HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG RA BẮC
HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG RA BẮC
Từ trước đến nay, khi nghiên cứu về trận
chiến Việt Thanh đầu năm Kỷ Dậu (1789) chúng ta thường đặt nặng khả năng chiến
đấu và tinh thần của quân Nam, hay tài cầm quân của Nguyễn Huệ được bao phủ dưới
những ngôn từ sáo mòn như “tình yêu nước nồng nàn”, “thiên
tài quân sự bách chiến bách thắng”.
Trong
biên khảo “Quân Sự Nhà Thanh”, chúng tôi đã trình bày hệ thống chỉ
huy và tiếp liệu của Bắc quân, nêu lên tính chất chính qui của quân đội của một
quốc gia thời bình. Để có sự so sánh và làm nổi bật sự khác biệt giữa hai đoàn
quân, trong bài “Văn Minh Đàng Trong”, chúng tôi miêu tả về bối cảnh
sinh hoạt của khu vực Đông Nam Á, sau hơn hai trăm năm chia cắt đã hình thành một
quốc gia hoàn toàn khác hẳn với Đàng Ngoài về mọi mặt.
Chính
sự xa lạ với văn minh Đàng Trong - còn chịu ảnh hưởng nhiều của văn minh Ấn Hồi
- đã tạo sự bất ngờ cho đối phương vì những gì quân Thanh biết được về nước ta,
chỉ hoàn toàn dựa trên hiểu biết của họ về “nước An Nam”, tức miền Bắc
với những qui chế và tập quán gần như một nước Tàu thu nhỏ.
Sự
hiểu biết của họ về Đàng Trong chỉ qua triều đình chúa Nguyễn, cũng lại là một “tiểu long” khác, một thứ thái thú đối với dân chúng miền Nam.
Trong địa bàn rộng lớn của Nam Á, cư dân không phải là một chủng tộc thuần nhất
mà là một khu vực rất co dãn, rất linh động với hàng chục sắc tộc khác nhau, mỗi
sắc tộc có một truyền thống và tập quán, được tập hợp trong một hoàn cảnh đặc
biệt.
Một
điều đáng cho chúng ta quan tâm là miền Nam Việt Nam không phải là một vùng
hoang địa ít dân cư, mới được khai phá như nhiều lục địa khác ở thế kỷ 17, 18.
Việc bành trướng của dân tộc Việt Nam - nói đúng ra là của người Kinh từ châu
thổ sông Hồng tiến xuống phương Nam - chỉ là sự bao trùm một nền văn minh này
lên những nền văn minh khác. Người Kinh dần dần lấn chiếm các vùng đồng bằng dọc
theo duyên hải, đẩy các dân tộc bản địa lên cao nguyên và làm chựng lại sinh hoạt
thương mại mặt biển vốn dĩ là một phần quan trọng của đời sống. Trên một qui mô
nào đó, người Việt miền Bắc còn giữ tinh thần nông dân gắn bó với ruộng vườn
nên đã tận thu bình nguyên, chia núi rừng, đồng bằng và biển cả ra ba khu vực
biệt lập, liên hệ rời rạc. Sự bòn rút thiên nhiên trở nên gắt gao hơn nên sớm
muộn rồi cũng đưa đến kết quả “đồng qui ư tận”.
Tiến
trình khai thác đó vẫn tiếp tục, khi mạnh khi yếu nhưng càng lúc người ta càng
ít gắn bó với khu vực dung thân hàng nghìn năm qua. Chế độ phong kiến, chế độ
thực dân, chiến tranh và các chính thể độc tài chỉ càng lúc càng làm gia tốc tiến
trình tự huỷ. Chính vì ba thế lực đó trung hoà và hoá giải lẫn nhau nên người
ta có cảm tưởng trong nhiều năm, trái tim lịch sử bị ngừng đập. Tuy nhiên, đó
chỉ là một giấc đông miên mà đôi khi vì một ngẫu nhiên nào đó, một tổng hợp dù
vội vã và khiên cưỡng của cả ba khu vực vẫn tạo được những thành tích đáng kể.
Đặt
vị trí của Việt Nam trong khung cảnh vỡ hạt của cuối thế kỷ 18, với rất nhiều
pha trộn khác nhau - văn minh bản địa, Bà La Môn, Hồi giáo, Khổng, Lão, Phật rồi
sau đó là văn minh Tây phương theo chân các nhà truyền giáo và thương nhân -
hoà quyện với nhau trở thành một nếp sống đặc thù. Cái lò luyện kim đó, với tác
động từ phương Bắc tràn xuống, từ phương Tây lan qua, từ miền Nam đi lên, từ biển
Đông ập tới, trong một thời điểm nhất định đã đủ mạnh để làm thay đổi cả cuộc
diện.
Trận
đánh năm Kỷ Dậu vì thế phải được xét qua một lăng kính mới - một bên là “thiên triều” với đủ thứ
lễ nghi tập tục, nhiều “hoa quyền”, ít thực dụng, và một bên là thành phần
đa chủng, sống gần với bản năng trong những điều kiện sinh hoạt giảm thiểu đến
mức không sao đơn giản hơn được nữa. Sự tương phản mãnh liệt đó một khi được bổ
sung bằng kỹ thuật Tây phương - mà hoàn cảnh địa lý chính trị khá độc đáo Đàng
Trong đã tiếp nhận được - chính là yếu tố then chốt tạo nên chiến thắng.
Trong
khi Bắc quân là một đội quân chính qui tập trung vào chiến thuật duy nhất là giữ
thành, chiếm đất theo sở trường của người Trung Hoa thì Nam quân lại bao gồm ba
mũi nhọn bao gồm ba sở trường khác nhau được vận dụng cùng một lúc. Miền núi rừng
tây nguyên với đội binh Thượng có tài xuyên sơn đem theo một đàn voi rừng từ mạn
Lào đổ sang đã tạo cho quân Thanh sự kinh hoàng. Cánh quân từ biển kéo vào phần
lớn là đám “du thương” được Nguyễn Huệ thu dụng để thành lực
lượng thuỷ quân, quen thuộc với khu vực biển vùng vịnh Bắc Việt vừa tập kích
ngang hông quân Thanh, vừa chặn đường rút lui, cắt đứt hệ thống thông tin và tiếp
liệu. Bộ binh do chính vua Quang Trung chỉ huy từ Phú Xuân kéo ra, kết hợp với
quân ở miền Bắc quen thuộc địa thế tràn ngập trận địa theo chiến thuật “biển người”, đổ xuống địch
quân như một đợt sóng thần từ xa ập tới.
Sau
chiến thắng, nhiều huyền thoại được tô vẽ, phao truyền về quân Tây Sơn. Một câu
hỏi thường được nêu ra là làm thế nào để Nguyễn Huệ có thể điều binh thần tốc
như thế? Nhiều phương pháp đã được đưa ra để giải thích bao gồm cả phương tiện
di chuyển (võng, thuyền, voi, ngựa ...) lẫn tính toán thời gian (đại quân tiến
luôn một mạch không nghỉ từ Phú Xuân ra Thăng Long trong khoảng từ 20 đến 40
ngày). Thế nhưng những giải thích đó đều có những điểm gượng gạo không thực tế.
Một điểm quan trọng là muốn đi nhanh và đồng bộ thì chỉ có thể áp dụng vào những
binh đội với số lượng nhỏ vì theo thời gian khoảng cách giữa người đi đầu và
người đi cuối sẽ càng lúc càng xa. Ngoài ra dù hình thức nào, đi bộ, đi thuyền
hay đi ngựa, đi võng thì vẫn có những giới hạn nhất định về tốc độ, về sự chịu
đựng ... không thể vượt qua. Thực ra, điều mà người ta cho rằng thần tốc kia
không ở vấn đề di chuyển mà làm sao khéo léo điều động để ba cánh quân cùng xuất
hiện kịp thời, vừa làm tăng sự cộng hưởng của sức mạnh, vừa khiến cho đối
phương tưởng như một phép lạ nên kinh hoàng tan vỡ.
Quân
Tây Sơn cũng không phải là một binh đội duy nhất từ trong Nam kéo ra mà là nhiều
đơn vị từ nhiều địa phương được các tướng lãnh chuẩn bị cùng di chuyển tới khu
vực tập kết để tham gia chiến dịch. Nguyễn Huệ chỉ chỉ huy một số khinh binh
tương đối nhỏ và nhẹ từ Phú Xuân. Binh lính thời đó phần lớn thuộc dạng dân
quân, thời bình sống lẫn với gia đình, làng xã của mình, chỉ điều động khi hữu
sự (tương tự như những công trình thuỷ lợi hay công tác cộng đồng trong các chế
độ toàn trị, lương thực và trang bị đều do dân chúng tự túc), là phương pháp quản
trị “just-in-time“ trong quân sự, cấp chỉ huy định mục
tiêu và thời hạn rồi để cho cấp dưới tự lo liệu thi hành. Chúng ta có thể hình
dung trục lộ tiến quân của vua Quang Trung như một đội chèo thuyền mà tất cả đều
hành động nhịp nhàng cùng một lượt, một con sông được nhiều nguồn chảy tới để
biến thành một cơn lũ mỗi lúc một dâng cao.
Cũng
tương tự, lời khẳng định sẽ vào thành Thăng Long trong ngày đầu tháng Giêng năm
Kỷ Dậu - nếu quả thực có - cũng là một nhu cầu bắt buộc, là phương thức tìm sự
sống trong cái chết, không cách nào khác hơn. Nói theo ngôn ngữ mới, vua Quang
Trung phải sử dụng chiến thuật bôn tập từ Nghệ An ra Bắc chính vì Nam quân
không có một hệ thống đài trạm để cung ứng quân lương như quân Thanh nên mỗi
người phải tự mang theo thực phẩm cho chính mình -theo tính toán cơ bản về tiếp
liệu thì một cá nhân chỉ có thể mang được từ 5 đến 10 ngày lương là tối đa. Từ
Ninh Bình về Thăng Long, trong khả năng cơ hữu, vua Quang Trung thấy rằng ngày
mồng 7 tháng Giêng là hạn định cuối cùng, phải đạt được bằng bất cứ giá nào chứ
chẳng phải do ai cố vấn, cũng không mang tính dự ngôn, tiên tri như người ta
thường chép.
Viết
về cuộc chiến Việt - Thanh chúng tôi muốn tìm giải thích cho một nghi vấn lịch
sử, so sánh ưu, khuyết điểm của một đội quân chính qui với đầy đủ nghi thức và
một đội quân còn mang tính tự phát, được tập trung rất nhanh theo nhiệm vụ và
nhu cầu rồi sau đó lại tan biến vào đời sống bình thường, không lương, không bổng,
không tử tuất. Hình thức đó là một truyền thống lâu đời của vùng Đông Nam Á,
tuy đạt được một số thắng lợi nhất định nhưng cũng đưa tới những mất quân bình
thời hậu chiến, khi chuyển từ đấu tranh giành quyền lực sang công tác khôi phục
kinh tế và ổn định xã hội.
TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT
Khi
ra Bắc trừ Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ đã không dấu diếm tham vọng lên làm vua thay
nhà Lê. Dự tính đó một phần vì ông cảm thấy mình đã đủ lông đủ cánh không muốn ở
dưới quyền Nguyễn Nhạc sau khi hai anh em đã có những xung đột trầm trọng không
thể hàn gắn được. Nguyễn Nhạc là vua Thái Đức thì ông cũng phải có một danh vị
tương đương. Nguyễn Huệ nay làm chủ cả xứ Bắc Hà vào đến Quảng Nam, so với lãnh
thổ của anh ông còn to lớn hơn nhiều và việc xưng đế cũng không có gì trái đạo.
Giữa ông và nhà Lê chẳng có ràng buộc nào ngoài tình nghĩa với một người vợ lẽ
là một nàng công chúa.
Một
số quan lại nhà Lê ủng hộ chủ trương này, điển hình là Ngô Thì Nhậm và vài đồng
liêu, mặc dù phần đông chống đối ngấm ngầm hay công khai vì chính sách cai trị
hà khắc của quân Tây Sơn và lòng đố kỵ không muốn những người từ Nam Hà ra làm
chủ đất nước. Theo tài liệu của các giáo sĩ tại miền Bắc lúc đó, Nguyễn Huệ khi
ra Bắc lần thứ hai đã công khai đưa ra một đạo dụ hỏi ý kiến toàn thể dân chúng
Bắc Hà (không phân biệt giai cấp, phẩm tước và địa vị) xem “họ thích sống
dưới chế độ nào: bị một ông hoàng huyết thống nhà Lê cai trị (ông giả vờ không
nhắc đến tên Chiêu Thống) hay khẩn cầu ông ở lại điều khiển quốc gia để được hưởng
một sự thái bình hoàn toàn và vĩnh cửu, dưới sự bảo hộ giúp đỡ của ông.
Tổng
hợp nhiều tài liệu khác nhau, kể cả thư từ giao thiệp với Nguyễn Thiếp và các
bài biểu suy tôn của quan lại nhà Lê (do Ngô Thì Nhậm soạn), chúng ta có thể
xác định được rằng Nguyễn Huệ không dấu diếm tham vọng nên đã chuẩn bị để thiên
đô vào Nghệ An vì nơi đây ở vị trí thuận tiện hơn cả để liên lạc với toàn thể
khu vực ông đang kiểm soát, nhất là có một cửa ngõ thông qua Thượng Lào và một
cửa biển để buôn bán với các quốc gia khác.
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN
Điều
đáng tiếc là triều đại Tây Sơn quá ngắn ngủi, phần lớn các tài liệu chép về
giai đoạn này không còn nữa, hoặc chỉ còn những mảnh vụn rời rạc khiến cho nhiều
câu hỏi không có trả lời. Để hình dung được cuộc chiến Việt - Thanh đầu năm Kỷ
Dậu, chúng ta không thể không xét qua “tình hình bạn”, ít nhất
cũng trên một mô hình tổng quát về tổ chức hành chánh và quân sự, lực lượng và
tiềm năng, phương hướng chung của thời đại và trình độ phát triển về kỹ thuật
quân sự để có một lượng giá giữa hai bên ngõ hầu hiểu được thắng lợi của quân
Nam mà không rơi vào những nhận định chủ quan.
Chúng
ta cũng không thể bỏ qua những bước căn bản mà Nguyễn Huệ dự tính, trong đó hai
đề mục lớn cần đào sâu là chính sách thu dụng thành phần thương nhân mặt biển để
kiểm soát trục lộ hàng hải đi từ eo biển Malacca lên đến Nam Trung Hoa và nhu cầu
bành trướng sang phía Tây để thực hiện mục tiêu hàng phục Tiêm La mở rộng lãnh
thổ, vừa tiêu diệt Nguyễn Ánh để trừ nốt mầm hoạ trong gan ruột vừa “tiếp thu” luôn vương
quốc nhỏ bé và yếu đuối của ông anh cả ở Qui Nhơn. Chúng ta sẽ đào sâu hơn về
hai kế hoạch này trong một dịp khác.
LÃNH THỔ
Vương
quốc mà Nguyễn Huệ thành lập (hay có ảnh hưởng) bao gồm những khu vực nào? Ở thế
kỷ 18, việc phân định ranh giới quốc gia còn rất mờ mịt, chúng ta chỉ có thể
tìm được đại khái địa bàn của ông gồm cả lãnh thổ hành chánh và khu vực ảnh hưởng
là những nơi khi cần ông có thể trưng dụng tài nguyên hay nhân lực. Quan niệm rạch
ròi về lãnh thổ mà chúng ta hiểu ngày hôm nay chắc chắn không thể áp dụng vào
thời kỳ này.
Trước
đây khu vực phía tây lãnh thổ Bắc Hà vẫn bị coi như một vùng xa xôi ít liên
quan đến nước ta, có lẽ vì sự khác biệt về văn hoá và chủng tộc. Tuy nhiên, khi
được chia phần đất từ Phú Xuân trở ra - nhất là khi làm chủ cả Nghệ An là phần
đất nhà Lê nhường cho ông khi có công ra bắc dẹp họ Trịnh - Nguyễn Huệ đã thấy
tầm quan trọng của những vương quốc phụ cận suốt một dải đất rộng từ bắc chí
nam, về kinh tế cũng như về quân sự.
Theo
các tài liệu khám phá được ở châu Qui Hợp, tỉnh Nghệ An năm 1974 trong từ đường
quận công Tran Phuc Hoan thì ngay từ tháng 9 năm 1787 (tháng 8 năm Đinh Mùi,
Thái Đức thứ 10) tức là ngay những ngày đầu khi đất Nghệ An mới thuộc quyền kiểm
soát của Nguyễn Huệ, quan trấn nhậm huyện Hương Sơn đã ra lệnh cho châu Quy Hợp
phải nới lỏng giao thương và bãi bỏ thuế đánh vào nhà buôn hay lúa gạo thường
qua lại vùng này. Trước đây, triều Lê Trịnh, các thông lộ qua Ai Lao đều bị kiểm
soát chặt chẽ nên việc thương mại với các lân bang hầu như không có gì cả,
ngoài việc thu thuế một số sản vật trao đổi giữa các dân tộc thiểu số. Cũng
theo tài liệu này, Nguyễn Huệ đã thực hiện được một cải cách quan trọng mà trước
nay chưa từng có, đó là biến khu vực này thành một vùng tự do giao thương để
phát triển trao đổi song phương giữa nước ta có ưu thế trực tiếp với biển cả
còn Ai Lao là đầu mối của mạng lưới buôn bán với khắp các khu vực nội địa lên đến
tận Bắc Ấn Độ và Nam Trung Hoa. Kiểm soát được hệ thống buôn bán này, ông đã mở
ra một đầu cầu mới thay thế cho con đường trước đây thương nhân vẫn sử dụng dọc
theo khu vực Trường Sơn và đường thuỷ lộ xuống Cao Miên để từ đó thông ra biển.
Điều
này cũng nói lên phần nào sự tương đồng, tương hợp của lực lượng Tây Sơn với
các sắc dân sinh sống tại Ai Lao, Bắc Thái và giải thích được một số tập quán
tuy quen thuộc với các dân tộc nằm sâu trong nội địa nhưng lại xa lạ với người
Kinh.
Việc mở rộng giao lưu đó đã khiến cho những tiểu quốc phía tây đều có ý ngả theo vua Quang Trung và mấy năm sau đã viết thư nhờ Đại Việt giúp họ thoát khỏi sự áp bức của Xiêm La mà lâu nay họ phải triều cống. Chính đây là một điểm mấu chốt để Nguyễn Huệ có thể chuyển quân ra miền Bắc mà không cần phải đi theo những trục lộ mà chúa Trịnh hay chúa Nguyễn hằng quen thuộc.
Việc mở rộng giao lưu đó đã khiến cho những tiểu quốc phía tây đều có ý ngả theo vua Quang Trung và mấy năm sau đã viết thư nhờ Đại Việt giúp họ thoát khỏi sự áp bức của Xiêm La mà lâu nay họ phải triều cống. Chính đây là một điểm mấu chốt để Nguyễn Huệ có thể chuyển quân ra miền Bắc mà không cần phải đi theo những trục lộ mà chúa Trịnh hay chúa Nguyễn hằng quen thuộc.
Vì
kiểm soát một khu vực tương đối rộng lớn (suốt từ miền Bắc vào đến Quảng Nam và
có lẽ toàn bộ khu vực Thượng và Trung Lào ngày nay) Nguyễn Huệ có nhu cầu thiết
lập nhiều trung tâm hành chánh khác nhau để tiện việc cai trị và điều động. Ông
chọn hai vị trí chiến lược tương đối quan trọng với những đặc điểm nổi bật về
giao thương là Nghệ An và Phú Xuân để xây dựng cơ sở . Riêng Nghệ An, ông coi
nơi đây là Trung Đô và cũng là địa điểm lui về một khi bị tấn công từ hai đầu.
Chúng ta cũng không thể bỏ qua giả thuyết ông muốn lên ngôi ngay tại kinh đô mới
nên đã gấp rút hối thúc Nguyễn Thiếp đi coi đất xây cung điện và chuyển nhiều
nhân công, vật liệu từ Bắc Hà vào Thanh Nghệ.
TÀI CHÁNH
Không
rõ các thừa sai ngoại quốc tường thuật về chính sách tận thu tài sản và lương
thực Bắc Hà chính xác đến mực nào nhưng chủ trương “tất cả cho
chiến tranh” của Nguyễn Huệ là điều cần thiết để nếu không sử dụng
được thì cũng không để cho đối phương khai thác. Ngay lần đầu ra Bắc, Nguyễn Huệ
đã thu góp được rất nhiều của cải của chúa Trịnh đem về Nam, không chia lại cho
Nguyễn Nhạc nên xảy ra xung đột, đưa đến cuộc chiến mà người ta gọi là “nồi da xáo
thịt”.
Khi
ra Bắc lần thứ hai, quan lại nhà Lê chỉ có một số ít ủng hộ ông, đa số không
tán thành những bài biểu suy tôn của Ngô Thì Nhậm và lãnh đạm đối với cuộc “trưng cầu ý
kiến” một cách lộ liễu, ông đành tiến hành một kế hoạch khá
cực đoan, vừa do chiến lược đấu tranh, vừa muốn đập tan nhuệ khí của xứ Bắc Hà,
nhân cơ hội tận thu tiền bạc thành phần có máu mặt, vét cho đến người lính cuối
cùng và đưa hết vật liệu, thợ thuyền vào xây tân đô:
Ông
lợi dụng một vị quan Trung Hoa (?) tên là Thiểm Bảy, con rể vua Cảnh Hưng như
ông tức là anh (hay em) “cột chèo”
bằng
cách bảo vị này kê khai những tên đại thương gia giầu có và những tư nhân có
nhiều tiền để ông xua lính vào cướp. Cuối cùng ông kiếm chuyện với tên đồng loã
ti tiện này (tức vị quan Tàu). Ông cho tra tấn thật dã man tên đó cùng với vợ hắn
để ép chúng làm tờ kê khai đích xác của cải của chúng. Ông đã thành công trong
việc chiếm đoạt tài sản kếch xù của chúng ...
Những
kế hoạch kinh tài được thực hiện gấp rút chắc hẳn do nhiều nguyên nhân, vì tình
hình nhiều mặt sôi động phải đối phó cũng có mà vì nhu cầu cũng có. Người ta
còn cho rằng ông phẫn nộ vì một số tướng lãnh không thành công trong việc đánh
dẹp tàn quân nhà Lê ở miền thượng du nên khắt khe cả với gia đình bên vợ, tức
Ngọc Hân công chúa:
...bà
goá phụ Cảnh Hưng, mẹ vợ ông có lần xin ông tha cho các vị quan Bắc Kỳ, đặc biệt
là cho Đốc Chiên. Người ta đồn rằng bà có cho Đốc Chiên 100 thoi (hay đỉnh)
vàng để ông ta dùng vào việc mua chuộc các quan lại, bảo tồn cái đầu ông. Nhưng
vì sợ hãi trước sự phẫn nộ của con rể, bà đã bỏ trốn. Bắc vương lập tức cho tịch
thu đồ đạc và tài sản của bà công chúa Bắc Kỳ (tức là bà Hân) vợ ông bị đánh
hai mươi roi theo lệnh ông. Hình như bà này đã oán trách chồng bà vì sự ngược
đãi đối với mẹ bà.
Khi
mẹ vợ ông bị điệu về triều đình, ông đã trách mắng bà thậm tệ vì mối cảm tình của
bà đối với Đốc Chiên. Số vàng do bà cấp cho Đốc Chiên để chạy tội phải vào tay
ông. Ông còn cho lấy cung của Đốc Chiên, vị tướng đáng thương này đã bị đóng
gông gần một tháng nay. Rồi ông cho đánh vị tướng này bốn mươi trượng vì tội từ
chối, không chịu khai chỗ vua Chiêu Thống ẩn trốn. Cuối cùng ông ra lệnh xử trảm
vị tướng này ngày một tháng Sáu.
Chúng
ta cũng hiểu rằng việc tích luỹ tài sản chính vì nhu cầu quân sự, bao gồm cả
chi phí về tân trang vũ khí (phải mua những súng ống, đạn dược mới mẻ hơn của
Tây Phương) và lương thực cho quân đội, một vấn đề sinh tử vì ông đã bị cắt đứt
con đường từ Bắc và Nam nên chỉ có thể dùng thuyền để mua hoặc cướp gạo từ xứ Đồng
Nai. Chỉ khổ cho dân miền Bắc khi Nguyễn Huệ “bắt nộp ngay lập tức và cùng một lúc các
thứ thuế được trả làm hai kỳ trước kia, các thứ thuế gạo tháng Ba và tháng Mười,
tất cả các thứ thuế khác mà chưa được trả đầy đủ; không ai được than phiền hay
bầy tỏ ý kiến về việc đó. Các xã trưởng và phú hộ (hào mục) nào không tuân lệnh
ngay sẽ bị đánh một trăm trượng hoặc sẽ bị xử tử tuỳ theo họ phạm trọng tội hay
“khinh tội”.
Chiến
thuật mà nhiều người vẫn ca tụng là thần tốc cũng là một phương thức để giảm bớt
số lượng binh sĩ thường trực phải nuôi ăn càng sớm càng tốt. Chúng ta cũng
không lấy làm lạ sau chiến thắng tại Thăng Long, Nguyễn Huệ đã “giải ngũ” tại chỗ rất
đông binh sĩ (phần lớn là tân quân mới tòng chinh ở Thanh Nghệ và trên đường ra
Bắc). Một số đông dân chúng từ Thanh Hoá, Nghệ An theo ra không còn đường trở về
nên đã lập nghiệp tại các vùng đất tân bồi ở duyên hải.
XÂY DỰNG TÂN ĐÔ
Việc
Nguyễn Huệ chọn Nghệ An làm kinh đô có một ý nghĩa chiến lược rất quan trọng,
không những thuận tiện cho việc rút lui và chống giữ mà còn chuẩn bị cả những kế
hoạch bành trướng sức mạnh ra toàn thể khu vực. Một khi Thăng Long từ một thủ
phủ chính trị, văn hoá, kinh tế, quân sự ... hạ xuống hàng “cố đô”, vai trò của
kinh thành gần như mất hẳn. Việc thiên đô đó chắc chắn ảnh hưởng rất mạnh đến
tâm tình giới sĩ phu Bắc Hà nên trong giai đoạn này lòng hoài vọng tiền triều
trở thành phổ biến mặc dù trong hơn 200 qua, vua Lê chỉ là hư vị và miền Bắc
cũng không tạo được thành quả nào nổi bật. Tâm tình hoài vọng đó được lập lại
trong lịch lịch sử mỗi khi thay đổi một triều đại ảnh hưởng không ít tới tình
hình chính trị kéo dài mãi về sau. Theo các giáo sĩ thì:
...
Trong khi chờ đợi (dân chúng bắt Lê Duy Kỳ nạp cho ông), vì Bắc vương sắp phải
lên đường vào Nam, ông nhất định cho phá huỷ thủ đô Bắc Kỳ, gọi là Kẻ Chợ, Kinh
Đô hay Kinh Ki (Kỳ) và xây lại tại xứ Nghệ An một hoàng thành mới gần quốc gia
nhỏ bé của ông (Phú Xuân) và gần Nam Kỳ Thượng, ở khoảng giữa hai vương quốc.
Ông liền cấp tốc cho thực hiện kế hoạch này. Trước hết, ông cho phá tất cả các
biệt thự của các Chúa cũ và của những người chuyên chế biện sự nhà Trịnh ở
trong hoàng thành và cho chất lên thuyền những vật liệu, đồ đạc quí nhất và tài
sản cùng với một số lớn gạo thu nhặt được để mang tới chỗ được qui định là nơi
xây cất thành phố tương lai gọi là Phủ Thạnh (Thanh?) hay Thành Rum (?). Ông
cũng không bỏ sót các dinh vua Chiêu Thống và cung điện các vua nhà Lê (ông phá
cho tan hết). Ông cho lấy đi tất cả những thứ ông thích, ngay cả đá lát nữa
(theo lời đồn) ...
Ngoài
tài vật, Nguyễn Huệ cũng tận dụng nhân lực của Bắc Hà để xây dựng kinh đô mới.
Các giáo sĩ cho biết ông “tuyển chọn rất nhiều thợ và nghệ sĩ đủ loại” để mang theo
dùng vào việc xây cất tân đô và mỗi phường thợ của miền Bắc phải cung cấp “ít nhất là
mười lăm người”.
Điều
này cho ta thấy Nguyễn Huệ đã tiến hành kế hoạch “vườn không
nhà trống”” ngay từ trước khi địch đến nhưng cũng có thể nhằm triệt
tiêu mọi mầm mống chống đối của miền Bắc. Việc đó cũng phần nào giải thích tại
sao một vương quốc tương đối qui mô và có một lịch sử lâu đời như Bắc Hà lại gần
như thụ động đối với những biến chuyển, không thấy một phản ứng nào có thể coi
là đáng kể. Nguyễn Huệ chỉ thay đổi thái độ sau khi thâu tóm quyền lực lên làm
hoàng đế một cách danh chính ngôn thuận và miền Bắc bây giờ trở thành một hậu cần
quan trọng cho chính quyền.
Vô
hình chung đất Thanh Nghệ trở thành một địa điểm dưỡng quân và tập kết khi cần
thiết, mặc nhiên coi như thủ đô quân sự và chính trị của vương quốc mặc dầu ông
và bộ tham mưu vẫn còn đóng ở Phú Xuân vì tình hình chưa hoàn toàn yên ổn và
Nguyễn Nhạc cũng có thể phản công để chiếm lại Quảng Nam khi có cơ hội. Theo
thư của linh mục người Bắc Thomas Dien đề ngày 18/12/1788 thì “vào cuối
tháng Ba (năm 1788) khi Bắc vương (Nguyễn Huệ) đã thắng hai, ba trận quân đội của
Tiếm vương Nhạc được cử tới đánh ông để trả thù việc ông làm cho anh ông mất thể
diện năm 1787” đủ biết xung đột của hai anh em vẫn tồn tại ngay cả
sau khi giảng hoà trong trận Qui Nhơn và Nguyễn Huệ vẫn phải đề phòng không phải
chỉ Nguyễn Ánh mà cả Nguyễn Nhạc ở mặt nam.
LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ
Quân
Tây Sơn mà Nguyễn Huệ chỉ huy có một số đặc tính đã ảnh hưởng đến chiến thuật,
chiến lược của ông mà chúng ta cần nghiên cứu:
Quân
Tây Sơn sử dụng trong trận chiến Việt Thanh bao gồm nhiều thành phần:
Thân
binh Thuận Quảng là quân đội ông mang từ miền Nam đi ra
Binh
sĩ ra từ trước dưới quyền chỉ huy của Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân ...
Tân
quân dân chúng bị cưỡng bách tòng chinh tại các làng mạc ông đi qua hay do các
tướng lãnh đã tuyển mộ
Các
lực lượng phụ thuộc vào ông bao gồm các toán quân người thiểu số ở phía tây và
các toán dân chài, du thương, hải phỉ ... ở biển đông
Chính
vì gia nhập hàng ngũ vào nhiều thời điểm khác nhau, tại nhiều địa phương nên tổ
chức và trang bị cũng thay đổi không đồng nhất. Tuy nhiên để bảo đảm sự có mặt
của họ và vận dụng tối đa lực lượng trong chiến đấu, tướng lãnh Tây Sơn đã áp dụng
một số biện pháp nghiêm nhặt:
Kỷ luật thép trong phương thức tuyển mộ và trừng phạt
Lương
thực tối thiểu, do cá nhân tự mang theo hay do từng tổ nhỏ đảm trách để có thể
di hành nhanh mà lại không thể bỏ trốn, lệ thuộc hoàn toàn vào đoàn thể, không
tồn tại được nếu sống riêng rẽ
Đi
theo đường núi để giới hạn tối đa tiếp xúc với quần chúng vừa bảo toàn bí mật vừa
không tạo những xáo trộn một khi binh đội đi ngang qua
Chia
thành nhiều toán nhỏ riêng rẽ chỉ tập trung ở những điểm nhất định
Không
đóng quân tại đâu một thời gian dài để khỏi tạo ra những nhu cầu thực tế như
buôn bán, liên hệ trai gái, trộm cắp và tiết lộ tin tức quân sự
Để
bù lại số binh sĩ tổn thất trong chiến tranh, nhất là một số đông đi theo Nguyễn
Nhạc nên Nguyễn Huệ đã tiến hành một chính sách cưỡng bách tòng quân đến mức tối
đa và đây cũng là một trong những lý do miền Bắc lâm vào cảnh đói kém liên tiếp
trong nhiều năm. Những giáo sĩ có mặt tại miền Bắc đã ghi nhận là “chừng một
tháng nay (cuối năm 1787), một vị tướng của Tân Attila (tức Nguyễn Huệ) tên là
Vach Quich (?) đã trở lại xứ Nghệ mộ rất nhiều lính và bắt dân chúng cung cấp một
số gạo khá lớn. Với những hành động tối dã man, tên ác quỉ đó thường hay xẻo
tai, lột da mặt từ trán cho tới miệng, đánh nhừ tử cho đến chết những viên xã
trưởng hay những người đại diện cho các làng xã không tuân lệnh hắn ngay.
Nhu
cầu chiến tranh khiến cho Nguyễn Huệ không còn nhiều chọn lựa và mục đích của
việc tuyển mộ dân quân Bắc Kinh là để thay thế các lính cũ của bạo quân Phú
Xuân (Nguyễn Huệ) ... vì đội ngũ đã bỏ rơi ông để theo Nhạc, trong hoặc sau thời
kỳ chiến tranh giữa ông (Nguyễn Huệ) và tiếm vương (Nguyễn Nhạc) (khiến) ông bị
lâm vào tình trạng phải thu nhập trên lãnh thổ nhỏ bé của ông những thành phần
thuộc giai cấp hạ lưu, những tay anh chị lưu manh, nông dân và cấp cho họ khí
giới.
Việc
tổ chức quân đội cũng được thay đổi nhiều lần, ít nhất cũng từ một đội quân tự
phát biến thành một phần bộ của cơ cấu hành chánh. Việc Nguyễn Huệ muốn tách ra
thành một vương quốc riêng cho thấy ông đã phải giải quyết những vấn đề của
quân sĩ mà trước đây dường như ông không quan tâm lắm. Tiến bộ đó phần nào có
thể ông học hỏi được từ chính những người mà ông đã đánh bại như triều đình
chúa Nguyễn ở phương nam, chúa Trịnh và cơ cấu quân chủ ở phương bắc. Tiếc rằng
chúng tôi không có được bản chính bằng Hán Văn của tờ chiếu gửi cho Ngô Văn Sở
và quan binh Bắc Hà nhưng xuyên qua bản dịch từ tiếng Pháp (do các giáo sĩ ghi
nhận) của tác giả Đặng Phương Nghi chúng ta cũng có thể phần nào nắm được tinh
thần đó:
Bởi
sắc lệnh này ta cho các tướng Đại Tư Mã, Đại Đốc (tức Ngô Văn Sở và Phan Văn
Lân) và các sĩ quan khác biết rằng từ trước tới nay các vua chúa đều lấy luật
pháp để cai trị thần dân và duy trì hoà bình, nên ta cũng noi gương các vị tiền
bối mà đánh dấu ngày khởi đầu triều đại ta bằng cách soạn ra một bộ luật để dân
chúng sống trên đất đai ta nghiêm nhặt tuân theo. Vì thế ta đã giao cho các
quan tư pháp và tham chính viện nhiệm vụ hoàn tất các tác phẩm đó trong một,
hai tháng. Trong khi chờ đợi ta ban bố vài pháp quy yêu cầu mọi người và mỗi
các ngươi đứng đắn thi hành. Nội dung điều lệ đó như sau:
Nếu
một sĩ quan hay binh lính nào phạm tội gì, các quan văn võ sẽ họp lại để xử họ
và nếu họ đáng bị xử tử họ sẽ bị kết án tử hình.
Song
le trong thời chiến tranh, mỗi lần một vị chỉ huy sai bộ hạ mình đi đánh địch,
bộ hạ đó phải tuyệt đối tuân theo, người nào tử trận một cách can đảm sẽ được vẻ
vang. Trái lại ai vì sợ chết mà bỏ trốn sẽ bị sỉ nhục. Bởi vậy ta cho phép xử tử
tức thì những kẻ trốn bổn phận cũng như những kẻ cho địch có thì giờ dưỡng sức
lại và tấn công vì hèn nhát hay vì chậm chạp; sau rồi các tướng lãnh phải báo
cáo hành động của họ trong trường hợp đó.
Khi
chiến tranh chấm dứt và khi quân đội trở về kinh đô và được trả lại cho chính
quyền, không một quan chỉ huy nào được tự tiện xử tử một người ngang quyền hay
ngang chức và ai mà vi phạm luật này sẽ không có hi vọng được khoan hồng.
Mỗi
lần xảy ra chuyện gì liên quan đến quốc gia hay công ích, mọi người đều phải
lưu ý ngay đến việc đó kẻo một sự chậm trễ nhỏ nhặt cũng có thể gây trở ngại
cho công việc. Thời bình, sự mau lẹ đó cũng cần thiết rồi, huống chi tại Bắc Kỳ
nơi cuộc chiến càng ngày càng ác liệt, một cuộc chiến mà các ông phải coi như
việc trọng yếu bởi vì mỗi giây phút có thể mang lại nhiều thay đổi bất ngờ liên
tiếp theo nhau như gió, chớp hay như hơi và những biến chuyển đó lúc thì thuận,
lúc thì nghịch thành thử không thể căn cứ trên cái gì chắc chắn được. Bởi vậy mỗi
khi nhu cầu quốc gia hay tình hình chiến tranh bắt phải họp để thảo luận về những
việc phải làm và mỗi khi ngày giờ họp được ấn định, các quan văn võ sẽ phải họp
ngay lập tức vào ngày giờ đó để bàn bạc và quyết định với nhau. Nếu bất đồ có
người vì sơ xuất mà quên tới nơi họp đúng giờ, ta cho phép Tư Mã và Đại Đô Đốc
phạt họ tuỳ theo lỗi nặng hay nhẹ.
Nếu
mỗi khi thuộc hạ quan chỉ huy chi đội hay thuộc hạ của ông đi đuổi bắt kẻ gian,
đáng lẽ bảo vệ và che chở dân vô tội và hiền lành họ lại cưỡng đoạt của cải của
dân chúng đáng thương sẽ đau khổ và thất vọng, vì họ phải chịu nhiều tai vạ hơn
dưới thời ác quỉ Nhậm hay Tiết chế. Họ cư xử như vậy thì làm sao dân chúng yên
lành được? Và làm sao gọi hành động đó là giải phóng dân chúng khỏi áp bức và
làm sao phạt thủ phạm cho được? Vậy ta ra lệnh cho các sĩ quan phải công bố
trong trung đội hay binh đoàn mình điều nghiêm cấm, không được lấy bất cứ vật
gì của dân dù là một ngọn cỏ, như ta không ngớt tuyên cáo trước đây. Các sĩ
quan sẽ chắc chắn làm vừa lòng ta và đúng theo tình ý ta nếu hết sức thi hành
điều nghiêm cấm đó. Ai cư xử như vậy có thể tin rằng sau khi chia sẻ cùng ta những
nỗi khổ nhọc và những mối hiểm nghèo của thời chiến này, họ cũng sẽ chia sẻ
thanh danh và hưởng thú vui thời bình cùng ta. Vả lại nữa, không ai có quyền dựa
vào sự vắng mặt hay sự xa cách của ta để phiền nhiễu cướp bóc dân chúng và uy
hiếp đàn bà con gái. Chỉ khi nào ngưng và dẹp được những bạo hành đó, họ mới có
thể tự phụ giữ nổi chức vụ và bảo đảm an ninh cho cá nhân và gia đình họ, bằng
không, đừng mong gì ta dung thứ họ.
Đó
là những điều ta muốn các ngươi phải biết.
Ngày
3 tháng Mười [âm lịch] năm Thái Đức (Tiếm vương Nhạc) thứ 11.
BỘ BINH
Theo
những bức thư của các giáo sĩ đạo Thiên Chúa đã chứng kiến thì những đội quân của
Nguyễn Huệ được tuyển mộ rất gấp rút. Hồi năm trước, “Giáo sĩ Le
Roy đã tả đạo quân Quang Trung bao gồm cả người già lão, trẻ con trông giống một
toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một đoàn chiến binh”. Một lá thư khác của giáo sĩ Longer
(13-5-1787) thì viết là “Người bạn đồng sự trẻ của chúng tôi bắt buộc phải chạy
bởi vì người ta bắt tất cả mọi người phải đi đánh nhau từ 15 tuổi trở lên. Những
người già, đàn bà góa, và con gái cũng bắt đi sửa cầu, đường sá” . Không những
thế ngay cả sư sãi cũng phải tòng quân và việc kiểm tra nhân số cũng rất nghiêm
nhặt. Theo thư của La Bartette gửi cho Blandin ngày 25 tháng 6 năm 1786 thì:
Họ
đã phá hủy tất cả những giáo đường đẹp nhất ở đây, họ cũng phá hủy tất cả chùa
chiền và bắt tất cả những nhà sư cầm vũ khí để ra trận.
Do
đó dẫu Nguyễn Huệ có thể tập trung được một số lượng binh sĩ đông đảo trong một
thời gian ngắn ngủi nhưng hiển nhiên chỉ là một đoàn quân ô hợp. Vả lại việc tận
dụng nhân lực như thế chắc chắn không thể biến họ thành một đoàn quân thiện chiến
vì nhân số không chưa đủ mà đoàn quân còn nhiều vấn đề khác như huấn luyện,
trang bị, y phục, thực phẩm, thuốc men ... nếu chỉ trông cậy vào dân chúng địa
phương thì không thể nào cung ứng nổi. Ngoài ra trong nhiều năm chinh chiến
liên miên, bao nhiêu trai tráng đã bị hết bên này đến bên kia bắt đi lính cả rồi,
thành phần còn sót lại chắc chẳng được bao nhiêu. Mặc dù việc tận dụng nhân lực
đưa vào quân ngũ vốn là thói thường của Nam Hà, chúng ta có thể ngờ rằng những
dữ kiện mà nhiều người nhìn thấy - kể cả các tài liệu chép trong chính sử nước
ta - chưa hẳn đã là sự thực hoặc nếu đúng như thế thì chỉ là hình ảnh mà Nguyễn
Huệ muốn mọi người nhìn thấy chứ thực lực của ông không phải như vậy. Đó là một
hình thức nghi binh để ông có thể mở một cuộc tấn công bất ngờ bằng những lực
lượng tinh nhuệ theo đường rừng và đường biển mà địch không hay biết.
Những
toán quân xung hãm này phần lớn là thân binh của Nguyễn Huệ, gồm người Thượng
và người Hoa, đánh cảm tử, lớp này chết, lớp khác xông lên. Nguyễn Huệ luôn
luôn có lối đánh “biển người” như thế ở khắp mọi mặt trận, kể cả khi
đem quân tấn công Nguyễn Nhạc ở Qui Nhơn. Chính vì thế ông thường bắt tất cả
già trẻ lớn bé ra trận, có khi cả thành phần “vị cập cách” nghĩa là “trẻ con”. Với quan
điểm phải giành chiến thắng bằng bất cứ giá nào, Nguyễn Huệ không ngần ngại đốt
phá, tàn sát nếu gặp chống cự, để tiêu diệt cũng có mà thị uy cũng có. Nắm vững
quan điểm kỷ luật là sức mạnh của quân đội, ông hết sức gắt gao trong việc điều
quân và nổi tiếng là nghiêm minh.
THƯỢNG BINH
Khu
vực Đông Nam Á vào cuối thế kỷ 18 không phải là những quốc gia có lãnh thổ hành
chánh rõ rệt được qui định theo công pháp mà là những khu vực ảnh hưởng của từng
dòng họ, khi mạnh thì bành trướng, khi yếu thì co cụm. Nằm giữa những khu vực đồng
bằng dọc theo duyên hải nước ta và Xiêm La là một khu vực rừng núi rộng lớn,
trong đó những dân tộc cao nguyên sống rải rác, du canh. Bên cạnh sinh hoạt của
từng bộ lạc, khu vực này còn có một hệ thống sơn lộ chằng chịt mà chỉ dân bản xứ
mới am tường. Nhiều đoàn thương nhân (caravan) đã sử dụng hệ thống giao thông
này để đi buôn tới tận Miến Điện, Xiêm La và Nam Trung Hoa khiến cho sản phẩm từ
vùng này có thể đem tới vùng khác. Những thương nhân đó rất đa dạng bao gồm người
Trung Hoa, người Thái, người Shan (?), người Bhamo (ở Miến Điện).
Mạng lưới buôn bán này quả là phức tạp hơn chúng ta tưởng. Chính anh em Nguyễn Nhạc cũng là những đầu nậu trong những đoàn buôn này, thông thạo đường sá, phong tục của vùng Tây nguyên và sử dụng nhiều kinh nghiệm bản thân vào những trận đánh về sau. Những toán thương nhân đó cũng quen thuộc với những loại bùa chú, thuốc men, chất kích thích mà dân tộc thiểu số thường dùng để chữa bệnh.
Mạng lưới buôn bán này quả là phức tạp hơn chúng ta tưởng. Chính anh em Nguyễn Nhạc cũng là những đầu nậu trong những đoàn buôn này, thông thạo đường sá, phong tục của vùng Tây nguyên và sử dụng nhiều kinh nghiệm bản thân vào những trận đánh về sau. Những toán thương nhân đó cũng quen thuộc với những loại bùa chú, thuốc men, chất kích thích mà dân tộc thiểu số thường dùng để chữa bệnh.
Sử
sách chép không đầy đủ nhưng nhà Tây Sơn chắc chắn sử dụng một lực lượng lớn những
đồng bào thiểu số, không phải chỉ trong vùng Qui Nhơn mà gần như toàn cõi Tây
Nguyên, kể cả Nam Lào và bắc Campuchia ngày nay . Căn cứ khởi nghĩa của họ nằm ở
An Khê, thời đó gọi là đèo Mang (có nghĩa là cổng theo tiếng Bahnar). Vùng đất ở
phía đông đèo Mang gọi là Tây Sơn hạ đạo, còn vùng phía tây trở lên chen lẫn rừng
rậm núi cao gọi là Tây Sơn thượng đạo, một khu vực rộng đến hơn 1500 km2 và trở
thành một căn cứ an toàn cho lực lượng ban đầu từ 1771 đến 1773. Khi làm chủ
luôn cả miền Bắc, ảnh hưởng của Nguyễn Huệ bao trùm luôn cả vùng Thượng Lào và
đã nhiều lần đem quân tiêu diệt các dư đảng của nhà Lê tại nơi đây.
Con
đường mòn này không chỉ là một trục lộ giao thông mà đối với anh em Tây Sơn, cả
một khu vực phía Tây là một địa bàn chiến lược với những sắc dân người Thượng
và hàng trăm, hàng ngàn con voi, lưu động tới những khu vực cần thiết. Cũng
chính trục lộ này Chế Bồng Nga đã nhiều lần đem quân sang bên Lào vòng xuống Quảng
Oai đánh úp Thăng Long.
TƯỢNG BINH
Một
trong những binh đội quan trọng nhất của nhà Tây Sơn nói riêng và của Đàng
Trong nói chung là tượng binh. Miền nam có nhiều voi nhưng người Việt không biết
cách huấn luyện nên các vua chúa thường phải mua của lân bang hay đòi các thuộc
quốc tiến cống. Giáo sĩ Cristophoro Borri đã viết như sau:
Có
rất nhiều voi trong xứ Đàng Trong, nhưng họ không dùng được vì chưa biết cách bắt
và huấn luyện. Vì thế phải đưa những con đã thuần thục và biết khuôn phép từ
Campuchia là một nước láng diềng. Voi ở đây lớn gấp hai voi ở Ấn độ. Chân và vết
chân nó để lại đo chừng một piê rưỡi đường kính. Răng thò ra từ miệng gọi là
ngà voi thì thường dài tới mười bốn piê, đó là voi đực. Còn voi cái thì ngắn
hơn nhiều. Vì thế người ta dễ nhận thấy voi ở xứ Đàng Trong to lớn hơn những
voi người ta vẫn dẫn đi diễu ở Âu châu: ngà chưa được hai piê rưỡi.
Vào
thế kỷ 17, 18 khu vực rừng núi bao gồm miền bắc Campuchia, Nam Lào và miền
trung nước ta còn nhiều loại voi lớn không như giống voi cỏ là loại voi nhỏ hiện
nay ta thường thấy. Chính đó là những con voi được huấn luyện dùng trong tượng
binh mà người ta miêu tả là mang cả đại bác.
Khi
có chiến tranh và trận mạc thì người ta nhấc mui (trên) bành đi để thành một thứ
chòi chở lính giao chiến với nỏ, với súng và có khi với khẩu đại bác: voi không
thiếu sức để mang nổi và là con vật rất khoẻ, nếu không có gì khác. Chính tôi
(tức giáo sĩ Borri) đã thấy một con dùng vòi chuyên chở những vật rất nặng, một
con khác chuyển một khẩu súng lớn và một con nữa một mình kéo tới mười chiếc
thuyền, chiếc nọ theo sau chiếc kia, giữa đôi ngà một cách rất khéo và đưa xuống
biển ...
Voi
dùng trong chiến đấu cũng khác hẳn những con voi được thuần hoá để dùng trong
các đoàn lưu diễn hay trong lễ lạc và cũng không giống như một gia súc mà nhiều
dân tộc dùng trong công việc hàng ngày. Nhiều khi người ta chỉ cần so sánh đội
tượng binh của một quốc gia cũng đủ đánh giá sức mạnh quân sự của nước ấy và
đoàn voi trận thường được dùng như một cách phô trương trong các buổi tiếp sứ
thần nước ngoài. Những con voi trận có khi còn được mặc giáp bằng da hay kim loại
và theo Maurice Collis, một người chuyên môn huấn luyện voi, thì “đây là những
con vật được đào tạo để hung dữ theo lệnh lạc, sử dụng như một mũi xung kích
trong chiến đấu và cũng là một sát thủ giết người bằng cách tung lên, dày đạp,
xé nát (đối phương) một cách thích thú như trẻ con.
Tôn
Sĩ Nghị cũng biết tiếng voi trận của Nguyễn Huệ nên khi đưa ra 8 điều quân luật,
y đã học theo phép đánh của người xưa để chống lại tượng binh:
...
Điều thứ 4: Người Nam khi ra trận hay dùng voi. Voi không phải là món người
Thanh quen thạo, hễ gặp voi thường cứ chạy đi trước. Nhưng nào có biết sức voi
dẫu lớn, chung qui vẫn là con vật có huyết khí, không thể đương nổi với đồ dẫn
hỏa của ta. Vậy hễ thấy voi ra trận nếu xa thì bắn bằng súng, nếu gần thì trị bằng
dao và cung khiến voi bị thương, đau phải chạy quay lại, rồi tự giày đạp lẫn
nhau. Quân ta (Thanh) thừa cơ ấy mà tấn công, tất thắng không còn phải ngờ nữa
Thực
ra quân Thanh cũng có khá nhiều kinh nghiệm với việc chống lại voi chiến vì
vùng Vân Nam cũng có voi và trong lịch sử họ cũng đã có khi điều động tượng
binh. Ngay từ thời trung cổ, quân Nguyên cũng đã hai lần đụng độ với voi của Đại
Việt và của Pagan (Miến). Tuy lúc đầu quân Mông Cổ có hoảng hốt nhưng khi họ
rút vào rừng thì cung liên hợp (composite bow) của họ lợi thế hơn nên voi bị
thương quay ngược lại. Quân Nguyên dùng tên lửa và vũ khí nhọn đánh bại đoàn
voi của nhà Trần năm 1257 rồi sau đó quân Minh cũng đã đánh thắng 15 vạn quân
Maw Shan và 100 con voi bằng súng và hoả tiễn.
Trong
cuộc chiến tranh với Miến Điện trước khi sang nước ta không lâu, quân Thanh đã
học tập khá nhiều và Tôn Sĩ Nghị cũng từng đi theo đoàn quân viễn chinh nên
không xa lạ gì với voi chiến. Đối với binh sĩ chưa từng trông thấy con vật khổng
lồ này, việc kinh hoàng là điều đương nhiên, nhất là nhiều khi người ta đồn đãi
những điều quá sự thật.
THUỶ BINH
Khi
người Việt còn định cư tại miền Bắc, kỹ thuật đi biển của ta chưa có gì khởi sắc
mặc dù đã nói đến biển cả từ những truyền kỳ thời Hùng Vương. Hai trận đại thắng
của Ngô Quyền và của Trần Quốc Tuấn đều xảy ra trên sông, nơi giáp giới với biển
chứ không phải ở ngoài khơi. Mãi tới đời nhà Hồ, con trưởng của Hồ Quí Ly là Hồ
Nguyên Trừng mới bắt đầu đóng những chiến thuyền loại lớn. Với thói quen sống
biệt lập thành từng làng xã, sinh hoạt kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị của
dân miền Bắc thu hẹp trong một không gian nhỏ. Mỗi làng là một đơn vị tự túc về
mọi mặt mà không cần phải giao tiếp với khu vực khác.
Trái
lại các vương quốc ở Đàng Trong đã có những quá khứ rất oai hùng liên quan đến
mặt biển, một phần vì truyền thống học hỏi của các nước ở vùng Đông Nam và Nam
Á, phần khác vị trí địa lý là bao lơn trông ra đại dương, nơi qua lại của một hải
lộ đã nổi danh là Con Đường Gia Vị (Spice Route) ngay từ thời thượng cổ.
Về
kỹ thuật, người Chiêm Thành đã biết dùng thuyền nhẹ dàn thành thế trận tấn công
những tàu buôn từ lâu. Người Chăm có một đội hải thuyền hùng hậu và những thủy
thủ can trường thường liều mạng xông xáo trên biển cả để buôn bán và chiến đấu.
Kiểu mẫu tàu chiến của người Chăm có hình dáng tương tự như của thuyền vùng Nam Dương mà hiện nay chúng ta còn thấy dấu vết để lại nơi các thuyền trạm trổ mỹ thuật của người Thái Lan trong những cuộc đua thuyền. Theo những hình ảnh mà người Âu Châu vẽ lại về chiến thuyền của Đàng Trong, đó là một loại thuyền chèo tay, mũi ngẩng cao, trạm trổ và trang trí hoa văn kỳ dị, thân thon và dài đủ biết có thể lướt sóng với tốc độ cao. Để gia tăng sức chịu đựng khi đụng vào nhau, mũi thuyền dùng trong chiến đấu thường ghép thêm những thanh gỗ chéo vẫn còn thấy ở các thuyền nơi cửa sông vùng Quảng Đông.
Kiểu mẫu tàu chiến của người Chăm có hình dáng tương tự như của thuyền vùng Nam Dương mà hiện nay chúng ta còn thấy dấu vết để lại nơi các thuyền trạm trổ mỹ thuật của người Thái Lan trong những cuộc đua thuyền. Theo những hình ảnh mà người Âu Châu vẽ lại về chiến thuyền của Đàng Trong, đó là một loại thuyền chèo tay, mũi ngẩng cao, trạm trổ và trang trí hoa văn kỳ dị, thân thon và dài đủ biết có thể lướt sóng với tốc độ cao. Để gia tăng sức chịu đựng khi đụng vào nhau, mũi thuyền dùng trong chiến đấu thường ghép thêm những thanh gỗ chéo vẫn còn thấy ở các thuyền nơi cửa sông vùng Quảng Đông.
Những
chiến thuyền đó không chở được nhiều nhưng hiệu quả khi tấn công bất ngờ những
thương thuyền hay tàu lớn trong đêm tối, chiến thuật quen thuộc với người Chiêm
Thành từ lâu mà Nguyễn Huệ thường sử dụng. Tuy không có những tài liệu nào miêu
tả chính xác các kiểu thuyền của Tây Sơn, chúng ta có thể tin rằng chiến thuyền
vào thế kỷ 18 ở Đàng Trong cũng tương tự, khác nhau họa chăng là số lượng, chiến
thuật hay cách điều động mà thôi.
Do
ảnh hưởng của văn minh hải đảo Malaysian, thủy thủ vùng Đông Nam Á nói chung và
thủy thủy người Chiêm Thành nói riêng có thể ra khỏi bờ bể hàng ngàn dặm chẳng
cần hải bàn hay hải đồ, chỉ dựa theo màu sắc của những đám mây, màu nước biển
và độ sóng, giương buồm nương theo sức gió và nhìn sao để lấy hướng. Chỉ cần
tìm hiểu các loài chim biển và rong biển họ gặp, người Chăm có thể nhận biết những
hòn đảo còn cách xa đến 30 dặm và kiến thức về biển cả được truyền miệng từ đời
này sang đời khác theo kiểu cha truyền con nối. Phương thức và kỹ thuật đóng
thuyền của họ cũng rất độc đáo và người Việt chúng ta đã kế thừa khá nhiều truyền
thống của họ. Những con số chúng ta còn ghi nhận được cho thấy tốc độ đóng thuyền
rất đáng kể cho thấy vào thời kỳ này miền Nam Việt Nam có những phát triển kỹ
thuật mà nhiều điều đến nay vẫn chưa khám phá hết.
Những
thuyền đó khác hẳn những thuyền buôn hay tàu chiến của người Trung Hoa (junks),
trông nặng nề, thô kệch, tuy trang bị nhiều đại pháo hơn nhưng thiếu linh động,
khó xoay trở. Cũng như người Chiêm Thành, Nguyễn Huệ rất chú trọng đến chiến
thuyền và cũng có hai loại: thuyền lớn để chở quân, lương thực, vật liệu và tàu
nhỏ nhẹ và linh động đùng để bao vây, tấn công và xung kích. Đội chiến thuyền
đó rất đông, ít ra cũng vài trăm, có khi lên hàng ngàn. Đó cũng là lý do tại
sao thủy quân thời Tây Sơn có một vị trí đáng kể, phù hợp với những gì sử sách
đã cho ta biết, Nguyễn Huệ luôn luôn dùng binh thần tốc, bất ngờ, áp đảo và tiến
đánh cũng như rút lui rất nhanh.
Trong
nhiều thế kỷ tuy nạn cướp biển có hoành hành nhưng cũng không trở thành một lực
lượng đáng kể vì thiếu một căn cứ địa để trốn tránh khi bị săn đuổi. Thế nhưng
đến cuối thế kỷ thứ 18, Nguyễn Huệ đã nhìn ra được tiềm năng và vai trò của họ
nên đã thu dụng và trở thành một vị thủ lãnh tập hợp được nhiều nhóm khác nhau,
phân chia mỗi nhóm một lãnh bàn hoạt động, chỉ đạo các chiến dịch và cho họ nơi
trú ẩn. Robert J. Antony đã nhận ra rằng ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, cướp
biển đã tập họp thành một vài nhóm, có đến hàng ngàn chiến thuyền, tổng cộng đến
hơn 7 vạn người. Dian Murray cũng tường thuật khá chi tiết về những thủ lãnh mà
Nguyễn Huệ chiêu dụ được căn cứ trên những tấu triệp của nhà Thanh (văn thư các
quan tâu về triều) còn giữ trong Quân Cơ Xứ. Những tên tuổi của họ giải thích được
phần nào một số “đô đốc” chỉ có tên mà không có họ trong danh sách các tướng
lãnh:
...
Đối với đám hải khấu lẻ tẻ vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang và Giang Tô,
Nguyễn Văn Huệ được gọi là Đại Ca Việt Nam, là người bán những đồ họ cướp được
và chia cho họ từ 20 đến 40% số tiền. Những bọn cướp lớn cũng được Hoàng đế che
chở vì họ không những được phép neo thuyền tại vùng biên giới (Trung Hoa và Đại
Việt) để tuyển quân và trộm lương thực mà còn có thể dùng Việt Nam như một “sào huyệt” để rút về.
Bọn hải khấu đó coi nhà vua như chủ nhân của họ vì dưới thẩm quyền của ông họ
có thể thu hoạch nhiều nguồn lợi từ biển cả.
Ngay
từ những ngày đầu đầu anh em Nguyễn Nhạc đã đặc biệt chú trọng đến vai trò của
thủy quân, một phần cũng vì bản chất của dân địa phương sống liền với bể cả, một
phần vì vào thế kỷ thứ 18 việc phát triển đường biển đang lên đến cao độ. Họ đã
sử dụng một số lớn thương nhân Hoa kiều - kiêm nghề cướp biển - mà chính sử Việt
Nam còn ghi chép. Đó là Tập Đình (??) và Lý Tài (??) gia nhập quân Tây Sơn vào
khoảng cuối năm 1773. Hai người này chiêu mộ một số người Hoa tổ chức thành
Trung Nghĩa Quân và Hoà Nghĩa Quân. Hai đạo quân này rất dữ tợn, sử nhà Nguyễn
chép là:
...
Lại lấy người thổ trước cao lớn, cạo đầu dóc tóc, lẫn lộn với người Thanh. Lúc
đánh thì cho uống rượu say, cởi trần, đeo giấy vàng giấy bạc vào cổ, để tỏ ý là
tất chết; thường làm quân tiền xung, quan quân không thể chống được ...
Một
trong những danh tướng của Nguyễn Huệ xuất thân cướp biển là Trần Thiêm Bảo.
Theo tài liệu Dian Murray trích từ tấu triệp trong Quân Cơ Xứ của nhà Thanh thì
Trần làm nghề đánh cá ở vùng Liêm Châu, Quảng Đông cùng với vợ và hai con trai.
Tháng 10 năm 1780, thuyền của y bị bão thổi dạt xuống phương Nam nên cư ngụ
luôn tại đó sinh hoạt khu vực gần Thăng Long. Năm 1783, gia đình y đầu nhập Tây
Sơn, được phong chức tổng binh và tham gia cuộc hành quân chống lại họ Trịnh.
Theo lời khai của Trần Thiêm Bảo thì y được người tài công cũ là Lương Quí Hưng tiến dẫn và cả hai cùng tham gia trận đánh chiếm Thuận Hoá năm 1785. Lương Quí Hưng được phong tước Hiệp Đức Hầu và được ban một quả ấn khắc “súc hữu đầu phát nghĩa là được quyền để tóc dài.
Theo lời khai của Trần Thiêm Bảo thì y được người tài công cũ là Lương Quí Hưng tiến dẫn và cả hai cùng tham gia trận đánh chiếm Thuận Hoá năm 1785. Lương Quí Hưng được phong tước Hiệp Đức Hầu và được ban một quả ấn khắc “súc hữu đầu phát nghĩa là được quyền để tóc dài.
Trong
những năm sau đó, khi Nguyễn Huệ ở vào thế lưỡng đầu thọ địch, ông càng gấp rút
tiến hành tổ chức quân đội kể cả việc dùng tiền để mua chuộc các nhóm hải phỉ.
Trần Thiêm Bảo lập được nhiều công lao nên được thăng lên một vị trí quan trọng,
đứng đầu mọi nhóm cướp biển khác. Theo tài liệu của Thanh triều, Trần được
phong làm Tổng Binh Bảo Đức Hầu, dưới tay có đến sáu chiến thuyền, chỉ huy một
đạo quân trong đó có 200 quân người Việt. Chỉ trong mấy tháng, Tổng Binh Bảo đã
chiêu tập được tất cả các nhóm hoạt động trong vùng biển đông và vịnh Bắc Việt,
xây dựng cho Nguyễn Huệ một lực lượng thuỷ binh đáng kể. Trong số các thủ lãnh,
kiệt hiệt nhất có hai người là Lương Văn Canh và Phàn Văn Tài. Lương Văn Canh gốc
là ngư phủ ở Tân Hội, bị cướp biển bắt hồi 1786 rồi gia nhập bọn họ, khi về đầu
quân được Trần Thiêm Bảo phong cho làm thiên tổng (lieutenant). Phàn Văn Tài gốc
ngư phủ ở Lục Thuỷ, Quảng Đông, cũng theo nghề cướp biển từ năm 1786, được
phong chức chỉ huy (commander).
Đến
năm 1788, Nguyễn Huệ đã dứt tình với Nguyễn Nhạc ở phương Nam lại bị áp lực từ
phương Bắc khi nhà Thanh chuẩn bị đem quân sang đánh, ông càng gấp rút tổ chức
thuỷ quân để đối phó với tình hình ngày càng quyết liệt. Tổng binh Bảo được cấp
thêm 16 đại thuyền nữa và phương tiện để tuyển mộ thêm quân. Nhờ thế, Trần
Thiêm Bảo chiêu dụ được hai đám giặc do Mạc Quan Phù và Trịnh Thất đứng đầu.
Mạc Quan Phù người Toại Khê , bị bắt cóc trong khi đi đẵn gỗ, gia nhập cướp biển năm 1787. Năm 1788, y liên kết với Trịnh Thất và cả hai được Trần Thiêm Bảo chiêu mộ, phong cho làm tướng quân. Trần Thiêm Bảo có nhắc đến hai người “ra biển chiến đấu nhiều lần, khi trở về Việt Nam có đem biếu lụa là, vải vóc và tiền bạc ngoại quốc”. Những chức vụ của một số cấp chỉ huy cho ta thấy họ không phải chỉ có danh hiệu hàm mà thực sự đóng một vai trò trong tổ chức quân sự của vua Quang Trung. Nhà Nguyễn sau này cố gán cho họ cái tên cướp biển không ngoài mục đích hạ thấp sự chính thống của nhà Tây Sơn chỉ cốt để thay thế họ làm phiên thuộc của Trung Hoa.
Mạc Quan Phù người Toại Khê , bị bắt cóc trong khi đi đẵn gỗ, gia nhập cướp biển năm 1787. Năm 1788, y liên kết với Trịnh Thất và cả hai được Trần Thiêm Bảo chiêu mộ, phong cho làm tướng quân. Trần Thiêm Bảo có nhắc đến hai người “ra biển chiến đấu nhiều lần, khi trở về Việt Nam có đem biếu lụa là, vải vóc và tiền bạc ngoại quốc”. Những chức vụ của một số cấp chỉ huy cho ta thấy họ không phải chỉ có danh hiệu hàm mà thực sự đóng một vai trò trong tổ chức quân sự của vua Quang Trung. Nhà Nguyễn sau này cố gán cho họ cái tên cướp biển không ngoài mục đích hạ thấp sự chính thống của nhà Tây Sơn chỉ cốt để thay thế họ làm phiên thuộc của Trung Hoa.
VŨ KHÍ
Theo
sách sử còn ghi chép, ngoài những loại võ khí thông dụng như kiếm kích, cung nỏ,
gươm đao, quân Tây Sơn có nhiều loại súng ống bao gồm cả súng đại bác và súng
điểu thương (súng chim). Súng đại bác được dùng để phòng thủ, nếu đưa ra trận
thì dùng voi kéo hay chở. Việc chở súng trên lưng voi và đội hình dùng voi xung
phong không phải là sáng kiến của Nguyễn Huệ mà là một truyền thống khá lâu đời
ở khắp vùng Đông Nam Á. Trong những trận đánh của Xiêm La và Miến Điện chúng ta
cũng thấy họ sử dụng chiến thuật này. Không nói gì về sau khi họ đã trở thành một
lực lượng đáng kể, ngay từ những ngày đầu còn ở tại căn cứ nơi núi rừng, họ
cũng đã có súng. Trong một lá thư của giáo sĩ Diégo de Jumilla viết 15 tháng 2
năm 1774 cũng kể lại là khoảng đầu tháng 4 năm 1773 ông ta đã thấy những người
lính Tây Sơn xuống chợ “kẻ đeo gươm, người mang cung tên, lại có người mang
súng”.
Một
trong những câu hỏi lớn mà nhiều sử gia tránh né không muốn đề cập đến là võ
khí vẫn được của quân Tây Sơn gọi là “hỏa hổ” thực sự đó là gì.
...
Về hỏa lực, Quang Trung có khí giới lợi hại nhất là ống phun lửa tục gọi là hổ
lửa và lực lượng xung kích lợi hại nhất là voi trận. … Họ chỉ dùng
các ống phóng làm lợi khí. Thứ lợi khí ấy cũng gọi là hổ lửa. Trong khi hai bên
giáp nhau, trước hết họ dùng vật ấy đốt cháy quần áo người ta để cho người ta
phải lui.
Nhiều
người khẳng định rằng đây là một loại súng phun lửa. Thực ra, muốn phun được lửa
người ta phải có những loại chất lỏng hoặc hơi có độ bắt lửa cao (chẳng hạn như
xăng hay dầu ngày nay) và sức ép mạnh để tống nhiên liệu về phía trước.
Vào thế kỷ thứ 18 chúng ta chưa có loại chất lỏng nào có đủ những điều kiện đó. Vả lại dẫu có súng phun lửa, với sức người thì cũng không thể nào phun được xa, chưa tới gần địch e rằng đã bị súng và cung nỏ của họ tiêu diệt trước. Hai tác giả Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng thì lại giải thích rằng hỏa hổ chính là đuốc mà quân Tây Sơn chế tạo ra từ những ngày đầu tiên.
Vào thế kỷ thứ 18 chúng ta chưa có loại chất lỏng nào có đủ những điều kiện đó. Vả lại dẫu có súng phun lửa, với sức người thì cũng không thể nào phun được xa, chưa tới gần địch e rằng đã bị súng và cung nỏ của họ tiêu diệt trước. Hai tác giả Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng thì lại giải thích rằng hỏa hổ chính là đuốc mà quân Tây Sơn chế tạo ra từ những ngày đầu tiên.
Thế
nhưng ngay từ nhiều thế kỷ trước, những đám hải khấu đã biết dùng một loại bom
làm bằng bình đất nung, miệng hẹp trong chứa thuốc súng và miểng, ném ra như một
loại lựu đạn chế tạo giản dị. Loại bom này gần đây đã được tìm thấy nơi biển
Đài Loan do quân của Trịnh Thành Công sử dụng khi tấn công quân Hòa Lan. Dian
Murray cũng đề cập đến việc hải phỉ dùng những loại miểng vụn của nồi sắt hay
đinh, có khi còn dùng tiền đồng hay các loại bình chứa. Họ cũng hay đánh hỏa
công bằng thuyền chất đầy đồ dẫn hỏa xông thẳng vào địch hoặc ném những loại
pháo bằng ống tre để đánh gãy cột buồm.
Một
loại võ khí đặc biệt khác cũng có tác dụng tương tự mà đám giặc biển cũng thường
dùng là những bình đất nung chứa thuốc súng trộn rượu mạnh. Diêm sinh được chứa
vào nắp bình, treo sẵn, khi xáp trận sẽ ném lên sàn tàu địch, bình sẽ vỡ và bén
lửa. Ngoài ra chúng ta không thể không nhắc đến một loại hỏa tiễn hình đầu quạ,
thân bằng tre có nhồi thuốc súng. Bốn ống phun ở đuôi có thể đẩy loại tên lửa
này bay xa đến 300 mét và thường được dùng để đốt phá doanh trại hay tàu bè của
đối phương đã khá phổ biến và thông dụng từ trước thế kỷ 17.
Những
loại đạn phóng như thế cũng đã được quân Mông Cổ dùng trong những cuộc tấn kích
Nhật Bản và các quốc gia vùng Đông Nam Á mà sử sách còn ghi chép. Việc sử dụng
thuốc súng vào trong những loại súng phóng tay (hand-held projectile weaponry)
đã được dùng khá rộng rãi trên bộ cũng như trên biển vào thời kỳ đó nhưng cụ thể
loại võ khí đó ra sao thì chưa thấy ai đề cập đến. Tài liệu duy nhất miêu tả sơ
qua chỉ được thấy trong tờ biểu của Nguyễn Huy Túc như sau:
Tháng
6 năm thứ 51 (tức năm Bính Ngọ 1786) Nguyễn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ công thành,
nghe nói có đến hơn 5 vạn quân, khí giới của chúng phần lớn là giáo mác và hỏa
đồng, còn có tên là hoả hổ, có bầu (nguyên văn doanh bả) lớn, dài chừng một thước
(khoảng 30 cm), khi lâm trận phun lửa, trong ống tống nhựa thông ra, trúng phải
đâu, lập tức bốc cháy, có cả hoả pháo nhưng không nhiều …
Xem
như thế, rất có thể quân lính của Nguyễn Huệ đã sử dụng một loại súng phóng loại
này để tấn công và đốt cháy đồn quân địch dưới cái tên “hỏa hổ”.
Một
giả thuyết khác mà chúng tôi đưa ra là ở vào thời kỳ này người ta đã biết chế tạo
một loại hỏa tiễn đốt theo hai giai đoạn (two-stage rocket) gọi là “hỏa long”
(fire-dragon). Con rồng lửa là một loại ống phóng có bốn hỏa tiễn ở thân chính,
khi cháy hết sẽ mồi vào những tên lửa ở trong bụng rồng và những tên lửa đó sẽ
được bắn vọt ra đằng miệng. Hỏa long được sử dụng trong những trận hải chiến mà
hai bên còn cách xa, các bình thuốc nổ ném chưa tới, dùng để đốt tàu địch. Vì
chưng hỏa tiễn bắn ra hàng loạt trông như một con rồng lửa bay trên mặt nước
nên được đặt tên là hỏa long. Có thể cũng loại võ khí này được cải tiến đôi
chút để sử dụng trên bộ nên được đặt tên là hỏa hổ để tượng trưng cho một loại
trên bờ, một loại dưới nước nhưng thực chất chỉ là một. Vả lại hỏa long, hỏa hổ
chủ yếu đều dùng tre, nứa làm ống chứa thuốc mà tre trúc là một loại thảo mộc rất
thông dụng ở phương nam nên việc quân Tây Sơn sử dụng các loại võ khí này cũng
không phải là chuyện lạ. Có thể nói, nguyên thủy võ khí đó do người Trung Hoa
nghĩ ra nhưng lại được dùng như một thứ võ khí chiến lược của quân Nam để chống
lại phương Bắc. Có lẽ vì thế mà người thời đó đã truyền tụng là:
Hổ tự Tây Sơn xuất
Long tòng Đông Hải lai
(Hỏa hổ phát xuất từ rừng núi phía Tây,
Hỏa long nguồn gốc từ biển cả phía Đông)
Những
loại võ khí đó không phải là một độc quyền hay bí mật quân sự mà bên kia không
biết hay không chế tạo được. Có điều quân Tây Sơn vẫn nổi tiếng là phong phú về
thuốc nổ và họ cũng mua được những loại thuốc súng của người Âu Châu nhạy hơn
và cũng mạnh hơn của quân Thanh nên quân Tây Sơn luôn luôn có uy thế áp đảo
trong những trận đánh. Chiến đấu trong tư thế áp đảo bằng lực lượng cũng như về
vũ khí vốn dĩ là một lối đánh mà vua Quang Trung thường sử dụng.
Riêng
về hỏa cầu (fireball) chúng ta thấy miêu tả tương tự như các loại bom đạn thời
nay nhưng thời kỳ đó kỹ thuật quân sự thế giới chưa đạt tới trình độ này nên
tuy có nhiều điểm tương đồng với loại bình đất nung mà hải phỉ thường dùng,
chúng tôi cũng đặt một câu hỏi và cho rằng có thể người ta mới đặt ra để trám
vào một nghi vấn chưa có tài liệu cụ thể minh chứng. Hỏa cầu đã được hải quân
(và cả giặc cướp) dùng từ lâu để phá vỡ tàu địch nhưng chỉ được dùng trên bộ
khi người ta đã chế tạo được những loại thuốc súng tốt, bén lửa nhanh và ít
khói. Kỹ thuật chế tạo thuốc nổ bộc phát ở Âu Châu từ thế kỷ 14, 15 đã truyền
sang Nam Á và được sản xuất khá nhiều trong thời kỳ này.
Cứ
như nhận xét của nhiều người Âu có mặt trên đất nước ta thời đó, trang bị của
quân Việt Nam rất hùng hậu. Trong tình thế mà việc chiến đấu là lẽ sinh tử sống
còn, nhà Tây Sơn cũng như các đối thủ của ông đều cố gắng hết sức bắt liên lạc
với thương nhân và các nhà truyền giáo ngõ hầu có thể mua được các loại vũ khí
mới của họ mặc dầu lắm khi họ không muốn đứng hẳn về một phen nào. Tuy nhiên với
những số tiền lớn bỏ ra và nhiều hình thức cưỡng đoạt khác, quân Tây Sơn cũng
có được nhiều loại võ khí tối tân nhất thời đó, đáng kể là một số lượng lớn các
loại súng điểu thương, hỏa mai và đại bác.
Như
chúng ta đã biết, quân Tây Sơn kế thừa tất cả những kỹ thuật của xứ Đàng Trong,
bao gồm cả chế tạo và sử dụng nhiều loại súng. Theo nhận xét của các giáo sĩ và
thương nhân Âu Tây, trong suốt hai trăm năm phải “giữ miếng” với nhau, cả
Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đầu hết sức canh tân về quân sự. Chúa Trịnh đã được đặt
cho cái biệt danh là “thủy vương” (lord of water) vì có một lực lượng hải
quân khá hùng hậu trong khi Chúa Nguyễn được gọi là “hỏa vương” (lord of
fire) vì quân đội miền nam được trang bị khí giới đầy đủ và tân tiến hơn. Đó
cũng là lý do tại sao Đàng Trong tuy kém thế hơn nhưng vẫn cầm cự được mà không
bị đánh bại.
Ngoài
súng đại bác để bắn từ xa, các loại súng điểu thương và súng tay cũng được sử dụng
rộng rãi. Vào thế kỷ thứ 17, súng điểu thương (flintlock) là loại súng bắt nguồn
từ Âu Châu đã được dùng khắp nơi kể cả Mỹ Châu và Á Châu. Về kỹ thuật, người Việt
ở Đàng Trong cũng nổi tiếng là thiện xạ và thuần thục trong việc sử dụng các loại
súng tay cũng như đại pháo.
Người
Đàng Trong hiện giờ đã hết sức chuyên môn trong việc dùng súng lớn và súng nhỏ
vượt xa cả Âu Châu; vì dường như suốt ngày họ chẳng làm gì khác ngoài việc tập
bắn. Họ giỏi đến nỗi họ có thể dùng súng lớn bắn trúng còn hơn người ta bắn bằng
súng nhỏ. Súng hoả mai họ bắn cũng tài lắm vì ngày nào cũng ra đồng để thực tập.
Một
trong những chi tiết rất quan trọng là vì địa thế chật hẹp, gập ghềnh nên quân
đội của ta thời đó rất ít dùng đại pháo nhưng lại có rất nhiều súng đại bác loại
nhỏ (small cannon). Những khẩu đại bác đó có thể mang trên lưng và bắn một loại
đạn nặng chừng hơn 100 gr (4 ounces). Một người lính “cõng” cái nòng
súng (barrel), dài chừng 2 thước, trong khi một người lính khác mang cái “giá” là một khúc
gỗ tròn dài cũng chừng cái nòng súng. Khi tác xạ, cái giá được dựng lên bằng
hai cái càng hay một cái chạc cao khỏi mặt đất chừng một mét, nòng súng sau đó
để lên trên giá trong một cái ngàm sắt. Người lính có thể điều chỉnh độ nhắm và
kiểm soát bằng một cái báng tì lên trên vai. Các loại súng này rất tiện lợi cho
việc di chuyển và phục kích quân địch.
Quân
Tây Sơn cũng được huấn luyện để tự pha chế lấy thuốc nổ và người Âu châu đã
kinh ngạc vì họ nạp đạn nhanh hơn bất cứ quốc gia nào khác. Trong khi người Anh
phải thực hiện đến 20 động tác cho mỗi lần nạp đạn thì người Việt chỉ cần có 4
động tác.
Súng
thời đó vẫn nạp tiền nghĩa là nạp thuốc và đạn từ đằng trước và thường đúc bằng
đồng cho dễ, ít bị nứt vỡ. Đại bác thời đó đủ cỡ và dài ngắn khác nhau tùy theo
mỗi nước, mỗi thời kỳ. Muốn bắn được xa thì nòng phải dài, việc đợi cho thuốc
cháy hết cũng lâu hơn. Thoạt tiên, những súng trường được gọi dưới các tên
matchlock, arquebus hay musket là những súng cá nhân trang bị cho bộ binh. Những
súng đó dài và nặng nề nhưng về sau nòng súng (barrel) đã có khương tuyến
(grooves) để khi viên đạn bắn ra sẽ xoay tròn và vì thế đi được xa hơn. Đạn là
đạn chì hình tròn, vừa khít với nòng súng, phải nhồi từ trước bằng môït cây
thông nòng (ramrod) và một cái búa gỗ (mallet). Khi viên đạn bắn ra, đạn đạo sẽ
bay thẳng và không bị lệch hướng như đạn súng trường thuở trước.
Súng
trường dài từ 1.5 đến 1.6 mét, hơn chiều cao trung bình của người Việt Nam, có
báng và gỗ đỡ nòng, được trang trí bằng những hoa văn kim loại. Dùng trong chiến
trận, viên đạn có thể đúc nhỏ hơn một chút cho tự động chạy vào trong nòng
súng. Loại súng điểu thương được mồi bằng đá lửa (flint) bằng một cái cần mổ
hình như mỏ gà (pecking hen). Mỏ gà được kéo ngược ra sau bằng tay cho mắc vào
khớp và sẽ giữ tại đó. Khi người lính bóp cò, mỏ gà sẽ bật ra, mổ viên đá vào một
thanh sắt cho xẹt ra tia lửa, đồng thời buồng thuốc súng sẽ mở ra để lửa bén
vào.
Súng
quân lính thời Tây Sơn dùng chính là loại điểu thương này, cộng thêm việc sử dụng
rộng rãi các loại hỏa long, hỏa hổ, các loại bình chứa miểng như một loại bom
sơ khai đã khiến cho họ có nhiều ưu thế về sức mạnh, việc huấn luyện cũng mau
hơn, hiệu năng lại cao hơn lối đánh dùng các loại cung nỏ, gươm giáo. Nói chung
là cả hai bên thời đó đã dùng nhiều loại vũ khí dùng thuốc nổ. Có điều vì thuốc
súng còn sơ khai, nhất là thuốc súng của nhà Thanh bắt lửa kém, nhiều khói nên
họ thường đốt để làm màn khói che cho trận đánh hơn là dùng để tác xạ. Chính vì
thế mà sử sách đã ghi là vua Quang Trung “áo bào đen như mực” vì ám khói.
Chúng
ta không có con số cụ thể bao nhiêu binh sĩ các loại và trang bị như thế nào
nhưng so sánh với những lực lượng đối nghịch, trang bị của quân Tây Sơn chắc hẳn
không kém hơn. Ngoài súng tay và các loại khí giới cổ điển đã dùng từ lâu trên
đất Việt, quân Tây Sơn cũng còn tập trung được khá nhiều súng ống cũ của cả
Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong. Đại bác thì đã được đúc tại Nam Hà từ lâu và ngoài bắc
cũng có phường đúc.
DI HÀNH
Nhiều
huyền thoại đã được thêu dệt và nhiều giả thiết được dùng để giải thích cho hợp
lý lối chuyển quân nhanh chóng và hiệu quả của Nguyễn Huệ. Chính vì quá sùng
bái ông, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cao những chi tiết chỉ ghi lại trong tiểu
thuyết và ngoại sử, sử dụng như một nguồn tài liệu cơ bản. Những chi tiết đó phần
lớn do truyền khẩu, hoặc có thể do một số tác giả dựng lên, nhiều chỗ hoàn toàn
khác với chính sử nhà Nguyễn.
Tuy
nhiên vì tự ái dân tộc, vì quan điểm chính trị, hay vì muốn có những con số cụ
thể nên nhiều người trong chúng ta đã hoàn toàn quên đi tính thực tế của sự việc.
Người ta thường nhắc đến chiến thuật điều binh bằng cách cho hai người võng một người đi suốt ngày đêm để tiết kiệm thời gian hoặc gần đây có tác giả lại khẳng định đó là chiếc thuyền nan đặc biệt của vùng Huế mà những người bán rong trên sông Hương hay dùng.
Người ta thường nhắc đến chiến thuật điều binh bằng cách cho hai người võng một người đi suốt ngày đêm để tiết kiệm thời gian hoặc gần đây có tác giả lại khẳng định đó là chiếc thuyền nan đặc biệt của vùng Huế mà những người bán rong trên sông Hương hay dùng.
Những
luận cứ đó xem ra không đủ thuyết phục vì việc di chuyển một đoàn quân hàng vạn
người trong một thời gian hết sức ngắn ngủi (bốn ngày từ Huế ra Nghệ An theo dã
sử) là một chuyện không thể thực hiện ngay cả với phương tiện của thời đại ngày
nay. Vào thời kỳ đó đường từ Phú Xuân ra Bắc chưa có đường lớn, chỉ là đường
mòn dọc theo triền núi nên chỉ có thể đi thật gọn nhẹ, muốn di chuyển với đồ đạc,
quân lương, khí giới phải đi bằng thuyền.
Trong
khi quân Thanh sang nước ta được miêu tả như “một đoàn
quân vừa yếu vừa quá mê tín dị đoan”... lính
Trung Hoa mang theo cả điếu hút, bát đĩa và các hành trang phụ khác, đeo lủng lẳng
ở thắt lưng họ. Họ vừa là lính vừa là lái buôn bồi bếp ...” thì quân
Nam Hà “trông giống như một toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một
đoàn chiến binh” mà họ ghi nhận là “những kẻ man rợ từ cao nguyên miền Nam”, phù hợp với
nhận định của John Keegan là “chiến tranh nào cũng cần di chuyển nhưng đối với những
dân tộc định cư thì chỉ đi một đoạn ngắn cũng gặp nhiều khó khăn”.
Theo
những điều người ta mục kích, quân Tây Sơn có voi, ngựa, võng, các loại xe kéo
... nhưng chủ yếu vẫn là đi bộ và hầu hết các phương tiện khác chỉ dành cho cấp
chỉ huy hay chuyên chở vũ khí, lương thực. Việc di chuyển vì thế rất nhọc nhằn
và hao binh tổn tướng là điều không thể tránh khỏi. Khi tình hình khó khăn,
binh lính đào ngũ cũng là một vấn đề nghiêm trọng.
...
Ông tiến như vũ bão ra Bắc (từ Thanh Hoá ra Ninh Bình) chỉ mất có một ngày,
không quản đường xa khó nhọc đã giết chết nhiều ngựa voi của ông, trong khi người
khác phải mất ba bốn ngày ...
Tốc
độ di hành luôn luôn có liên hệ mật thiết với phương tiện và địa thế. Trong lịch
sử, những đạo quân có thể di chuyển nhanh thường là những dân tộc vùng thảo
nguyên bằng phẳng dùng chiến xa hay ngựa cưỡi. Điều duy nhất mà quân Tây Sơn có
thể đi nhanh được là trang bị gọn nhẹ, nói khác đi sinh hoạt còn rất sơ khai
nên không bị lệ thuộc vào tài sản vật chất phải mang theo. Vào thời kỳ đó, đơn
vị căn bản là làng xã của nước ta có dân số trung bình chỉ khoảng vài trăm đến
một ngàn, việc di chuyển hàng vạn người (tương đương với vài chục xã) đi một
khoảng cách vài trăm cây số chắc chắn sẽ có ảnh hưởng lớn đến những địa phương
ngang qua.
Những
đoàn quân đó thông thường cũng kéo theo một cái đuôi dài bao gồm xe cộ, lừa ngựa,
gia súc, vật dụng cá nhân ... và cả đàn bà, trẻ con, ông già, bà cả ... Đây là
tình trạng chung của mọi quốc gia, mọi quân đội chứ không riêng gì quân Tây
Sơn, nhất là trong đó rất đông những binh sĩ người Thượng có thói quen đi chung
với nhau thành từng bầy.
Điều
kiện sống thấp kém và kỷ luật tàn nhẫn là những yếu tố cơ bản, chưa kể tiếng
nói, phong tục xa lạ với địa phương họ đi ngang qua nên phải giới hạn tối đa việc
tiếp xúc. Vì tình trạng thiếu một hệ thống tiếp liệu hay chợ búa để trao đổi vật
dụng, tình trạng cướp đoạt thực phẩm, heo bò ... của dân chúng thường không
tránh khỏi. Để tránh tình trạng binh lính đào ngũ, các tướng lãnh thường phải
chấp nhận một số tệ đoan khiến quần chúng coi họ như “kẻ cướp”.
Chúng
ta cũng không lấy làm lạ khi nhiều giáo sĩ và thương nhân Tây phương cho biết họ
chứng kiến cảnh ăn thịt người tại một vài địa điểm trong thời gian đói kém ở
Đàng Trong và cả cảnh quân Tây Sơn chia nhau ăn gan, ăn tim một số tội nhân sau
khi bị hành hình ở Bắc Hà. Một điều chắc chắn, Nguyễn Huệ luôn luôn tiến quân rất
nhanh không phải do kỹ thuật gì khác thường mà do quyết tâm và kỷ luật thép, một
hình thức bạo lực khiến người ta kinh hoàng. Kỷ luật đó cũng là một trong những
yếu tố để cho thể duy trì một đội quân luôn luôn sẵn sàng chiến đấu.
TIẾP VẬN
Về
tình hình tại Đàng Trong thế kỷ thứ 18 chúng ta thấy rất ít khả năng xây dựng
những doanh trại lớn trú đóng hàng vạn quân để sử dụng khi cần thiết. Nhu cầu
chiến tranh và cơ cấu đơn sơ của thời đó khiến chúng ta phải nghĩ đến một
phương thức đồn trú rất thông dụng là mỗi người lính đều ở với gia đình và ra
trình diện khi gọi đến còn khi ra khỏi địa phương thì chia ra từng tiểu tổ ở lẫn
với dân. Lương thực vì thế cũng thất thường và chủ yếu dựa vào số gạo thóc cướp
được của địch hay mua tại địa phương đi ngang qua. Những phương thức đó đều rất
bấp bênh nhất là vào những năm đói kém.
Theo
tính toán của các chuyên gia về hậu cần, ngoài lương thực, binh lính còn nhiều
nhu cầu khác như y phục, vũ khí, vật dụng hàng ngày, củi lửa ... chỉ có thể kiếm
được tại những thị trấn có đông dân cư. Nếu không có quần chúng - trong trường
hợp phải di chuyển trong rừng sâu hay hoang địa - một người chỉ đủ sức mang
theo thực phẩm căn bản trong vòng 5 đến 10 ngày, nếu đi xa hơn thì bắt buộc phải
có những trạm tiếp liệu (magazines) hay (đôi khi) phải cử người đi trước để kiếm
lương hoặc gầy dựng chợ búa ngõ hầu các cánh quân đi sau có chỗ mua bán đồ dùng
cần thiết.
Phương
thức tiếp liệu và sinh hoạt của quân Tây Sơn theo các giáo sĩ miêu tả thì thường
chia nhau ra đóng tại các đền chùa, miếu mạo, nhà thờ ... nên không tránh được
việc binh sĩ làm hư hại các cơ sở này mà nhiều người ta thán mặc dù dứng về mặt
quân sự thì đây là cách sinh hoạt tự túc đơn giản và hữu hiệu hơn cả. Cũng như
bất cứ một binh đội nào, khi rút lui, quân Tây Sơn thường cướp phá các làng mạc
họ đi ngang mặc dù Nguyễn Huệ nổi tiếng là khắt khe với những thành phần vô kỷ
luật.
Để
có vật liệu đúc súng hay rèn vũ khí, nhiều tượng thờ, chuông đồng và dụng cụ
canh nông đã bị trưng dụng nhưng không phải vì lý do tôn giáo như người ta kết
án mà vì nhu cầu chiến tranh.
Dường
như các sử gia Việt Nam chưa quan tâm đúng mức về vấn đề lương thực và trang bị
của quân Tây Sơn mặc dù cũng có người đưa ra một giả thuyết về lương khô của
binh sĩ thời đó là món bánh tráng, mỗi khi ăn chỉ cần nhúng nước là có thể qua
bữa. Ngoài lương thực, chúng ta cũng không thể bỏ qua súng ống, đạn dược ... vốn
dĩ rất nặng nề, không dễ dàng di chuyển trên đường đất ngoằn ngoèo, lầy lội vào
mùa đông và thường đòi hỏi một số dân công đông đảo để phục dịch. Ngoài súng thần
công loại nhỏ được chở trên lưng voi, Nguyễn Huệ không đem theo các loại súng lớn
và đã công thành bằng biện pháp sơ đẳng nhất là dùng sức người và các cuộn rơm
để xông vào, sau đó đánh hoả công.
Tài
liệu về những vấn đề liên quan đến hậu cần khác như chữa bệnh, tản thương hay
các chính sách quản trị nhân sự khác (lương bổng, tử tuất, khen thưởng, tưởng lệ
...) thì hoàn toàn không ai ghi lại. Với hình thức tổ chức còn sơ khai, những vấn
đề đó chắc chưa được qui định rõ ràng mà chỉ giải quyết dựa theo tình hình và
khả năng thực tế hay tại chỗ.
Trên
thực tế, quân đội của Nguyễn Huệ không phải là một tập thể thuần nhất mà tuyển
mộ từ nhiều khu vực khác nhau, gồm nhiều thành phần, nhiều dân tộc, có tập quán
và sinh hoạt đa dạng. Quân đội đó không theo tổ chức chính qui nên phần lớn
không có lương bổng, phải tự túc nhiều mặt và có gì ăn đó chứ không có tiêu chuẩn
hàng tháng, hàng ngày. Riêng tại miền Bắc trong những năm đó, số người bị bắt
vào lính rất đông, gần như phe nào cũng muốn vét cho đến người cuối cùng. Việc
ăn uống vì thế không theo tiêu chuẩn nhất định mà tuỳ theo tình hình, theo thói
quen của từng nhóm, không hiếm những thành phần có lối sống còn rất dã man được
người nước ngoài ghi lại.
Mặc
dù không có tài liệu nào đề cập một cách rõ rệt nhưng xuyên qua tập quán chung
của quân Tây Sơn trong những cuộc hành quân trước ở Gia Định, sinh hoạt bình
thường hàng ngày và những tường thuật giản lược từ nhiều nguồn, chúng ta có thể
tin rằng không phải chỉ ở nước ta mà hầu như trên toàn thế giới, vào thời kỳ đó
số binh đội đạt tới tổ chức chu đáo để binh sĩ có thể coi đi lính như một nghề
và sinh hoạt hoàn toàn có thể trông vào lương bổng rất hiếm nên cấp chỉ huy vẫn
phần nào dung túng cho việc cướp bóc, chiêám đoạt để mưu sinh cũng có mà để thủ
lợi cũng có.
Chỉ
những khi đóng quân và phải ổn định trật tự thì kỷ luật thép mới được áp dụng
còn khi di chuyển, việc kiểm soát đã khó mà rất có thể chính cấp chỉ huy cũng
chủ động trong việc thu đoạt tài vật. Chúng ta chỉ có thể đoán chừng Nguyễn Huệ
và tướng lãnh cao cấp chiếm đoạt kho tàng và “tống tiền” người giàu là vì nhu cầu xây dựng quân
đội trong khi các cấp dưới do động lực tham lợi nhiều hơn.
Theo
thư của giáo sĩ Le Roy ở Nam Định viết cho ông Blandin ở Paris ngày 11 tháng 7
năm 1786 thì:
...
Những người Nam Hà này đã áp dụng sự xử án khắc nghiệt, mới thấy tố cáo chẳng cần
đợi xét xử lôi thôi, họ đã chém đầu những bọn trộm cướp hay tất cả những kẻ nào
bị người ta tố cáo là trộm cướp Người ta rất lấy làm thích sự xử phạt như vậy
và sự liêm khiết của quân Tây Sơn. Vì họ không cướp bóc ai, họ chỉ biết chặt đầu
mà thôi. Điều đó đã khiến cho yên lành ở một vài nơi trong một thời gian.
Chính
vì tình hình như thế, chúng ta không thể không tham chiếu những sinh hoạt tiêu
biểu của Đàng Trong và các nước chung quanh vào thời kỳ đó để có thể hình dung
được đoàn quân đó như thế nào, thay thế những dữ kiện lịch sử viết quá sơ sài
hoặc do tưởng tượng không chính xác.
Mặc
dù những nỗ lực của mọi phía để bắt lính, thu lương nhưng thời nào cũng có những
giới hạn nhất định có tính qui luật không thể vượt qua. Đó là những nguyên tắc
chặt chẽ của ngành hậu cần (logistics) đã được Jomini định nghĩa là “nghệ thuật
thực dụng của việc chuyển quân” (the practical art of moving armies) trong đó bao gồm
cả “cung ứng những đội ngũ tiếp liệu liên tục” (providing
for the sucessive arrival of convoys of supplies) và “thiết lập, tổ
chức đường tiếp liệu” (establishing and organizing ... lines of supplies).
Một cách tổng quát, vấn đề tiếp vận là làm sao một mặt di chuyển được binh đội,
mặt khác cung cấp đủ cho họ những điều kiện vật chất để sẵn sàng chiến đấu.
Không
phải chỉ sử gia Việt Nam, hầu hết những nhà nghiên cứu thế giới cũng ít ai
nghiên cứu vấn đề tiếp vận một cách tường tận và thường đơn giản hoá việc di
hành. Nhiều sử gia còn coi việc di chuyển một đoàn quân quá giản dị đến mức
không đếm xỉa gì đến những điều kiện thực tế tưởng chừng như “một đoàn
quân có thể di chuyển đi bất cứ phương hướng nào, bằng bất cứ tốc độ nào, bất cứ
khoảng cách nào một khi cấp chỉ huy đã quyết định.
Con
người cũng như con vật trong một đoàn quân đều cần lương thực, quân trang, khí
giới ... và những điều kiện tối thiểu về sinh hoạt, nghỉ ngơi khi di hành mặc
dù trong nhiều trường hợp con người bị bắt buộc “áp giải” đi một cách miễn cưỡng nhưng tinh thần
chiến đấu đương nhiên rất thấp.
Việc
di chuyển và tiếp liệu đó tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố kể cả kỹ thuật, tổ chức và
nhiều yếu tố phụ và chính những thực tế đó quyết định sức mạnh của đơn vị chứ
ít khi vì tinh thần yêu nước nồng nàn, hi sinh vì đại nghĩa hay lòng căm thù
sâu sắc ... như người ta thường nhấn mạnh.
TRUYỀN TIN
Quân
Tây Sơn vốn dĩ không phải chỉ gồm một chủng tộc thuần nhất nên việc truyền tin
cần giản dị và dễ dàng. Trong quá trình của họ, người ta thấy họ hay dùng tiếng
kêu để truyền hiệu lệnh cho nhau nên đã được gọi là “binh Ó”.
Một
đặc điểm khác có thể do ảnh hưởng của dân vùng thượng du là họ cũng hay dùng
chiêng trống để thúc quân, thu quân. Khi ra Bắc, để khỏi lẫn lộn việc khi vui
chơi với hiệu lệnh của chiến trận, họ đã cấm dân chúng không được đánh trống.
...
từ ngày 17 (tháng 12 năm 1788), các làng mạc đánh trống để đánh dấu sự vui mừng
của họ vì trống tuy là một nhạc khí được dân Bắc Kỳ rất ưa chuộng đã bị cấm
đánh và ngưng sử dụng từ ngày quân Tây Sơn làm chúa tể xứ này ...
Quân
Thanh trên đường tiến xuống Thăng Long cũng đụng độ với quân Tây Sơn tại ranh
giới Tam Dị, Trụ Hữu. Quân Nam dùng ba loại cờ, đỏ, trắng, đen chia thành ba đội
đánh trống tấn công. Ngoài ra, chiếc khăn đỏ thường dùng để bịt đầu của cấp chỉ
huy cũng có khi được sử dụng như một loại kỳ hiệu. Việc dùng các màu cờ khác
nhau có lẽ do ảnh hưởng của người Chăm. Đến đời Nguyễn, khi thấy quân đội có
quá nhiều cờ quạt phức tạp nên vua Minh Mạng phải ra lệnh cho giảm bớt.
RÚT LUI ĐỂ BẢO TOÀN
Như
chúng ta đã thấy, sau khi thấy dân chúng miền Bắc chưa ủng hộ mình một cách triệt
để, giới quan lại cũng không hưởng ứng sự vận động của nhóm Ngô Thì Nhậm tôn
mình lên làm vua, Nguyễn Huệ hậm hực rút quân về Nam để một số tì tướng trấn thủ
Bắc Hà. Cũng như sách lược chung mà nhà Tây Sơn áp dụng tại những khu vực chưa
hoàn toàn thuần hoá, miền Bắc trở thành một nơi mà dân chúng có hai hệ thống
cai trị, quan lại cũ của nhà Lê đóng nhiệm vụ hành chánh dưới quyền của một quốc
trưởng bù nhìn Lê Duy Cẩn, còn hệ thống quân sự do Ngô Văn Sở chỉ huy giữ nhiệm
vụ bảo hộ trị an thuộc quyền Nguyễn Huệ tại Phú Xuân.
Hai
hệ thống đó nương tựa vào nhau một cách hời hợt nên khi có biến, quân Tây Sơn lập
tức rút đi để lại miền Bắc cho quan lại nhà Lê tự sinh tự diệt. Khi quân Thanh
kéo đến, triều đình Lê Duy Cẩn lập tức ra hàng khiến quan lại nhà Lê đành cam
chịu sự trừng phạt, báo thù khi Lê Duy Kỳ trở về. Chúng ta không biết số quan lại
đó những ai chạy được theo quân Tây Sơn vì tình hình theo chính sử thì dường
như tuyệt đại đa số vẫn còn ở Thăng Long.
DNCBLT
chép như sau:
...
Tôn Sĩ Nghị từ khước. Ngô Văn Sở bèn hội các tướng thương nghị đánh hay giữ. Ngô
Nhậm đề nghị rút lui giữ núi Tam Điệp cho thuỷ quân và lục quân thông nhau chiếm
cứ chỗ hiểm yếu mà cố thủ, sai người gấp đưa thơ cáo nguy cấp.
Ngô
Văn Sở bèn mật truyền các trấn Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn lên (đánh) tiếng
nói (phao rằng) hội quân xây luỹ đất ở sông Nguyệt Đức rồi ngầm thu quân mà lui
về. Ngô Văn Sở đưa thông tư cho các quan trấn thủ Hải Dương, Sơn Tây nội ngày
phải hội quân ở Bắc Thành, cho trấn thủ Sơn Nam phải chỉnh bị thuyền tàu chờ
thuỷ quân đến thì cùng tiến phát.
...
Ngô Văn Sở ... ra lệnh cho các đạo quân chỉnh tề đội ngũ mà đi đến núi Tam Điệp
(Tằng?), chia đồn đóng quân cố thủ, gấp sai Nguyễn Văn Tuyết, một tên nữa là
Đinh Công Tuyết, vội chạy về báo nguy cấp.
Sĩ
Nghị khước chi. Sở nãi hội chư tướng thương nghị chiến thủ, Ngô Nhâm (Nhậm) nghị
thoái bảo Tam Điệp sơn, thuỷ lục tương thông, cứ hiểm dĩ thủ khiển nhân trì thư
cáo cấp.
Sở
nãi mật truyền Kinh Bắc, Thái (Nguyên), Lạng (Sơn) chư trấn thủ thanh ngôn trúc
Nguyệt Đức giang thổ luỹ nhi tiềm thu quân dĩ qui. Di tư Hải Dương, Sơn Tây chư
trấn thủ khắc nhật hội Bắc Thành, Sơn Nam trấn chỉnh sức thuyền tào hầu thuỷ
quân chí tịnh phát.
...
Sở lệnh chư quân túc đội nhi hành chí Tam Tằng (Điệp) sơn phân đồn cố thủ, cấp
sử Nguyễn Văn Tuyết, nhất tác Đinh Công Tuyết, trì hồi cáo cấp.
Trong
tình hình đó, nếu như trước đó Nguyễn Huệ không tiên liệu những biến chuyển có
thể xảy ra để tính toán một đường rút lui thì việc tập trung quân về một vị trí
cổ ngỗng như Tam Điệp cũng do tướng lãnh Tây Sơn suy nghĩ về thế yếu, thế mạnh
của ta và địch rồi tự quyết chứ không phải do mưu sĩ Bắc Hà hiến kế. Việc quân
Tây Sơn rút lui rất bí mật và êm thắm và ngay cả một số quân địa phương trấn
đóng ở nơi hẻo lánh cũng bị bỏ rơi, không theo kịp nên việc đem theo một số
quan lại nhà Lê cần phải xét lại.
Chúng
ta cũng có thể ngờ rằng việc đưa ra chi tiết chủ trương rút lui là của Ngô Thì
Nhậm chỉ có thể được bịa đặt để hạ uy tín tướng lãnh Tây Sơn, miêu tả như thành
phần hữu dũng vô mưu, hoàn toàn không có chiến thuật chiến lược gì. Cũng trong
đoạn trên, DNCBLT cũng chép cả việc Phan Văn Lân bộp chộp “đốc suất tướng
sĩ mạo hiểm giá rét lội bừa qua sông, phần nhiều bị chết chìm, người nào qua được
đến bờ lại bị quân Thanh giết chết ... để phải một mình một ngựa chạy về”. Chi tiết
này dường như chép theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí và hoàn sai sự thực vì quân Tây
Sơn còn chặn đánh quân Thanh nhiều trận dọc từ Lạng Sơn xuống Thăng Long để cầm
chân địch, tuy không thành công nhưng cũng khiến cho địch phải lao đao, không đến
nỗi chưa đánh đã chạy như sử nhà Nguyễn miêu tả.
Dầu
sao chăng nữa, sau khi thu tóm mọi nhân lực tài lực của miền Bắc rồi rút về Phú
Xuân, quân Tây Sơn đã bỏ ngỏ một trận địa lớn cho quân Thanh bơ vơ, chịu đựng
những cơn mưa dầm và thời tiết lạnh lẽo của mùa đông ở miền Bắc. Tôn Sĩ Nghị phải
trải mỏng quân thành những mục tiêu cố định rồi nương theo cách bố trí của địch
để sắp xếp kế hoạch tấn công. Kế hoạch tạo điều kiện để quân địch đóng quân tập
trung thành một khu vực “lòng chảo” là một chiến thuật mà nhiều quân sự gia
Đông cũng như Tây, kim cũng như cổ thường áp dụng để đánh một trận quyết liệt.
NGUYỄN HUỆ LÊN NGÔI HOÀNG ĐẾ
Từ
trước đến nay, sử nước ta vẫn cho rằng Nguyễn Huệ lên ngôi để cho “chính vị”. Lý do đó
hàm ý bản tâm ông không (hay chưa) muốn lên ngôi nhưng đành phải chấp nhận một
cách miễn cưỡng vì nhu cầu quân sự và chính trị. Việc vua Quang Trung lên ngôi
hoàng đế để danh chính ngôn thuận ra đánh quân Thanh được chấp nhận như một “lý sở đương
nhiên”, không ai dị nghị mặc dù một số tác giả có đặt câu hỏi
về ngày giờ chính xác ông đăng quang ở núi Bân.
Thực
ra, Nguyễn Huệ không phải không muốn lên ngôi mà ông đã có ý tự lập ngay từ khi
đem quân ra Bắc Hà lần thứ hai vào tháng 5 năm 1788. Cũng vào thời gian này,
ông gặp Ngô Thì Nhậm và người bầy tôi mới lập tức khuyên ông lên ngôi hoàng đế
đồng thời chủ trì việc đi “xin chữ ký” để suy tôn ông cho hợp cách.
Sau
ba bức thư “suy tôn” của quần thần nhà Lê (chưa kể một chiếu trưng cầu dân
ý do chính Nguyễn Huệ hỏi dân Bắc Hà) nhưng tình hình chưa thuận lợi khiến Nguyễn
Huệ hậm hực bỏ về Phú Xuân, đem theo một số văn thần (có thể cả Ngô Thì Nhậm
như đã chép trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí mặc dầu về sau chúng ta lại thấy họ
Ngô xuất hiện trong số quan lại ở miền Bắc cùng với Ngô Văn Sở).
Đối
chiếu nhiều tài liệu khác nhau và dàn dựng lại tình hình, chúng ta có thể nghi
ngờ rằng có chút gì không ổn về quan điểm đó. Hiện tại có ba tài liệu với ba nhật
kỳ đăng quang khác nhau: chính sử triều Nguyễn (ĐNCB, Nguỵ Tây liệt truyện),
Hoàng Lê Nhất Thống Chí, và chi tiết trong thư của Hội Truyền Giáo Bắc Hà.
Ngoài ra còn một nhật kỳ có hơi chênh lệch một chút với chính sử là bài Chiếu
Lên Ngôi (Tức Vị Chiếu) chép trong Hàn Các Anh Hoa.
Đại
Nam Chính Biên Liệt Truyện, quyển 32 (Nguỵ Tây liệt truyện, Nguyễn Văn Huệ)
chép là:
Nguyễn
Huệ được cấp báo, mắng to: “Bọn chó Ngô là đồ gì dám tung hoành như thế?”. Nguyễn Huệ
liền xuống lịnh cử binh. Các tướng đều khuyên xin trước hết nên chính ngôi vị
và danh hiệu để kết chặt lòng người. Nguyễn Huệ bèn đắp đàn ở phía nam núi Ngự-bình,
lấy ngày 25 tháng 11 tự lập làm Hoàng-đế cải nguyên là Quang Trung (triều trung
ương rực rỡ), liền ngày ấy cả đem tướng sĩ thuỷ bộ cùng tiến ...
Huệ
đắc báo đại mạ: “Hà vật Ngô cẩu cảm nhĩ xương cuồng?”. Tức hạ lịnh
cử binh. Chư tướng hàm khuyến thỉnh tiên chính vị hiệu dĩ hệ nhân tâm. Huệ nãi
trúc đàn vu Bình sơn chi nam dĩ thập nhất nguyệt nhị thập ngũ nhật tự lập vi đế,
cải nguyên Quang Trung tức nhật đại suất tướng sĩ thuỷ lục tề tiến ...
Hoàng
Lê Nhất Thống Chí (Ngô Gia Văn Phái) thì viết như sau:
...
Ngày 20 tháng ấy, Sở lui về Tam Điệp thì ngày 24 (tháng 11), Tuyết đã vào đến
thành Phú Xuân, Bắc Bình Vương được tin báo, giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định
thân chinh cầm quân đi ngay. Nhưng các người đến họp đều nói:
-
Chúa công với vua Tây Sơn có sự hiềm khích, đối với ngôi chí tôn, lòng tôn phò
của mọi người chưa thực vững bền, nay nghe quân Thanh sang đánh càng dễ sinh ra
ngờ vực, hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu, ban lệnh ân xá khắp
trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau sẽ cất quân ra
đánh dẹp cõi Bắc cũng chưa là muộn.
Bắc
Bình Vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân (ở địa phận xã An Cựu,
huyện Hương Trà, Thừa Thiên - Huế), tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần
núi; chế ra áo cổn, mũ miện, lên ngôi Hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức
của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung. Lễ xong hạ lệnh
xuất quân. Hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).
Theo
thư của các giáo sĩ có mặt tại Việt Nam còn lưu lại trong Nhật Ký Về Những Sự
Kiện Đáng Ghi Nhớ, Nha Văn Khố Quốc Gia Paris (Paris, Archives Nationales số
F5; A 22) thì “lá thư đề ngày 20 tháng Chín của đức ông La Bartette gửi
cho ông Le Breton trong đó Đức ông cho biết rằng:
...
Bắc vương đã ấn định ngày 11 tháng Mười (âm lịch) tức ngày mồng 8 tháng Mười Một
là ngày ông tự phong mình làm Hoàng đế dưới danh hiệu “Quang Trung” (có nghĩa
là ánh sáng trung ương tức là theo sự giải thích có lẽ đúng nhất, mặt trời của
vũ trụ) đồng thời ông đang bận tính một kế hoạch vĩ đại theo như sắc lệnh ban bố
ngày 6 tháng Mười (âm lịch) hay ngày 3 tháng Mười Một gởi cho Đại thần Đại tư
Mã và tất cả các quan hay sĩ quan Tây Sơn làm việc tại Bắc Kỳ ...
Những
tài liệu trên, tài liệu nào gần với sự thực nhất vẫn còn là một câu hỏi chưa có
trả lời đích xác mặc dù nếu theo văn bản thì thư của các thừa sai của Hội Truyền
Giáo là tài liệu của chính thời đó còn để lại trong khi DNCBLT và Hoàng Lê Nhất
Thống Chí chỉ được biên soạn và ấn hành vài chục năm sau khi sự việc xảy ra.
Hiện
nay trong Hàn Các Anh Hoa còn chép một bài Chiếu Lên Ngôi của vua Quang Trung
do Ngô Thì Nhậm soạn, nguyên văn như sau:
Dịch
âm:
Tức vị chiếu
Trẫm
duy Ngũ Đế dị tính nhi thụ mệnh, Tam Vương thừa thời nhi khải vận. Đạo hữu
thiên đệ, thời duy biến thông, thánh nhân phụng nhược thiên đạo dĩ quân quốc tử
dân kỳ nghĩa nhất dã. Ngã Việt tự Đinh Lê Lý Trần triệu kiến hữu quốc, dĩ chí
vu kim, thánh tác minh hưng bất thị tính, nhiên nhi phế hưng tu đoản, kỳ vận thật
thiên sở thụ, phi phù nhân chi sở năng vi dã.
Hướng
giả Lê gia thất bính, Trịnh thị dữ cựu Nguyễn phân cương nhị bách dư niên cương
trù vặn loạn cộng chủ đồ ủng hư khí tư gia tự tư phong thực. Thiên kinh địa duy
nhất truỵ nhi chấn vị hữu thậm ư thử thời dã. Gia chi cận tuế dĩ lai Nam Bắc cấu
binh, dĩ truỵ đồ thán.
Trẫm
vi Tây Sơn bố y, bất giai xích thổ, sơ vô hoàng ốc chi chí. Nhân nhân tâm yếm
loạn dục đắc minh chủ dĩ tế thế an dân ư thị tập hợp nghĩa lữ lam tất dĩ khải
sơn lâm, tả hữu hoàng đại huynh trì khu nhung yên, triệu ngã bang vu tây thổ,
nam định Xiêm La, Cao Miên chi thuộc, toại khắc Phú Xuân, thu Thăng Long bản dục
bang tảo trừ loạn lược, cứu dân ư thuỷ hoả trung, nhiên hậu hoàn quốc Lê thị
qui địa đại huynh, tiêu dao tú thường xích tả chi du, quan lưỡng địa chi hoan
ngu nhi dĩ.
Nhi
thế cố suy di cánh bất đắc như sở chí, trẫm tái thực Lê thị Lê tự quân thất thủ
xã tắc, khứ quốc bôn vong, Bắc Hà sĩ dân bất dĩ Lê chi tông tính vi qui ê trẫm
thị lại. Đại huynh nghĩa quyến ư cần nguyện thủ Qui Nhơn nhất phủ, giáng xưng
Tây vương, nam phục sổ thiên lý chi địa, tận thuộc ư trẫm.
Trẫm
tự duy lương bạc tài đức, bất đãi cổ nhân, nhi thổ địa như thử kỳ quảng, nhân
dân như thử kỳ chúng, tĩnh tư thống nhiếp lẫm hồ nhược hủ sách chi ngự lục mã
nãi giả. Văn võ tướng sĩ nội ngoại thần liêu hàm nguyện trẫm tảo chính vị hiệu
dĩ hệ thuộc nhân tâm, thượng chương khuyến tiến, chí ư tái tam kim biểu suy tôn
bất mưu đồng từ phu dĩ thần khí chí trọng.
Thiên
vị duy gian, trẫm thành lự bất khắc kham, nhi tứ hải ức triệu hoàn qui ư trẫm
nhất nhân. Tư nãi thiên ý, phù khởi nhân sự, trẫm ứng thiên thuận nhân, bất khả
lao chấp, tốn nhượng dĩ kim niên thập nhất nguyệt nhị thập nhị nhật tức thiên tử
vị kỷ nguyên vi Quang Trung nguyên niên.
Tư
nhĩ bách tính vạn dân duy hoàng cực chi phu ngôn thị huấn thị hạnh. Nhân nghĩa
trung chính nhân đạo chi đại đoan, trẫm kim dữ dân cánh thuỷ phụng tiền thánh
chi minh mô dĩ trị giáo thiên hạ.
Ô
hô, thiên hựu hạ dân tác vi quân, tác vi sư, duy kỳ khắc tương thượng đế sủng
tuy tứ phương. Trẫm phủ hữu thiên hạ tướng dữ giai chi đại đạo nạp chi xuân
đài. Nhĩ thần thứ các an chức nghiệp vô đạo phỉ di. Hữu quan giả hưng tế tế chi
phong, vi manh giả hữu hi hi chi tục. Trị giáo hưng hành, tễ vu chí thuận, dĩ
hoán ngũ đế tam vương chi thịnh, diễn tông xã vô cương chi hưu, cố bất vĩ tai!
Thập
tam đạo các xứ địa phương kim niên đông vụ tô dung điệu xá thập phân chi ngũ kỳ
kinh bị binh hoả điêu tàn thính phân chi hoạn khám thực tận hành quyên miễn.
Cựu
triều thần dân hoặc lục sự điếm luỵ kinh bị trọng luận, trừ đại nghịch bất đạo
đẳng tội, kỳ dư nhất giai khoan xá
Bách
thần dâm từ cách khứ tự điển. Kỳ thiên thần dữ trung thần hiếu tử nghĩa phụ
kinh luỵ triều bao phong giả tịnh tứ đăng trật
Cựu
triều văn võ viên biện hoặc do tòng vong đào tị tịnh thính hồi hương quán, kỳ bất
nguyện sĩ tiến giả thính hành sở chí
Nam
Hà Bắc dân gian y phục tịnh hứa tòng tục, duy triều y triều quan nhất tuân tân
chế.
Dịch nghĩa:
Trẫm
nghĩ: Ngũ đế đổi họ chịu mệnh trời, Tam vương nhân thời mở vận nước. Đạo có
thay đổi, thời phải biến thông, nhưng đấng thánh nhân theo đạo trời để làm vua
trong nước, yêu dân như con, thì cái nghĩa cũng chỉ là một.
Nước
Việt ta từ Đinh, Lê, Lý, Trần mở nước đến nay, bậc thánh minh dấy lên, chẳng phải
một họ. Nhưng phế, hưng, dài, ngắn, vận mệnh trời cho, chẳng phải sức người làm
được.
Trước
đây nhà Lê mất quyền, họ Trịnh và họ Nguyễn cũ chia nhau cương vực, hơn hai
trăm năm, giềng mối rối loạn, ngôi vua chỉ là hư vị, mỗi họ tự ý gây dựng bờ
cõi riêng mình, kỷ cương trời đất một phen đổ nát không dựng lên được, chưa có
thời nào quá quắt như thời này. Thêm nữa, những năm gần đây, Nam Bắc đánh nhau,
dân sa vào chốn lầm than.
Trẫm
là kẻ áo vải Tây Sơn, không có một tấc đất, vốn không có chí làm vua. Chỉ vì
lòng người chán ghét loạn lạc, mong có vị minh chúa để cứu đời yên dân. Cho nên
tập hợp nghĩa quân, xông pha chông gai, phá núi mở rừng, giúp đỡ Hoàng đại
huynh giong ruổi binh mã, gây dựng nước ở cõi tây, dẹp Tiêm La, Cao Miên ở phía
nam, rồi hạ thành Phú Xuân, lấy thành Thăng Long. Bản ý chỉ muốn quét trừ loạn
lạc, cứu dân trong chốn nước lửa, rồi trả nước cho họ Lê, trả đất cho Đại
huynh, ung dung áo gấm hài thêu, ngắm cảnh yên vui ở hai cõi đất mà thôi. Nhưng
việc đời dời đổi, rốt cuộc trẫm không được như chí nguyện. Trẫm dựng lại nhà
Lê, nhưng Lê tự quân để mất xã tắc, bỏ nước chạy trốn. Sĩ dân Bắc Hà không theo
về họ Lê lại dựa vào trẫm.
Đại huynh vì khó nhọc mà mỏi mệt, chỉ muốn giữ một phủ Quy Nhơn, khiêm nhường xưng làm Tây vương. Mấy nghìn dặm đất ở cõi Nam thuộc về trẫm cả. Trẫm tự nghĩ mình lượng bạc, tài đức không theo kịp cổ nhân mà đất đai rộng lớn như thế, nhân dân đông đúc như thế, nghĩ đến việc cai quản, lo sợ như cầm dây cương mục mà dong sáu ngựa.
Đại huynh vì khó nhọc mà mỏi mệt, chỉ muốn giữ một phủ Quy Nhơn, khiêm nhường xưng làm Tây vương. Mấy nghìn dặm đất ở cõi Nam thuộc về trẫm cả. Trẫm tự nghĩ mình lượng bạc, tài đức không theo kịp cổ nhân mà đất đai rộng lớn như thế, nhân dân đông đúc như thế, nghĩ đến việc cai quản, lo sợ như cầm dây cương mục mà dong sáu ngựa.
Vừa
đây, tướng sĩ văn võ, thần liêu trong ngoài đều muốn trẫm sớm định vị hiệu, để
thu phục lòng người, dâng biểu khuyên mời đến hai, ba lần. Các tờ biểu vàng suy
tôn, không hẹn mà cùng một lời. Trẫm nghĩ: nghiệp lớn rất trọng, ngôi trời khó
khăn, trẫm thật lòng lo không đương nổi. Nhưng ức triệu người trong bốn bể
trông cậy vào một mình trẫm. Đó là ý trời, há phải việc người? Trẫm ứng mệnh trời,
thuận lòng người, không thể cố chấp nhún nhường mãi, lấy ngày 22 tháng 11 năm
nay lên ngôi thiên tử, đặt niên hiệu là Quang Trung nguyên niên.
Hỡi
trăm họ muôn dân các ngươi! “Lời nói lớn lao của ngôi hoàng cực là lời giáo huấn phải
thi hành”. Nhân, nghĩa, trung, chính là đầu mối lớn lao của đạo
làm người. Nay trẫm cùng dân đổi mới, theo mưu mô sáng suốt của tiền thánh để
trị và dạy thiên hạ!
Than
ôi! “Trời vì hạ dân, đặt ra vua, đặt ra thầy, là để giúp trời
vỗ yên bốn phương”. Trẫm có cả thiên hạ, sẽ cùng dắt díu dân lên con đường
lớn, đặt vào đài xuân.
Hỡi
thần dân các ngươi! Ai nấy hãy yên chức nghiệp, chớ làm những điều không phải đạo
thường. Người làm quan hãy giữ phong độ hoà mục, người làm dân yên trong lệ tục
vui hoà, trị giáo mở mang hưng khởi đến chỗ rất thuận, để vãn hồi thời thịnh trị
của Ngũ đế, Tam vương, khiến cho tông miếu xã tắc được phúc không cùng, há chẳng
đẹp đẽ sao?
(Trong
nguyên bản chữ Hán, còn có một đoạn viết chữ nhỏ, ghi các điều sau đây)
1/
Các
địa phương trong 13 đạo, thuế ruộng, thuế thân, thuế lực dịch về vụ đông năm
nay, mười phần tha cho năm phần. Những nơi bị binh hoả làm điêu tàn, cho quan
phân tri khám thực, tha miễn cho cả.
2/
Quan
dân triều cũ, người nào liên luỵ vào tội, đã bị án nặng, trừ những tội đại nghịch
vô đạo, còn thì đều tha cả.
3/
Các
đền thời bách thần mà là thờ nhảm, đều bị xoá bỏ thần hiệu trong tự điển, còn
các thiên thần và tôi trung, con hiếu, đàn bà tiết nghĩa đã được các triều
phong tặng thì nay đều cho thăng trật.
4/
Quan
viên văn võ triều cũ, người nào chạy trốn theo vua mà còn phải trốn tránh, đều
cho về nguyên quán. Người nào không muốn ra làm quan, cho tuỳ theo chí của
mình.
5/
Quần
áo dân gian Nam Hà hay Bắc Hà đều cho theo tục cũ, duy có áo chầu, mũ chầu thì
nhất luật phải theo quy chế mới.
Bài
chiếu này nếu xét trong hoàn cảnh xuất hiện của nó, nếu quả thực do Ngô Thì Nhậm
soạn, thì hoặc ông đang ở Phú Xuân, hoặc đã soạn sẵn theo lệnh của Nguyễn Huệ,
chờ đúng dịp là đem ra sử dụng. Phân tích một số chi tiết trong bài Chiếu Lên
Ngôi chúng ta ngờ rằng bài này được soạn trước khi nghe tin quân Thanh sang chiếm
nước ta, nếu không đồng thời với tờ biểu “suy tôn” lần thứ ba (Vừa đây, tướng sĩ văn võ,
thần liêu trong ngoài đều muốn trẫm sớm định vị hiệu, để thu phục lòng người,
dâng biểu khuyên mời đến hai, ba lần. Các tờ biểu vàng suy tôn, không hẹn mà cùng
một lời.) thì cũng chỉ sau đó một thời gian ngắn.
Văn
trong bài chiếu tức vị này hoàn toàn là văn chương thời bình, không phải thời
chiến, không nhắc đến xa gần gì về việc quân Thanh xâm chiếm nước ta và lên
ngôi để thu phục nhân tâm (để chiến đấu) như sử đã chép. Chính vì thế, một số
câu văn sáo mòn đầy giả tạo, chẳng hạn: “Bản ý chỉ muốn quét trừ loạn lạc, cứu
dân trong chốn nước lửa, rồi trả nước cho họ Lê, trả đất cho Đại huynh, ung
dung áo gấm hài thêu, ngắm cảnh yên vui ở hai cõi đất mà thôi. Nhưng việc đời dời
đổi, rốt cuộc trẫm không được như chí nguyện.” hay “Người làm quan hãy giữ phong độ hoà mục,
người làm dân yên trong lệ tục vui hoà, trị giáo mở mang hưng khởi đến chỗ rất
thuận, để vãn hồi thời thịnh trị của Ngũ đế, Tam vương, khiến cho tông miếu xã
tắc được phúc không cùng, há chẳng đẹp đẽ sao?” vẫn còn hiện diện trong bài chiếu.
Như
vậy, nếu quả thực bài văn này là tờ chiếu ông sử dụng thì Nguyễn Huệ đã lên
ngôi từ trước khi quân Thanh sang đánh nước ta nghĩa là chậm lắm cũng vào cuối
tháng 10 hay đầu tháng 11 năm Mậu Thân (1788) khi quân Thanh chưa xuất binh để
những lời trong bài chiếu thích hợp cho một quốc gia yên bình, dù chỉ rất tạm bợ.
Ngược
lại nếu đã nghe tin quân Thanh đang tiến về Thăng Long, tình hình Bắc Hà ở
trong cảnh lửa cháy lông mày, dầu sôi lửa bỏng khiến ông phải tổ chức một lễ
đăng quang theo kiểu “cưới chạy tang” để hôm sau tiến quân ra Bắc thì đây là
một việc làm rất thiếu chính trị. Tình hình cấp bách đó ắt sẽ khiến cho lòng
người kinh động, nhất là các tướng lãnh đang được bố trí ở mặt nam giáp với
vương quốc của Nguyễn Nhạc. Chúng ta cũng biết rằng hai anh em công khai mắng
nhau là “sài lang, cẩu trệ”, dù đã giải hoà nhưng tình hình không
còn thuận lợi như trước và việc bên này hay bên kia nhân cơ hội sơ hở đem quân
tấn công không phải là chuyện không thể xảy ra. Việc Nguyễn Huệ hấp tấp lên
ngôi rồi kéo quân đi sẽ tạo một khoảng trống trong guồng máy cai trị và Nguyễn
Nhạc chỉ cần sai một tì tướng cũng có thể lấy được Phú Xuân.
Các
tướng lãnh của Nguyễn Huệ nhất là thành phần gốc Qui Nhơn vốn họ hàng thân
thích hay quen biết đã lâu, ít nhiều đều đã từng là thủ hạ của Nguyễn Nhạc.
Chúng ta cũng biết rằng khi kéo quân ra Bắc, Nguyễn Huệ vẫn để lại một số tướng
lãnh quan trọng như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng ... trấn thủ mặt
nam có thể dễ dàng bị vua Thái Đức mua chuộc. Việc Nguyễn Huệ lên ngôi coi như
một thách thức công khai rất nguy hiểm trong khung cảnh đó.
Qua
những sự kiện nêu trên, Nguyễn Huệ dự tính lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là
Quang Trung ít nhất cũng đã được dự tính từ tháng 8 năm Mậu Thân, mặc dù ngày
giờ ông lên ngôi không biết đích xác là ngày nào, 11 tháng 10 Â.L. theo các
giáo sĩ, 22-11 Â.L. theo tờ chiếu lên ngôi, 25-11 Â.L. theo DNCBLT, 25 tháng 12
Â.L. theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí hay một ngày nào khác mà chúng ta chưa biết?
Hai nhật kỳ đầu tiên và cuối cùng cách nhau gần hai tháng rưỡi nhưng chắc chắn
Nguyễn Huệ lên ngôi sau khi ông từ Bắc Hà trở về và trước khi nghe tin quân
Thanh kéo sang.
Nhật
ký của các giáo sĩ trong Hội Truyền Giáo Bắc Hà nghe được từ giáo dân của họ là
ngày 11 tháng 10 năm Mậu Thân (8-11-1788) xem ra gần với sự thực nhất. Tin tức
đó họ đã nghe từ ngày 25 tháng 10 (27-9 Mậu Thân) tức là trước ngày vua Quang
Trung lên ngôi gần nửa tháng. Cho nên, khi quân Thanh lấy Thăng Long (cuối
tháng 11 năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ đã là hoàng đế Quang Trung rồi, không còn phải
bận bịu gì về việc đăng quang hay sắp đặt triều chính trong ngoài nữa. Cũng
theo tin của giáo sĩ La Barrette gửi cho Le Breton thì ông đã phong vương cho
con trai ngay từ tháng 9 nghĩa là công khai tách riêng ra thành một vương triều
mới không liên quan gì đến ông anh ở Qui Nhơn nữa. Văn kiện cuối cùng chúng ta
thấy ông còn dùng niên hiệu Thái Đức chính là sắc lệnh ban bố một số điều quân
luật ngày 6 tháng 10 năm Mậu Thân (3-11-1788), 5 ngày trước hạn kỳ lên ngôi
theo tin tức của các nhà truyền giáo.
Xét
như thế, chúng ta thấy rằng việc vua Quang Trung đem quân ra Bắc không phải là
một điều bất thình lình và chúng ta có thể tin được rằng lúc nào ông vẫn hờm sẵn
nhiều cánh quân độc lập và chỉ điều động để xiết lại khi cần thiết. Đó chính là
vai trò của hai đạo quân từ rừng sâu kéo ra và từ ngoài biển đánh vào khiến cho
địch trở tay không kịp. Giảm thiểu việc đưa một đạo quân lớn từ Phú Xuân ra bắc
sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề, từ di hành đến lương thực, khí giới và trả
lời được câu hỏi tại sao Nguyễn Huệ có thể tập trung được một đạo quân lớn và
đánh tan quân Thanh trong một thời gian ngắn ngủi.
Từ
quan điểm đó, việc dàn trải lại sắp đặt của Nguyễn Huệ và biến chuyển trong chiến
dịch mùa Xuân năm Kỷ Dậu trở nên minh bạch, đơn giản hơn, không bị những vấn đề
không có câu trả lời (làm sao có thể tiến quân ra Bắc trong 4 ngày), loại trừ
được những tưởng tượng không phù hợp với thực tế (hai người võng một) và những
chuyện bên lề mà người ta thêm bớt một cách huyền hoặc.
KẾT LUẬN
Việc
điều quân của Nguyễn Huệ cho đến nay vẫn còn là một chuỗi nhiều huyền thoại. Mặc
dù những bức thư của các nhà truyền giáo đã được đưa ra ánh sáng hơn 30 năm nay
nhưng rất ít sử gia Việt Nam khai thác vì những chi tiết trong đó không phù hợp
với những gì người ta muốn miêu tả về thời Tây Sơn. Hầu hết chúng ta vẫn thích
lập lại những tường thuật trích từ Hoàng Lê Nhất Thống Chí của nhà họ Ngô coi
như chính sử, nhất là để tô vẽ cho một chiến thắng vẫn được coi như một thiên
Anh Hùng Ca của dân tộc.
Một
vấn đề chúng ta chưa lưu tâm đúng mức là hậu cần (logistics) trong quân đội để
tìm hiểu xem Nguyễn Huệ và bộ tham mưu của ông đã thực hiện việc di chuyển, tiềp
liệu, lương thực, y tế, tải thương ... như thế nào. Những vấn đề đó là những ưu
tư hàng đầu của các tướng lãnh trước khi bàn đến chiến thuật, chiến lược. Hậu cần
cũng liên quan đến thực trạng chính trị, kinh tế và khung cảnh xã hội của quốc
gia vì tài nguyên là một thực thể có những giới hạn nhất định, không phải là một
con bò sữa có thể vắt đến vô tận và phải được sử dụng một cách linh động.
Tuy
có được lợi điểm là “đánh trên đất nhà” nên binh sĩ Tây Sơn có thể bám rễ vào
quần chúng nhưng không phải vì thế mà chúng ta không nhận ra một số nhược điểm
được che đậy và tô điểm bằng một số từ ngữ, lập đi lập lại trong hầu hết các
nghiên cứu lịch sử. Những khó khăn đó vốn dĩ đã được các quân sự gia Tây phương
nhấn mạnh, gọi là “cọ xát” của chiến tranh (friction of war), ám chỉ sự tiêu hao
năng lực ảnh hưởng đến chiến đấu. Những cọ xát đó thường bị các sử gia bỏ quên
nên miêu tả những biến cố này như những hiện tượng hiển nhiên và chìm lẫn vào
những chi tiết sôi động hơn.
Một
quân sự gia Tây phương đã nhận định:
Cơ
bản để hoạch định của cấp chỉ huy là kiến thức vững chắc về tiếp liệu và di
hành; có thế ông ta mới biết làm sao và khi nào có thể liều lĩnh, mà chiến trận
chỉ có thể thắng khi dám mạo hiểm.
Cuộc
tiến quân của Nguyễn Huệ trong giai đoạn đầu rõ ràng phải dựa vào một hệ thống
tiếp liệu tại chỗ bao gồm một số doanh trại ông bố trí sẵn từ Phú Xuân ra Nghệ
An. Trong thời gian di hành, ông đã thực hiện nhiều lối di chuyển khác nhau
theo nhiều trục lộ và chỉ ấn định một “điểm hẹn” để tập kết. Việc tập trung lực lượng để
chuẩn bị “bôn tập” đó được thực hiện một cách rốt ráo, cực đoan có tính
một mất một còn. Lịch sử chứng minh rằng ông đã tính toán đúng trong lối tấn
công quyết tử (predatory warfare) nên hậu thế ít ai nhắc đến những thiệt hại của
bên mình.
Các
giáo sĩ Tây Phương tuy chỉ ghi nhận hiện tượng, nhiều chỗ chủ quan theo sự suy
nghĩ của họ và dựa vào những nguồn tin không chính xác (chẳng hạn số lượng quân
của cả hai phe) nhưng vẫn là những tài liệu nguyên thuỷ (primary sources) chưa
bị đãi lọc. Đối chiếu với những chi tiết quân sự, lối di hành liên tục (trong một
thời gian ngắn) không những cần thiết cho việc tấn công bất ngờ mà cũng là cách
duy nhất có thể kiểm soát được một đội tân quân khổng lồ bằng “dạ dày”, loại trừ
được những hiểm hoạ khi sử dụng thành phần quần chúng mà trước đó chưa lâu còn
đứng về phía đối nghịch với nhà Tây Sơn.
Chắc
chắn khi tiến quân đánh Thăng Long, Nguyễn Huệ không thể coi thường dân chúng Bắc
Hà hiện đã trở thành một cánh quân nằm phục sau lưng ở vùng Nghệ An Thanh Hóa,
trước đây đã từng phục kích tấn công Nguyễn Nhạc. Nếu như vì một lý do nào đó
mà việc giao binh với quân Thanh kéo dài hơn dự tính, sau lưng lại có dư đảng
nhà Lê, họ Trịnh nổi lên ông sẽ bị tấn công từ hai mặt, khó tránh khỏi một cuộc
chiến tiêu hao vốn là sở trường của Bắc Hà.
Ở
thời điểm quyết liệt này, ông đã huy động toàn lực thành phần dân chúng có nguy
cơ tiềm ẩn kia thành một cánh quân của mình, từ già chí trẻ, trai lẫn gái để đẩy
họ đi trước, dưới danh nghĩa cứu nước. Chúng ta khó lòng có thể tin được rằng
người dân ở đây “hàng loạt trai tráng nô nức tòng quân” như lối viết
sử có tính cách tuyên truyền, nhất là trước đây không lâu vùng này đã bị đói
kém liên tiếp, lại bị Nguyễn Hữu Chỉnh rồi Vũ Văn Nhậm “vét được hơn
3 vạn người” để tiến ra Bắc hồi cuối năm 1787. Đất Thanh Nghệ cũng
còn là đất tổ của nhà Lê, là quê hương của đám lính Tam Phủ vốn dĩ là cột trụ
chống giữ giang sơn cho họ Trịnh, nay trở thành đội quân tiền phong của nhà Tây
Sơn.
Chính
vì thế ông đã có thể tận dụng đến người cuối cùng của các xứ Thanh - Nghệ để
đánh một trận lớn dùng chiến thuật “biển người” tràn ngập đối
phương. Ông cũng tối ưu hoá được sức mạnh của mình, kết hợp sức mạnh của các sắc
dân thiểu số vùng Thượng Lào, và khai thác thành phần bị gạt ra ngoài lề xã hội
phải sống bằng nghề “cướp biển”.
Chúng
ta cũng có thể nghi ngờ và loại bỏ chi tiết về ngày tháng Nguyễn Huệ lên ngôi
hoàng đế chép trong sử triều Nguyễn. Nếu đúng như sự thông tin của các giáo sĩ
cho nhau, ông lên ngôi ngay từ đầu tháng 10 (Âm Lịch) và mất khoảng từ 40 đến
45 ngày để ra đến Nghệ An (cuối tháng 11) trung bình mỗi ngày có thể đi từ 10 đến
15 cây số.
Con
số này xem ra có vẻ hợp lý với một đội quân vào thế kỷ 18, phức tạp và cồng kềnh,
tổ chức còn sơ khai, thiếu hẳn một hệ thống tiếp liệu chu đáo. Nói tóm lại, một
khi loại trừ tất cả những huyền thoại của nhà Tây Sơn, đặt Nguyễn Huệ trở về
vai trò của một tướng lãnh cần “mạo hiểm” để chiến thắng, việc điều quân “thần tốc” chính là
phương thức để khắc phục những sở đoản mà ông không thể nhất thời giải quyết được.
Nguyễn
Duy Chính
[California,
Hoa Kỳ]
Nhận xét
Đăng nhận xét