Chiến tranh Biên giới Việt-Trung
đã bị cố tình lãng quên
như thế nào?
Ở cả Trung Quốc và Việt Nam, hai chính phủ đã cố tình chôn
vùi những ký ức về cuộc chiến năm 1979 của họ.
Trong tiểu thuyết “Chiến hữu trùng phùng” (Reunions of
Companions-in-Arms) xuất bản năm 2001 của nhà văn đoạt giải Nobel Mạc Ngôn,
linh hồn của một người lính đã chết, Tiền Anh Hào, đã thổ lộ tâm tư với một người
đồng đội còn đang sống. Tiền thú nhận mình có tham vọng trở thành một anh hùng
thời chiến, hơn là một người lính thời bình. Vậy nên anh đã rất phấn khởi khi
được cử ra tiền tuyến, trong chiến dịch mà Trung Quốc gọi là cuộc chiến phản
kích tự vệ chống lại Việt Nam, một cuộc chiến mà cả hai bên đều sử dụng vũ khí
của Trung Quốc. Tiền tưởng tượng mình trở thành một chiến binh được vinh danh,
cách này hay cách khác. Nếu sống sót trở về, anh sẽ được tôn vinh; còn nếu tử
trận, thì cha mẹ nghèo khổ của anh cũng có thể nhận được chút tiền.
Nhưng thay vì nhận được vinh quang, Tiền đã ra đi khi thậm chí còn chưa
nhìn thấy kẻ thù. Anh và nhiều hồn ma lính chiến khác chợt nhận ra rằng, trong
cuộc chiến này, phần lớn những người lính đều chết trong âm thầm, và chỉ một số
rất ít được tôn vinh là anh hùng. “Hầu như những người như anh và tôi đều chết
trong bóng tối. Có người chết vì lạnh, có người chết đói, có người chết đuối dưới
sông, có người bị chó cắn chết, có người chết bệnh…”
Người đồng đội đáp lại “Tôi đau khổ nhưng không phải vì anh chết mà vì
cái chết của anh chẳng có ý vị hùng tráng nào. Anh có kỹ năng chiến đấu, thể lực
tốt, đầu óc thông minh, có phẩm chất anh hùng, nhưng lại chết không ai hay.”
Cuốn tiểu thuyết cũng mô tả tiếng kêu phẫn nộ của những hồn ma lính Trung
Quốc thiệt mạng trong cuộc chiến năm 1979 khi nghe tin hai kẻ thù chính thức
bình thường hóa quan hệ, bởi điều đó sẽ khiến những người được lệnh lên đường bảo
vệ đất nước của họ trở thành kẻ vô hình. Linh hồn của họ đã chẳng thể an nghỉ,
ngay cả khi họ đã không còn.
Đằng sau câu chuyện hư cấu này là một sự thật: Tại Trung Quốc, các cựu
binh và gia đình của những người lính tử trận trong Chiến tranh Biên giới Việt-Trung
không có cơ hội tưởng niệm họ, và cuộc chiến đã cố tình bị lãng quên. Mạc Ngôn
đã phải viện đến văn chương để phá vỡ sự im lặng, vì người ta không được phép
thảo luận công khai về cuộc chiến này.
Trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, phần tổng quan về quan hệ Việt-Trung
chỉ nói rằng quan hệ giữa hai bên đã xuống dốc từ những năm 1980 đến những năm
1990, nhưng không nêu rõ nguyên nhân. Chiến tranh Biên giới Việt-Trung cũng
không được nhắc đến. Dù trong những bối cảnh khác, Trung Quốc vẫn đề cập đến
các cuộc chiến biên giới khác – gồm Chiến tranh Trung-Ấn năm 1962, mà Trung Quốc
gọi là “cuộc phản kích biên giới tự vệ chống lại Ấn Độ” (Trung Ấn Biên cảnh Tự
vệ Phản kích) và Chiến tranh Trung-Nga năm 1969, còn gọi là “cuộc phản kích tự
vệ tại đảo Trân Bảo” (Trân Bảo Đảo Tự vệ Phản kích), cái gọi là “cuộc phản kích
tự vệ chống lại Việt Nam” (Đối Việt Tự vệ Phản kích) lại không hề xuất hiện.
Một cuộc chiến bất ngờ, nhanh chóng, và đẫm máu giữa các đồng chí
Năm 1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – khi đó mới thành lập được một năm
– là quốc gia đầu tiên công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Đảng Cộng sản Việt
Nam (ĐCSVN) lãnh đạo. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên công
nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) lãnh đạo.
Quan hệ giữa hai đảng giữ vị trí trung tâm trong quan hệ hai nước.
Trung Quốc là bên viện trợ lớn nhất cho Bắc Việt trong cuộc chiến chống lại
Pháp và Mỹ. Tuy nhiên, sự hỗ trợ thời chiến này chưa bao giờ là vô điều kiện. Kể
từ năm 1965, điều kiện để Trung Quốc đồng ý viện trợ là Hà Nội phải chấp nhận
thỏa hiệp về chính trị và ý thức hệ: Việt Nam sẽ phải công nhận vai trò lãnh đạo
của Trung Quốc ở Đông Dương, để Trung Quốc can dự vào các vấn đề đối ngoại của
Việt Nam, bao gồm cả việc tiếp nhận viện trợ từ Liên Xô. ĐCSTQ khi đó đang cung
cấp vũ khí cho Việt Nam, trong khi hỗ trợ của Liên Xô đa dạng hơn nhiều.
Dưới sự lãnh đạo của Tổng bí thư thân Liên Xô Lê Duẩn, Việt Nam dần xa rời
Trung Quốc. Giao tranh tại biên giới với Trung Quốc bắt đầu nổ ra kể từ năm
1973. Số vụ đụng độ biên giới giữa hai bên tăng vọt lên gấp bốn lần, từ 100 vụ
năm 1974 lên 400 vụ năm 1975, sau đó lên tới tận 900 vụ vào năm 1976.
Giữa năm 1976, Hà Nội bắt đầu áp dụng chính sách “đồng hóa” người Trung
Quốc tại Việt Nam, tiến hành quốc hữu hóa các “doanh nghiệp” thuộc sở hữu của
“tầng lớp tư sản” ở miền Nam Việt Nam, những người được cho là đang đe dọa quá
trình cải tạo xã hội chủ nghĩa của đất nước. Chính sách này chủ yếu nhắm vào
người Hoa – một nhóm thiểu số có đặc quyền ở Việt Nam.
Ngoài ra, trong thập niên 1970, Hà Nội cũng can thiệp vào chương trình giảng
dạy tại các trường học của người Hoa ở Bắc Việt, cấm các nội dung bị cho là có
biểu hiện của “chủ nghĩa dân tộc phản động”. Hà Nội cáo buộc Bắc Kinh lợi dụng
vấn đề người Hoa, đa số sống tại vùng biên giới, để phá hoại xã hội Việt Nam.
Cuộc di cư lớn của người Hoa trở lại Trung Quốc vào năm 1978 là lý do chính thức
khiến Bắc Kinh chấm dứt viện trợ cho Việt Nam.
Sau khi Việt Nam quyết định xích lại gần Liên Xô, Trung Quốc mất đi khả
năng can thiệp và gây ảnh hưởng đến các quyết định của Hà Nội. Nhà lãnh đạo
Trung Quốc lúc bấy giờ, Đặng Tiểu Bình, đã giải thích lý do của cuộc xâm lược
năm 1979: “Việt Nam là một đứa trẻ không nghe lời và cần bị đánh đòn.”
Chiến tranh biên giới là điều hoàn toàn bất ngờ đối với phía Việt Nam, vì
từ năm 1977, Đặng Tiểu Bình và Lê Duẩn đã đồng ý đàm phán về các vấn đề biên giới.
Ba vòng đàm phán do Việt Nam khởi xướng trong năm 1979 với phía Trung Quốc đều
không đi đến kết quả. Hơn nữa, bất đồng về vấn đề Campuchia lại càng khiến căng
thẳng gia tăng. Việt Nam ủng hộ chính phủ mà họ đã thành lập ở Phnom Penh sau
khi đưa quân vào nước này tháng 12/1978, trong khi Trung Quốc hậu thuẫn cho lực
lượng du kích ba bên, gồm cả Khmer Đỏ.
Cuối cùng, Đặng đã phát động cuộc chiến quy mô lớn chống lại Việt Nam chỉ
vài ngày sau chuyến đi của ông tới Mỹ, Nhật, và một số nước Đông Nam Á.
Theo cuốn “Cuộc chiến trường kỳ của Đặng Tiểu Bình: Xung đột quân sự giữa
Trung Quốc và Việt Nam, 1979-1991” (Deng Xiaoping’s Long War: The Military
Conflict between China and Vietnam, 1979-1991) của Trương Hữu Minh, Chiến tranh
Biên giới Việt-Trung gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1 (ngày 17-25/2/1979) là khi
Trung Quốc chiếm được các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai và một số thị trấn biên giới của
Lạng Sơn. Giai đoạn 2 (ngày 26/2-5/3/1979) là chiến dịch đánh Lạng Sơn và các
vùng lân cận phía đông, cùng với Sa Pa, Phong Thổ ở phía tây bắc. Giai đoạn cuối
cùng (đến ngày 16/3) có mục tiêu đánh bại các lực lượng Việt Nam còn lại, đồng
thời tiêu diệt các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới.
Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), dù tương đối lớn nhưng lại
thiếu kinh nghiệm chiến trường so với quân đội Việt Nam thiện chiến, đã nhanh
chóng rút lui. Các trận đánh lớn chỉ kéo dài chưa đầy một tháng, nhưng giao
tranh vẫn tiếp diễn trong suốt những năm 1980.
Tuyên truyền trong nước của Trung Quốc về cuộc chiến với Việt Nam
Theo quan điểm của Bắc Kinh, hành vi sai trái của Việt Nam đối với Trung
Quốc sau năm 1975, thể hiện qua tranh chấp biên giới và chính sách bài Hoa, là
một sự phản bội nguyên tắc cơ bản của quan hệ anh em Trung-Việt. Theo cuốn sách
xuất bản năm 2011 “Cuộc chiến Trừng phạt: Chiến dịch Tự vệ Chống Việt Nam của
PLA” (The Punitive War: The Liberation Army triggered the Anti-Vietnam
Self-Defense Operations) của Vương Lệ Lệ, Đặng Tiểu Bình đã bày tỏ ý định trừng
phạt Việt Nam ngay trong chuyến thăm Nhật Bản vào năm 1978: “Trung Quốc cần phải
trừng phạt Việt Nam thật nặng” vì “Trung Quốc không thể chịu đựng thêm nữa.”
Thông qua cuộc chiến, Trung Quốc muốn củng cố quan điểm lấy Trung Quốc
làm trung tâm thế giới, vốn coi các nước nhỏ nằm ở vùng ngoại vi của họ, bao gồm
cả Việt Nam, là thấp kém hơn họ và buộc phải chịu ảnh hưởng của họ. Chênh lệch
về quy mô và sức mạnh đã định hình quan hệ Việt-Trung suốt nhiều thế kỷ. Trong
lịch sử, các vị vua ở Việt Nam dù trong nước xưng Đế, thì đối với các hoàng đế
phương Bắc vẫn chỉ là Vương – ngay cả khi người Việt đã đánh bại họ về mặt quân
sự. Sự vô ơn của Việt Nam đối với khoản viện trợ trị giá khoảng 20 tỷ đô la từ
Trung Quốc, cũng như thái độ thiếu tôn trọng và không phục tùng đã cho thấy rằng
Việt Nam không muốn tiếp tục tuân theo những mệnh lệnh do Trung Quốc áp đặt.
Kết quả là, Đặng, kiến trúc sư trưởng của cuộc chiến chớp nhoáng, quyết định
dạy cho “cậu em trai” một bài học. Nhưng ông và Trung Quốc cũng phải trả giá,
dù cuộc chiến không gây ra hậu quả quốc tế đáng kể nào cho Trung Quốc. Đây chắc
chắn không phải là một trong những chương vinh quang nhất trong lịch sử của
PLA, lực lượng đã huy động hơn một phần tư lực lượng tác chiến của mình, tương
đương hơn 320.000 lính, nhưng gần như chẳng có tác dụng gì.
Đặng tức giận đến nỗi ông quyết tâm củng cố quân đội. Trong vài năm sau
đó, hàng trăm ngàn lính nghĩa vụ yếu kém đã bị loại ngũ.
Tệ hơn, những nỗ lực của ông nhằm tranh thủ cảm tình của người Mỹ, bằng
cách tiến hành những trận đánh đẫm máu nhất kể từ Chiến tranh Triều Tiên, đã phản
tác dụng. Nhiều người cho rằng liên minh bất thành văn của Đặng với Mỹ chỉ là một
chiến thắng về mặt quan hệ công chúng. Dù có ác cảm với người Việt Nam và Liên
Xô, Washington vẫn từ chối dính líu vào các vấn đề nội bộ của phe cộng sản. Mỹ
kêu gọi Việt Nam rút khỏi Campuchia, còn Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, trái với
mong đợi của Đặng. Ngoài ra, Mỹ cũng chấp thuận bán vũ khí cho Đài Loan, bất chấp
việc đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Xuyên suốt lịch sử, Trung Quốc luôn tự xưng là kẻ bất khả chiến bại nơi
chiến trường, nhưng cũng dễ bị tấn công từ bên ngoài. Việc mô tả Trung Quốc là
bên phát động chiến tranh sẽ đi ngược lại với nội dung tuyên truyền rằng ban
lãnh đạo của nước này chỉ hướng đến hòa bình. Là một nhà lãnh đạo thực dụng, Đặng
ủng hộ hòa bình và phát triển, khác với Mao, người ủng hộ chiến tranh và cách mạng.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn mô tả đất nước mình là một đất nước nhân
văn, kêu gọi không xung đột, không đối đầu, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng có
lợi, hòa hợp và công bằng. Công khai các thông tin về cuộc chiến sẽ khiến Bắc
Kinh mất mặt, cho thấy rằng họ không chỉ là kẻ thua cuộc, mà còn là kẻ dối trá.
Cuộc chiến với Việt Nam là một cuộc tấn công quân sự được tính toán kỹ lưỡng, với
Đặng Tiểu Bình giữ chức Tổng tư lệnh, chứ không đơn thuần là phản ứng tự vệ,
như được nói trong chương trình tuyên truyền của Trung Quốc.
ĐCSTQ cũng tự mô tả mình là người chiến thắng trong một cuộc chiến chớp
nhoáng. Kết cục ảm đạm và con số thương vong khổng lồ đã bị che đậy, để vẽ nên
bức tranh chiến thắng khải hoàn. Giới lãnh đạo Trung Quốc nói với người dân rằng,
hành động phản công tự vệ không chỉ giúp họ bảo vệ chủ quyền đất nước, mà còn
thực hiện sứ mệnh quốc tế: bảo vệ những người bạn ở Campuchia trong cuộc chiến
với Việt Nam, chống lại bá quyền toàn cầu của Liên Xô và tham vọng bá chủ khu vực
của Việt Nam. Tuy nhiên, những lập luận đó không thể buộc Việt Nam nhanh chóng
rút khỏi Campuchia. Bên cạnh Hiệp ước Hữu nghị với Liên Xô, ĐCSVN còn thiết lập
một quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương.
Trung Quốc cũng không hoàn toàn vô tội trong cuộc di cư của người Hoa khỏi
Việt Nam. Chính phủ Trung Quốc đã đồng ý tiếp nhận những người Hoa quay trở lại,
miễn là Việt Nam thừa nhận rằng những người tị nạn này là công dân Trung Quốc bị
chính phủ Việt Nam cô lập và đàn áp. Chính Trung Quốc đã đóng cửa biên giới với
nhóm sắc tộc này vào năm 1978 và yêu cầu Việt Nam nhận lại họ, với tư cách công
dân Việt Nam.
Vào thời điểm bài viết này được xuất bản, bốn học giả người Trung Quốc,
hiện đang sinh sống tại Trung Quốc đã không hồi đáp yêu cầu bình luận. Một giáo
sư lịch sử tại một trường đại học có trụ sở tại Bắc Kinh, người từ chối nêu
danh tính, cho biết: “Đây là vấn đề quá nhạy cảm để bình luận công khai.”
Một học giả Trung Quốc hiện đang làm việc tại châu Âu đã giải thích thêm:
“Việc bình luận về cuộc chiến [với Việt Nam] sẽ có tác động tiêu cực đến hình ảnh
lãnh đạo vĩ đại của Đặng Tiểu Bình. Ông là một biểu tượng.”
Cùng im lặng
Năm 2019, Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam (1995-2005),
người từng làm việc tại Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội vào những năm 1970, đã
xuất bản cuốn sách “Quan hệ Việt-Trung: 40 năm kinh nghiệm cá nhân”. Ông dành hẳn
một chương để nói về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, nhưng lại bỏ qua những
chi tiết liên quan đến cuộc chiến năm 1979.
Theo lời kể của Lý, Việt Nam là bên đầu tiên kêu gọi hướng tới bình thường
hóa quan hệ, mà không thông qua các kênh ngoại giao chính thức do Ngoại trưởng
Nguyễn Cơ Thạch đứng đầu. Ngoại trưởng Trung Quốc đã hai lần từ chối gặp ông Thạch.
Sau khi hội đàm cấp ngoại trưởng đi vào ngõ cụt, Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn
Văn Linh, người lên nắm quyền sau khi Lê Duẩn qua đời vào năm 1986, đã đề xuất
một cuộc gặp không chính thức: các đại diện Việt Nam sẽ đến Đại sứ quán Trung
Quốc để “trao đổi trực tiếp và sâu sắc” cùng các lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc.
Tuy nhiên, phía Trung Quốc đã truyền đi thông điệp rằng “Trung Quốc chưa sẵn
sàng để gặp Việt Nam,” và mục tiêu của phía Việt Nam có đạt được hay không còn
tùy vào chính ông Linh.
Theo hồi ký xuất bản năm 2013 “Khúc khải hoàn ca của Tướng Giáp” (La
Marseillaise du Général Giap) của Claude Blanchemaison, cựu Đại sứ Pháp tại Việt
Nam (1989-1993), vào mùa thu năm 1989, có tin đồn các lãnh đạo Việt Nam đã bí mật
sang Trung Quốc để tái khẳng định sự gần gũi về ý thức hệ và sự tương đồng về
chính trị.
Sự tan rã của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở châu Âu vào năm 1991 đã
làm tăng thêm cảm giác bất an của Việt Nam. Họ không thể tiếp tục duy trì chiến
lược chống Trung Quốc. Sau khi Lê Duẩn qua đời năm 1986, Tổng Bí thư Nguyễn Văn
Linh đã chủ động bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Theo Lý Gia Trung, vì Trung Quốc đang chuẩn bị cho Á vận hội vào thời điểm
đó, nên cuộc họp được tổ chức tại Thành Đô vì lý do bảo mật. Người ta không thể
biết chính xác những gì đã được thống nhất trong cuộc họp. Tuy nhiên, đề xuất của
Việt Nam về một liên minh quân sự đã bị từ chối.
Cuộc gặp được mô tả là khá thân thiện, hai bên đồng ý “gác lại quá khứ,
hướng tới tương lai,” mở đường cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa
hai nước vào năm 1991. Nguyễn Văn Linh được cho là đã nói “Chúng tôi quyết sửa
chữa những chính sách sai lầm trong quá khứ, và chúng tôi sẽ không bao giờ vô
ơn. Chúng tôi sẽ khôi phục chính sách về Trung Quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
cũng như tình hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng và hai nước.”
Buổi họp đã kết thúc bằng bài thơ của chính ông Linh: “Tình anh em đã bao
đời. Oán giận nay vụt tan mất. Gặp nhau ta nở nụ cười, nối lại tình bạn ngàn
năm.”
Ngược lại, phiên bản của Việt Nam lại nói rằng Trung Quốc đã khởi xướng
quá trình bình thường hóa, bởi Việt Nam có biểu hiện nghiêng về phương Tây
trong bối cảnh Trung Quốc bị cô lập sau sự kiện Thiên An Môn.
Tuy nhiên, trong khi Hà Nội tìm cách cải thiện quan hệ vì lý do kinh tế
và một vài lý do khác, Bắc Kinh lại khẳng định rằng quan hệ không thể được bình
thường hóa cho đến khi có một giải pháp hòa bình cho Campuchia, trong đó Việt
Nam phải rút quân hoàn toàn. Việt Nam cần phải im lặng để giành được sự ủng hộ
về vật chất và tinh thần của Trung Quốc.
Do đó, chính phủ Việt Nam chưa bao giờ công khai tổ chức ăn mừng chiến thắng
trước PLA, không giống như cách họ kỷ niệm chiến thắng quân sự trước Mỹ và Pháp
hàng năm. ĐCSVN biết rằng họ không thể xa rời Trung Quốc. Sự chần chừ của Hà Nội
khi thiết lập liên minh quân sự chính thức với Liên Xô nhằm chống lại Trung Quốc
chủ yếu là do tầm quan trọng của phần viện trợ còn lại và tiềm năng kinh tế của
Trung Quốc đối với công cuộc tái thiết kinh tế thời hậu chiến của Việt Nam – so
với một cam kết hỗ trợ không thực sự chắc chắn từ Liên Xô.
Trong cuốn hồi ký được lưu truyền trên mạng của mình, nguyên Thứ trưởng
Trần Quang Cơ viết, “Dù Trung Quốc có chủ trương bành trướng đến đâu, thì họ vẫn
là một nước xã hội chủ nghĩa.” Ông nói thêm rằng việc bỏ lỡ cơ hội bình thường
hóa quan hệ với Mỹ và việc chần chừ gia nhập ASEAN vào thời điểm đó đã khiến Việt
Nam trở thành kẻ cô độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng.
Điều nghịch lý là tính chính danh của chính phủ Việt Nam bắt nguồn từ việc
tuyên bố giành chiến thắng trước quân xâm lược nước ngoài. Ngăn cản người dân
tưởng niệm cuộc chiến sẽ có ảnh hưởng bất lợi đến quyền lực của chính phủ. Tuy
nhiên, lễ kỷ niệm chính thức Chiến tranh Biên giới ở Việt Nam vẫn chỉ mang tính
thụ động và hạn chế.
Quan hệ giữa hai bên đã tiếp tục được cải thiện từ những năm 1990 đến thế
kỷ 21. Năm 2008, Việt Nam và Trung Quốc chính thức nâng cấp quan hệ lên đối tác
chiến lược toàn diện, lần đầu tiên Việt Nam có một quan hệ như vậy. Quan hệ đối
tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc cho thấy Việt Nam dành ưu tiên cho quan
hệ với nước láng giềng. Họ chỉ áp dụng cách tiếp cận cứng rắn hơn với Trung Quốc
sau hành động hung hăng của Bắc Kinh tại các khu vực đang tranh chấp ở Biển
Đông vào năm 2014.
Chiến tranh Biên giới Việt-Trung hoàn toàn không được nhắc đến trong sách
giáo khoa Trung Quốc. Nó cũng chỉ xuất hiện ngắn ngủi trong phần cuối của sách
giáo khoa lớp 12 tại Việt Nam. Sau gần nửa thế kỷ, cả hai bên vẫn đàn áp việc
tưởng niệm cuộc chiến đã gây ra cái chết của hàng chục nghìn binh sĩ của hai nước.
“Mọi cuộc chiến đều xảy ra hai lần, lần đầu là trên chiến trường, lần thứ
hai là trong ký ức,” nhà văn đoạt Giải Pulitzer Nguyễn Thanh Việt viết trong cuốn
sách “Không gì có thể qua đi: Việt Nam và ký ức chiến tranh” (Nothing Ever
Dies: Vietnam and the Memory of War). Sự im lặng chính thức về Chiến tranh Biên
giới Việt-Trung bắt nguồn từ nỗ lực của cả hai chính phủ, cố gắng kiểm soát ký ức
tập thể – đối lập với nỗ lực của người dân nhằm hiểu được những bất công.
Người dân ở cả hai nước không thể quên được cuộc chiến, họ vẫn tiếp tục đấu
tranh để những khổ đau và hy sinh của thường dân được công nhận. Mạc Ngôn khẳng
định rằng tác phẩm của ông không phải là điếu văn tiếc thương người anh hùng.
Những người lính này không là gì khác ngoài những người bình thường bị kéo vào
cuộc chiến, để rồi phải chết những cái chết bi thảm. Tiểu thuyết của Mạc Ngôn
tin rằng những cuộc đối thoại trong thế giới siêu nhiên có thể xoa dịu nỗi đau
của họ – bởi những cuộc thảo luận trong thế giới thực đã sớm bị dập tắt.
Nhận xét
Đăng nhận xét