TÀU XÂM LƯỢC VIỆT NAM-1979:
4
MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA TRUNG QUỐC
Theo hồi ký của tướng Châu Đức Lễ, Tham mưu trưởng Quân khu Quảng Châu,
tháng 9 năm 1978, tại văn phòng Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân
Trung Quốc diễn ra một cuộc họp về "cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị
quân Việt Nam chiếm đóng". Mối quan tâm ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột
biên giới. Đề xuất đầu tiên tại cuộc họp muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một
trung đoàn Việt Nam tại Trùng Khánh, Cao Bằng, Việt Nam giáp với Quảng Tây,
Trung Quốc. Sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công
Campuchia, đa số người dự họp cho rằng cần có một cuộc tấn công tác động lớn đến
Hà Nội và tình hình Đông Nam Á. Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính
quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn. Cuộc họp kết thúc mà không đưa ra
quyết định nào.[47]
Tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và
Singapore. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình nói với lãnh đạo các nước này rằng
Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.[47]
Ngày 7 tháng 12 năm 1978, Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa họp và ra quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở biên giới Việt Nam -
Trung Quốc. Cuộc chiến này sẽ được tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50
cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần. Ngày 8 tháng 12 năm 1978, Quân ủy
Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra chỉ thị cho các Quân khu Quảng Châu
và Côn Minh chuẩn bị đầy đủ lực lượng trước ngày 10 tháng 1 năm 1979 để thực hiện
chiến dịch tấn công Việt Nam.[47]
Tuyên bố chiến tranh của Bắc Kinh nói rằng đây là cuộc chiến để quân
Trung Quốc "phản công" chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Phát
ngôn viên của Tân Hoa xã nói: "Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành
động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào
khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của Việt Nam. Cái chúng tôi muốn là
một đường biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả các thế lực hiếu chiến
đủ mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ quay lại bảo vệ chặt
chẽ biên giới của tổ quốc".[46]
Nhiều nhà sử học phương Tây cho rằng cuộc chiến có những mục đích không
rõ ràng, trong đó dễ thấy nhất là mục đích trừng phạt Việt Nam vì đã lật đổ chế
độ Khmer Đỏ tại Campuchia – một đồng minh của Trung Quốc và là một trong những
chế độ tàn bạo nhất của thế kỷ XX. Về sau, một số nhà sử học suy đoán rằng cuộc
chiến có vẻ là một phần trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội của Đặng Tiểu Bình
khi nó thể hiện rõ các khiếm khuyết của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Những
người khác cho rằng Đặng Tiểu Bình gây ra chiến tranh để giữ cho quân đội bận rộn
trong khi ông củng cố quyền lực và loại bỏ các đối thủ cánh tả từ thời Mao Trạch
Đông.
Tiến sĩ Xiaoming Zhang, từ trường Air War College, Hoa Kỳ cho rằng Đặng
Tiểu Bình quyết định tấn công Việt Nam vì "Nguyên do trước tiên và quan trọng
nhất là cách Đặng phản ứng trước đe dọa của Liên Xô với Trung Quốc khi đó. Liên
minh của Hà Nội với Moskva khiến Đặng tin rằng đe dọa của Liên Xô không chỉ từ
phía bắc mà cả từ phía nam... Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng tấn công trừng
phạt Việt Nam sẽ là cú đòn đánh vào chiến lược bành trướng toàn cầu của Liên
Xô. Rốt cuộc có lẽ Trung Quốc đã phản ứng thái quá trước đe dọa của Liên Xô.
Nhưng vào lúc đó, Đặng Tiểu Bình thực sự tin vào nó. Còn có những yếu tố khác
tác động quyết định gây chiến của Đặng, gồm chính trị trong nước và quan hệ với
Mỹ. "Hành vi sai trái" của Việt Nam, đặc biệt là liên minh với Liên
Xô, làm người Trung Quốc giận dữ. Họ muốn trừng phạt đồng minh phản bội sau nhiều
năm Trung Quốc phải hy sinh giúp đánh Mỹ. Các va chạm biên giới cũng khích động
tình cảm người Trung Quốc. Yếu tố tình cảm đóng vai trò quan trọng để tạo nên sự
đồng thuận trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự ủng hộ Đặng gây chiến... Đặng
tin rằng liên minh với phương Tây sẽ chứng tỏ Trung Quốc có giá trị trong cuộc
đấu tranh chống Liên Xô bành trướng và rằng để đổi lại, phương Tây sẽ giúp
Trung Quốc cải tổ kinh tế. Ngoài ra, đấu tranh quyền lực trong đảng, cộng thêm
phe nhóm trong quân đội, cũng khiến Đặng càng sẵn sàng có hành động quân sự chống
Việt Nam. Theo ông ta, làm thế sẽ khuấy động ủng hộ trong nước và nước ngoài, tạo
nên môi trường an toàn và ổn định để Trung Quốc hiện đại hóa".[48]
Theo Carl Thayer, trong mắt Trung Quốc, Hà Nội đã vô ơn với Bắc Kinh: sau
khi được giúp đỡ trong cuộc chiến chống Mỹ thì quay sang bạc đãi cộng đồng người
Hoa, quan hệ nồng ấm với Liên Xô mà khi đó Trung Quốc coi là kẻ thù, rồi lại tấn
công quân sự lật đổ đồng minh Khmer Đỏ của Bắc Kinh. Trung Quốc muốn "dạy
cho Việt Nam một bài học" vì đã thách thức uy quyền và ảnh hưởng của Trung
Quốc tại vùng Đông Dương. Bên cạnh việc xâm lấn Việt Nam để "bình định
vùng biên giới" sau nhiều năm căng thẳng với các xung đột ngày càng nhiều,
Trung Quốc phải hành động để chứng tỏ uy tín của mình trong việc bảo vệ đồng
minh Khmer Đỏ.[49]
Đối với Việt Nam, cuộc chiến là một phần trong kế hoạch bành trướng về
phía nam của Trung Quốc.[50][51] Trước khi có xung đột, Việt Nam đã đề phòng những
kế hoạch tiến xuống Đông Dương (bao gồm biển Đông). Trung Quốc đã viện trợ vũ
khí, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác cho Campuchia và xây dựng nhiều cơ sở hạ
tầng, đồng thời xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam. Sau khi khống chế
Campuchia rồi sẽ dùng bàn đạp để phối hợp với quân Trung Quốc ở phía bắc làm thế
gọng kìm bao vây, nếu cần sẽ tấn công để buộc Việt Nam khuất phục. Theo phân
tích của phía Việt Nam, mục tiêu chính của Trung Quốc trong hành động quân sự lần
này gồm:[52]
Nhanh chóng chiếm đóng vùng biên giới Việt – Trung, đặc biệt là các thị
xã trọng yếu gồm Lạng Sơn (chốt chặn nối Quốc lộ 1 của Việt Nam với Trung Quốc),
Cao Bằng và Lào Cai. Vùng chiếm đóng dự kiến với bề sâu chừng vài chục km sẽ được
Trung Quốc sử dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào sâu nội địa Việt Nam.
Tiêu hao lực lượng chủ lực và làm suy yếu khả năng phòng ngự phía Việt
Nam bằng việc quét sạch các đồn biên phòng, tiêu diệt một phần lực lượng quân địa
phương và các đơn vị quân độc lập khác của Việt Nam.
Hủy diệt cơ sở hạ tầng và nền kinh tế ở các vùng chiếm đóng để đưa nền
kinh tế Việt Nam tới chỗ sụp đổ.
Nhận xét
Đăng nhận xét