Chuyển đến nội dung chính
Sài Gòn: Cờ đỏ và thứ Sáu đen
Sài Gòn:
Cờ đỏ và thứ Sáu đen
Tôi không lạ gì chuyện treo cờ tại Việt Nam nói chung và tại những khu phố
của Sài Gòn nói riêng vào những "ngày lễ lớn" của nước Việt Nam hiện
tại. Vào những dịp ấy thì các vị "tổ trưởng tổ dân phố" thường phải
đi tới đi lui, đôn đốc dân chúng treo cờ đỏ sao vàng, còn đảng viên Đảng Cộng sản
Việt Nam thì treo thêm cờ đỏ búa liềm vàng.
Ấy thế mà khi đến Sài Gòn vào cuối năm 2025, lần thứ nhì sau gần 20 năm,
tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên trước rất nhiều cờ, mà không phải vào một ngày lễ
lớn nào. Những lá cờ to treo trên cửa sổ các chung cư cao tầng, những giây cờ
giăng ở đầu các con hẻm các "khu phố văn hóa", cờ còn giăng trong các
cơ sở thương mại, quán ăn sang hèn đủ loại, trên cả xe buýt chở khách du lịch.
Không chỉ có cờ bằng vải, bằng giấy, người ta sơn cả cờ trên xe hơi, trên áo đồng
phục nhân viên, trên áo tài xế "xe ôm công nghệ".
Một người bạn cũ cho tôi biết là việc treo cờ rầm rộ và thường trực như vậy
bắt đầu từ những ngày lễ lớn trong năm 2025. Đó là 80 năm ngày Cách mạng tháng
Tám, 50 năm ngày chấm dứt Chiến tranh Việt Nam (tại Việt Nam gọi là ngày Giải
phóng miền Nam và Thống nhất đất nước).
Một điểm đặc biệt nữa của việc treo cờ là trước đây, khi ra các mệnh lệnh
treo cờ, người ta phân biệt giữa cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm. Nay thì
không, mặc dù theo quan sát của tôi thì số cờ đỏ sao vàng có nhiều hơn lá cờ
kia. Tôi có thấy cờ búa liềm in trên cả các mẫu áo đang là thời trang của thiếu
nữ Sài Gòn. Và rất thú vị khi thấy các nhóm du khách tư bản phương Tây ngồi
trên các xe buýt giăng đầy cờ búa liềm.
Màu cờ đỏ còn rực lên trên các bảng quảng cáo điện tử về đêm, đặc biệt là
trên tòa nhà Marina Tower, mới khánh thành trong năm 2025, với tham vọng là một
trung tâm tài chính quốc tế hàng đầu Việt Nam. Trong các tài liệu công khai thì
những người chủ, những người quản lý tòa nhà này còn rất trẻ, ra đời trong những
năm 1980.
Khi hoàng hôn buông xuống thành phố, băng ngang cầu Ba Son bên cạnh
Marina Tower, người ta như thấy rực lên màu sắc của chủ nghĩa tư bản Việt Nam
hiện tại, đỏ rực, với các dòng quảng cáo thương mại lấp lánh, với cả hình ảnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh và những câu chuyện cách mạng.
Nhưng chủ nghĩa tư bản Việt Nam còn có cả ngày thứ Sáu đen (Black Friday)
"giảm giá siêu khủng".
Black Friday vốn là một truyền thống văn hóa và thương mại tại Mỹ và một
số quốc gia phương Tây. Ngày này là ngày tiếp theo ngày lễ Tạ ơn
(Thanksgiving), là ngày thứ Năm cuối cùng của tháng 11 hằng năm. Black Friday
được dùng như là một ngày "hội mua sắm" với các chương trình khuyến
mãi, thúc đẩy tiêu dùng của xã hội tư bản chủ nghĩa.
Tôi đến Sài Gòn vài ngày trước Black Friday, và thấy bảng hiệu quảng cáo
giảm giá khắp nơi, nhất là những cửa hiệu, trung tâm thương mại tại trung tâm
thành phố.
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng được cho là dựa trên sự tiêu thụ tư bản
chủ nghĩa, nên thúc đẩy Black Friday có lẽ cũng rất tự nhiên.
Triều cường và xe buýt máy lạnh
Triều cường là một từ được dùng nhiều tại Sài Gòn, có lẽ đã hơn ba mươi
năm nay. Khi nước sông dâng lên, các khu dân cư thấp bị ngập, do nước tràn bờ từ
các con rạch cũng có mà từ hệ thống cống cũng có. Sau hàng chục năm, chính quyền
đã chi hàng chục ngàn tỷ để triển khai hàng loạt giải pháp chống ngập, nhưng
triều cường vẫn đến hẹn lại lên.
Không rõ hệ thống cống được thiết kế ra sao mà tại phần lớn các khu phố mới,
trong đó có những khu sang trọng như Thảo Điền, nước sông Sài Gòn vẫn dâng lên
tràn ngập.
Mà không chỉ nước sông, mà có cả nước cống rãnh đen kịt dâng lên trong những
ngày triều cường. Các con rạch ở những khu mới phát triển bị tắc nghẽn do rác
và nước thì ngày càng đen. Trong khi đó kế hoạch cải tạo con rạch Nhiêu Lộc tại
các khu trung tâm thành phố lại có vẻ như đã thành công, với những hàng cây cao
bên bờ kênh đã sạch hơn trước rất nhiều, cùng những thảm cỏ xanh được duy trì rất
tốt.
Sài Gòn vẫn là một thành phố của xe gắn máy với hàng triệu chiếc xe trong
giờ tan tầm. Những người bạn tôi cho biết là số lượng xe gắn máy có giảm đi, vì
công nhân rời thành phố khá nhiều, do kinh tế khó khăn một phần, phần khác là
các tỉnh xa cũng mở nhà máy và khu công nghiệp, nên công nhân về quê làm.
Thành phố kẹt xe liên tục, trong khi các nỗ lực giao thông công cộng cũng
bắt đầu có hình hài.
Tuyến tàu điện đầu tiên đã vận hành, chạy từ chợ Bến Thành, băng qua vùng
đông bắc của thành phố với ga cuối cùng ở khu vực Suối Tiên, vùng Thủ Đức ngày
trước. Tôi quan sát thấy số lượng người đi tàu điện khá đông, mà theo con số do
chính quyền công bố thì đạt 10 triệu lượt sau nửa năm vận hành, tính tới tháng
6/2025.
Tuy nhiên, do chỉ mới có một tuyến dài chừng 20km nên tác động của nó đối
với giao thông thành phố là chưa đáng kể. Hồi cuối năm ngoái, chính quyền thành
phố đưa ra đề án đến năm 2035 sẽ làm xong 355km đường sắt đô thị, đến năm 2045
sẽ có 510km. Đây là một mục tiêu vô cùng tham vọng, xét trên thực tế thành phố
đã mất chừng 16 năm để làm 20km đầu tiên nói trên.
Hệ thống xe buýt, vốn rất chật vật mấy mươi năm trước, nay có rất đông
người đi, tuy chưa đủ để thu hút hàng triệu người vẫn còn dùng xe gắn máy. Gần
chợ Bến Thành là một bến xe buýt trung tâm với hơn một chục tuyến xe buýt khác
nhau. Các tuyến xe do các công ty khác nhau vận hành, tất cả các xe đều có máy
lạnh và tiện nghi, trong đó có cả những xe chạy bằng điện.
Giá vé xe buýt rất thấp, chừng 5.000, 6.000 đồng (khoảng 25 cent tiền Mỹ)
một vé. Học sinh, sinh viên thì chỉ trả 50%, người trên 65 tuổi được miễn phí.
Xã hội số
Một sự khác biệt rất dễ nhận thấy cho những người không đến Sài Gòn trong
năm, hay sáu năm gần đây, đó là không có nhiều cảnh sát giao thông trên đường
phố như trước. Dù vậy việc tuân thủ đèn giao thông có vẻ nghiêm chỉnh hơn trước
rất nhiều, người đi xe gắn máy, vốn hay có thói quen lấn đường, nay dừng đúng vạch
đèn đỏ (càng xa trung tâm thì việc này càng ít nghiêm chỉnh hơn). Tài xế taxi
và bạn bè tôi cho biết là có một hệ thống camera quan sát dày đặc trên đường phố,
và dân chúng cũng tự lắp camera rất nhiều trước nhà họ. Những người vi phạm luật
giao thông sẽ bị chụp hình để "phạt nguội".
Hệ thống camera này có thể cũng là nguyên nhân làm giảm hẳn việc móc túi,
cướp giật trên đường phố. Người đi bộ với điện thoại cầm tay có vẻ rất thoải
mái.
Hệ thống camera đường phố là một hoạt động được thúc đẩy bởi kỹ thuật số
tại Việt Nam. Và kỹ thuật số đã tạo ra sự thay đổi rất nhanh chóng, ít nhất là
những hoạt động xã hội mà tôi thấy được tại Sài Gòn hiện nay.
Nhiều người đi xe buýt, metro trả tiền bằng ứng dụng điện thoại di động.
Các ứng dụng được sử dụng rộng rãi, trong đó có ứng dụng dùng để tìm các tuyến
xe buýt. Mã QR xuất hiện khắp các cơ sở thương mại, hàng quán. Ở những quán cóc
vỉa hè, khách hàng cũng có thể trả tiền một đĩa gỏi cuốn 30.000 (khoảng hơn một
đô la Mỹ) bằng cách quét mã QR của chủ quán.
Trong những ngày tôi ở Sài Gòn, báo chí và dân chúng đang bàn tán việc
nhà nước muốn các cơ sở thương mại kê khai thuế theo hóa đơn bán hàng chứ không
khoán như trước đây. Việc này dựa trên cơ sở là những giao dịch tự động ngày
càng nhiều đưa đến việc dễ dàng kiểm soát, nhưng chưa rõ là cách thức mới này
có thành công hay không. Nhiều quán ăn mà tôi ghé vào đề nghị trả tiền mặt hơn
là dùng mã QR.
Một người bạn của tôi ở Mỹ trong một chuyến về Việt Nam cho biết là việc
hẹn lịch cho những giấy tờ hành chánh cũng thực hiện bằng mã QR, và việc này,
cũng như việc sử dụng camera trên phố, đã làm giảm rất nhiều tầng nấc trung
gian, và do vậy giảm được ít nhất là sự nhũng lạm của các viên chức cấp thấp.
Kỹ thuật số đưa đến một tham vọng lớn hơn của những người đang cầm quyền
tại Việt Nam, đó là gắn chip vào thẻ căn cước công dân, và con chip này sẽ chứa
đựng toàn bộ những thông tin cá nhân, tài sản, đất đai, xe cộ, tiền bạc,... của
công dân. Không ít người Sài Gòn mà tôi tiếp xúc không mong muốn điều này.
Báo chí và lịch sử
Cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, các sạp bán báo hầu như biến mất
khỏi Sài Gòn. Tuy vậy, các tờ báo lớn tại thành phố này như Tuổi Trẻ, Thanh
Niên vẫn ra bản in hằng ngày. Các tờ báo in này có rất ít tin tức, mà chủ yếu
là những bài viết rất dài, phân tích chính sách này chính sách kia, chẳng hạn
như thúc đẩy việc kê khai thuế theo hóa đơn.
Các tin tức chính trị có vẻ cũng ít hơn. Trên tờ Tuổi Trẻ, số ra ngày
6/12/2025, có tin về việc Bộ Công an ra lệnh truy nã hai ông Lê Trung Khoa và
Nguyễn Văn Đài về tội "làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông
tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Việt Nam". Tin này chỉ chiếm một
góc nhỏ trên trang thứ 5 của tờ báo, đơn thuần đăng tải thông báo của công an
và không cho biết rằng hai ông hiện đang cư trú tại Đức, hai ông có phát ngôn,
hành động cụ thể nào mà bị công truy nã.
Tôi có xem một số sách về lịch sử hiện đại của Việt Nam được bày bán
trong các nhà sách, thì thấy rằng các sự kiện quan trọng trong mấy mươi năm
qua, là chuyện trại cải tạo đối với quân đội và viên chức Việt Nam Cộng hòa sau
năm 1975, và chuyện hàng mấy trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam cũng không hề được
nhắc tới.
Do vậy, điều làm tôi ngạc nhiên là tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh,
tôi thấy lần đầu tiên từ "nội chiến" được nhắc tới, trong một đoạn
nói về xung đột trong những năm 1960 giữa Mặt trận dân tộc giải phóng và quân đội
của chính quyền Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam.
Từ nội chiến vốn là một từ rất "nhạy cảm" đối với đảng cầm quyền
tại Việt Nam, cũng như là đối với các sử gia chính thống. Những người này cho rằng
cuộc chiến chấm dứt 50 năm trước là một cuộc chiến chống xâm lược, và tất cả những
lực lượng đối địch với họ đều là tay sai ngoại bang. Không có cách diễn giải
nào khác được chính quyền thừa nhận.
Xã hội chủ nghĩa
Trong 50 năm qua nước Việt Nam do Đảng Cộng sản cầm quyền. Từ năm 1986, họ
đã bỏ hệ thống kinh tế chỉ huy, và cho phép những hoạt động thị trường, cũng
như giao thương kinh tế với nhiều quốc gia tư bản chủ nghĩa phương Tây. Và
trong trong khoảng hai mươi năm gần đây, chính quyền Việt Nam hay đề cao một
công thức gọi là "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Công thức này làm tốn nhiều bút mực cả ở trong và ngoài nước Việt Nam,
khi người ta tranh cãi rằng đặt hai nội dung bên cạnh nhau như vậy thì liệu có
hợp lý hay không.
Tôi nhận thấy rằng công thức đó đã thành công trong ít nhất trong một
lãnh vực, đó là sức khỏe y tế công cộng, với một hệ thống bảo hiểm sức khỏe đơn
giản và có hiệu quả.
Trong hệ thống này, nhà nước là người đứng ra bán bảo hiểm y tế. Các công
ty mua bảo hiểm cho nhân viên của mình, còn những người làm việc tự do, hay
nông dân thì có thể mua bảo hiểm ở phường hay xã. Giá bảo hiểm khá rẻ, với số
tiền đóng cho người đầu tiên trong gia đình là cao nhất, khoảng 1.200.000/năm,
tức là khoảng 50 đô la Mỹ. Nếu so con số này với thu nhập trung bình đầu người,
số liệu từ Ngân hàng Thế giới, là hơn 4.000 đô la một năm, thì là con số rất nhỏ.
Nhưng quan trọng hơn là chất lượng của bảo hiểm đó như thế nào. Tất cả những
người mà tôi hỏi về chuyện này đều cho rằng họ hưởng được chất lượng chăm sóc rất
tốt, với các phương tiện hiện đại như MRI, các loại biệt dược nước ngoài, trong
trường hợp bệnh nặng. Tại các bệnh viện công vẫn có trường hợp hai người phải
dùng chung giường bệnh, nhưng còn có bệnh viện của tư nhân, cả hai hệ thống đều
được bảo hiểm y tế của nhà nước thanh toán, với những mức chi trả được quy định
cụ thể, nhưng người khá giả có thể trả thêm tiền để nằm bệnh viện tư nhân hoặc
các khu "dịch vụ" trong bệnh viện công, rộng rãi hơn, nhanh chóng
hơn.
Tuy nhiên, việc giải quyết trường hợp cấp cứu đối với những người không
có bảo hiểm bằng cách bắt buộc người bệnh phải đặt tiền cọc vẫn đang được áp dụng,
và việc này đang bị tranh cãi.
Vỉa hè không thân thiện và chiếc ghế trên xe buýt
Chuyện không có gì mới, nhưng không hiểu tại sao nó kéo dài như thế. Đó
là chuyện vỉa hè. Ở thành phố Sài Gòn, ngoài khu vực trung tâm được người Pháp
thiết kế trước đây, và có thể một số ít khu vực cao cấp sau này, có vỉa hè rộng
rãi cho người đi bộ, ngoài ra thì người đi bộ bị đối xử rất tệ, bằng bằng cách
bị đẩy xuống lòng đường. Không rõ nguyên nhân do đâu, do thói quen chạy xe gắn
máy, thói quen buôn bán nhỏ trên lề đường hay sự tắc trách của người qui hoạch?
Hay đơn giản là chẳng ai nghĩ tới chuyện đó?
Nhưng sự thân thiện của dân chúng là điều gây ấn tượng nhất. Sự thân thiện
không phải chỉ đối với người nước ngoài như căn tính của người Việt vốn như vậy,
mà đã có sự thay đổi trông thấy được trong cách ứng xử với nhau. Ít nhất là những
gì tôi quan sát được trên những chuyến xe buýt trong hơn hai tuần lễ rong ruổi
khắp Sài Gòn.
Tôi chọn xe buýt vì hai lý do, thứ nhất là hệ thống xe buýt đã tốt hơn rất
nhiều so với 20 năm trước. Thứ hai là trên xe buýt ta có thể quan sát những người
bình thường nhất của xã hội. Đa số những người đi xe buýt tại Sài Gòn hiện nay
là sinh viên, học sinh, người già, viên chức công sở, nhân viên công ty, những
người buôn bán nhỏ,… và đôi khi có vài du khách.
Không khí trên xe buýt yên tĩnh, rất hiếm khi có cuộc nói chuyện ồn ào.
Nhân viên soát vé nhã nhặn và giúp đỡ hành khách.
Và điều tôi ngạc nhiên nhất là tôi được các em nhỏ nhường ghế khi xe đông
đúc. Mà tôi không phải là người duy nhất, các cụ già, các chị phụ nữ luôn được
nhường ghế khi có đầy người.
Joaquin Nguyễn Hòa
Nhận xét
Đăng nhận xét