SỰ KIỆN 30.4:
Dương Văn Minh và những ngày cuối tháng 4.1975
Khi người lính cách mạng đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập,
Dương Văn Minh đã thốt lên: 'Các anh đã về, chúng tôi chờ các anh đến để bàn
giao...'.
1.
Ngay sau ngày Sài Gòn giải phóng, tôi được Ban Tổ chức Trung ương tăng cường
tham gia công tác báo chí ở Sài Gòn và được Báo Tin Sáng mời cộng tác như một cố
vấn không thường trực.
Nhà báo Lý Quí Chung, nguyên Tổng trưởng thông tin của thời Dương Văn
Minh làm chủ bút. Tôi thường trao đổi với Lý Quí Chung, anh hay kể cho tôi về
những ngày đấu tranh của nhóm dân biểu đối lập, anh kể về những ngày cuối cùng
trước giờ G giải phóng Sài Gòn và một lần Lý Quí Chung đưa tôi đến thăm tướng
Dương Văn Minh tại biệt thự Hoa Lan nằm trên đường Võ Văn Tần (ngày đó là đường
Trần Quý Cáp). Dù được Lý Quí Chung giới thiệu trước, nhưng ông vẫn dè dặt. Sau
hồi lâu trao qua đổi lại, ông nhìn tôi và chậm rãi nói:
Moa nói với toa thế này (ông vẫn quen dùng tiếng Pháp - toa (toi): anh,
moa (Moi): tôi), toa có thể ghi vào sổ tay. Nếu moa không vì dân tộc này, không
thương đồng bào, không muốn Sài Gòn đổ máu thì moa không nhận làm Tổng thống.
Moa nhận để làm gì khi moa biết quân giải phóng đã vào sát Sài Gòn. Moa muốn
đánh nhau thì moa đã không yêu cầu khẩn cấp Mỹ phải rút cơ quan tùy viên quân sự
Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ.
Moa đồng ý để nhóm Nguyễn Đình Đầu, rồi nhóm Trần Ngọc Liễng vào trại
Davis để thông báo với quân giải phóng là quân đội của moa không chống cự, moa
chờ Việt cộng vào, và Mặt trận Dân tộc Giải phóng nói sao moa làm y vậy.
Moa có biết gì về tuyên bố ngày 26.4 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đâu,
chỉ biết đó là tuyên bố hòa bình thì moa liền cho tuyên bố "thực hiện đúng
tuyên bố ngày 26.4 của Chính phủ Cách mạng miền Nam". Cũng chính vì thế,
moa mời toàn bộ nội các vào Dinh Độc Lập để chờ cách mạng vào bàn giao, xét cho
cùng thì bàn giao cũng là cách đầu hàng lịch sự mà thôi".
Trong những ngày này, có lần tôi cùng anh chị Vân Trang - Thiên Giang nhà
văn, trí thức cách mạng Sài Gòn đến ăn tối với nhà sử học Nguyễn Đình Đầu tại
tư gia của ông ở góc đường Nguyễn Du - Thủ Khoa Huân.
Cùng ăn với chúng tôi có anh Nguyễn Văn Diệp, nguyên Tổng trưởng kinh tế
thời Dương Văn Minh, là cơ sở của cách mạng. Anh Diệp cho biết ông Đầu là người
được chính quyền Dương Văn Minh cử vào trại Davis để tìm gặp đại diện Chính phủ
Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Ông Nguyễn Đình Đầu cười vui và kể lại: "Tình thế khi đó cấp bách lắm,
Quân giải phóng đã tiến sát Sài Gòn. Nhóm Trí Việt (tên gọi tắt của lực lượng
trí thức Sài Gòn có xu hướng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, ủng hộ Mặt trận Dân
tộc Giải phóng miền Nam) chúng tôi bàn nhau, nếu không có giải pháp gì thì Sài
Gòn sẽ tan nát vì bom đạn chiến tranh và tắm máu.
Tôi thì Việt cộng không phải, chính quyền cũng không, không có chức gì cả,
kể cả cái hàm giáo sư mà họ khoác cho tôi cũng sai luôn, tuy nhiên mọi người biết
tôi là một trí thức hồi đầu kháng chiến năm 1945 có giúp Chính phủ Cụ Hồ nên
nhóm cử tôi đi gặp tướng Dương Văn Minh để tìm cách.
Tôi đi tìm gặp ông Nguyễn Văn Huyền. Ông Huyền nói với tôi: Ông Dương Văn
Minh giao cho tôi giữ chức Phó tổng thống phụ trách hòa đàm mà giờ biết đàm với
ai để hòa. Ông Huyền cũng nói: Ông Dương Văn Minh và chúng tôi nhận cái Chính
phủ này là vì chúng tôi sợ chiến tranh, sẽ đầu rơi máu đổ.
Ông Minh đã dặn: Làm gì thì làm, chúng ta phải có giải pháp để đồng bào
mình không chết. Ông Huyền nhất trí giao cho tôi cùng anh Nguyễn Văn Diệp, anh
Nguyễn Văn Hạnh và anh Tô Văn Cang vào trại Davis gặp đại diện Chính phủ cách mạng
(sau này tôi biết được ông Hạnh là cơ sở, ông Cang là lực lượng tình báo của
cách mạng).
Cuộc gặp ấy không giải quyết được yêu cầu như ông Minh, ông Huyền mong muốn,
nhưng cái được nhất là chúng tôi đã thông tin đến Chính phủ cách mạng là chính
phủ Sài Gòn sẵn sàng bàn giao và không đánh nhau nữa để Quân giải phóng có kế
hoạch tiến nhanh".
Khi nghe ông Đầu, ông Diệp từ trại Davis về báo cáo lại ý của phái đoàn Mặt
trận Dân tộc Giải phóng rằng mọi việc đã trễ, không có gì cản nổi sự tiến công
của Quân giải phóng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng yêu cầu chính quyền Sài Gòn chấp
nhận tuyên bố ngày 26.4.1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam.
Ông Đầu kể tiếp: "9 giờ ngày 30.4, tôi nói chuyện với tổng thống
Dương Văn Minh ở văn phòng Thủ tướng - số 7 đường Thống Nhất (nay là đường Lê
Duẩn). Sau khi nghe tôi nói lại cuộc gặp ở trại Davis. ông Dương Văn Minh đã đồng
ý sẽ có tuyên bố vì hòa bình. Ông gọi điện thoại cho đài phát thanh yêu cầu chuẩn
bị để phát đi tuyên bố quan trọng của Tổng thống".2.
Những thông tin từ những năm 1975, 1976 về Dương Văn Minh nằm im trong sổ
tay tư liệu của tôi nhiều năm. Một câu hỏi luôn trăn trở trong tôi: "Dương
Văn Minh là người thế nào?". Một hôm của năm 1993, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đến
thăm luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Trong câu chuyện, Thủ tướng hỏi luật sư Nguyễn Hữu
Thọ:
- Anh Ba đánh giá như thế nào về ông Dương Văn Minh?
- Tôi nghĩ đó là một người biết vì dân tộc - luật sư Nguyễn Hữu Thọ đáp.
Ý kiến của hai vị lãnh đạo làm sống dậy những trăn trở trong tôi.
Trong câu chuyện trao đổi với tôi, anh Nguyễn Văn Diệp và cả Lý Quí
Chung, hai vị nguyên là tổng trưởng trong nội các Dương Văn Minh còn kể một
chuyện cần được ghi lại: Sáng 30.4, một sự kiện đặc biệt xảy ra trước giờ G của
cách mạng, đó là việc tướng già Pháp Vanuxem từ Paris bay qua, không hẹn trước
đã vào dinh Thủ tướng xin gặp Dương Văn Minh. Lý Quí Chung là người đầu tiên tiếp
và đưa Vanuxem vào gặp Dương Văn Minh.
Vanuxem: "Tôi từ Pháp mới đến, chờ các ông ở Dinh Độc lập. Nghe nói
các ông đang ở đây nên tôi đến. Hỏi xem tình hình hiện nay đã ra sao rồi".
Dương Văn Minh trả lời: Tình hình không hy vọng nữa. Để tránh đổ máu vô
ích, tôi sắp phát thanh lời tuyên bố bàn giao lại cho Chính phủ cách mạng lâm
thời.
Vanuxem nói: Không phải hết hy vọng đâu. Tôi đã thu xếp xong ở Paris. Đề
nghị ông nhờ Trung Quốc bảo trợ cho…
Dương Văn Minh: Tôi không có liên lạc với Trung Quốc.
Ở giờ phút đó Vanuxem đề nghị Dương Văn Minh lên đài phát thanh tuyên bố:
Cần sự trợ giúp của nước ngoài với lý do "Hà Nội vi phạm Hiệp định
Paris". Vanuxem cam kết trong vòng 24 giờ sẽ có sự hỗ trợ mạnh mẽ của quân
đội nước ngoài và nói rõ là quân Trung Quốc sẽ đổ vào miền Nam, tình thế sẽ được
cứu vãn.
Dương Văn Minh nghe xong trả lời ngay: "Xin cảm ơn, bây giờ đất nước
chúng tôi sắp chấm dứt chiến tranh. Xin ông để chuyện này cho người Việt Nam
chúng tôi tự giải quyết". Nói xong tướng Minh bắt tay: "Cảm ơn"
và tống tiễn Vanuxem ra cửa để ông chuẩn bị đọc tuyên bố của Tổng thống yêu cầu
binh lính Cộng hòa ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao chính quyền.
Lý Quí Chung nói đó là một quyết định lịch sử. Ông Minh không muốn gì hơn
là chấm dứt chiến tranh, là bàn giao chính quyền cho cách mạng. Lý Quí Chung
bình thêm: "Nếu thời khắc đó Dương Văn Minh chỉ cần gật đầu với Vanuxen,
hoặc có mấy lời hô khẩu hiệu, hoặc là im lặng bảo vệ Sài Gòn, thì chắc chắn Sài
Gòn tan nát và sẽ có cảnh máu đổ đầu rơi".
Ông Nguyễn Đình Đầu cho tôi một tài liệu mấy điều xác nhận về thời khắc lịch
sử đó của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, toàn văn như sau:
1. Tôi nghĩ chính quyền Dương Văn Minh thành lập không phải để đối đầu mà
để hòa giải dân tộc (theo tinh thần hiệp định Paris), nên tôi nhận tham dự vai
trò "Phó Tổng thống đặc trách hòa đàm".
Sáng sớm 29.4.1975, ông Nguyễn Đình Đầu gặp tôi và hỏi đã tiếp xúc được với
phía bên kia chưa. Tôi liền xin ông đi trại Davis, nếu có thể đặng tìm cách ngừng
bắn, rồi tôi đi báo cáo sự vụ với ông Dương Văn Minh (ông Nguyễn Đình Đầu chỉ
là bạn cùng sinh hoạt tôn giáo với tôi, chứ không phải cộng sự chính trị của
tôi, như một số tin nước ngoài đã nói).
Gần 5 giờ chiều, ông Nguyễn Đình Đầu đến trao cho tôi một bản dự thảo
"Tuyên bố chấp nhận điều kiện ngừng bắn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam" do ông Nguyễn Văn Diệp và ông Nguyễn Đình Đầu đã soạn thảo sau khi ở
trại Davis về. Tôi liền đem bản dự thảo đó đến ông Dương Văn Minh thông qua rồi
tới đài ghi âm phát sóng.
Khoảng 7 giờ tối, tôi lại cùng ông Nguyễn Đình Đầu đi gặp ông Dương Văn
Minh gợi ý nên có sáng kiến gì thêm về phía quân đội nhằm ngừng tiếng súng, vì
về phần chính trị thì tôi đã làm hết mình.
2. Sáng sớm 30.4.1975, tôi không gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh cùng với ông
Dương Văn Minh, mà ông Dương Văn Minh cho mời tôi đến dinh Thủ tướng để làm việc.
Trước khi đi, một sĩ quan đã báo cáo cho tôi về tình hình chiến sự quanh thành
phố, quân giải phóng đã gần kề. Trên đường, tôi nói riêng với ông Nguyễn Đình Đầu
là chỉ còn giải pháp đầu hàng. Khi tới dinh Thủ tướng, tôi đã sẵn sàng nhất trí
với nội dung "tuyên bố chuyển giao quyền hành" của ông Dương Văn
Minh. Sau đó, ông Nguyễn Đình Đầu từ biệt tôi và nhận đi tìm ông Nguyễn Văn Diệp
và ông Tô Văn Cang tới giúp chúng tôi trong việc tiếp xúc ban đầu với chính quyền
cách mạng.
3. Ông Dương Văn Minh tiếp Vanuxem rất ngắn gọn trước mặt ông Vũ Văn Mẫu
và tôi. Tôi không nói gì. Kể như đã nhất trí rồi, ông Dương Văn Minh dứt khoát
từ chối kế hoãn binh của Venuxem.
4. Tôi đã thở ra nhẹ nhõm khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn và Dinh Độc
Lập. Riêng phần tôi, không biết tương lai sẽ ra sao nhưng vì tinh thần trách
nhiệm, sau khi được chích và uống thuốc tôi đã từ nơi chữa bệnh trở vào Dinh Độc
Lập".3.
Giáo sư Lý Chánh Trung có lần kể lại với tôi rằng ông Dương Văn Minh năm
1945 có theo kháng chiến một thời gian và ông có người em ruột là sĩ quan trong
quân đội cách mạng.
Sau này khi giúp Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ biên tập tác phẩm "Chung một
bóng cờ" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia in), tôi lại được đọc lời kể của
giáo sư Lý Chánh Trung về giai đoạn này như sau:
Có một lần tôi hỏi tướng Minh:
- Tại sao hồi năm 1945 đại tướng không theo kháng chiến?
Tướng Minh trả lời:
- Có, nhưng theo không nổi. Hồi đó tôi là trung úy trong quân giới Pháp.
Theo kháng chiến, mấy anh cũng cho tôi làm quân giới, nhưng khi Pháp chiếm Sài
Gòn thì nhóm quân giới rút về Mỹ Tho. Khi các anh ấy rút vào bưng, không cho
tôi biết, đến sáng Pháp đã chiếm lấy thành. Tôi lên xe đạp chạy tìm, nhưng Tây
đã chặn hết các nút rồi. Tôi bị một thằng bạn cũ chặn bắt, đem nhốt tôi ở bót
Catina. Bị giam mấy tháng thì đầu hàng và ra làm việc lại. Lúc đầu tôi không muốn
hành quân nhưng sau cũng không giữ được.
Lúc Tướng Minh ra tranh cử Tổng thống Sài Gòn năm 1969, trong một cuộc họp
báo chí, có một phóng viên Mỹ nói: "Nếu ông được làm tổng thống mà có yêu
cầu đưa thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Nam thì ông nghĩ sao?".
Ông Minh trả lời: "Đối với chúng tôi, điều trăn trối của người sắp
chết rất thiêng liêng. Nếu Hồ Chủ tịch đã trăn trối như vậy thì cứ đưa
vào".
Một lần nữa, lúc Mỹ ném bom miền Bắc, một lần tôi nói với tướng Minh:
"Nếu tôi là thanh niên miền Bắc mà Mỹ dội bom như thế này thì nhất định
tôi phải đi lính chống lại Mỹ. Đại tướng có nghĩ như tôi không?".
Ông Minh gật đầu tán đồng.
Vốn là người không thích hoạt động chính trị, nhưng tại sao ông Minh lại
tham chính? Theo ý riêng của tôi, ông Minh xem mình thuộc phe gọi là "quốc
gia thân cộng sản", lúc đó còn lại rất ít, vì hồi 1945 hầu hết đã theo
kháng chiến. Do đó, ông Minh muốn đứng ra nhận vai trò lịch sử của lực lượng
đó.
Tôi đã đặt câu hỏi với tướng Minh: Tại sao ông lại ra nhận chức Tổng thống
Sài Gòn để rồi chịu đầu hàng, ông trả lời: "Tôi cũng biết như vậy, nhưng ở
đây còn là vấn đề nhân đạo. Bớt đổ xương máu chừng nào tốt chừng nấy".
Theo tôi, lúc nhận chức tổng thống, tướng Minh không hề có ảo tưởng gì về giải
pháp chính trị.
Trong "Chung một bóng cờ" có in ý kiến của những người trong cuộc
liên quan đến Dương Văn Minh. Tôi xin trích ra đây:
* Trần Ngọc Liễng (Dân biểu đối lập dưới thời Nguyễn Văn Thiệu).
Khi Hương đã chấp nhận giao quyền lại cho Minh, tôi nói với Minh:
"Tình hình đã thay đổi rồi, giờ này còn nhận làm gì nữa?" Minh nêu
hai lý do tại sao Minh quyết định như vậy:
Một là, nếu Minh không đứng ra, có thể sẽ có đảo chính, dân chúng sẽ chết
nữa.
Hai là, Mỹ đã nói với Thiệu, sau Hiệp định Paris, nếu Việt cộng tiến công
thì Mỹ sẽ thả bom CBU. Minh phản đối điều đó vì bom CBU là vũ khí giết người
hàng loạt, sẽ chết dân chúng.
Do đó Minh phải chấp nhận, dù biết hết phương cứu chữa rồi.
* Hồ Văn Minh (Dân biểu đối lập dưới thời Nguyễn Văn Thiệu)
Lúc Trần Văn Hương đã chấp nhận trao quyền rồi, sau bữa cơm trưa, tôi hỏi
tướng Minh: "Theo đại tướng, tình hình đã đến thế này, còn có thể làm gì
được nữa?". Tướng Minh trầm ngâm một lát rồi nói: "Tình hình tuy đen
tối, nhưng vẫn phải làm chính trị, tôi nghĩ bên kia cũng cần mình".
* Lý Quí Chung (nguyên Tổng trưởng thông tin chính quyền Dương Văn Minh)
Trong Chính phủ, Minh không có người nào cầm quân, vì Thiệu đã loại những
người thân Minh trong bộ máy quân sự từ lâu rồi. Chỉ còn lực lượng chính trị
trong các giới báo chí, trong số dân biểu Sài Gòn đối lập với chính sách của
Thiệu.
Tối 27.4.1975, Minh họp nội bộ của "nhóm" để phân chia các ghế
Bộ trưởng. Lúc đầu, có ý kiến đề nghị anh Hồ Ngọc Nhuận làm Bộ trưởng thông
tin, nhưng sau anh Lan, anh Ba bàn và đề nghị chuyển lại cho tôi. Khi biết Bùi
Tường Huân làm Bộ trưởng Quốc phòng, anh em phản đối, nhưng Minh giải thích:
"Mình có đánh đấm gì đâu?".
Sáng 28.4.1975, Minh đồng ý cho tôi được bớt những luận điệu chống cộng
trên đài phát thanh, truyền hình. Tôi viết một số khẩu hiệu kêu gọi hòa bình,
kêu gọi thương thuyết đưa cho Mẫu duyệt, Minh đồng ý và cho phát.
Ngày 29.4.1975, Minh ký quyết định bổ nhiệm Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng và
tôi làm Bộ trưởng Thông tin.
Đầu tiên, Minh giữ lời hứa là thả tù chính trị. Huỳnh Tấn Mẫm cũng được
thả dịp này. Tôi đưa Mẫm xuống Đài truyền hình phát biểu để đồng bào an tâm,
không hoảng sợ vì luận điệu hù dọa "tắm máu" của Thiệu trước đây, tôi
đã lên nói trên đài, đại ý: đồng bào hãy tin tưởng chính phủ quyết đi đến hòa
giải, hòa hợp, không đánh nhau, không có chuyện tắm máu. Đại tướng Dương Văn
Minh hứa thả tù chính trị, việc đó đã được thực hiện rồi. Tôi giới thiệu Huỳnh
Tấn Mẫm phát biểu để minh chứng.
Việc đầu tiên của tôi ở Bộ Thông tin là quyết định đổi tên "Bộ Thông
tin chiêu hồi" thành Bộ Thông tin. Tôi đánh điện đi bốn vùng: Từ nay không
được dùng từ "Việt cộng" trong các văn bản nữa mà thay bằng "Mặt
trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam", gọi luật sư Nguyễn Hữu Thọ là
Chủ tịch.
Ngày 29.4.1975, trên đường từ nhà đến dinh Hoa Lan, tôi thấy rõ được tình
thế đã hỗn loạn. Tôi nói với tướng Minh: "Thưa Trung tướng, ở Sài Gòn có
thể xảy ra bất cứ chuyện gì. Xin trung tướng chuyển giao chính quyền cho cách mạng".
Do không có tham vọng, Minh sẵn sàng đồng ý chấp nhận điều tôi đề nghị.
Chúng tôi bàn với nhau, nếu tuyên bố công khai "Chính quyền bỏ ngỏ"
vào tối ngày 29.4 thì sẽ tạo ra sự rối loạn, nên giữ bí mật để sáng 30.4 mới
công bố.
Sáng 30.4.1975, tại Dinh Độc Lập, Minh nói rõ tình thế và quyết định chuyển
giao quyền hành cho Chính phủ cách mạng. Huyền, Mẫu, Huân đều không có ý kiến
phản đối.
Tôi cho gọi Đài phát thanh đem máy lên. Minh đọc lần thứ nhất bị vấp, lần
thứ hai có người đẩy cửa, lần thứ ba mới đạt.
Anh Nguyễn Hữu Hạnh đưa ý kiến: "Nếu chỉ có tuyên bố của Tổng thống
thì e rằng quân đội có người không tuân theo, cần phải có nhật lệnh mới được.
Minh chấp nhận thảo nhật lệnh cho quân đội".
Dự thảo tuyên bố cho Tổng thống do Vũ Văn Mẫu viết. Tướng Minh xem, đưa
cho Huyền, Mẫu xem lại rồi đưa vài người coi. Trong bài có câu: "Chúng tôi
ngồi đây, chờ quý vị vào để thảo luận". Có người góp sửa lại: "Chúng
tôi ngồi đây chờ các anh tới để trao quyền"… Dương Văn Minh ngồi sửa lại mấy từ rồi bước
qua phòng để đọc.
Sau tuyên bố của Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh với tư cách Tổng tham
mưu trưởng đã có nhật lệnh tiếp theo.
Đọc tuyên bố rồi, tướng Minh nói: "Mọi việc coi như xong, ai muốn đi
hay ở thì tùy". Nguyễn Hữu Chung có người anh làm hoa tiêu chiếc tàu Việt
Nam thương tín, xin Minh cấp giấy phép cho rời bến. Minh đồng ý và nói: Ai muốn
đi theo thì đi. Minh bảo tôi nên đi vì đông con, tôi từ chối. Minh hỏi từng người.
Huyền dứt khoát không đi, còn Mẫu nói: "Tôi chỉ đi khi nào Mặt trận Dân tộc
giải phóng vào và cho tôi đi". Bùi Tường Huân hỏi: "Bây giờ tôi về rước
vợ lên liệu có kịp không?". Bi kịch của Huân là gia đình anh đã đi hết rồi
mà anh không biết.
Chúng tôi gồm một số dân biểu, nội các cũ ngồi ở phòng của Thiệu để chờ
bàn giao quyền hành. Tôi đi ra phía trước đứng chờ, trong lòng xúc động vì cuộc
kết thúc hôm nay.
Tuyên bố trên đài phát thanh của Dương Văn Minh dưới danh nghĩa Tổng thống
Việt Nam Cộng hòa lúc 9 giờ 30 ngày 30.4.1975. Toàn văn như sau:
"Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc
để cứu sanh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt
Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các
anh em chiến sĩ Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng, và ở đâu ở đó. Chúng tôi
cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong
vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào".5.
Năm 2006, ông Võ Văn Kiệt - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng
Chính phủ, là Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo công trình tổng kết lịch sử Nam bộ
kháng chiến đã chủ trì cuộc tọa đàm vào ngày 31.10 về vai trò của Dương Văn
Minh. Tham dự là những chứng nhân lịch sử, trong đó có các ông Nguyễn Đình Đầu,
ông Nguyễn Hữu Hạnh, ông Triệu Quốc Mạnh, ông Dương Văn Ba, ông Huỳnh Tấn Mẫn,
ông Đinh Văn Đệ, bà Bùi Thị Mè, bà Trần Ngọc Liễng…
Họ đã nhớ lại và phát biểu những gì họ đã biết, đã thấy. Đây là những người
trong cuộc, những nhân chứng lịch sử, trong số đó có những người là lực lượng
tình báo, là lực lượng binh vận, điệp báo của ta, là cơ sở của cách mạng nằm
trong chính quyền Sài Gòn. Hôm đó, ông Võ Văn Kiệt trong phần kết luận đã nói:
"Điều mong muốn nhất của chúng ta là đánh giá đúng con người cũng
như sự nghiệp của họ. Ở đây chúng ta phải tìm đúng sự thật. Đánh giá về ông
Dương Văn Minh, thì không chỉ đánh giá phần kết thúc, chấp nhận đầu hàng hay
không đầu hàng, bàn giao hay là buộc phải đầu hàng. Về nhân vật này, con người
này đánh giá không phải chỉ ở một thời điểm đặc biệt như thế. Cơ cấu chính phủ
Dương Văn Minh không phải sắp đặt mà là tự nhiên, nếu tự nhiên mà Dương Văn
Minh kết hợp một Chính phủ sau cùng này, có Công giáo, có Phật giáo thì rất
hay. Nói chung là chủ hòa, muốn tìm giải pháp. Về Dương Văn Minh, chúng ta tìm
hiểu từ lúc đầu, kể cả sau khi chúng ta kết thúc, quá trình của ông sống ở đây,
thành phố này và sau khi đi qua Pháp. Chính khi kết nối mấy cái đó lại, chúng
ta mới có thể đánh giá đúng Dương Văn Minh.
Tôi nói vài sự kiện: Đối với Pháp, khi anh Minh qua bên Pháp, có thể Pháp
cũng đặt nhiều vấn đề như nhập quốc tịch Pháp. Trước khi đi, anh Minh cam kết
không làm bất cứ cái gì có hại cho đất nước, anh Minh đã giữ vững sự cam kết
đó. Tôi đi Pháp, tôi còn gặp hai vợ chồng ông và trước khi ông rời Sài Gòn qua
Pháp tôi có ăn bữa cháo để tiễn hai ông bà. Chuyện này liên quan nhiều lắm là
gia đình, quá trình... Cho nên chúng ta đánh giá con người phải xem xét các mối
liên hệ toàn diện.
Thứ hai, tình hình không thể đảo lộn được chiến thắng của mình. Về chiến
dịch cuối cùng, về tư tưởng chiến lược, quyết tâm chiến lược là giải phóng hoàn
toàn miền Nam, chúng ta xác định một cách dứt khoát như thế. Giải phóng càng
nhanh càng tốt; giải phóng nội trong năm 1975, không quá mùa khô của năm 1975,
quyết tâm của Đảng là như thế, không phải ngập ngừng về chuyện này. Thật ra lúc
đó không còn thời điểm thương lượng nữa.
Trong tình hình như thế, tương quan lực lượng như thế, Mỹ bên ngoài như
thế, rồi cả những cái của người "anh em", cũng có nhiều chuyện lắm.
Nhưng dứt khoát là phải giải phóng, nghĩa là gần như chúng ta chấp nhận "bất
cứ giá nào cũng phải giải phóng miền Nam", dù có một cái trục trặc nào đó,
dù phải chiến đấu ngay ở thành phố này, tức là có thể đổ vỡ. Trước đây mình đã
có dự tính như thế, còn dự tính phải đánh xuống dưới đồng bằng. Nhưng dứt khoát
không để bất cứ một vấn đề nào làm cho chiến dịch bị chựng lại.
Bởi vì trong thời điểm đó, nếu ngập ngừng, hoặc kéo dài ra không kết thúc
sớm thì Mỹ có thể giải quyết được mâu thuẫn, rồi có những cái này, cái khác, cả
bên ngoài, rất phức tạp không thể cách nào khác, không thể thương lượng, không
thể bàn bạc lúc bấy giờ nữa. Đã là chiến dịch, đã là quyết chiến, thì chỉ có đi
tới không còn số lùi, không còn ngập ngừng. Tư tưởng chiến lược trong chiến dịch
là như thế. Đến bây giờ điều đó là hoàn toàn đúng.6.
Vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, một lần tôi cùng Lý Quí
Chung đến số 6 Phan Kế Bính, nhà riêng của tướng Nguyễn Hữu Hạnh để thăm ông.
Lúc này anh Hạnh và tôi cùng tham gia Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và anh Hạnh
làm phó cho tôi trong một tổ chức kinh tế của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
Hôm ấy, tôi đề nghị hai anh kể lại vài chi tiết về giờ phút lịch sử 30.4 ở Dinh
Độc Lập năm 1975.
Lý Quí Chung: Sáng 30.4, chúng tôi có mặt tề chỉnh ở phòng khánh tiết để
chờ Quân giải phóng theo lệnh của tướng Minh.
Nguyễn Hữu Hạnh: gần 11 giờ, sốt ruột tôi đi ra cửa thì cũng đúng lúc xe
tăng quân giải phóng húc tung cổng sắt tiến vào Dinh. Một người tay cầm súng,
tay cầm lá cờ chạy nhanh vào Dinh và hỏi đường lên nóc để cắm cờ. Sau này tôi
biết đó là Bùi Quang Thận. Một người lính Quân giải phóng khác mang súng AK lăm
lăm trong tay, yêu cầu chúng tôi vào hết trong phòng. Chỉ khoảng mười phút sau
từ một xe tăng nữa, một người tay cầm súng lục tiến vào phòng. Tôi tự giới thiệu
với anh ta:
- Thưa ông, tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá quân sự cho Tổng
thống Dương Văn Minh. Chúng tôi đang chờ quý ông. Sau đó, tôi giới thiệu với
anh ta:
- Thưa ông, đây là Tổng thống Dương Văn Minh.
Anh ta đưa tay bắt tay tướng Minh và tự giới thiệu: "Tôi là đại úy
Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66" và ông nói mấy lời về chính
sách khoan hồng của cách mạng với tướng Minh.
Ngay sau đó, một người cao to mặc quân phục quân giải phóng tiến vào. Đó
là trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng, cấp trên của đại úy Thệ.
Tướng Minh tỏ vẻ an tâm nói với ông Tùng:
- Thưa ông, đây là toàn bộ nội các, chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao
chính quyền.
- Không, các ông có còn gì đâu mà bàn giao. Các ông phải đầu hàng. Bùi
Văn Tùng trả lời dứt khoát.
Nguyễn Hữu Hạnh kể đến đây thì Lý Quí Chung xen ngay vào:
Tôi cũng nghĩ trong đầu là sẽ bàn giao, nhưng nghe ông Tùng nói, chúng
tôi hơi bẽ bàng lúng túng.
Sau đó, theo lệnh của trung tá Bùi Văn Tùng, Quân giải phóng đưa Tổng thống
Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh để đọc lời tuyên bố
đầu hàng.
Ba chúng tôi trao đổi khá nhiều chuyện. Anh Nguyễn Hữu Hạnh chậm rãi nói:
"Sẽ có một bất ngờ cho hai anh". Thì ra anh Hạnh đã mời một người
khách quý, đó là Bùi Văn Tùng. Thật là thú vị.
Tôi gặp Bùi Văn Tùng lần đầu, nhưng là những người lính Cụ Hồ với nhau
nên rất vui vẻ. Bùi Văn Tùng to khỏe vạm vỡ, nhìn đôi dép cao su của anh, tôi lại
nhớ ngày báo công trước Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở Dinh Độc Lập, anh vẫn mang đôi
dép này, bởi vì chân anh quá to nên không có giày mang vừa, và vì vậy đôi dép
cao su trở nên kỳ tích được báo chí nhắc đến.
Sau hồi trao qua đổi lại, tôi hỏi ba người:
- Hỏi thật các anh, anh Tùng là một trong những người có mặt đầu tiên ở
Dinh Độc Lập, anh Lý Quí Chung thì là trong cuộc, rất gần anh Hạnh. Các anh có
linh cảm hay báo hiệu nào chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh là người của lực lượng
tình báo cách mạng không?
Lý Quí Chung lắc đầu: Làm sao biết nổi.
- Bùi Văn Tùng: Bí mật là sự hy sinh to lớn, nhưng chính những bí mật đó
tạo nên những kỳ tích.
Lý Quí Chung (lúc này là Tổng thư ký tòa soạn Báo Tin Sáng) hỏi anh Tùng:
"Vì sao các anh không chấp nhận cho bàn giao như hồi Bảo Đại năm
1945". Anh Tùng cười: "Mệnh lệnh của cấp trên là như vậy, phải đầu
hàng, không thương lượng bàn giao". Quay sang tôi, anh Tùng khẳng định:
"Lệnh mà, anh biết rồi".
Tôi hiểu, tôi nhớ lại thời khắc đó. Sáng 30.4.1975, các cánh quân cách mạng
từ mọi phía đã áp sát Sài Gòn. Mũi chủ công bằng xe tăng tiến theo quốc lộ 1
cũng đã vượt qua cầu Đồng Nai - Biên Hòa. 9 giờ 35 phút ngày 30.4.1975, ngay
sau khi nghe tuyên bố của Dương Văn Minh phát trên Đài Sài Gòn, Bộ Chỉ huy Chiến
dịch Hồ Chí Minh đã có lệnh hỏa tốc đến các mặt trận, các mũi tiến công:
"Các cánh quân hãy đánh mạnh, tiến nhanh, chiếm các mục tiêu đúng
quy định. Hội quân tại Dinh Độc Lập ngụy. Địch không còn có gì để thương lượng
bàn giao, chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Tiến lên! Toàn thắng!".
Và trước đó, từ đầu tháng 4, mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp phát
đi hỏa tốc đến toàn Mặt trận: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo
hơn nữa, xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng".
Mệnh lệnh trên là bất di bất dịch. Vì vậy, việc Quân giải phóng tiến vào
Dinh Độc Lập và đã nói với Dương Văn Minh "Các ông không còn gì để bàn
giao", "Phải đầu hàng" là việc thực hiện hoàn thiện mệnh lệnh.
Lý Quí Chung hỏi tiếp:
- Tôi hỏi anh Tùng điều này. Hôm đó lúc ở lại Dinh, sau khi yêu cầu chúng
tôi đầu hàng, anh có nói: Bây giờ các ông được tự do, nghĩa là sao?
Anh Bùi Văn Tùng nhìn Lý Quí Chung, nhìn anh Hạnh rồi nói:
- Nguyên tắc đã đầu hàng là tù binh và có khi phải quản thúc…, còn các
anh thì không phải tù binh.
Trở lại câu chuyện năm xưa, tôi đề nghị Lý Quí Chung kể vài nét diễn biến
của giờ phút lịch sử tại đài phát thanh trưa 30.4.1975. Lý Quí Chung nhìn Bùi
Văn Tùng và kể:
- Anh Hạnh khi đó ở lại Dinh Độc Lập với toàn bộ nội các. Anh Tùng yêu cầu
tôi cùng đi với anh qua đài phát thanh. Lúc đó có một nhà báo nước ngoài đang
có mặt ở Dinh Độc Lập. Boerries Gallasch, phóng viên báo Tấm Gương của Cộng hòa
Liên bang Đức quen với tôi, xin đi theo. Tôi nói với anh Tùng cho anh ta theo để
đưa tin ra thế giới. Hơn nữa, có khi cái máy ghi âm của anh ta cần cho việc thu
các lời tuyên bố.
Anh Tùng đồng ý. Chiếc xe Jeep chở Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng
Vũ Văn Mẫu và đại úy Phạm Xuân Thệ chạy trước. Xe chở anh Bùi Văn Tùng do có sự
trao đổi về việc nhà báo Đức đi theo nên xuất phát chậm một chút. Tôi và
Gallasch ngồi cùng xe Jeep với anh Tùng.
Khi đến đài phát thanh, tôi đưa anh Tùng vào phòng thu, lúc đó anh Thệ
đang yêu cầu ông Dương Văn Minh viết lời tuyên bố đầu hàng. Thấy anh Tùng vào,
đại úy Thệ giao lại cho anh Tùng. Tôi và Nguyễn Hữu Thái (Tổng thư ký Hội Sinh
viên, lực lượng nội thành của cách mạng) đứng bên cạnh. Chúng tôi thấy anh Tùng
viết trên tờ giấy màu xanh cứ viết rồi xóa, có mấy hàng mà cứ viết đi viết lại,
rất sốt ruột.
Anh Tùng giơ tay cắt ngang: Viết ngắn mới khó, lại là lời tuyên bố lịch sử
nên càng khó hơn. Anh Tùng kể lại khi đó Dương Minh chỉ muốn viết "Tôi là
đại tướng Dương Văn Minh", không xưng là tổng thống. Sau khi tôi phân tích
phải là tổng thống mới có giá trị của tuyên bố, ông đồng ý nhưng lại không muốn
xưng là tổng thống.
Trao qua đổi lại ông Minh đồng ý dùng tất cả. Tôi cũng không viết
"Chánh quyền Việt Nam Cộng hòa" mà gọi là "Chánh quyền Sài
Gòn", "Quân lực Cộng hòa" thay cho quân đội "Việt Nam Cộng
hòa". Tôi nhất quyết phải có chữ "Không điều kiện" đi sau chữ đầu
hàng. Đấy, cái khó nhất là thời gian cấp bách tôi phải viết đi viết lại là như
vậy.
Lời đầu hàng thảo xong, ông Minh đọc cho quen mặt chữ để khi đọc trước
máy không bị vấp. Lúc này một sự cố xảy ra: Do chiến sự, nên nhân viên của đài,
bỏ đài chạy về nhà lo tản cư. May sao nhà báo Đức đi theo có máy catset. Chúng
tôi dùng máy của anh để thu. Thu xong ông Minh cùng chúng tôi nghe lại. Tôi
nhìn đại úy Thệ để hỏi anh có ý kiến gì không, Thệ gật đầu. Tôi cho phát sóng.
Im lặng một lúc Bùi Văn Tùng nói tiếp: các anh biết không, sau khi Dương
Văn Minh đọc lời đầu hàng, tôi thay mặt bên ta đọc lời tuyên bố chấp nhận đầu
hàng. Chỉ mấy câu mà tôi cứ nghẹn ngào xúc động đến muốn khóc.
- Tôi cũng vậy, Nguyễn Hữu Hạnh tiếp thêm: sau lời tuyên bố của Dương Văn
Minh, tôi thay mặt Tổng tham mưu trưởng đọc nhật lệnh mà cả người cứ rung lên,
cảm xúc dâng trào, không thể nghĩ rằng mình lại có mặt trong giờ phút lịch sử
đó.
Bùi Văn Tùng nói thêm:
- Đến giờ nghĩ lại vẫn thấy xúc động. Anh nghĩ xem biết bao nhiêu đồng đội
của mình nằm xuống, cả triệu người chứ ít đâu. Cho nên giờ phút đó, nó thiêng
liêng lắm. Những câu tôi viết, những lời tôi đọc lúc đó như có hồn thiêng sông
núi, có linh khí của đồng đội…
Thời gian qua đi, quá khứ được xuất hiện bởi những tài liệu ngày càng lộ
ra. Trước ngày 30.4.1975 một tuần lễ, Tổng thống Mỹ đã tuyên bố trong cuộc họp
báo: "Sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn là không tránh khỏi...".
Henry Kissinger thì hy vọng Dương Văn Minh làm tổng thống sẽ thương lượng được
với chính phủ cách mạng để "bàn giao", nói cách khác là có sự đầu
hàng trong danh dự.
Nhà báo Cộng hòa liên bang Đức Borries Gallasch đã viết nhiều bài và đã
ra sách nói về sự kiện lịch sử này. Chúng tôi xin trích một đoạn của Borries
Gallasch đăng trên Báo Tuổi trẻ:
…"Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên
đã lấy chân dung của Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng
tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống
Dương Văn Minh và chính ủy xe tăng Bùi Văn Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi
ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh
giấy màu xanh.
…Chính ủy Tùng đã rất khó viết. Ông ngồi bất động trong khi thảo ra được
một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến
đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào.
Trong lúc đấy mọi người dường như đang thư giãn và giảm phấn khích hơn so
với một giờ trước. Đại úy Phạm Xuân Thệ, người đã bắt ông Minh trong dinh, vẫn
còn lăm lăm khẩu súng trong tay.
Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử
dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng cho tôi những việc tôi phải
làm: ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được
lặp đi lặp lại ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc
là: "Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn", nhưng ông ấy
chỉ muốn nói: "Tôi, đại tướng Dương Văn Minh...".
Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận: không nhượng bộ ông
Minh. Ông Minh phải nói: "Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của
chính quyền Sài Gòn". Nhưng ông Minh không đọc được bản viết tay của chính
ủy Tùng và nói sai nhiều lần. Tất cả mọi thứ lại phải được đọc lại từ đầu. Cuối
cùng đã xong. Ông Minh kết thúc âm giọng chính xác: ... miền Nam Việt
Nam".7.
Câu chuyện về tướng Dương Văn Minh càng nghiên cứu, càng tập hợp, càng rõ
nét ông là một con người vì dân tộc. Chính Dương Văn Minh là kết quả của
những chiến công thầm lặng của những cơ sở nội tuyến, của các chiến sĩ tình
báo binh vận đã nằm trong bộ máy chính quyền Sài Gòn như Vũ Ngọc Nhạ, chị
Sáu Thảo, anh Tư Cang, Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Văn Diệp, Nguyễn Hữu Thái là
mạng điệp báo H63…, là Nguyễn Hữu Hạnh.
Họ không chiến đấu bằng súng đạn nhưng đã góp công lớn vào sự thắng lợi của
công cuộc giải phóng miền Nam. Quả là sự tác động của các lực lượng hoạt động
bí mật của ta góp phần vào tư duy của Dương Văn Minh ở thời khắc ấy là vô cùng
đúng lúc và có hiệu quả.
Một lần, có dịp trao đổi với Ông Phạm Hùng khi ông còn là Phó thủ tướng.
Ông Phạm Hùng kể rằng vận động Dương Văn Minh là một quá trình dài rất công phu
của chúng ta. Khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, với tư cách Chính ủy của Chiến
dịch Hồ Chí Minh, ông đã chỉ đạo đưa ngay tướng Nguyễn Hữu Hạnh, đặc tình của
ta (mang bí số S7) đã bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cho nghỉ hưu non đang
ở Tiền Giang trở lại Sài Gòn để tiếp cận với Dương Văn Minh.
Nguyễn Hữu Hạnh là bạn học trường Collège de Mỹ Tho năm xưa với tướng
Minh, và anh đã cùng với các lực lượng bí mật khác có tác động cần thiết và
đúng lúc. Dương Văn Minh đã nhận chức Tổng thống và trao cho Nguyễn Hữu Hạnh nắm
giữ cơ quan Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Nhờ vậy, đã vô hiệu hóa những cái đầu
hiếu chiến của cánh quân đoàn 4 và biệt khu Sài Gòn. Nhờ vậy, cầu Sài Gòn không
bị phá sập, thành phố còn nguyên vẹn, máu không đổ…
Nguyễn Hữu Hạnh là một trong những người làm nhiệm vụ thầm lặng, là biểu
tượng của lực lượng binh vận tình báo, của cơ sở nội tuyến của ta. Chính họ đã
góp nên một Dương Văn Minh như thế.
Mấy ngày sau khi miền Nam giải phóng, tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban
quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định đã tổ chức buổi lễ trả quyền công dân
cho Dương Văn Minh và những người trong bộ máy chính quyền Dương Văn Minh.
Hôm đó, tướng Dương Văn Minh đã phát biểu: " Riêng tôi, hôm nay rất
hân hoan khi ở tuổi 60 được trở thành công dân của một nước Việt Nam độc lập"
và "Với kỷ nguyên mới này tôi mong tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như
các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước".
Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu nhận xét với tôi: Nhìn nhận một cách khách
quan theo tư duy người làm sử có thể thấy thế này: "Không phải tự dưng
Dương Văn Minh nhận chức tổng thống và lại nhận khi không còn gì nữa. Tôi nghĩ
phải có sự vận động của các lực lượng cách mạng, và ông Minh là người không
thân Mỹ, một người có tính dân tộc và có tình cảm với phía cách mạng. Ông muốn
Sài Gòn không đổ nát, ông không muốn cảnh tử thủ Sài Gòn để rồi chết chóc… nên
ông nhận chức tổng thống là như vậy".
Trong những ngày cuối cùng, giải pháp của Dương Văn Minh là tìm gặp, là
thương lượng để bàn giao. Tối 29.4, ông đưa vợ vào Dinh Độc Lập ngủ và chờ Mặt
trận Dân tộc Giải phóng. Và khi người lính cách mạng đầu tiên tiến vào Dinh,
Dương Văn Minh đã thốt lên: "Các anh đã về, chúng tôi chờ các anh đến để
bàn giao...".
Một lần nhân kỷ niệm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam, tôi tháp tùng
cùng chị Nguyễn Thị Bình (nguyên Phó chủ tịch nước) thăm các bạn bè Pháp đã
giúp đỡ chúng ta trong 5 năm hội nghị diễn ra. Nhân đó, tôi cùng chị Bình đi
thăm ông Dương Văn Minh.
Chị Bình nói: "Đảng ta thật là vĩ đại, thu xếp bố trí để Dương Văn
Minh xuất hiện dù là hơi muộn nhưng rất cần thiết và góp vào sự trọn vẹn của
ngày toàn thắng". Chị khẳng định: "Dương Văn Minh là người yêu nước".
Ông Dương Văn Minh trong những tháng ngày mới đến Paris, thường xuyên có
các thế lực phản động đến vận động ông làm ngọn cờ chống lại chế độ nhà nước
ta. Dương Văn Minh dứt khoát từ chối. Dương Văn Minh nói với chúng tôi:
"Moa không góp được gì, thì cũng để lại cái tình đẹp với quê hương".
Nhận xét
Đăng nhận xét