TÀU XÂM LƯỢC VIỆT NAM-1979:
13
ĐÁNH GIÁ CUỘC CHIẾN
Cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng.
Phía Việt Nam
Lời nói đầu Hiến pháp Việt Nam năm 1980
khẳng định "Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta
thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với
bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia.
Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi
oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động
Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới
phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của
mình".[118]
Phía Trung Quốc
Đặng Tiểu Bình khẳng định mặc dù có nhiều thất bại về quân sự nhưng Trung
Quốc "đã đạt được chiến thắng về chính trị và chiến thắng chung cuộc".
Ông còn khẳng định quân Trung Quốc "đã có thể tiến thẳng tới Hà Nội nếu muốn".
Quan điểm ít phổ biến hơn là của Trần Vân (Phó Thủ tướng, một trong 5 nhân vật
quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu
Kỳ, Chu Ân Lai và Chu Đức) cho rằng việc chiếm được Hà Nội không phục vụ được mục
đích gì cả, cuộc chiến sẽ có chi phí nặng nề quá sức chịu đựng nếu kéo dài thêm
6 tháng nữa, và vì lý do tài chính không nên lặp lại một cuộc chiến không phân
thắng bại như vậy.[106]
Trong bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình tại hội nghị quân chính nội bộ
ngày 16 tháng 4 năm 1979 (sau khi rút quân về nước 1 tháng), Đặng Tiểu Bình chỉ
trích gay gắt các quan chức chính quyền và các lãnh đạo quân đội về những sai lầm
trong chiến dịch: "Đánh lần này vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam.
Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là 5 đánh 1, 6 đánh 1. Chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào
Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí 6 đánh 1, 7 đánh 1…" nhưng
"…thương vong của chúng ta gấp 4 lần so với Việt Nam. Thần thoại của chúng
ta đã bị hủy diệt” (ý nói về uy thế của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc).[119]
Tướng Trương Chấn – Chủ nhiệm Tổng bộ Hậu cần – nhớ lại rằng vấn đề tồi tệ
nhất gặp phải trong giai đoạn Trung Quốc chuẩn bị chiến đấu là sự thiếu đạn dược
và chất lượng kém. Kiểm tra ban đầu cho thấy rằng không ít đạn pháo xịt và 1/3
số lựu đạn lép. Trong cuộc chiến, trung bình mỗi ngày quân Trung Quốc tiêu thụ
đạn dược và nhiên liệu là 700 tấn cho mỗi loại. Tính tổng cộng cả cuộc chiến,
Trung Quốc đã sử dụng tới 1,06 triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu
viên đạn cá nhân và nhiều loại trang bị cá nhân. Với một số lượng đáng kể các
thiết bị kỹ thuật quân sự, Trung Quốc bị thiếu kỹ sư bảo trì. Do thiếu xe vận tải
và đường sá kém, Trung Quốc phải huy động hàng chục vạn dân công nhưng vẫn
không vận chuyển kịp hàng hóa, hệ thống cung cấp luôn trong tình trạng quá tải,
làm giảm đáng kể hiệu quả chiến đấu của binh lính và vũ khí trên chiến trường.[120]
Henry Kissinger
đánh giá về cuộc chiến tranh này: "Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi
xung đột. Các trung tâm quyền lực của phong trào cộng sản cuối cùng đã tiến
hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ
mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc".[18]
Theo đánh giá của tác giả King C. Chen
,[106] quân Trung Quốc có lẽ đã đạt được 50–55% các mục tiêu có giới hạn
của mình.[121] Bên cạnh thành công trong việc bám theo được khá sát các kế hoạch
tiến quân và rút quân,[121] quân Trung Quốc đã không đạt được kết quả như các mục
tiêu đã công bố: họ đã không tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam; không chấm
dứt được xung đột có vũ trang tại vùng biên giới; không buộc được Việt Nam rút
quân khỏi Campuchia;[122] không gây được ảnh hưởng lên chính phủ Việt Nam trong
vấn đề Hoa kiều.[123]
Điểm yếu của quân Trung Quốc là vũ khí và phương tiện lạc hậu. Ngoài ra,
họ đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Việt Nam. Cuối tháng 12 năm 1978, Thứ trưởng
Bộ Quốc phòng Trung Quốc Túc Dụ báo cáo tại Kì họp thứ ba của Đảng Cộng sản
Trung Quốc rằng chỉ cần dùng một phần lực lượng của các quân khu Quảng Châu và
Côn Minh là đủ để đánh chiếm Hà Nội trong vòng 1 tuần. Trong thực tế, quân
Trung Quốc đã cần tới 16 ngày với 10 sư đoàn từ 6 quân khu (lực lượng bằng tổng
hai quân khu Quảng Châu và Côn Minh) để đánh chiếm thị xã Lạng Sơn, một thị xã
chỉ cách biên giới 15 km và còn cách xa Hà Nội tới 135 km. Trung bình mỗi ngày
quân Trung Quốc chỉ tiến được 0,9 km và họ đã mất 16 ngày chỉ để chiếm được
1/10 quãng đường tới Hà Nội.[124] Sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu và tinh thần
kém cũng nằm trong các điểm yếu của quân Trung Quốc.[122]
Về quân sự, tác giả Edward C. O'Dowd[125]
đánh giá rằng quân Trung Quốc đã thể hiện trình độ chiến đấu kém trong cuộc
chiến. Tại Lạng Sơn, 2 quân đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn Việt Nam cầm
chân trong 1 tuần, một quân đoàn khác cần đến 10 ngày để lấy Lào Cai và Cam Đường
– hai đô thị cách biên giới không đến 15 km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến
mức cần ít nhất 2 quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên
bố đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một trung đội Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng đồng
hồ một trung đoàn Trung Quốc đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới,
gây thương vong cho 360 trong quân số 2.800 của trung đoàn này. Những tổn thất
nhân mạng như vậy lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại ít hiệu quả. Quân Trung
Quốc đã không sử dụng được số quân đông một cách hiệu quả bằng các chiến thuật
thích hợp và do đó không thể đạt được tốc độ hành binh như mong muốn của chiến
lược "đánh nhanh thắng nhanh" . Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến
thuật tác chiến của quân đội Trung Quốc vốn gần như không được cải thiện kể từ
sau chiến thuật biển người ở chiến tranh Triều Tiên những năm 1950. Thất bại về
mặt chiến thuật đã buộc Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đẩy mạnh
quá trình hiện đại hóa quân đội nước này.[83]
Trên phương diện quan hệ quốc tế
cuộc chiến Việt – Trung cho thấy rằng
Trung Quốc, với sự ủng hộ từ phía Hoa Kỳ, sẵn sàng can thiệp quân sự vào Việt
Nam – một quốc gia cộng sản từng là đồng minh trong nhiều năm. Kết quả chiến
tranh cũng cho thấy Việt Nam đủ sức chống lại sự can thiệp quân sự đó mà không
phải điều động quân chủ lực từ biên giới Tây Nam và miền Nam Việt Nam. Những sự
kiện từ cuộc chiến cho thấy mối quan hệ ngoại giao phức tạp Liên Xô – Trung Quốc
– Việt Nam với kết quả là Trung Quốc không thể tung toàn bộ lực lượng vào cuộc
chiến nhằm "dạy cho Việt Nam một bài học" vì chịu sức ép từ phía Liên
Xô, đồng thời Liên Xô cũng không sẵn sàng tung quân đội vào tham chiến bảo vệ đồng
minh mà chỉ tập trung viện trợ kinh tế, quân sự. Điều này đã khiến cho rất nhiều
người Việt Nam sau đó nghi ngờ về đồng minh Liên Xô cũng như đối với Liên Xô thật
sự là một sự thất bại về uy tín.[126] Kết quả cuộc chiến cũng cho thấy Trung Quốc
bất lực trong việc hỗ trợ đồng minh Khmer Đỏ trong cuộc chiến với Việt Nam và
thất bại trong việc điều chỉnh quan hệ ngoại giao để tăng cường ảnh hưởng ở khu
vực Đông Nam Á.[24][110]
Nhiều quan điểm khác cho rằng Trung Quốc đã thất bại về
quân sự nhưng lại đạt được một số thành công về chiến lược, trong đó có việc chứng
tỏ cho các nước Đông Nam Á rằng họ sẵn sàng dùng vũ lực nếu vị thế và uy lực của
mình bị thách thức.[49]
Tiến sĩ Trương Hiểu Minh (Xiaoming Zhang), từ trường Cao đẳng Chiến tranh
Hàng không, Hoa Kỳ, là tác giả cuốn sách Deng Xiaoping's Long War: The Military
Conflict between China and Vietnam 1979 – 1991 ra mắt năm 2015, đánh giá
"Đối với Đặng, dạy Việt Nam "bài học" là thông điệp không chỉ gửi
cho Việt Nam mà cả cho Liên Xô, Mỹ và các nước phương Tây. Phản ứng của Việt
Nam trước cuộc xâm lược là phòng thủ biên giới phía bắc, tiếp tục chính sách
thù địch với Trung Quốc, dựa vào Liên Xô để có hỗ trợ tài chính và kinh tế. Để
đáp lại, Mỹ và phương Tây từ năm 1979 có vẻ quan tâm hơn việc cung cấp hỗ trợ
tài chính và công nghệ giúp Trung Quốc cải cách kinh tế. Mỹ không còn nghĩ
Trung Quốc là đe dọa, tuy chưa phải là đồng minh. Vì thế Mỹ có thể dốc toàn lực
để đánh bại Liên Xô trong thập niên cuối cùng của Chiến tranh Lạnh. Bên trong
Trung Quốc, Đặng không chỉ củng cố được quyền lực chính trị mà cũng thực hiện cả
nghị trình cải tổ kinh tế. Liên Xô ở trong tình thế nhiều khó khăn trong thập
niên cuối của Chiến tranh Lạnh. Vừa phải cạnh tranh với Mỹ trên toàn cầu,
Moskva cũng đối diện thách thức của Trung Quốc ở châu Á. Từ góc nhìn chiến lược,
cả Việt Nam và Liên Xô đều gặp khó khăn hơn Trung Quốc. Vì thế Liên Xô rốt cuộc
nhận ra họ không thể tiếp tục hỗ trợ Việt Nam vào cuối thập niên 1980. Việt Nam
phải tìm đến Trung Quốc, thừa nhận sai lầm chính sách từ năm 1978. Rốt cuộc,
Trung Quốc đã vượt mặt Việt Nam cả về chính trị và chiến lược".[48]
Báo Nhân dân trích lại quan điểm của một người nghiên cứu Chủ nghĩa Xã hội
tại Campuchia khi đó: "Thế là rõ cả. Có người cách mạng nào trên thế giới
đến nay còn phân vân những người lãnh đạo Trung Quốc có còn là cách mạng không?
Tiến công Việt Nam, chúng nó vứt hết mọi mặt nạ giả dối, hiện ra nguyên hình là
bọn đế quốc mới, bọn phản cách mạng, và cái chế độ Xã hội Chủ nghĩa của chúng
chỉ là giả hiệu!" [1
Nhận xét
Đăng nhận xét