Thứ Năm, 31 tháng 5, 2018

“THU GIÁ” RỒI “TỤ NƯỚC” TỪ “VỢI NGHĨA” ĐỂ VỢI BỚT TRÁCH NHIỆM?


“THU GIÁ” RỒI “TỤ NƯỚC”
TỪ “VỢI NGHĨA” ĐỂ VỢI BỚT TRÁCH NHIỆM?

Đường ngập gần hết bánh xe, Sở Giao thông TP.HCM nói chỉ là 'tụ nước', kẹt xe thì bảo chỉ ùn ứ, thu phí lại thành thu giá. Từ khi nào ngữ nghĩa các từ được sử dụng 'linh hoạt' đến vậy?

Từ "vợi nghĩa" là từ gì vậy, đó là những từ được hiểu là làm cho nghĩa nhẹ hơn so với nghĩa của từ vốn được sử dụng ban đầu.

Này nhá, "ùn ứ" (giao thông) đã được thay thế cho "ùn tắc", vì "tắc" khiến người ta hình dung ngay ra cảnh bị tắc nghẽn kéo dài, xe cộ kẹt cứng cứ như bị chôn chân một chỗ, còn "ứ" thì chỉ tạo cảm giác bị dồn ứ tạm thời, rồi chẳng mấy chốc đường lại thông ngay ấy mà.

Cứ cái đà này thì VN sẽ trở thành quốc gia có tỉ lệ "ùn tắc giao thông" thấp nhất thế giới?

Lại nữa, dân Sài Gòn lâu nay khốn khổ vì nạn cứ mưa là ngập. Sở Giao thông vận tải TP có ngay sáng kiến tạo ra từ "tụ nước" thay cho "ngập".

Thế là bỗng chốc, 22 tuyến đường bị ngập giống như 10 tuyến đường được xác định thuộc loại ngập khác trở thành 22 tuyến đường "tụ nước" sau mưa.

Cũng một cách hiểu tương tự, "tụ nước" thì dứt khoát là nhẹ hơn "ngập" rồi, bởi nước chỉ đọng lại có một lúc rồi sẽ tiêu hết, phạm vi đọng nước thường chẳng là đáng kể gì, chứ nếu là "ngập" thì to chuyện rồi đây!

Nước dâng đầy phủ kín tất tần tật trên một diện rộng, tràn cả vào nhà, có giời mới biết được bao giờ mới tiêu hết.

Nghĩ ra được cái từ "tụ nước" thay cho "ngập", TP.HCM bỗng dưng lập thành tích chống ngập tuyệt vời bằng cách nào và vào lúc nào chẳng ai hay.

Giờ mới biết các vị quan chức nhà ta ngoài tài kinh bang tế thế, còn có thêm tài tạo ra các từ "vợi nghĩa" để được "vợi"… luôn cả trách nhiệm.

Nếu cũng các vị ấy mà từng được thưởng thức cảm giác đứng giữa đám kẹt xe hàng nửa buổi, hoặc từng được lặn ngụp, xe chết máy vì ngập, thì chắc lại sinh ra ngay cái tài tạo từ "tăng nghĩa" ấy nhỉ?

TRUNG THUẦN

HƯ ẢO

HƯ ẢO
[Thuận Nghịch độc]

Vang vọng giữa lời thiết thảm vây
Động lay sầu khổ cảnh vơi đầy
Vàng trăng lạc rã mòn trơ ái  
Bạc phận hoen nhòe úa xám mây
Trang tủi xót lòng ngao ngán lỡ
Khúc hờn chau dạ thẫn thờ xây
Chàng ơi lệ xiết ngàn muôn lộng
Loang ruột não tình nát vỡ đây

Đây vỡ nát tình não ruột loang
Lộng muôn ngàn xiết lệ ơi chàng
Xây thờ thẫn dạ chau hờn khúc
Lỡ ngán ngao lòng xót tủi trang 
Mây xám úa nhòe hoen phận bạc
Ái trơ mòn rã lạc trăng vàng
Đầy vơi cảnh khổ sầu lay động
Vây thảm thiết lời giữa vọng vang


HANSY

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

Giai thoại LÊ QUÝ ĐÔN

Giai thoại
LÊ QUÝ ĐÔN

Lê Quý Đôn thuở nhỏ tên là Lê Danh Phương, quê ở làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Một lần, Lê Danh Phương cùng các bạn thiếu niên thường ra cái ao rộng trước cổng làng để tắm. Bỗng có một vị quan lớn đi qua; có ý hỏi đường đến thăm nhà quan Thượng Thư Lê Phú Thứ. Cậu bé Lê Danh Phương thản nhiên đứng dạng hai chân, dang hai tay ra để cản đường. Rồi cậu nói: “Đố ông biết chữ gì đây? Nếu biết, cháu sẽ đưa ông về nhà, còn nếu không thì đợi đấy!” Vị quan lớn rất khó chịu và không muốn trả lời… Lê Danh Phương liền giải thích: “Chữ Thái (), thế mà cũng không biết!”… Cuối cùng, vị quan lớn cũng tìm đến được nhà bạn. Ông rất ngạc nhiên khi thấy cậu bé trần truồng hồi nãy, bây giờ lại đang ngồi im trên cái ghế đẩu ở trong vườn nhà quan Thượng. Khi nghe vị quan bạn thuật lại chuyện với một thái độ bực dọc, quan Thượng thư Lê Phú Thứ cảm thấy rất ngượng ngùng, xấu hổ với bạn; lập tức gọi Lê Danh Phương vào nhà để mắng, rồi ra điều kiện: cậu phải làm ngay một bài thơ với đầu đề "Rắn đầu biếng học" để xin lỗi cha và bác; nếu không làm được thì sẽ bị đánh đòn. Chỉ một lát sau, Lê Danh Phương đã viết xong bài thơ và thoát được đòn roi của cha.

Nội dung bài thơ như sau: 
Chẳng phải Liu Điu vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học lẽ không tha,
 thẹn đèn Hổ Lửa đau lòng mẹ,
nay thét Mai Gầm rát cổ cha,
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da,
từ nay Trâu Lỗ xin siêng học,
kẻo Hổ Mang danh tiếng thế gia (

Để thể hiện lời tự thú, tự trách, tự hứa của bản thân trước người cha và người bạn của cha mình, ngoài việc sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nghiêm trang, ngắn gọn, chặt chẽ; ngoài việc sử dụng những yếu tố ngôn từ trong một số câu tục ngữ và đơn vị thành ngữ tiếng Việt rất tế nhị; ngoài việc sử dụng kết hợp từ thuần Nôm với một vài từ Hán - Việt và điển cố văn học khá hợp lý, Lê Danh Phương còn chú ý sử dụng nhiều danh từ tiếng Việt chỉ một số loài bò sát, nhất là một số loài rắn độc. Từ rắn là một danh từ chỉ động vật thuộc loài bò sát, thân dài có vảy, không chân, di chuyển bằng cách uốn thân. Trong bài thơ Rắn đầu biếng học của Lê Danh Phương, từ rắn đầu là danh từ đã được chuyển hóa thành tính từ để chỉ từ rắn trong rắn mặt - một khẩu ngữ; nói về hạng trẻ con không chịu nghe theo những lời dạy dỗ của cha mẹ, bất chấp cả sự răn đe của người trên và trở nên rất bướng bỉnh, khó bảo.

Tương tự, từ liu điu là một danh từ chỉ loài rắn nhỏ, có nọc độc ở hàm trên, đẻ con, sống ở ao hồ, ăn ếch nhái đã được tác giả sử dụng trong câu phá đề theo biện pháp tu từ ẩn dụ để chỉ hạng người không được học hành, bình thường.

Từ hổ lửa là một danh từ chỉ loài rắn độc có khoang, màu đỏ như màu lửa được tác giả dùng trong câu thực thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành tính từ thể hiện một phản ứng tâm lý hổ thẹn của con người; ở đây là người mẹ.

Từ mai gầm là danh từ chỉ chung loài rắn độc còn có tên là cạp nong, cạp nia. Rắn cạp nong thân có nhiều khoang đen - vàng xen kẽ. Rắn cạp nia thân có nhiều khoang đen - trắng xen kẽ, cỡ nhỏ hơn cạp nong.

Từ mai gầm là danh từ được tác giả sử dụng trong câu thực thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành động từ thể hiện thái độ giận dữ, bực tức của con người; ở đây là người cha.

Từ ráo trong rắn ráo là danh từ chỉ loài rắn lành, cỡ trung bình, lưng màu nâu, bụng màu vàng, ăn ếch nhái được tác giả sử dụng trong câu luận thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành động từ ráo mép chỉ thói quen nói dối rất xấu của người con trước cha mẹ.

Từ lằn trong thằn lằn là danh từ chỉ loài động vật thuộc nhóm bò sát, thân và đuôi dài phủ vảy, bốn chi khỏe, sống ở bờ bụi, ăn sâu bọ được tác giả dùng trong câu luận thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành tính từ để chỉ hậu quả ở việc xử phạt của người cha đối với con mình về chuyện biếng học.

Từ trâu là danh từ chỉ rắn hổ trâu - một loài rắn hổ mang rất lớn, rất khoẻ, rất độc, da màu đen được tác giả dùng trong câu kết thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành địa danh chỉ ấp Trâu; quê hương Mạnh Tử (Trung Quốc).

Tương tự, từ lỗ là danh từ liên quan đến nơi ở của rắn, được tác giả dùng trong câu kết thứ nhất cũng theo phép chuyển nghĩa thành địa danh chỉ nước Lỗ; quê hương Khổng Tử (Trung Quốc).

Từ hổ mang là danh từ chỉ loài rắn độc có tập tính ngẩng đầu, bạnh mang để đe dọa kẻ địch được tác giả dùng trong câu kết thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành tính từ chỉ một trạng thái tâm lý của con người (xấu hổ mang danh).

Bên cạnh việc dùng hai từ địa danh (Trâu, Lỗ) chỉ quê hương của Mạnh Tử, Khổng Tử; tượng trưng cho Nho học, khi viết bài thơ Rắn đầu biếng học, Lê Danh Phương còn lựa chọn những từ trong một số câu tục ngữ Việt và trong một số đơn vị thành ngữ tiếng Việt để đặt vào những vị trí cần thiết ở đầu đề và cả trong tám câu thơ của bài thơ: từ Rắn đầu trong đầu đề và trong câu thừa đề có trong thành ngữ "Rắn đầu rắn mặt"; từ liu điu trong câu phá đề có ở tục ngữ: "Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu"; từ giống trong câu phá đề có trong thành ngữ "Giống nào ra giống ấy"; từ đau lòng trong câu thực thứ nhất có trong thành ngữ "Đau lòng xót ruột"; cụm từ nay thét mai gầm trong câu thực thứ hai xuất phát từ thành ngữ "Nay thét mai gào"; từ ráo mép trong câu luận thứ nhất có trong thành ngữ "Ráo mồm ráo mép"; cụm từ năm ba trong câu luận thứ hai bắt nguồn từ câu tục ngữ "Năm bà ba chuyện"; cụm từ siêng học trong câu kết thứ nhất bắt nguồn từ câu tục ngữ "Siêng làm thì có, siêng học thì hay"; cụm từ hổ mang danh trong câu kết thứ hai có trong thành ngữ "Xấu hổ mang danh"; và từ thế gia trong câu kết thứ hai có trong thành ngữ "Thế gia vọng tộc".

Nhờ phối hợp sử dụng ngôn từ và thể loại hết sức nhuần nhuyễn, tinh tế, Lê Danh Phương qua bài thơ Rắn đầu biếng học đã nói lên đầy đủ những khía cạnh trong nội dung lời tự thú, tự trách, tự hứa của mình: tuy bản thân vốn sinh ra từ một gia đình có học, nhưng cậu lại ương bướng, ngang ngạnh, khó dạy bảo, không chăm lo học hành; và tự nhận thấy với những lỗi ấy chắc chắn cậu sẽ bị cha xử phạt nặng. Những lỗi của cậu đã làm cho mẹ rất đau lòng, xót ruột mỗi khi thắp đèn cho cậu học, mỗi lần nhóm lửa nấu cơm cho cậu ăn. Những lỗi của cậu không chỉ gợi niềm đau xót, hổ thẹn âm thầm, thường xuyên ở mẹ, mà còn dẫn đến thái độ bực tức, lo lắng, giận dữ ở cha. Dù mẹ có buồn, dù cha có giận và thậm chí nhiều lần đã bị cha xử phạt nghiêm khắc, nhưng cậu vẫn “lếu láo”; nghĩa là vẫn học bài một cách qua loa, đại khái, cốt cho có, cho xong. Mãi đến lúc này, trước một lỗi rất nặng (vừa biếng học, vừa vô lễ), cậu mới thực sự biết nhận lỗi và biết hứa từ nay chăm chỉ học hành để xứng đáng con nhà quyền thế, để xứng danh với truyền thống học phong của gia đình. Cả quan Thượng và vị khách chẳng những hết giận, mà còn tỏ ra rất thán phục về tài làm thơ của cậu bé)

vế đối: Những muốn Tự Do cho mới nhà, Thơ câu dại ý cóc mò tha, sách lề Đường Luật còng lưng mẹ, thầy thưởng Trường Ca mát bụng cha, Song Thất sao quên câu tuấn kiệt, Tứ Ngôn chăng nhớ bậc tài ba, vững lòng Lục Bát mà vui đạo, kim Cổ Phong lưu thi Việt gia (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Tự Do, Đường Luật, Trường Ca, Song Thất, Tứ Ngôn, Lục Bát, Cổ Phong là các thể loại thơ. Trong bài thơ này,Cóc dùng với nghĩa là con cóc, ý nói thơ dở, thơ con cóc; Song Thất cũng có thể hiểu là cửa sổ (song) trong nhà (thất); Tứ Ngôn có thể hiểu là ý tứ (tứ) cao lớn (ngôn, vì theo từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, "ngôn" còn có nghĩa là cao lớn); Lục Bát cũng có thể hiểu là sông Lục, núi Bát thuộc tỉnh Bắc Ninh (bao gồm Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay) quê hương những làn Quan họ, một cái nôi của thơ ca Việt Nam. Ngoài ra, Lục Bát cũng có nghĩa là "lục tìm chén bát" để ăn cơm, "có thực mới vực được đạo")
Một hôm, một vị quan bên Liêu Xá đến thăm ông Lê Trọng Thứ. Vị quan có nghe tiếng cậu bé con quan Thượng Lê rất hay chữ, muốn trực tiếp thử tài. Nể tình, ông Lê Trọng Thứ cho gọi Lê Quý Đôn tới.

Ông khách nói: "Ta nghe cháu còn bé mà đã hay chữ, nhà cháu gần ngã ba sông, vậy ta ra vế đối là: Tam xuyên (三川)!"
Vế đối giản dị mà hóc búa, chữ tam () có ba nét sổ ngang nhưng dựng lên, thành ba nét sổ đứng và là chữ xuyên(). "Tam xuyên" (三川) lại có nghĩa "ba con sông". Lê Quý Đôn chưa đáp ngay mà cứ trân trân nhìn ông khách có mang cặp kính. Ông khách rất vui vì tìm được vế đối rất hiểm, liền hỏi: "Sao, có đối được không, cháu bé?"

Lê Quý Đôn lễ phép thưa: "Dạ, cháu xin đối là: Tứ mục (四目)!".
"Tứ mục" (四目) có nghĩa "bốn con mắt". Chữ đối lại thật chuẩn, chữ "tứ" () viết quay dọc lại, cũng là chữ "mục" ().

Sinh thời Lê Quý Đôn nổi tiếng là người thông thái, đọc và hiểu không biết bao nhiêu sách vở thời bấy giờ. Ông thi đỗ Khôi nguyên. Lẽ thường, tuổi trẻ thông minh đĩnh ngộ, đỗ đạt sớm thường hay mắc tính kiêu ngạo. Thời trẻ, Lê Quý Đôn cũng không tránh khỏi điều ấy. Chuyện kể, sau khi thi đỗ, ông liền cho treo ngay trước ngõ tấm biển với hàng chữ: "Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn" (Nghĩa là: Ai không hiểu chữ gì thì hãy đến mà hỏi). Lần thân phụ ông qua đời, người đến viếng rất đông. Trong số đó có một cụ già mà Lê Quý Đôn không quen. Cụ tự giới thiệu lai lịch: Cháu còn nhỏ, chứ lão là bạn thân với cha cháu từ xưa. Nhưng vì nhà nghèo, đường xa, lại tuổi già sức yếu nên ít đi lại thăm hỏi nhau. Nay nghe tin cha cháu mất, lão đến để có câu đối viếng. Lão run tay, cháu hãy lấy giấy bút, lão đọc, nhờ cháu viết hộ. Lê Quý Đôn lấy giấy bút. Cụ bèn đọc: "chi". Ông Đôn không biết nên viết chữ "chi" nào bởi trong tiếng Hán có nhiều chữ "chi" viết khác nhau. Ông đành cầm bút chờ cụ già đọc tiếp xem sao, cụ lại đọc "chi". Lê Quý Đôn thấy lạ, liền hỏi: "Bẩm, "chi" nào ạ?" Cụ thở than rằng: "Đến chữ "chi" cũng không biết viết, thế mà treo bảng ngoài ngõ để cho người đến hỏi, thì sao trả lời được kia chứ?" Lê Quý Đôn ngượng chín cả người. Bây giờ cụ già mới đọc luôn hai vế đối:

Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kiên thượng tại Cách hơn ba chục năm, xích huyện hồng châu nay vẫn đó)

Tại tại số thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chỉ (Xa ngoài mấy ngàn dặm, đào hoa lưu thủy bác về đâu)

Thấy câu đối hay và lạ, Lê Quý Đôn và cả các nho sĩ đến viếng đều kinh ngạc. Còn ông già thì phủ phục trước linh cữu mà khóc rằng: "Ới anh ơi, anh bỏ đi đâu để con anh đỗ đến Bảng Nhãn mà chưa biết chữ "chi" anh ơi". Lạy xong, cụ già chống gậy ra về. Lê Quý Đôn mời mãi nhưng cụ không chịu nán lại, bởi thế nên sau này không ai biết ông cụ hay chữ đó tên là gì. Có thuyết khác nói giai thoại này là do cụ già viết cho Cao Bá Quát.

Tuy bị cụ già làm cho bẽ mặt nhưng Lê Quý Đôn vẫn chưa bỏ được tính kiêu ngạo, sau đó ông đến cầu siêu cho cha ở ngôi chùa làng. Nhà sư trụ trì thấy ông thì mừng rỡ mà rằng: "Quan Bảng vừa tới, may mắn sao. Bần tăng có điều muốn nhờ quan chỉ giáo, chả là đứa tiểu đồng của bần tăng nghe người nào đó đó, về hỏi, nhưng bần tăng nghĩ không ra, nên đành theo lời quan bảng dạy "Nghi nhất tự lai vấn". Câu đối thế này, xin quan chỉ cho:

Hạ bất khả hạ, thượng bất khả thượng (dưới không thể dưới, trên không thể trên)
Chỉ nghi tại hạ, bất khả tại thượng (đúng nên ở dưới, không thể ở trên)

Lê Quý Đôn nghĩ mãi không ra, đúng lúc ấy chú tiểu chạy từ ngoài vào thưa với sư phụ là cậu đã giải được. Lê Quý Đôn giục chú tiểu nói thử xem, thì mới hay đó là chữ "nhất" (một). Đúng là trong chữ "hạ" (dưới), thì chữ "nhất" ở trên chứ không thể viết dưới. Trong chữ "thượng" thì chữ "nhất" nằm dưới và chữ "bất", chữ "khả" thì chữ "nhất" lại ngồi trên. Lê Quý Đôn biết nhà sư đã lấy ngay chữ "Nhất tự lai vấn" ông treo trước ngõ để nhạo.

Qua hai lần gặp cao nhân, Lê Quý Đôn đã bớt kiêu ngạo hơn nhưng cái tính tự mãn chưa thể sửa ngay được trong một sớm một chiều, ông hạ chữ "nghi nhất tự lai vấn" xuống nhưng lại viết mấy chữ: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” vào cái bảng, hễ đi đâu thì cho thằng đầy tớ đi trước cầm. Một hôm qua đò, ông lái đò nhìn thấy dòng chữ trên rất khó chịu liền nói: "Tôi ra câu đối ông đối được thì để bảng này cầm đi, nếu không đối được thì đập cái bảng đi!" Lê Quý Đôn đồng ý, thời gian đối là thời gian đò qua sông. Lê Quý Đôn bảo: "Ông xuất đối đi". Ông lái đò nhìn vào khoang thuyền, trên bếp đang nấu thịt con hôn trong nồi ba ông đọc luôn:

Con Ba Ba nấu nồi ba, tam tam chi cửu thật là chín chưng

Lê Quý Đôn nghĩ nát óc cho đến khi đò sang sông mà vẫn không đối được, ông lái đò đập cái bảng ấy đi, từ đó cái tật coi thường người khác của ông mất hẳn vì ông hiểu rằng "mình hay nhưng có người hay nữa". Câu một có lẽ chúng ta đã rõ ông lái đò chơi chữ “Ba ba” với hai nghĩa (số 3 và con Ba Ba) Câu hai chia thành hai phần: “Tam tam chi cửu (chơi tiếng Hán hoàn toàn có nghĩa là : ba lần ba là chín, và cửu vừa là số 9 vừa là tính từ “chín”); “thật là chín chưng” nghĩa tiếng Việt hoàn toàn như “chín ngấu, chín mùi, chín rục...

Gần đây có người là Diên Minh đối như sau: Chim Đa Đa đậu nhánh đa, vô vàn trú thất khéo mà lạc nhau (Vế một dùng “Đa đa” với hai nghĩa (chim Đa Đa và nhiều), đạt tiêu chuẩn của vế xướng. Vế hai với phần một: “Vô vàn/trú thất”với từ Việt là “vô vàn”, từ Hán là “trú thất” (Thất : động, lều, chỗ trú đơn giản - còn có nghĩa là mất, thất lạc); phần hai thuần Việt “khéo mà lạc nhau”. Vô vàn:(穷多: nhiều nhiều, đọc trại ra cho dễ nghe của nguyên từ “vô vạn” là từ Hán. Do đó, câu đối của Diên Minh có thể nói là đạt yêu cầu được 90% (vế một 50% + vế hai 40%)

vế đối khác 1: Chim cô cô đáp nhà cô, đơn đơn như nhất líu lô một mình (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Theo Wikipedia, chim cô cô có 2 loại: Cô cô đầu xám (Cochoa Purpurea ) và Cô cô xanh (Cochoa viridis). Cô cô đầu xám được tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Thái Lan, và Việt Nam. Chim Cô cô đầu xám là một loài chim màu sắc rực rỡ, thích sống yên tĩnh, nó thường hay đứng bất động một mình trong các tán cây. Chữ cô được dùng trong từ "nhà cô" có thể hiểu theo nghĩa danh từ (như cô giáo, cô gái, cô cậu...) hoặc theo nghĩa tính từ (cô thân độc mã, cô quạnh...). Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, chữ "cô" còn có nghĩa là một mình, chữ đơn cũng còn có nghĩa là một mình. Đơn đơn như nhất dùng ý nghĩa 1x1=1 để đối với 3x3=9 của vế ra. Có thể thay cụm từ "Đơn đơn như nhất" bỡi "Nhất nhất như nhất" mà vế đối không thay đổi ý nghĩa. Vế đối tả một con chim cô cô đậu một mình trên một ngôi nhà cô độc (hoặc ngôi nhà của cô giáo "hay cô gái, bà cô" chỉ ở một mình)

vế đối khác 2: Biển mười mười cấp anh mười, thập thập đẳng bách sướng cười trăm vui (Thiền Long) ("Con ba ba" là danh từ chung chỉ con vật thuộc loài ba ba. "Nồi ba" cũng là danh từ chung; Phần đầu vế đối: "Biển mười mười" là danh từ chung chỉ biển số đăng ký cho các xe có số thứ tự 1010. Trên thực tế Biển số 1010 được gọi theo các cách: "một không một không" hoặc "mười mười" hoặc "một nghìn không trăm mười"; "Anh mười" chỉ chung người anh thứ 10; Phần hai vế đối (số hán việt) : thập = 10; bách = 100; thập thập đẳng bách: 10X10=100, phần thuần việt "sướng cười trăm vui" : diễn tả trạng thái đạt niềm vui lớn "trăm vui" vì biển số đẹp, chữ "trăm" lặp lại nghĩa chữ "bách" đối chữ "chín" lặp lại nghĩa chữ "cửu")

vế đối khác 3: Đường hai hai qua nước hai, nhị nhị thành tứ đúng bài tư duy (Hoài Anh Võ Quang Thạch) (Đường 22 là quốc lộ Xuyên Á từ Tây Ninh qua Cam pu chia là nước thứ hai sau Việt Nam)


vế đối khác 4: Mười mười đúng cả vừa mười. Thập thập như bách đúng rồi trăm nguyên. (Nguyễn Sư Giao)

PHÚC HẠNH

102.
PHÚC HẠNH
[Giao cổ]

Bình an cuộc sống giữa giông đời
Xin được vui lòng hạnh phúc khơi
Vẫn dõi vầng dương dào dạt tới
Mơ hoài ánh nguyệt ngạt ngào lơi
Cùng bên mộng lấp chìm đau vợi
Và trỗi mừng hoan hát giữa trời
Gắng giữ tâm hồn luôn nhịp mới
Để tình xuân trẻ chẳng hề vơi

Để tình xuân trẻ chẳng hề vơi
Số mệnh nên hư phó mặc trời
Mãi sống ngay đường tâm thỏa ngợi
Và nguyền thanh trí dạ nồng lơi
Dù nhân thế cũng thường hoen vợi
Vẫn đạo đức hoài sáng rỡ khơi
Thế sự thăng trầm bao nẻo mới
Bình an cuộc sống giữa giông đời

HANSY



KHẼ ĐỢI

Hạnh phúc thầm mong giữa giấc đời
An bình mộng diễm chuyển về khơi
Cầu mơ dệt thắm nồng hương khởi
Nguyện ước xây ngào đượm sắc lơi
Gửi nhớ thương về hoan sóng vợi
Trao chờ đợi đến bổng khoang trời
Dù mai tóc điểm sương người hỡi
Mãi một duyên thề chẳng loãng vơi

Mãi một duyên thề chẳng loãng vơi
Hồn thương gửi đến tận phương trời
Dầu xa khuất nẻo muôn trùng khởi
Dẫu cách ngăn ngàn vạn quãng lơi
Nẻo dạ hoài luôn nồng xuyến khởi
Đằng tim vẫn cứ quyện trào khơi
Người trong mộng hỡi tình trao gởi
Hạnh phúc thầm mong giữa giấc đời.

Hà Thu

TÌNH RƠI

TÌNH RƠI

Chao nghiêng cơn mộng giữa đời
Mùa thương tạnh lắng cạn lơi lả tình
Ngoái về cái thuở bình minh
Mà nghe kỷ niệm dậy linh cảm sầu.

Dao cắt lòng thấy úa chau
Vầng trăng sao bạc khiến đau đớn lòng
Bẽ bàng duyên phận long đong
Dõi về cuối nẻo có mong mỏi gì.

Hờn hoài mà có được chi
Để thêm ướt đẫm những chì chiết thâm
Người đi tít phía xa xăm
Tiếc thương có mấy chẳng tăm tích về.

Vẫn cầu Em giữ hồn quê
Vẫn mơ người mãi vẹn thề thốt xưa
Nắng hồng sau ngưỡng lần mưa
Tình ta sáng lại thuở dưa muối nào…

HANSY

CÁM ƠN BẠN THƠ

CÁM ƠN BẠN THƠ

Giữa Net kề nhau xướng-họa Đường
Thơ kiều diễm ý phím lồng chương
Tài hoa nữ kiệt vô cùng ngưỡng
Nhàn nhã thư quỳnh lãng đãng thương
Mãi giữ tâm lòng thơm vẹn hướng
Luôn gìn trí huệ ngát tròn hương
Văn ngời tứ bổng dày cao thượng
Nhả ngọc huyền mơ lộng lẫy trường

Nhả ngọc huyền mơ lộng lẫy trường
Muôn đời sắc diện ngọt ngào hương
Trời ban ân trạch lời thơ trưởng
Đất nhượng anh tài ý phú thương
Vẫn ước thi đàn ngan ngát lượng
Thêm cầu bạn hữu dạt dào chương
Chúc cho tình nghĩa hoài quang vượng
Giữa Net kề nhau xướng-họa Đường

HANSY

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN [2] TRẦN KHẮC CHUNG

TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN
2.
TRẦN KHẮC CHUNG

Trần Khắc Chung vốn thân họ Đỗ
Người thông minh, ứng phó lẹ nhanh
Lại thêm gan dạ xông thành
Hiểm nguy chẳng ngán, cộng ranh mãnh nhiều…

Khi chọn sứ trước triều xin bước
Nhờ công này đã được làm to
Vốn từng thông đạt hiền nho
Có công hầu hạ lẫn phò tá vua.

Sau chiến trận, Nguyên thua phải rút
Luận công đầu, kết cuộc Chung lên
Chức danh Thủ tướng vang rền
Người khen cũng lắm, kẻ rên rỉ nhiều.

Công lớn nhất là liều cứu mạng
Giúp Huyền Trân thoát nạn đất Chiêm
Sử ghi còn lắm tỵ hiềm
Thật hư khó biết việc nghiêm trọng này…

HANSY
Ghi chú:
Huyền Trân công chúa [
玄珍公主] sinh năm 1288, con của vua Trần Nhân Tông.
Năm 1306, Huyền Trân công chúa được gả cho Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân [Jaya Sinhavarman III] để đổi lấy hai châu Ô [từ đèo Hải VânThừa Thiên - Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay].

Một năm sau, Chế Mân chết, Huyền Trân công chúa được vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung cướp về, sau đó xuất gia.
Bà mất ngày Mồng 9 tháng Giêng năm 1340


ĐƠN TỐ CÁO CÓ THỂ BỊ VỨT SỌT RÁC, TỐ QUA ĐIỆN THOẠI ĐƯỢC GHI ÂM


ĐƠN TỐ CÁO CÓ THỂ BỊ VỨT SỌT RÁC
TỐ QUA ĐIỆN THOẠI ĐƯỢC GHI ÂM

Đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng (đoàn Bến Tre) đã nói khi trả lời Tuổi Trẻ về tranh cãi quanh việc mở rộng Luật tố cáo, trong đó cho phép xử lý tin tố cáo từ email, điện thoại, fax...

Theo ông Nhưỡng: "Việc tố cáo về mặt bản chất là người dân muốn giúp Nhà nước tìm ra được những sai phạm trong bộ máy công quyền. Tuy nhiên, có người vì sợ liên lụy nên đã hạn chế quyền tố cáo.

Nếu xét ở khía cạnh nào đó, đây là cuộc giành giật giữa một bên là những đòi hỏi chính đáng của người dân và một bên là những công chức có tì vết mà cố thủ để bảo vệ bí mật của mình khỏi bị phơi bày".

Cũng theo ông Nhưỡng, trên thế giới việc dùng thư điện tử, gọi điện thoại... để tố cáo là bình thường, riêng ở VN chưa thành thói quen. Giờ đây, công nghệ đã phát triển như điện thoại không chỉ nghe âm mà còn thấy cả hình...

Không có lý lẽ gì chúng ta lại đi thoái thác việc sử dụng công nghệ để đưa vào vấn đề quản lý nhà nước và ngược lại là kiểm soát nhà nước.

Nhà nước sử dụng công nghệ cao để quản lý, thế thì tại sao Nhà nước lại không cho người khác sử dụng công nghệ cao để thực hiện các quyền giám sát mình?

* Nghĩa là chúng ta đang tự mâu thuẫn khi hô hào về thời đại 4.0 nhưng lại không muốn sử dụng công nghệ, các phương tiện để phục vụ quản lý, mà ở đây là xử lý tố cáo?
- Đúng vậy. Tại sao lại sợ nó? Tôi gửi cho anh lá đơn, anh có thể vứt sọt rác, nhưng tôi gọi điện cho anh thì có lưu đầy đủ ngày tháng, số điện thoại, thậm chí lời nói ghi âm. Bởi vì anh biết câu chuyện này quá dễ dàng với người dân nên anh sợ, đúng không?
Nếu anh thực sự là người tốt thì không việc gì phải sợ cả.

* Nhiều ý kiến quan ngại việc sử dụng điện thoại, email, fax... sẽ gây quá tải, cơ quan xử lý không đáp ứng được, phải đầu tư quá lớn về tiền của... Mặt khác, khó liên lạc được với người tố cáo?
- Đó là những lý do tầm thường, thậm chí ngụy biện. Một cuộc điện thoại dân gọi đến, anh ghi âm lại rồi hẹn người ta đến cung cấp thông tin. Còn người ta không đến thì anh có quyền không xử lý, trong dự luật cũng nêu rồi cơ mà?

Hoặc là những thông tin đó anh không xử lý được thì nếu anh có tâm huyết, mong muốn tìm cho ra thì anh lồng vào quá trình thanh tra, kiểm tra. Chúng ta đang xóa bỏ sim rác, yêu cầu đăng ký định danh điện thoại.

Viễn thông càng thông minh thì càng dễ xác định thông tin đó là của ai, không có gì khó khăn cả.

* Thực tế thời gian qua có rất nhiều thông tin tố cáo được đưa lên mạng. Những thông tin này sau đó đã được xử lý và tạo dư luận tốt, tức là điều này đã "đi trước luật"?
- Như thế thì những lý do về việc không cho tố cáo qua email, điện thoại... là không có cơ sở, là sự thoái thác. Điều đó cho thấy sự đàng hoàng trong chính sách chưa cao.

* Một trong những lý do của việc giải quyết đơn thư tố cáo hiện nay chưa được hiệu quả, quá nhiều tố cáo sai... có phải bởi hình thức tiếp nhận "quá hẹp" khi chỉ cho dân gửi đơn, gặp tố cáo trực tiếp. Trong khi nhiều người đi tố cáo đã bị trù dập, bị liên lụy?
- Hình thức có tác động rất mạnh đến nhận thức và hành động. Bảo người ta phải "đứng đơn" tố cáo trong khi anh chẳng bảo vệ họ, ngược lại còn tìm cách hùa với nhau để "làm thịt" họ.

Không thiếu gì những tập đoàn tội phạm, đấy là chúng ta chưa phát hiện, chứ thực tế nó rất lớn. Bởi vì người ta có quyền, có đủ điều kiện để tiêu diệt một người dân nhỏ bé nên đừng hỏi tại sao người dân tố cáo thường nặc danh, tại sao họ không muốn đến, mà chỉ muốn gọi điện thoại.

Đơn giản nếu giáp mặt thì có nguy cơ thay đổi cục diện. Còn nếu tố cáo thông qua điện thoại, email, fax... thì rất tiện và an toàn cho người cung cấp, tố cáo.

………………….
Cũng liên quan đến việc tố giác qua mạng, khoảng cuối tháng 4-2018, một clip ghi cảnh bạo hành trẻ tại cơ sở nuôi dạy trẻ Mẹ Mười (Q.Thanh Khê, TP Đà Nẵng) được phát tán qua Facebook khiến dư luận bất bình.

Sau khi báo chí phản ánh, chính quyền địa phương đã vào cuộc đóng cửa cơ sở nuôi trẻ nói trên, đồng thời quản thúc tại gia đối với chủ cơ sở nuôi trẻ.

Theo luật sư Lê Cao (Đoàn luật sư TP Đà Nẵng),
việc đưa clip lên mạng xã hội là hình thức đưa tin báo về tội phạm.

Trên thực tế, luật chỉ quy định hình thức cung cấp thông tin về dấu hiệu tội phạm qua các cơ quan tiếp nhận có thẩm quyền, trong đó có báo chí mà chưa đề cập đến mạng xã hội.

Tuy vậy, pháp luật hiện không cấm làm việc này.

Nếu luật cứ cứng nhắc thì khó ngăn ngừa tội phạm

Việc tố cáo qua điện thoại cần chia thành các tình huống khẩn cấp và không khẩn cấp. Nếu việc khẩn cấp có thể gây hại đến tính mạng, tài sản thì công an đương nhiên phải nghe và có phương án giải quyết.

Ví dụ nếu "hiệp sĩ" phát hiện cướp và báo thì công an phải có nhiệm vụ nghe điện thoại, hoặc vụ hành hạ trẻ em của bảo mẫu. Tất nhiên phải có chế tài người báo cáo sai sự thật hoặc cố tình quấy rối.

Thực tế có nhiều người nhìn thấy, biết việc làm sai nhưng không tố cáo vì nhiều lý do. Họ cũng biết một người hàng xóm là quan chức thường xuyên nhận quà của người khác, nhưng họ nghĩ "hơi đâu đi tố giác".

Biết một người hàng xóm nghiện ngập, đánh bài, họ cũng không muốn tố giác. Biết công ty mình đang làm việc trốn thuế, buôn lậu, không hơi đâu tố giác. Nếu luật cứng nhắc thì chẳng bao giờ phát hiện sự việc.

Bà NGUYỄN THỊ SƠN
(phó tổng thư ký Hội Luật gia Việt Nam)

Công nhận chứng cứ điện tử, sao còn lăn tăn việc tố cáo qua điện thoại?

Từ ngày 1-1-2018 chúng ta đã chấp nhận chứng cứ điện tử trong hồ sơ vụ án, như vậy các file ghi âm, cuộc điện thoại hay các dữ liệu điện tử khác đã được thừa nhận trong vụ án hình sự, cớ gì lại không quy định tố cáo qua điện thoại hoặc thư điện tử?
Thời đại 4.0 mà giờ không chấp nhận tố cáo qua điện thoại thì chúng ta sẽ đủng đỉnh xử lý như giai đoạn còn làm mọi thứ thủ công vậy. Rõ ràng phải thừa nhận rằng việc sử dụng điện thoại để tố cáo sẽ tiết kiệm nhiều thời gian của người đi tố cáo.

Thậm chí việc cung cấp, bổ sung thông tin sẽ thuận lợi hơn nếu trao đổi qua điện thoại. Lấy lý do là tố cáo sai và không thể xác minh được là chỉ giải quyết vấn đề thuận lợi cho cán bộ xử lý tin báo tố giác, mà không vì người dân có nhu cầu tố cáo sai phạm.

Ông NGUYỄN VĂN CHUNG
(viện trưởng Viện KSND Q.8, TP.HCM)

Điện thoại có thông tin cá nhân sao phải sợ nặc danh?

Từ ngày 1-4-2018, về lý thuyết thì điện thoại di động ở Việt Nam không còn sim rác nữa. Chủ các thuê bao phải đăng ký thông tin cá nhân kèm hình ảnh. Vậy nên nỗi lo về việc tố cáo nặc danh là không cần thiết. Mỗi người sử dụng điện thoại đều có thể được xác định thông qua các dữ liệu này.

Tuy nhiên, tôi cho rằng việc kiểm soát thông tin tố giác, tố cáo tội phạm là cần thiết và cần có quy chế kiểm soát cũng như xử lý người tố cáo sai sự thật. Còn nếu cứ ngồi lo quá tải hay tố khống thì không khuyến khích được việc tố cáo.

Như vậy cũng không ngăn chặn được hành vi sai phạm, mà chỉ xử lý những cái sai đã xảy ra.

Ông THÂN QUỐC HÙNG
(thẩm phán TAND tỉnh Bắc Giang)

THÁI BÁ DŨNG - HOÀNG ĐIỆP


Đại biểu Lưu Bình Nhưỡng - Ảnh: V.D


KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN


KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN đã về đây
Trải chốn trần gian ấm áp đầy
Nhớ thuở cung vàng không chút luyến
Rồi khi thê tử chẳng hề lai
A-NO-MA vượt bao điều tục
TẤT-ĐẠT-ĐA nên một bậc thầy
Nhân quả Luân hồi răn cõi thế
Giúp ai lầm lạc thoát cơ đày

Giúp ai lầm lạc thoát cơ đày
Bốn bể tụng xưng ngọc quý thầy
TỨ-DIỆU-ĐẾ môn luôn hạnh phước
BA-LA-MẬT điển mãi trùng lai
Khuyên người đúng đắn ơn nên phóng
Nhủ kẻ trật sai hoạ rải đầy
Cõi tạm bừng vui ngày hội lễ
KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN đã về đây

HANSY



“THU GIÁ” LÀ TỪ VÔ NGHĨA


“THU GIÁ” LÀ TỪ VÔ NGHĨA

Hàng loạt biển 'thu phí” của các BOT hiện nay đang bị đổi tên thành 'thu giá'. Sự thay đổi này làm dấy lên những băn khoăn của dư luận về ý nghĩa và cách dùng hai cụm từ nói trên.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Phạm Huy Hiếu - phó vụ trưởng Vụ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải - cho biết việc chuyển đổi tên gọi phí sử dụng đường bộ sang giá dịch vụ sử dụng đường bộ là theo quy định của Luật phí và lệ phí được Quốc hội ban hành ngày 25-11-2015, có hiệu lực từ ngày 1-1-2017.
  
Nhưng ở góc độ ngôn ngữ học, chữ trạm "thu giá" liệu được dùng đúng? Tuổi Trẻ giới thiệu ý kiến của giới chuyên môn.

Bà NGUYỄN TRUNG THUẦN
(nhà nghiên cứu và biên soạn từ điển, Viện Từ điển học và bách khoa thư Việt Nam) nêu ý kiến:

"Phí" và "giá" hoàn toàn khác nhau

"Phí" là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ.

Phí gắn với tiền cụ thể, nộp phí là nộp tiền, thu phí là thu tiền. Miễn phí là không phải trả tiền dịch vụ.

Các loại phí thường gặp trong đời sống là học phí, viện phí, án phí, cước phí, phí dự thi, dự tuyển, phí trông giữ xe ở các bãi giữ xe, phí tham quan (thường bằng hình thức bán vé), phí giới thiệu, tư vấn việc làm, phí bảo vệ môi trường, phí giao thông...

Mức phí là khoản tiền thu khá ổn định, muốn thay đổi nó phải có lộ trình, phải có một thông tư riêng về việc thu phí, mức phí cũng như lộ trình tăng phí của cơ quan có thẩm quyền.

Còn "giá" thuộc về phạm trù khác hẳn, là giá trị được biểu hiện bằng tiền, không gắn với đồng tiền cụ thể. Giá đầy biến động, luôn thay đổi, chỉ có thị trường mới điều tiết được giá mà chẳng cơ quan chức năng nào có thể can thiệp được.

Chẳng hạn, một tờ báo đưa tin: Giá heo hơi miền Bắc hôm nay đang được thu mua với mức giá rất tốt, khoảng 45.000 - 49.000 đồng/kg. So với hồi cuối tuần trước, hiện giá heo tại đây đã tăng 2.000 - 4.000 đồng/kg.

Một khi "giá" đã là giá trị được biểu hiện bằng tiền, không gắn với đồng tiền cụ thể, lại đầy biến động như thế thì thử hỏi "thu giá" là thu cái gì đây, là thu giá trị suông của đồng tiền? "Thu giá" sẽ được chốt ở mức nào đây, là chạy theo thị trường sao?

TS ĐỖ PHƯƠNG LÂM (Đại học Hải Phòng):

Không đúng quan hệ ngữ nghĩa

Gần đây, trong văn bản hành chính của một số cơ quan nhà nước xuất hiện các cụm từ mới: thu giá và trạm thu giá.

Sự xuất hiện của những cụm từ này khiến tiếng Việt hiện nay song song tồn tại cả hai danh từ trạm thu phí và trạm thu giá. Trong khi đại bộ phận người dân và các phương tiện thông tin đại chúng sử dụng cách nói truyền thống trạm thu phí, thì riêng một số văn bản hành chính lại dùng từ trạm thu giá.

Trạm thu giá được Bộ Giao thông vận tải giải thích là "nơi thực hiện việc thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ của phương tiện tham gia giao thông đường bộ...". Như vậy, từ cách nói này, chúng ta có thể hiểu giá là một thứ hữu hình có thể thu và nộp. Nhưng giá tức giá cả, là yếu tố Hán Việt, dùng để chỉ mức đo giá trị hàng hóa, chỉ thang độ như giá cả, giá thành, giá trị, giá chợ đen...

Giá chỉ là biểu hiện về giá trị, chứ không phải là cái gì cụ thể, vì thế không thể thu hay nộp. Còn phí là khoản tiền, khoản chi tiêu vào một việc nào đó như: học phí, lộ phí, viện phí... Theo Từ điển tiếng Việt, phí còn được hiểu là "khoản tiền phải trả cho một công việc phục vụ, dịch vụ công cộng nào đó".

Vì thế, chỉ có thể nói thu phí cầu đường mà không thể nói thu giá cầu đường. Các cụm từ thu giá, trạm thu giá được cấu tạo không đúng quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố.

Lẽ ra nên phân biệt phí đường bộ thông thường với phí BOT thì Bộ GTVT lại đặt ra khái niệm thu giá. Tạo ra một từ mới là thu giá, là một từ rất tối nghĩa, nếu không muốn nói là vô nghĩa. Bởi nó là một từ không đúng quan hệ ngữ nghĩa giữa hai thành tố cấu tạo.

V.V.TUÂN ghi