TÀU XÂM LƯỢC VIỆT NAM-1979:
2
QUAN HỆ VIỆT – CAM - TRUNG
Năm 1975, sau khi lên nắm quyền, Khmer Đỏ bác bỏ đề nghị đàm phán xây dựng
mối quan hệ đặc biệt từ phía Việt Nam do lo ngại Việt Nam âm mưu áp đảo
Campuchia và lôi kéo Campuchia vào Liên bang Đông Dương. Khmer Đỏ tìm đến Trung
Quốc để có được sự hậu thuẫn của nước này dù rằng Trung Quốc từng ủng hộ Hoàng
thân Norodom Sihanouk chống lại Khmer Đỏ suốt những năm 1960 và không nhiệt
tình ủng hộ họ chống Lon Nol. Trung Quốc đồng ý ủng hộ Khmer Đỏ, nhưng tuyên bố
rằng chính phủ mới sẽ được dẫn dắt bởi Sihanouk. Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ do
nước này cần một đồng minh tại Đông Nam Á để thay thế cho Việt Nam trong lúc
quan hệ Việt – Trung ngày càng xấu đi, đồng thời Trung Quốc cho rằng Việt Nam sẽ
bành trướng ở Đông Dương nên cần phải ngăn chặn "nguy cơ bá quyền của Việt
Nam". Theo một điện tín từ Đại sứ quán Mỹ ở Malaysia gửi Bộ Ngoại giao Mỹ
vào ngày 27 tháng 4 năm 1978, sau một cuộc họp với một thành viên của chính phủ
Thụy Điển vừa đến thăm Trung Quốc, "Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa lưu
ý rằng khi người Việt đã đánh bại Mỹ và thu được số lượng lớn vũ khí của Mỹ, họ
đã trở nên ‘tự cao tự đại’ và họ đã ấp ủ từ lâu những kế hoạch cho một Liên
bang Đông Dương". Ngược lại Khmer Đỏ tuyên bố "kiên quyết và dứt
khoát phản đối các thế lực bên ngoài có hành động can thiệp dưới mọi hình thức
vào những vấn đề nội bộ của Campuchia". Đại sứ quán Trung Quốc ở Phnôm
Pênh mở cửa trở lại. Khmer Đỏ nhận được viện trợ của Trung Quốc, đổi lại họ sẽ ủng
hộ tư tưởng “Ba Thế giới” của Trung Quốc và hậu thuẫn Bắc Kinh chống lại Liên
Xô. Tuy nhiên Khmer Đỏ luôn nghi ngờ Trung Quốc vì sợ nước này sẽ biến
Campuchia thành vệ tinh của Trung Quốc.[26][27]
Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Khmer Đỏ đã gây hấn với các nước
láng giềng là Việt Nam và Thái Lan.[28] Khmer Đỏ muốn lấy lại các lãnh thổ thuộc
đế quốc Khmer cũ đã bị các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Việt Nam chiếm từ
thế kỷ XVIII trở về trước. Hành động này bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc, đã được
khơi dậy từ thời Pháp thuộc, từng được cả Sihanouk và Lon Nol ủng hộ. Sihanouk,
Lon Nol và sau này là Pol Pot đều xem các nước lân cận là kẻ thù truyền kiếp vì
đã tiêu diệt đế quốc Khmer, xâm chiếm đất đai của Campuchia. Các cuộc xung đột
lẻ tẻ trên biên giới Thái Lan và Campuchia diễn ra do tranh chấp các vùng lãnh
thổ nhỏ dọc biên giới tại các tỉnh Trat, Aranyaprathet-Poipet[29] và Surin, bắt
đầu từ tháng 4 năm 1975 và gia tăng mạnh trong tháng 11. Ngoài tranh chấp biên
giới, cuộc xung đột còn có nguồn gốc do các lực lượng Khmer Serei chống Khmer Đỏ
đã sử dụng lãnh thổ Thái làm căn cứ xuất phát để tấn công Khmer Đỏ.[30] Đáp lại,
Khmer Đỏ cũng hỗ trợ những người cộng sản Thái Lan thiết lập "Angka Siam"
chống đối chính quyền Thái Lan, và huấn luyện lực lượng này từ các tỉnh
Sisaket, Buriram và Surin trên biên giới Thái.[28]
Quan hệ Việt Nam – Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5
năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu và bắt đi
hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977–1978 khi Khmer Đỏ nhiều lần
đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt
thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ
về vũ khí, khí tài cũng như cố vấn quân sự. Chính phủ Việt Nam nhiều lần đề nghị
Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia, song Trung Quốc
im lặng.[18] Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng
với Trung Quốc và Campuchia,[31] Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng
Campuchia để tấn công Việt Nam.[21]
Tuyên bố chủ quyền của nước Việt Nam thống nhất năm 1975 đối với các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa; cách ứng xử của Việt Nam đối với người Việt gốc Hoa;
và cố gắng của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa ba nước Đông
Dương được Bắc Kinh xem là nỗ lực nhằm thống trị Đông Dương và là ví dụ về sự hỗn
xược của Việt Nam.[32] Từ tháng 8 năm 1975, Trung Quốc bắt đầu giảm mạnh viện
trợ kinh tế cho Việt Nam, và cắt hoàn toàn vào tháng 6 năm 1978.[33]
Cũng năm 1975, Trung Quốc cho Campuchia vay không lấy lãi 1 tỷ USD và ký
kết một hiệp ước quân sự bí mật với chính quyền Khmer Đỏ vào tháng 2 năm 1976.
Tháng 2 năm 1976, trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội
Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen, Trung Quốc đã đồng ý viện trợ
quân sự cho Campuchia 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) trong ba
năm (1976–1978).[18][34] Chính sách ngoại giao của Trung Quốc với khu vực Đông
Nam Á cũng được thay đổi theo hướng tăng cường quan hệ với khối ASEAN vốn ở thế
đối đầu với các chính quyền cộng sản Đông Dương đồng thời cắt bỏ viện trợ của
Trung Quốc đối với các Đảng Cộng sản ở Đông Nam Á.[35] Tháng 2 năm 1977, Trung
Quốc nói với Việt Nam là không sẵn sàng cung cấp viện trợ cho Việt Nam trong
công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh.[18]
Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1977, Pol Pot có chuyến thăm tới Trung Quốc
nhằm thắt chặt quan hệ đồng minh giữa hai nước.[18]
Ngày 20 tháng 11 năm 1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc. Trong cuộc hội
đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến những
tranh chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc
nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình đã bộc lộ ngày càng rõ. Lê Duẩn bày
tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung – Xô thông qua việc
"chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt
tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam". Lê Duẩn cũng đề nghị những nhà
lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc
xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc không quan tâm. Cuối
cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9 năm 1975, Lê Duẩn cũng đã ra
về mà không mở tiệc đáp lễ Trung Quốc.[18]
Tháng 12 năm 1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng tới thăm
Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Trong chuyến thăm
này, Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng tuyên bố: "Không một lực lượng nào có thể
đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước sẽ là đồng
chí với nhau mãi mãi".[18]
Cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh
thần "phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam", tuyên truyền: "Việt
Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông
Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không
đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược
Campuchia, xua đuổi người Hoa".[18]
Tháng 1 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước Xã hội chủ
nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia. Một lần nữa Trung
Quốc không đáp ứng. Cũng trong tháng 1 năm 1978, bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ
Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnôm Pênh và ký một hiệp định xúc
tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển vũ khí đến
Campuchia. Trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh Siêu cũng tuyên bố, Trung Quốc sẽ
không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào đồng minh của họ. Trung Quốc cũng hủy
bỏ hiệp ước về lãnh sự với Việt Nam. Ngày 17 tháng 6 năm 1978, Trung Quốc yêu cầu
các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh phải dời về nước.
Ngày 12 tháng 7 năm 1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản
Trung Quốc công khai buộc tội Việt Nam "tìm cách sáp nhập Campuchia vào một
Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam". Ngày 4 tháng 11 năm
1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác), Ủy
viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng sang Campuchia để bày
tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với Campuchia.[18]
Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R. Sardesai, từ năm 1975 – 1978,
Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazooka, súng đại
liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng dầu đầy đủ để trang bị
cho đội quân 200.000 người, Trung Quốc cũng gửi khoảng 10.000 cố vấn và chuyên
gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và huấn luyện quân đội Pol Pot. Theo
Marish Chandona, tháng 7 năm 1977, Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, nhưng đến tháng
1 năm 1978, Campuchia có tới 25 sư đoàn.[18] Cuối năm 1978, căng thẳng giữa Việt
Nam với Campuchia cũng như Trung Quốc đều lên một nấc thang mới. Cùng lúc căng
thẳng Việt Nam – Trung Quốc lên cao thì ở biên giới phía Tây Nam của Việt Nam,
chính quyền Khmer Đỏ, với sự bảo trợ của Trung Quốc, cũng bắt đầu leo thang hoạt
động quân sự xâm lấn miền Nam Việt Nam.
Các xung đột lẻ tẻ ở khu vực này đã nhanh chóng bùng nổ thành Chiến tranh
biên giới Việt Nam – Campuchia với hệ quả là Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật
đổ chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ.[36]
Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc quyết định tấn công xâm lược Việt Nam
với lý do "dạy cho Việt Nam một bài học" (lời của Đặng Tiểu Bình)
nhưng mục đích chính là phân chia lực lượng quân đội của Việt Nam để giúp chính
quyền diệt chủng Khmer Đỏ.[37] Trung Quốc có được lý do để tuyên bố về cuộc chiến
chống Việt Nam sắp tiến hành. Sau khi Phnôm Pênh thất thủ, ngày 27 tháng 1 năm
1979 tờ Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc) có bài viết, trong đó có đoạn: "Sự
thất thủ của Phnôm Pênh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu"
và "vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt
Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa".[18]
Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở thành người lãnh đạo quyền lực
nhất Trung Quốc. Đặng nhìn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan hệ khó
khăn với Việt Nam và cho rằng cách tốt nhất để nắm lấy những cơ hội này là một
hành động quân sự.[20] Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 12 năm 1978, tại một
cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hình trực tiếp, Đặng Tiểu Bình
tuyên bố: "Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học" mà ngày
hôm sau báo chí chính thức của Trung Quốc cắt ngắn thành "phải dạy cho Việt
Nam bài học".[23]
Tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Ủy viên Bộ Chính trị Gừng Giao
cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ
tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan đồng ý để Trung
Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khmer Đỏ. Đồng thời, sau hơn
mười năm vắng bóng trên chính trường, Hoàng thân Sihanouk đại diện cho
Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng
ra nghị quyết buộc Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia.[18]
Việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam cũng hết sức thuận lợi
cho Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình vừa kết thúc chuyến công du sang Mỹ, cùng với việc
ông ta lớn tiếng đe dọa "dạy cho Việt Nam một bài học", Trung Quốc tỏ
ra họ có được hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là Mỹ cũng im lặng tán thành.
Ngoài ra việc Trung Quốc cắt nguồn viện trợ dầu cho Việt Nam vào cuối năm 1978,
vốn chiếm tới hơn một nửa tiêu thụ dầu của Việt Nam, trong khi Liên Xô chưa kịp
viện trợ bổ sung, cũng khiến dự trữ dầu chiến lược của Việt Nam bị thiếu hụt
trong thời điểm quyết định khi quân Trung Quốc tấn công.[38]
Thêm vào đó, việc Trưởng Ngân khố Mỹ Blumenthal dưới thời chính quyền
Carter viếng thăm Trung Quốc vào 24 tháng 2 cũng có tác dụng như một lời khuyến
khích ngầm cho Trung Quốc và có tác dụng phụ đảm bảo với Trung Quốc tình hình tại
vùng duyên hải Phúc Kiến đối diện với Đài Loan sẽ yên tĩnh trong thời gian đầu
năm 1979, khiến Trung Quốc có thể yên tâm tái bố trí các lực lượng tại Phúc Kiến
về hướng biên giới phía nam với Việt Nam.[39]
Nhận xét
Đăng nhận xét