TÀU XÂM LƯỢC VIỆT NAM-1979:
6
DIỄN BIẾN CUỘC CHIẾN:
QUÂN SỰ & NGOẠI GIAO
QUÂN SỰ
Theo nguồn tin từ Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), thì từ giữa năm
1978, Trung Quốc đã hoàn chỉnh các phương án tác chiến, các đơn vị quân đội
Trung Quốc đã sẵn sàng mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn chống Việt Nam, chỉ
cần thời cơ đến là phát động chiến tranh. Trong những buổi họp của Trung ương Đảng
Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 đến cuối năm 1978, nhiều biện pháp trừng
phạt Việt Nam bằng quân sự được đưa ra bàn thảo. Từ giữa tháng 12 năm 1978,
Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm quân khu và đưa áp sát biên giới
Trung – Việt.[18]
Từ tháng 10 năm 1978 cho đến 15 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc thực hiện
hàng loạt các vụ tấn công thăm dò vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam tại
biên giới, với mục đích thu thập thông tin tình báo, đe dọa quân Việt Nam, và
đánh lạc hướng khỏi mục tiêu chính của chiến dịch sắp tới. Các cuộc tấn công nhỏ
này tăng dần về quy mô và tần số khi lực lượng Trung Quốc tập trung tại biên giới
ngày càng đông. Không có tài liệu gì về các cuộc tấn công thăm dò của quân Việt
Nam.[59] Dấu hiệu đầu tiên của chiến tranh là việc Trung Quốc cắt đứt tuyến đường
sắt Hữu Nghị nối liền hai nước vào ngày 22 tháng 12 năm 1978.[60] Đến cuối
tháng 1 năm 1979, khoảng 17 sư đoàn chính quy Trung Quốc (khoảng 225.000 quân)
đã tập trung gần biên giới với Việt Nam. Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay
ném bom – 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc – đã được đưa đến các sân bay gần
biên giới.[61] Các động thái leo thang này của Trung Quốc đã được phía Việt Nam
đề cập tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ngày 11 tháng 2 năm
1979.[24]
Từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 2 năm 1979, Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản
Trung Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình
hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung. Ngày
16 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến
tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp nước này. Trong cuộc họp này, Đặng
Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn
mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian.[18]
Để cảnh báo Liên Xô và cũng nhằm ngăn chặn bị tấn công từ hai mặt, Trung
Quốc đặt toàn bộ quân đội đóng dọc biên giới Trung – Xô vào tình trạng báo động
đồng thời thiết lập một sở chỉ huy quân đội mới ở Tân Cương và di tản 300.000
dân khỏi vùng biên giới với Liên Xô.[62]
Để đối phó lại việc Trung Quốc tập trung bộ binh và vũ khí hạng nặng tại
biên giới, cũng như việc các cuộc đột kích vũ trang ngày càng gia tăng, Việt
Nam tiến hành chuẩn bị các vị trí phòng ngự, chuẩn bị tinh thần dân chúng sẵn
sàng một khi chiến tranh xảy ra. Tuy nhiên Việt Nam tại thời điểm đó vẫn tin rằng
Trung Quốc sẽ không tấn công, vì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa
anh em. Thêm nữa, Việt Nam tin rằng đa phần nhân dân Trung Quốc không ủng hộ
chiến tranh và sẽ phản đối chiến tranh nổ ra. Ngoài ra, tuyên bố của Đặng Tiểu
Bình chỉ một tuần trước khi chiến tranh nổ ra, rằng chiến dịch quân sự của Quân
Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sẽ không dài hơn cuộc chiến 1962 với Ấn Độ, cộng
với các tuyên bố của Đặng trước đó rằng chiến dịch quân sự này "giới hạn về
không gian và thời gian", khiến Hà Nội tin tưởng họ có khả năng cầm chân
quân Trung Quốc tại các tỉnh biên giới.[63]
Lực lượng Việt Nam đương đầu với cuộc tấn công của Trung Quốc chủ yếu là
dân quân và bộ đội địa phương. Từ vài tháng trước khi chiến tranh nổ ra, Hà Nội
đã tiến hành huấn luyện và trang bị vũ khí hạng nhẹ cho dân quân tại các tỉnh
biên giới. Chỉ có một số đơn vị quân chính quy tham gia chiến trận, nhất là các
đơn vị phòng thủ Lạng Sơn, nhưng ngay cả tại đây, lực lượng chủ yếu vẫn là dân
quân và quân địa phương. Hà Nội giữ lại 5 sư đoàn chủ lực ở tuyến sau đề phòng
Trung Quốc tiến sâu về đồng bằng, và đồng thời cũng để giới hạn việc cuộc chiến
leo thang.[64]
Từ tháng 1 năm 1979, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động trinh sát
vũ trang dọc biên giới. Trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2 năm 1979,
Trung Quốc gây ra 230 vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn
cho tới phục kích, bắt cóc người đưa về Trung Quốc, tập kích, bắn phá các đồn
biên phòng và trạm gác của công an, dân quân Việt Nam cũng như các cơ sở sản xuất
của người dân. Trong những vụ xâm phạm này, lính Trung Quốc đã giết trên 40 dân
thường và chiến sĩ, làm bị thương hàng trăm người và bắt đi hơn 20 người. Có những
vụ diễn ra sâu trong lãnh thổ Việt Nam tới 5 km như vụ tập kích trạm gác của
dân quân ở Bản Lầu (Hoàng Liên Sơn) ngày 14 tháng 1, có những vụ quy mô lớn như
huy động 1 tiểu đoàn chính quy tấn công bình độ 400 ở Thanh Lòa, Cao Lộc (Lạng
Sơn) ngày 10 tháng 2, có những vụ pháo kích lớn đã sử dụng cả tới pháo 85mm,
súng cối, ĐKZ,...
Ngày 1 tháng 1 năm 1979, theo chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương Việt
Nam, các lực lượng vũ trang biên giới được lệnh chuyển sang trạng thái sẵn sàng
chiến đấu cao. Ngày 15 tháng 2, ngoại trừ các xã biên giới và một vài đơn vị,
các lực lượng trên tuyến 1 được lệnh hạ cấp xuống trạng thái sẵn sàng chiến đấu
tăng cường. Nhiều đơn vị tổ chức cho phần lớn bộ đội về trạng thái sinh hoạt
bình thường, di chuyển, điều chỉnh lại đội hình bố trí…[65]
Ngoại giao
Ngày 12 tháng 8 năm 1978, trước khi tấn công Việt Nam, Trung Quốc ký với
Nhật Bản Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị có giá trị trong mười năm và sẽ tái ký sau
đó nhằm tạo sự ổn định tại khu vực Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc.
Ngày 5 tháng 11 năm 1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN. Trong
chuyến đi ngày Đặng nói rằng, việc Việt Nam ký Hiệp ước Việt – Xô ngày 3 tháng
11 năm 1978 là mối đe dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành
lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để
cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc
không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu
Bình công khai ý định dùng biện pháp quân sự đối phó với Việt Nam. Các nước
ASEAN đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia và Việt Nam – Trung Quốc
là "nhân tố không ổn định đối với hòa bình khu vực". Tuy nhiên, vì Việt
Nam nghiêng về phía Liên Xô nên các nước ASEAN nhận thấy cần phải nhích lại gần
Trung Quốc hơn nữa. Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng
ý cho phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia
và trở về.[18] Theo Nayan Chanda, liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra
con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái
then chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia.[66]
Sau đó, tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ rồi tới thăm Nhật. Về mặt
ngoại giao, sau khi bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ từ tháng 12 năm 1978,
trong chuyến thăm Washington từ 28 đến 30 tháng 1, Đặng Tiểu Bình nhận được sự ủng
hộ cần thiết của đồng minh mới Hoa Kỳ trong kế hoạch tấn công Việt Nam.
Tổng thống Jimmy Carter cũng cảnh báo Đặng rằng vụ tấn công của Trung Quốc,
nếu xảy ra, sẽ nhận được sự ủng hộ về mặt ngoại giao hoặc quân sự quốc tế.[67][68]
Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn công Việt
Nam với mong muốn có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ. Khi tiếp xúc bí mật
với Brzezinski, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: "Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải
chịu trách nhiệm đối phó" và nhấn mạnh: "Các ngài nhớ kỹ một điều là
những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng
thực bằng những hành động". Đặng Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn
công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh chóng. Trong chuyến đi của Đặng Tiểu Bình
sang Mỹ, Đặng đã chuẩn bị tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ
thực hiện sự trừng phạt như đã loan báo.[18]
Hai tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại
sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng A. Gromyko là Liên Xô nên tự kiềm
chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc
Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT mà Liên Xô rất mong muốn.[18]
Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1 năm 1979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều
phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam
chiếm đóng Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa
sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi
Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam. Trước dư luận
trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: "Việt Nam là tiểu bá
theo đại bá Liên Xô", "Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục",
cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm "dạy cho Việt
Nam một bài học". Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản
ứng công khai, còn Thủ tướng Liên Xô A. Kosygin thì nhận định: Tuyên bố của Đặng
Tiểu Bình là một bản "tuyên bố chiến tranh với Việt Nam".[18]
Ngày 7 tháng 2, Bắc Kinh báo trước về một chiến dịch tấn công Việt Nam với
thông cáo chính thức của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phản đối việc
quân đội Việt Nam tiến vào lãnh thổ Campuchia và đề nghị tất cả các quốc gia
yêu hòa bình "dùng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc xâm lược dã man
này".[69]
Ngày 15 tháng 2 năm 1979, nhân dịp 29 năm Hiệp ước Trung – Xô về vấn đề
Mông Cổ và thời điểm kết thúc chính thức Hiệp ước Hợp tác Trung – Xô, Đặng Tiểu
Bình tuyên bố Trung Quốc chuẩn bị tấn công giới hạn Việt Nam.[62]
Các lãnh đạo Trung Quốc phán đoán cuộc tấn công Việt Nam chớp nhoáng, có
giới hạn sẽ không gây căng thẳng đủ để kích thích Liên Xô can thiệp trực tiếp
hay quốc tế phản đối. Họ dự tính Liên Xô sẽ chỉ can thiệp giới hạn ở mức khuyến
khích các dân tộc thiểu số Trung Quốc tấn công các vùng xa xôi như Nội Mông,
Tân Cương hoặc gây đụng độ nhỏ ở vùng biên giới 2 nước. Tuy nhiên, để cẩn trọng,
Trung Quốc vẫn di tản dân gần đường biên và lệnh các đơn vị quân đội ở biên giới
với Liên Xô sẵn sàng chiến đấu.[11] Còn Liên Xô thì tin rằng Trung Quốc chỉ muốn
xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam 20 – 30 km rồi rút về nước do đó Việt Nam hoàn
toàn đủ sức tự đối phó với Trung Quốc.[70]
Nhận xét
Đăng nhận xét