏ qua được. Trong dân gian, có những hội hè, đình đám với những cuộc vui tưng bừng, những cách chơi nhộn nhịp như: đua thuyền, đấu vật, thổi cơm, hát quan họ, đánh bài chòi, v.v.. Giới thượng lưu trưởng giả bày ra cầm, kỳ, thi, họa. Chung chung, người Việt Nam rất thích ăn chơi: đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay.

Đến đây, chúng ta có thể thấy rõ tại sao trong ngôn ngữ của ta, để nói đến bất cứ sinh hoạt, hành động nào, cũng có “sự ăn” đi kèm. Ví dụ: để nói lên sự hòa hợp rõ ràng, ta thường dùng những chữ: ăn ý, ăn khớp, ăn ảnh, ăn bẩn, ăn gian hoặc đối với những vấn đề tế nhị, bí hiểm hơn, ta nói: ăn thề, ăn sương, ăn xôi. Sự ăn, ý niệm ăn, trong ngôn ngữ của ta, được dùng để nói lên cái ý muốn phải sống hợp với đạo Trời, nghĩa là sự sống phải xây dựng, tạo lập bằng tinh thần hòa hợp với Trời Đất, Người (thiên thời, địa lợi, nhân hòa).

Đến đây, chúng ta có thể bàn đến vấn đề khúc mắc: “Ăn Tết”. Nó gồm có hai khía cạnh: Tết là gì và Ăn trong dịp Tết.
2-
Ý nghĩa chữ Tết:

Ai cũng có nghe nói đến cái định nghĩa (có thể không đúng): chữ Tết là cách nói trại của chữ Tiết, có nghĩa là đốt tre, khớp xương, nói rộng ra là giai đoạn, thời kỳ. Người Tàu thường phân biệt những tiết lập xuân (5 tháng 2 đến 6 tháng 5), lập hạ (7 tháng 5 đến 8 tháng 8); lập thu (9 tháng 8 đến 8 tháng 11) lập đông (9 tháng 11 đến 4 tháng 2). Đến ngày đông chí 22 tháng 12, ngày ngắn nhất trong năm, Ông Táo sửa soạn sẵn (có người phàm trần phụ một tay bằng cách làm Sớ sẵn) để hôm sau về Trời gặp Ngọc Hoàng Thượng đế, tấu trình sự việc ở nhân gian.

Đối với Việt Nam vốn là nước nông nghiệp, sự sống (và chết), cuộc sống được điều động theo nhịp độ thời tiết mưa nắng, bốn mùa. Việc trồng trọt phải thuận theo từng mùa:

Tháng chạp là tháng trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cày vỡ ruộng ra,
Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng…

Cuộc sống theo một nhịp điệu riêng phù hợp với sự tuần hoàn trong Trời Đất:

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè

vì:

Tháng giêng là tiết mưa xuân,
Tháng hai mưa bụi dần dần mưa ra.

Đến “tháng ba cày vỡ ruộng ra” sau đấy là “tháng tư làm mạ” và trong khi chờ đợi “tháng năm gặt hái” thì:

Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết đoan ngọ trở về tháng năm.

Cuộc đời cứ như vậy mà sống một cách êm đềm theo nhịp điệu “mưa thuận gió hòa” cho đến “tháng một, tháng chạp nên công hoàn thành”. Và tiện lợi thay, tháng chạp, trời lạnh, vào mùa khô, việc đồng áng tạm ngưng, người nông phu nghỉ ngơi ăn Tết, mừng đón mùa màng sắp đến.

Cái niềm vui “nên công hoàn thành” ấy do Trời Đất ban cho, cho nên lời ca dao “nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy” mang nặng lòng nhớ ơn; nó giục giã người nông phu, người dân tổ chức Lễ Hội mừng Năm Mới thật tưng bừng, trang trọng. Những ngày lễ hội tưng bừng náo nhiệt “mừng đất, nhớ trời” của ta được gọi là Tết Nguyên Đán gọi tắt là Tết.
3-
Ý nghĩa chuyện “ăn Tết”

Trong tinh thần “nhớ ơn Trời đất” ấy, người Việt Nam tổ chức ngày lễ hội đầu năm – nghĩa là ăn Tết – với những tập tục khá riêng biệt:

– Thờ cúng Trời Đất: Trong khi Vua và Triều đình lo Tế Trời Đất ở đàn Nam giao (kinh đô Huế), người dân, sau khi làm lễ tiễn đưa Ông Táo về Trời, tổ chức ngày Lễ Hội Đầu Năm bằng những buổi lễ Giao thừa, dựng nêu, lễ Tổ Tiên, lễ đi hái lộc (xuất hành).

Trong những buổi lễ, trên bàn thờ phải có bánh chưng, bánh dầy và những trái cây đặc biệt Việt Nam: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài.

Theo tục lệ cổ truyền có sẵn từ đời Hùng Vương, người Việt phải dùng loại thực vật địa phương để làm bánh cúng: bánh chưng (bánh tét) gói bằng lá dong, với gạo nếp, đậu, hành, thịt heo và gia vị hành, tiêu, muối. Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho Đất, thuộc Âm; bánh dầy là một khối đơn thuần, chắc, dẻo, màu trắng tinh của nếp. Bánh dầy hình tròn, mặt trên tròn, mặt dưới phẳng, tượng trưng bầu trời, thuộc Dương. Nhìn cái bánh chưng, bánh dầy, ăn một miếng bánh chưng, cắn một miếng bánh dày, người Việt tưởng nhớ đến nguồn gốc của mình, của ông bà tổ tiên, để tự nhắc nhở rằng mình phải sống thuận hợp với Trời Đất. Đấy là theo đúng đạo trời, theo đúng lẽ âm dương, hiểu được cái lý uyên nguyên: vạn vật đồng nhất thể, mọi vật đều có cha có mẹ.

Ngoài ra còn có những thứ hoa quả, bánh mứt được chọn lựa cho ngày Lễ Hội Mừng Đón Năm Mới này nữa như ngũ quả: cầu, sung, dừa, đủ, xoài (cầu xin vừa đủ xài?) các món ăn gồm có ngũ vị, ngũ sắc.

– Tôn kính tổ tiên: Đạo Trời đặt nền tảng trên lòng biết ơn Trời Đất, buộc con-người Việt Nam phải “ăn ở” thuận thảo với những bậc cha mẹ (sinh thành nói chung, kể cả Trời Đất). Cho nên khi nói đến đạo Trời, mặc nhiên ta nghĩ đến đạo Hiếu (gồm có bộ lão trên chữ tử) với nghĩa từ nguyên: tỏ lòng biết ơn người trên (bậc sinh thành) bằng lòng tôn kính, sự tôn thờ. Đạo lý Việt Nam đặt nền tảng trên tục thờ cúng tổ tiên, mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ngày Tết mà không có được một ít hương hoa cúng bái tổ tiên là một sự thiếu sót xem như bất hiếu. Việc mừng tuổi cũng giống như cuộc lễ tổ tiên phải được tổ chức trang trọng để cho những trẻ em biết tôn kính ông bà, cha mẹ và tiền nhân.

– Sum họp gia đình, về quê ăn Tết: Người Việt Nam luôn luôn đặt tình cảm gia đình (tổ tiên, cha mẹ, anh em, bà con thân thuộc) lên trên mọi liên hệ khác. Cách ngôn của ta nói: Bà con xa hơn láng giềng gần để trân trọng, tôn quí trước hết là tình máu mủ, sau đó là tình lối xóm, làng nước, đồng bào. Giữa sự tụ họp với bạn bè để ăn mừng, để vui chơi và sự sum họp gia đình, trở về sống cái không khí đầm ấm thiết tha với những người cùng máu mủ, giòng họ, người Việt Nam thường chọn niềm vui thứ nhì. Ăn Tết tha hương không có tình thuơng yêu của những người thân trong gia đình, thiếu tình thân thiết của họ hàng, làng nước, hoặc những buổi thăm viếng nhau, dù cho có “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ”, có những lời chúc tụng nhau, có những cuộc lễ chùa, hái lộc cũng không thể nào là một dịp Mừng Đón Vận Hội Mới được. Bạn bè thân quí chưa phải là gia đình của ta, ngôi nhà, căn phố ở xứ người không phải là đất trời của ta!!

Tóm lại, ăn Tết là sự trở về với Trời Đất, ông bà, tổ tiên. Ăn Tết phải có thờ cúng, cỗ bàn, sum họp. Ăn Tết phải có ý nghĩa “Tôn quí Trời”.

Kết luận:
Ăn Tết ngày nay

Chuyện ông Pomonti xẩy ra đã hơn mười năm nhưng chưa mất tính thời gian. Không phải chỉ ông ấy mới có cái nhìn “bề ngoài” về sự “ăn Tết” của Việt Nam ta, ngay cả người Việt Nam trong và ngoài nước hiện nay cũng “ăn Tết” khác xưa rất nhiều. Vì “ăn Tết”, như trên đã giải bày, không như xưa nữa mà trở thành một dịp vui mừng “vô tư”, một dịp hội họp để ăn uống, bài bạc xô bồ. Ngày xưa, Tết kéo dài hằng mấy tháng để người dân có dịp sum họp với bà con thân thích trong gia đình, với bạn bè quen thuộc trong xóm làng. Sự tụ hội này mang ý nghĩa của sự “trở về” với gia đình, với quê nhà, đồng thời trở về với “đất trời” bằng những cuộc lễ trang trọng dưới mái nhà từ-đường hay giữa lòng đất nước, quê hương. Ngày xưa, những tục lệ ngày Tết không ai xem là dị đoan để bài bác, xóa bỏ. Ngày nay, nếu Tết không bị quên lãng thì cũng chỉ còn là một ý niệm mơ hồ, một vấn đề không đáng quan tâm; đối với một số người khá đông, Tết đem lại nỗi luyến tiếc không được sống lại cái không khí vừa thân mật vừa thiêng liêng, vừa trang trọng vừa náo nhiệt của những ngày đón xuân trên đất nước quê hương…

Belleville, Paris tiết Mạnh Đông
Gs. Nguyễn Mạnh Bích