Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

Giai thoại NGUYỄN HIỀN

Giai thoại
NGUYỄN HIỀN

Đối đáp với quan Lang Trung:

Hồi mới lên bảy tuổi, Nguyễn Hiền thường hay chơi trò nặn đất với bọn trẻ mục đồng. Một lần trạng nặn con voi đất, rồi lấy bốn con cua để vào bốn chân, lấy đỉa làm vòi, lấy bướm làm tai, thành ra voi đất cũng cử động được, khiến bọn trẻ vui thích reo hò ầm ĩ. Chợt một ông quan đi qua đứng lại xem và hỏi chuyện cậu bé Hiền. Thấy cậu bé khéo léo lại láu lỉnh, ông quan liền đọc đùa một câu:

vế ra:
童子六七人無如爾巧 
Đồng tử ngũ lục nhân, vô như nhĩ xảo! 
(Bọn trẻ năm sáu đứa, không đứa nào khéo bằng mày)

Cậu bé Hiền thấy vậy, hỏi ông quan rằng: “Trước hết xin ông cho biết ông làm chức quan gì?”. Quan nói: “Ta là quan Lang Trung, mỗi tháng ăn lương hai ngàn hộc”
Thấy quan có ý khoe khoang, cậu bé Hiền liền đọc rằng:

郞中二千石莫若公... 
Lang trung nhị thiên thạch, mạc nhược công ... 
(Quan thái thú ăn lương hai ngàn hộc, chẳng ai. . . bằng ông).

Quan cười bảo: “Đối còn thiếu một chữ!”. Nguyễn Hiền nài cho tiền rồi sẽ đối nốt. Quan cho tiền xong, cậu bé Hiền liền bổ sung chữ  Liêm vào cuối vế đối.

Quan chịu là giỏi, nhưng vui miệng hỏi thêm:
“Thế nếu ta không cho tiền, thì cháu đối chữ gì?”.
Nguyễn Hiền trả lời:
“ Khó gì? Nếu ông không cho tiền thì tôi chỉ việc điền chữ  Tham vào thôi!”.

Quan biết thằng bé láu cá, đành phải bỏ đi không dám trêu chọc gì nữa, kẻo lại mang tiếng “to đầu mà dại”! Có thuyết khác nói giai thoại này là của Vũ Công Duệ đời Hậu Lê, Vũ Công Duệ (1468 - 1522) tên lúc nhỏ là Nghĩa Chi, người xã Trình Xá, huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây (nay thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú). Đỗ Trạng nguyên năm 20 tuổi khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 đời Lê Thánh Tông (1490). Làm quan đến Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ chầu Kinh diên, được tặng Thiếu bảo, tước Trịnh Khê Hầu

Đối đáp với các quan khâm sai:

Nguyễn Hiền vốn quê làng Hà Dương (tỉnh Nam Định). Nguyễn Hiền thi đình, đỗ trạng nguyên lúc mới 13 tuổi. Tại lễ triều kiến các vị tân khoa, vua Trần Thái Tông thấy trạng quá nhỏ, bèn cho trạng về quê, hẹn ba năm sau sẽ cho vào triều phong quan. Được ít lâu, sứ thần Mông Cổ sang An Nam đem 1 bài thơ sang thách giải nghĩa:

"Lưỡng nhật bình đầu nhật,
tứ sơn điên đảo sơn,
lưỡng vương tranh nhất quốc,
tứ khẩu tung hoành gian".

Vua Trần hỏi các quân thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao, phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn Hiền mời vào triều để hỏi. Hai viên khâm sai không quản ngày đêm, phi ngựa nước đại tìm về làng Trạng, thấy một lũ trẻ đang đùa nghịch ở gốc đa đầu làng, viên quan võ thử ra một câu đối để dò xem Trạng có mặt trong đám ấy chăng, vế ra là:

Tự là chữ, cất giằng đầu, chữ tử là con, con ai con nấy? 
(câu này nói về cách chuyển hóa chữ: “tự” [] (chữ), ‘tách’ [] (giằng đầu), còn “tử” [] (con)

Một đứa trẻ đối ứng khẩu ngay: 
Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này?
 (vế dưới cũng là phép tương tự: “vu” [] (chưng), ‘bỏ’ [] (ngang), thành chữ “đinh” [] (đứa)

Đối xong đám trẻ giải tán ai về nhà nấy, hai viên sứ giả biết đứa trẻ ấy là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà thì thấy Trạng đang lúi cúi ở dưới bếp.

Viên quan văn bèn đọc một câu rằng: 
Văn quân từ viễn bảo trù, hà tu nự áo 
(Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp nước, lọ là phải nịnh vua bếp)

Trạng Hiền ứng khẩu đối ngay: 
Ngã bản hữu quan cư đinh nại, khả tam điêu canh 
(Ta cốt có chức làm được Tể tướng, nhưng còn tạm nấu nồi canh.
Nấu canh lạt mặn tại tay cũng như chức làm tướng)

Hai vị khâm sai biết đúng là trạng bèn mời về cung, trạng nói:
“Nhà vua muốn mời ta về phải có voi ngựa, bằng sắc, mũ áo rước ta đi”.

Sứ phản hồi xin vua đầy đủ các nghi thức trên, bấy giờ trạng mới chịu hồi cung. Khi đến kinh, Trạng Hiền cầm bút viết ra một chữ và giải rằng:

"Câu thứ nhất nghĩa là chữ nhật, ngược xuôi bằng đầu nhau;
Câu thứ nhì là bốn chữ san, ngược xuôi cũng là chữ san cả;
Câu thứ ba hai chữ vương tranh nhau ở trong một nước,
câu thứ tư là bốn chữ khẩu ngang dọc đều là khẩu cả.
Tóm lại chỉ là một chữ điền".

Giải xong, đưa cho sứ Tầu xem, sứ Tầu phải chịu vì thế vua cử Nguyễn Hiền làm Kim tử vĩnh lộc đại phu; sau làm đến Công bộ thượng thư, không được bao lâu thì ông mất.

Hiện nay, tại đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A (Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định) còn giữ đôi câu đối ca ngợi công tích của Trạng như sau:

Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc (Mười hai tuổi khai khoa hai nước)
Vạn niên thiên tuế lập tam tài (Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài)
Đông A nhất giáp sinh tri Trạng
Nam Việt thiên thu quốc tế thần

Câu đối khắc tại đình Lại Đà thuộc xã Đông Hội huyện Đông Anh thủ đô Hà Nội:

Kình thiên đại quán long lân trụ
Dục nhật linh quang hổ nhãn trì
Dịch nghĩa:
Quán lớn chống trời cột vẩy rồng
Ao mắt hổ tắm trong ánh mặt trời

MÊ LỊM

58.
MÊ LỊM

Dìu thơ thoáng lịm cảnh mây ngà
Thơ luyến lâng trời lướt tận xa
Bát ngát này duyên nồng cánh hạc
Ngạt ngào nhé mộng tỏa hương trà
Đường tim mấy độ triền miên trỗi
Nẻo ái bao lần quấn quyện xa
Dốc cạn ân tình dâng sảng khoái
Vàng trăng ngời đẫm cõi ta bà

Vàng trăng ngời đẫm cõi ta bà
Huyễn ảo mơ mòng lả lướt xa
Mãn kiếp phong tình loang đượm tửu
Ngàn năm hương lửa vọng thơm trà
Thềm ân lộng ánh êm đềm duỗi
Bể ái xuyên lòng mải miết xa
Biếc thắm cho đời lâng tỏa mộng
Dìu thơ thoáng lịm cảnh mây ngà

HANSY


DỆT THƠ

Dệt áng tình thơ quyện dáng ngà
Trao về ngả ấy mạn trời xa
Lời đêm quyện với cùng hương liễu
Điệu tối hòa chung lẫn sắc trà
Để bóng và hình luôn ở cạnh
Cho mình với bậu mãi không xa
Rồi phiêu bổng đắm vùng trăng nhá
Lãng mạn hồn lâng tận cõi bà

Lãng mạn hồn lâng tận cõi bà
Phiêu ngàn ý bổng vút tầng xa
Mời anh cạn nhé tràn ly tửu
Hãy uống cùng em trọn tách trà
Giữ để câu hò không lụi trở
Làm cho điệu lý chẳng tàn xa
Cùng xây mộng thắm cùng đêm nhá
Dệt áng tình thơ quyện dáng ngà.

Hà Thu

NHỮNG CUỘC TÌNH THƠ

NHỮNG CUỘC TÌNH THƠ

Tình giữa Net, người cho hư ảo
Bởi lắm khi điên đảo, trắng đen
Thế mà đẫm ngát nồng men
Cũng nhung nhớ suốt, cũng kèn cựa nhau.

Nào hứa hẹn trầu cau cưới hỏi
Khát trông chờ trao gởi lòng tin
Nhắc câu sau trước giữ gìn
Hợp tan mấy bận, lại vin níu hoài.

Khi thất tình, mệt nhoài tâm trạng
Lúc chia tay, chán nản dòng thơ
Trí mông lung, mắt thẫn thờ
Còm-măng[1] chệch choạc,
pốt[2] ngơ ngác hồn.

Tình thơ đẹp, dẫu không chăn gối
Kỷ niệm lòng phơi phới ngàn năm
Nhiều đôi rạng rỡ trăng rằm
Óp-lai[3] mấy buổi đã khăng khít đời…

HANSY

[1]comment-[2]post-[3]offline

MỘNG XUÂN

MỘNG XUÂN
[Thuận Nghịch độc]

Em nồng đượm ái ngọt ngào Xuân
Trở biếc mùa sang ánh rực ngần
Thèm diễm mộng cung tràn nguyệt quế
Ước huyền mơ phím ngợi vầng luân
Đêm chuyền ý đợi câu lồng phước
Đuốc lộng tim chờ nẻo rạng ân
Êm dịu phả lòng thơm mải miết
Mềm lơi lả vọng thỏa gian trần

Trần gian thỏa vọng lả lơi mềm
Miết mải thơm lòng phả dịu êm
Ân rạng nẻo chờ tim lộng đuốc
Phước lồng câu đợi ý chuyền đêm
Luân vầng ngợi phím mơ huyền ước
Quế nguyệt tràn cung mộng diễm thèm
Ngần rực ánh sang mùa biếc trở
Xuân ngào ngọt ái đượm nồng em


HANSY



Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

MỪNG NGÀY THẦY THUỐC VIỆT NAM

MỪNG NGÀY
THẦY THUỐC VIỆT NAM

Tận trí kiên trì bởi chúng sinh
Giữ hồn thơm sạch khó người khinh
Đường ngay thuở trước hoài kiên định
Nẻo hạnh bây giờ vẫn tỏa ninh
Rèn khởi tâm lòng luôn ngõ chính
Trau dồi nghề nghiệp mãn đời tinh
Y truyền gia đạo bà con kính
Hãnh diện phước thay thỏa nguyện mình

Bồi trau đức hạnh giữ bên mình
Phước quả dâng đời hưởng lộc ninh
Cứu nạn tâm nguyền nên nghiệp chính
Gom tiền trí dặn ấy đường khinh
Dù bao dâu bể lòng nguyên tính
Dẫu lắm phong trần ý quyết sinh
Y thuật tân kỳ ra sức lĩnh
Thơm màu áo trắng nét ngời tinh

HANSY





VỊNH CHÓ ĐỰC

VỊNH CHÓ ĐỰC

Với con chó trung thành một đời trong nhà thì chưa có được một bài thơ, thậm chí vài câu thơ ra hồn ra vía, bởi vậy, mMay mắn thay, tôi kiếm được một bài thơ ca ngợi con chó đực...

Chó là vật nuôi thông minh nhất, dễ thương nhất và gần gũi nhất của con người. Tình yêu thương của con người dành cho chó cũng rất nhiều nhưng thi ca nói về chó thì hơi hẻo, nếu không muốn nói là rất nghèo nàn, lạc hậu. 

Người ta có thể làm cả trăm bài thơ ca ngợi nhan sắc và bày tỏ lòng thương nhớ một (hoặc nhiều) người phụ nữ dù chưa nắm được... ngón tay người phụ nữ ấy; còn với con chó trung thành một đời trong nhà thì chưa có được một bài thơ, thậm chí vài câu thơ ra hồn ra vía.

Cảm thấy điều này là chưa công bằng, tôi bỏ công đi sưu tầm xem thử hình tượng con chó trong dòng thi ca bình dân ra sao. May mắn thay, tôi kiếm được một bài thơ ca ngợi con chó đực, thuộc hàng danh tác không biết do nhà thơ xứ nào của miệt vườn Nam bộ sáng tác. Bài thơ quý hiếm ấy như vầy:

VỊNH CHÓ ĐỰC
Ấy là giống thú sủa gâu gâu
Tuy nhiên, hổng phải là con trâu
Khi nằm với vợ thì y... đứng
Suốt đời không ăn một miếng trầu!

Tôi khẳng định bài thơ phát xuất từ miệt vườn Nam bộ bởi lẽ trong ba chục chữ kể cả tựa đề, đã có hai chữ thuộc phương ngữ miền Nam là "hổng" (không) và "y" (nó) theo văn nói thông dụng của bà con gốc Triều Châu về ngôi thứ ba.

Câu thơ thứ nhất (câu Khai) khẳng định ngay kỹ năng trời phú cho con chó bởi chỉ có chó mới biết sủa gâu gâu. 

Câu thơ thứ hai (câu Thừa) có cách dùng trạng ngữ rất mới lạ. Thông thường sau trạng ngữ "Tuy nhiên", nội dung câu chữ sẽ nói lên một ý khác hẳn so với ý đứng trước trạng ngữ này. Ở đây, tác giả muốn khẳng định con chó "hổng phải là con trâu" là chính xác và khoa học nhưng trạng ngữ "Tuy nhiên" đứng giữa hai vế đó lại khiến ta có thể nhầm lẫn con trâu cũng biết "sủa gâu gâu" như chó. Thật là một lối dùng từ vô cùng sáng tạo và mới mẻ!

Câu thơ thứ ba (câu Chuyển) mới thật là câu thần bút! Tác giả dùng hai động từ có vẻ đối lập nhau là "nằm" và "đứng". "Nằm" ở đây nghĩa là làm động tác truyền giống, phối giống, giao hoan, giao cấu... 

Nhưng thi ca vốn lãng mạn và cao quý; tác giả cố tránh từ dung tục, sợ làm mất phẩm giá loài thú cưng nên mới dùng động từ "nằm" nhẹ nhàng và mềm mại. Động từ "đứng" ở phía sau thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn với động từ "nằm" nhưng nghĩ kỹ lại thì ngữ nghĩa cả hai đều thống nhất bởi lẽ chỉ ở tư thế đứng thì chó đực mới... nằm với vợ được. Còn nằm thiệt thì thua!

Câu thơ thứ tư (câu Hợp) một lần nữa khẳng định tính chất loài chó "Suốt đời không ăn một miếng trầu". Chủ chó có thể ăn cả tấn trầu (và cau) nhưng chó thì chưa bao giờ ăn miếng nào. Chó ăn được nhiều thứ như cơm, cháo, bánh ngọt, thịt, cá. 

Hai con chó nhà tôi còn ăn được các loại trái cây; khi vợ tôi uống cà phê thì hai đứa còn đến ngồi trước mặt bà ngoắt đuôi để xin... nước đá, nhai rào rạo! Thế nhưng, chó không ăn trầu bởi chó mà ăn trầu thì không ra hồn vía con chó nữa. Câu thơ đưa ra một kết luận hồn nhiên và khách quan; không một nhà khoa học đại tài nào có thể bác bỏ nổi!

Con chó đực rất đáng yêu; làm thơ vịnh nó là xứng đáng. Loài chó là bạn của con cháu chúng ta, là người bảo vệ mẫn cán và tỉnh táo nhất trong nhà ta. Ai cũng yêu sự trung thành của nó. Thi thoảng vào giai đoạn động dục, chó đực hay bỏ trốn khỏi nhà đi tìm chó cái để... đứng. Trời sinh ra vậy, biết sao bây giờ?

Tuy nhiên, bản năng "nằm" của loài chó còn thua loài người rất xa! Có thơ làm chứng như vầy:

Chó thì động dục xuân, thu
Còn người động cỡn vi vu bốn mùa.

Không nên giết thịt hay hành hạ loài thú đáng yêu như loài chó. Bạn càng đối xử tốt loài chó càng yêu thương bạn, thậm chí có thể cứu bạn trong lúc nguy nan. Mong sao những con chó trên đời đều được chăm sóc tử tế!

ĐỒ BÌ 

“ĐẠI” TRONG “ĐẠI SỐ” LÀ GÌ?

“ĐẠI” TRONG “ĐẠI SỐ” LÀ GÌ?

Nhiều danh từ toán học Hán Việt được dùng rộng rãi nhưng nghĩa của chúng có thể bị quên hoặc hiểu nhầm.

Mặc dù nhà Hồ (1400-1407) có tổ chức thi toán và thời Quang Trung (1788-1792) có dùng chữ Nôm, giáo dục Việt Nam trước năm 1919 thiên về Nho học và sử dụng chủ yếu chữ Hán.

Sau năm 1919, chính quyền Pháp áp đặt chương trình giáo dục của họ trên toàn Việt Nam với ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Pháp.

Năm 1942, giáo sư Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) xuất bản quyển Danh từ khoa học: toán, lý, hóa, cơ, thiên văn gồm khoảng 6.000 từ.

Ông lấy ý từ tiếng Pháp, loại đi nghĩa mơ hồ trong ngôn ngữ nguồn, rồi biên dịch, chuyển ngữ, phiên âm hoặc sáng tạo từ tiếng Việt tương đương bằng cách dùng các tiền tố, hậu tố Hán Việt.

Đến nay, nhiều danh từ toán học Hán Việt được dùng rộng rãi nhưng nghĩa của chúng có thể bị quên hoặc hiểu nhầm.
1. 
Từ Toán:  (14 nét, bộ trúc)
trong toán học có nghĩa là tính toán. Cung Tự Trân (1782-1841) đời Thanh có câu:

Chỉ trù nhất lãm thập phu đa
Tế toán thiên tao độ thử hà
(Mỗi dây thuyền kéo tạm mười người
Nghìn chiếc sang sông thử tính coi).

Toán trong toán học cũng cùng nghĩa với toán trong dự toán, kế toán, quyết toán... Một số nhà nghiên cứu còn phân biệt tính và toán: từ đầu tiên chỉ các phép tính, từ thứ hai chỉ thuật toán.
2. 
Có người cho rằng đại trong đại số có nghĩa là lớn. Thật ra, Đại: (5 nét, bộ nhân) trong đại số không phải là lớn mà là thay thế cho.

Đây cũng là từ có mặt trong đại biểu, đại diện, đại lý... Nghĩa này thể hiện một đặc trưng của đại số là dùng chữ thay số: a, b, c... dùng biểu diễn các số đã biết và x, y, z... dùng biểu diễn các số chưa biết.

Từ đại số trong tiếng Pháp là algèbre, bắt nguồn từ tiếng Latin algebra và xa hơn nữa từ tiếng Ả Rập al-jabr, có nghĩa gốc là giảm gãy vỡ, ghép các mảnh, tái thiết, kết nối, phục chế.

Như vậy, từ đại số trong tiếng Việt thể hiện nội hàm khái niệm rõ hơn từ algèbre trong tiếng Pháp.
3. 
Hàm: (có tổng 11 nét, 8 nét + bộ Thủy)
trong hàm số có nghĩa là bao gồm, chứa đựng, giống như hàm trong công hàm.

Nghĩa này muốn nói rằng khi biến độc lập nhận một giá trị, biến phụ thuộc sẽ nhận một giá trị tương ứng: hàm số “chứa đựng” các giá trị của biến phụ thuộc khi biến độc lập thay đổi.
4. 
Với động từ Đồng Quy:
đồng là cùng, quy là gom vào một chỗ. Trong toán học, đồng quy có nghĩa là cùng gặp nhau tại một điểm.

Vì vậy, “đồng quy tại một điểm” là cách diễn đạt thừa. Tuy nhiên, công cụ tìm kiếm Google thống kê được khoảng 37.500 kết quả có cụm từ “đồng quy tại một điểm”.
5. 
Huyền: (8 nét, bộ cung)
có nghĩa là dây cung, dây đàn.

Đây cũng là từ huyền trong thượng huyền (chỉ ngày 8 hoặc 9 âm lịch, khi mặt trăng có hình vòng cung) và hạ huyền (chỉ ngày 22, 23 âm lịch). Trong từ cạnh huyền, huyền có nghĩa là cạnh đối diện góc vuông trong tam giác vuông.

Nghĩa này liên quan ít nhiều với hypoténuse (cạnh huyền trong tiếng Pháp), vốn bắt nguồn từ hypotenusa của tiếng Latin và xa hơn nữa, từ hupoteinousacủa tiếng Hi Lạp cổ, có nghĩa là cạnh được căng ra bởi góc vuông.

Trong khi ấy, từ tương đương với cạnh huyền trong sách giáo khoa toán Trung Quốc là tà biên (xiébiān), có nghĩa là cạnh xiên.
6.
Tuyến: (8 nét, bộ mịch)
trong trung tuyến có nghĩa là đường, tia. Vì vậy, “đường trung tuyến” là một cách diễn đạt thừa, giống như “ngày sinh nhật”. Tuy nhiên, cách diễn đạt này vẫn được dùng trong sách giáo khoa Toán 7, tập 2, trang 65-67.

Danh từ toán học Hán Việt là thành quả của nhiều thế hệ nhà khoa học, trong đó có giáo sư Hoàng Xuân Hãn.

Khuôn khổ bài viết không cho phép dẫn chứng nhiều hơn nhưng những ví dụ ít ỏi trên đây cho thấy tiền nhân của chúng ta không sao chép nguyên xi mà đã sử dụng sáng tạo tiếng nước ngoài để làm giàu cho tiếng Việt.

TRƯỜNG LÂN

XIN - CHO

276.
XIN - CHO 

Mãi hoài cơ chế kiểu xin - cho 
Phiền toái vậy nên mới giở trò 
Lẻo khẻo mị ma thành
ấy nọ
Ngon lành giả bộ bị è co 
Thập thò lên xuống nhiều
phen ngỏ 
Lấp ló vô ra lắm kiểu dò 
Bể rộng thuyền chèo vô số chỗ 
Khoái đời vỗ đét thật là to 

HANSY


CỤT HỨNG 

Cứ ngỡ phen này sấm sét to 
Nào hay ốm yếu phải lò dò 
Bình thường quân tử nghe xăng xái 
Đụng chuyện yêng hùng lại cuốn co 
Chắc mẫm hát hò
thêm kép xịn 
Té ra lui tới chỉ đôi trò 
Uổng công thao thức trường canh mộng 
Cạn vốn giữa đường
hãy biết cho 

HANSY

QUÊN VÀ NHỚ

QUÊN VÀ NHỚ

Ai đó bảo: cố quên là sẽ nhớ
Nên dặn lòng cố nhớ để mà quên
Ta dỗ hồn vào những giấc mơ đêm
Cho ký ức thôi đừng dâng lên nữa.

Đã biết rằng yêu đương là sẽ khổ
Vì sau yêu còn có cả chia tay
Nhưng vẫn yêu vì trong cuộc đời này
Không tình yêu đời sẽ thành vô nghĩa.

Ta không khóc khi tình mình tan vỡ
Mộng tan tành theo gió bụi phù du
Ta sẽ đi về xa khuất mịt mù
Em rồi sẽ bình yên bên người khác

Những vần thơ gieo tên Em thất lạc
Mảnh tình sầu Ta xin đốt thành tro
Giữ ích gì khi tan vỡ mộng mơ
Để trọn vẹn dành riêng cho người mới.

Thôi nhé Em! Tình yêu đà dang dở
Lỗi không Ta cũng chẳng phải tại Em
Đường tình nào chẳng có lúc chênh vênh
Trách nhau chi cho sầu dâng khóe mắt.

Hoàng hôn buông cuối chân trời hiu hắt
Đợi nắng lên sưởi ấm nụ tình xanh
Ta sẽ đi, đi về phía không Em
Tự dặn lòng tìm quên trong nỗi nhớ…

HANSY



VÔ ĐỀ

Em đã dặn cố quên là sẽ nhớ
Lúc hẹn hò duyên nợ có ngày quên
Em choàng tỉnh con mưa đổ giữa đêm
Bao kỷ niệm như sóng dâng lần nữa

Một lần đã vội trao nhau lời hứa
Người bội lòng tim rữa bởi chia tay
Ai vì ai đau khổ thực bao ngày
Tình phai nhạt cuộc đời thành vô nghĩa

Giấu giọt lệ bây chừ thấm thía
Lời hứa này theo giấc mộng phù du
Anh về đi trời xa bụi mịt mù
Tim vụn vỡ khi anh bên người khác

Kể từ ấy dường như mình thất lạc
Đốt tên người hóa bụi cát thành tro
Đã phai rồi bao ký ức mộng mơ
Riêng em giữ ...Anh.vui hạnh phúc mới

Tình chỉ đẹp khi tình đang dang dở
Mộng tan tành cũng chẳng phải do ai
Anh hãy đi theo mộng gấm trang đài
Đừng day dứt cho lệ sầu hoen mắt

Cơn gió thoảng bầu trời buồn hiu hắt
Nhớ thương sầu ngước mặt hỏi tại sao
Trời sinh ra làm kiếp phận má đào
Đành dang dở nỡ nào gieo hờn tủi.

Kiều Trang

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

TIẾNG XUÂN

TIẾNG XUÂN
[Bát điệp-Ô thước]

XUÂN về mừng tuổi có vui không
Thắm ướp XUÂN ngời thỏa nỗi mong
XUÂN mãi dệt thùa cho tuổi ngóng
XUÂN hoài tô điểm để người trông
Tình XUÂN duyên kiếp tràn mơ vọng
Nẻo ái XUÂN đời trẫy ước chong
Rạng rỡ chân trời XUÂN hiển lộng
Mùa XUÂN dìu dặt cánh thơ lòng

Dìu dặt mùa XUÂN giữa cõi lòng
XUÂN huyền thắp lửa rạng ngời chong
Nguồn XUÂN dào dạt trầm hương ngóng
XUÂN ái tưng bừng vũ khúc trông
Lả lướt XUÂN ngàn đơm khát vọng
Miệt mài XUÂN thủy thỏa chờ mong
XUÂN thì dậy tiếng lời thơ bổng
Lóng lánh XUÂN à biếc quãng không

HANSY



TẾ CẨU VĂN


TẾ CẨU VĂN

Nhớ chó xưa:
Tính khí vốn ngừ nghè
Nết na hay cự cọ
Ơn trời Nghiêu an phận đem thân thờ người Chích chẳng dời
Nằm đất Thục khoanh đuôi, giựt mình sủa vầng hồng đang lố
Lạc đường ngàn dặm, dẫn chủ nhân chẳng lộn đường về
Giữa nhà năm canh, ngăn đạo giả đã khua tai mỏ
Nào mấy ai hết sức, nương mày xanh theo gã Ngũ Bị ngày xưa
Cũng có kẻ toan mưu, trộm áo trắng cứu Mạnh Thường Quân thuở nọ
Lòng không quên chủ, gặp người quen ngồi lại liếm quanh
Tỉnh ỷ gần nhà, thấy kẻ lạ chạy ra nhảy bổ
Người bao quản lời qua cửa miệng, gã Tôn Thông chê lũ cẩu du
Nay đã đành ơn tạc trong xương, ông Hán Tổ ví công Quan Võ
Khi thanh vắng ở nhà gìn giữ, dấy oai phong khiếp chuột kinh mèo
Lúc thảnh thơi, theo chủ săn chơi, giở kỹ nghệ rượt chồn bắt thỏ
Những tưởng ở miền thế tục, sống trăm năm vóc rộng dài hông
Nào hay gặp lũ ăn chơi, rủi một phút nhăn răng méo mỏ
Ôi!
Hồn xuống chín sông
Thịt ra một rổ
Thương thì thương mình rướm mỡ vàng
Thảm ý thảm thịt sa lửa đỏ!
Đồ tống táng có tương, có mè, có sả, có đậu… nấu nướng rồi dọn đã đầy mâm
Việc tế chay: nào hầm, nào xào, nào lụi, nào phay… mùi mẽ đủ muối rồi khỏa tộ
Trên trước các thầy liêu lại, đũa đôi cây khều gã vào mồm
Dưới sau mấy đứa sen hầu, ba chén đưa mầy vào cổ
Chẳng sống chi nằm chái nằm hè
Thà thác đặng lên mâm lên cỗ
Thời thuở nọ, cơm thì thừa, canh thì cặn, thấy ốm đau nào kẻ có màng
Đến lúc nầy, thịt thì béo, hơi thì thơm, nghe xào xáo lắm người hỏi dọ
Dầu có ức, mi lên thưa cùng Phật Tổ, sao Trí Thâm thành Phật Ngũ Đài
Như có oán, gã xuống kiện dưới Diêm La, sao Phàn Khoái phong hầu vạn hộ
Phải tính người thuần hậu, dễ ai tài chẳng thương tài
Bởi nết gã lăng loàn, nên phải số trách sao đáng số.

Trịnh bửu hoài (ghi lại)