SỰ KIỆN 30.4
Kỳ 2:
Chính quyền Sài Gòn thay người vác cờ trắng đầu hàng
Đầu tháng 4.1975, sau khi mất Tây Nguyên và Phước Long, chế độ Sài Gòn đứng
trước sự suy yếu về mọi mặt và khả năng sụp đổ hoàn toàn. Lúc này, ông Dương
Văn Minh và nhóm ủng hộ ông “chính thức công bố ý định thay thế Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu”.
Khi đưa vấn đề này ra thảo luận, ngay trong nhóm Dương Văn Minh cũng có
người không đồng ý vì cho rằng thay Nguyễn Văn Thiệu lúc này chỉ để vác cờ trắng
đầu hàng nhưng cuối cùng “cả nhóm đã đi đến quyết định: sẵn sàng thay Thiệu dù
chỉ để cầm cờ đầu hàng1.
Kể từ tháng 3.1975, phía quân giải phóng miền Nam Việt Nam bắt đầu tấn
công các địa bàn trọng yếu của quân đội Sài Gòn, và quân đội Sài Gòn đã thất thủ
tại hàng loạt các địa bàn: Ngày 10.3, Buôn Ma Thuột thất thủ; Pleiku-Kon Tum
(15.3), Phú Bổn (17.3), Huế (27.3), Đà Nẵng (29.3).
Trong khoảng thời gian này, dân biểu Lý Quý Chung có gặp Pierre Brochand,
Cố vấn Đại sứ quán Pháp tại Sài Gòn. Pierre Brochand rất lo âu về tình hình
quân sự và nói với Lý Quý Chung “nếu không sớm có thay đổi chính trị ở Sài Gòn
thì vô phương cứu chữa2”. Pierre Brochand cũng đã hỏi Lý Quý Chung về việc hãy
cho biết rõ “nước Pháp có thể làm gì để giúp Việt Nam3”. Lý Quý Chung trả lời
Pierre Brochand rằng: “Pháp có vai trò vì là nước chủ trong việc ký kết Hiệp định
Paris và Pháp có thể gây áp lực, cùng vận động với Mỹ để sớm thay đổi Thiệu4”.
Kể từ cuộc gặp giữa Lý Quý Chung và Pierre Brochand, cho đến khi cuộc chiến
tranh kết thúc, tức sự kiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30.4.1975,
Chính phủ Pháp đã có những bước đi ý nghĩa nhằm góp phần kết thúc chiến tranh
Việt Nam.
Ngày 31.3.1975, đại tướng Dương Văn Minh đã tiếp Eean Louis Aruand, Giám
đốc Pháp tấn xã (AFP). Trong cuộc tiếp, đại tướng Dương Văn Minh một lần nữa nhắc
lại vai trò của Pháp trong việc ngưng chiến ở Việt Nam và xác nhận: “Pháp có
vai trò trong việc đem lại ngưng chiến cho Nam Việt Nam vì Pháp có thể liên lạc
với nhiều nước đã ký Hiệp định Paris5”. Cũng trong buổi gặp này, tướng Dương
Văn Minh một lần nữa nhắc lại quan điểm nhất quán đòi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
phải từ chức. Đến ngày 2.4.1975, Đại sứ Pháp tại Sài Gòn là Jean Marie Merillon
lần đầu tiên thăm xã giao tướng Dương Văn Minh, đi cùng Pierre Brochand.
Đại tướng Dương Văn Minh cho biết, trong cuộc gặp, Đại sứ Merillon xác nhận
với ông: “1. Đây là cuộc gặp gỡ chánh thức được chánh phủ Pháp khuyến khích.
Pháp sẽ cố sức vận động cho hòa bình Việt Nam và tướng Minh được nghĩ là người
của tình thế. Pháp cám ơn Dương Văn Minh về lời tuyên bố công khai. 3. Merillon
cho biết Pháp và Mỹ liên lạc thường trực với nhau về vấn đề Nam Việt Nam.
Valery Giscard d'Estaing (Tổng thống Pháp giai đoạn từ năm 1974 - 1981 - NV) có
nói chuyện thẳng với Ford (tức Gerald Ford, Tổng thống Mỹ - NV) có “Concerter”
về giải pháp. 4. Merillon xin được liên lạc thường trực với Dương Văn Minh và nếu
cần sẽ đích thân tới nói chuyện, Merillon cũng cử Pierre Brochand thường trực
tiếp xúc”.
Ngày 2.4.1975, quân đội Sài Gòn thất thủ tại Quy Nhơn và Nha Trang. Ngày
7.4.1975, Pháp họp nội các để cứu xét về sáng kiến hòa bình và cho đến giờ phút
này Dương Văn Minh đã hiểu rõ rằng nước Pháp “đã hết mình vận động cho giải
pháp Dương Văn Minh7”. Ngày 10.4.1975, quân giải phóng tấn công Xuân Lộc. Tại
Pháp, Tổng thống Pháp Valery Giscard d'Estaing ra tuyên bố ngắn về tình hình
Nam Việt Nam.
Bản tuyên bố đề ngày 9.4.1975 gồm 2 điểm quan trọng: “Thúc đẩy Thiệu phải
từ chức (dĩ nhiên thúc đẩy gián tiếp) để giao quyền lại cho những người có thực
tâm thi hành Hiệp định Paris. Nhấn mạnh đến giải pháp chính trị căn cứ trên Hiệp
định Paris và nhất là việc lập Hội đồng Hòa giải”.
Đại sứ quán Pháp thông báo với tướng Dương Văn Minh nội dung bản tuyên bố
này và cho biết có “tham khảo” trước với phía Mỹ. Đây được xem là đòn quyết định,
“là một gáo nước lạnh tạt vào mặt Thiệu và rõ ràng cho thấy Pháp đã bỏ rơi Thiệu,
mở đường cho việc cầm quyền của một số người trong lực lượng thứ ba”.
Ngày 17.4.1975, lần lượt các cứ điểm quan trọng của quân đội Sài Gòn thất
thủ, nhất là Phan Rang và Xuân Lộc. Ngày 21.4.1975, sau khi Xuân Lộc thất thủ,
phía Mỹ đã chính thức lên tiếng khẳng định Sài Gòn không thể phòng thủ nổi nữa
bằng tuyên bố của đại tướng Frederick C. Weyand tại Washington: “Tình hình quân
sự tại Nam Việt Nam đã tuyệt vọng. Sài Gòn không còn phòng thủ nổi10”. Ngay tối
hôm đó, vào lúc 19 giờ ngày 21.4.1975, Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình tuyên bố
từ chức tổng thống chế độ Sài Gòn với những lời lẽ nảy lửa tấn công thẳng vào
phía Mỹ.
Theo quy định của chính quyền Sài Gòn, người thay thế Nguyễn Văn Thiệu là
Phó tổng thống Trần Văn Hương. Trong lễ tuyên thệ nhậm chức ngày 21.4.1975, Trần
Văn Hương “… long trọng tuyên thệ bảo vệ tổ quốc, tôn trọng hiến pháp, phục vụ
quyền lợi quốc gia dân tộc, tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng thống Việt Nam Cộng
hòa11”. Trần Văn Hương cũng đồng thời ra “nhật lệnh” “Chống cộng đến giọt máu
cuối cùng, chấp nhận “phản kích” Xuân Lộc lần nữa, sử dụng các loại bom Mỹ: bom
ngạt CBU, bom BLU-182, bom 500 Pounds… (là loại bom bị cấm sử dụng, với sự giúp
đỡ của các chuyên viên DAO (Văn phòng tùy viên quân sự Mỹ)12”. Để phụ họa và hà
hơi tiếp sức cho Trần Văn Hương, 87 dân biểu Hạ nghị viện Sài Gòn đã ra tuyên
cáo ủng hộ 5 điểm đối với Trần Văn Hương và kêu gọi “quyết tâm diệt cộng cứu nước13”.
Có lẽ vì tư tưởng và hành động hiếu chiến này của Trần Văn Hương giống với
Nguyễn Văn Thiệu, nên khi ấy chính phủ của Trần Văn Hương bị phê phán là chính
phủ Thiệu không có Thiệu. Trước tình thế người đứng đầu của chế độ Sài Gòn hô
hào chiến tranh và tử thủ, phía Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đặt ra mục tiêu
phải gạt bỏ “chính phủ Thiệu không có Thiệu” đang hô hào tử thủ “đến giọt máu
cuối cùng”.
Trong giờ phút quyết định, phương án Dương Văn Minh đã được nghĩ tới đầu
tiên bởi “ông Minh được nhiều quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn ủng hộ,
như Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, Thủ
tướng Nguyễn Bá Cẩn, có sự đồng tình của Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo14”.
Ngoài ra, phía Chính phủ Pháp thông qua Đại sứ Merillon cũng muốn nhân cơ
hội này “đóng vai trò trung gian với Hà Nội, nếu được tướng Dương Văn Minh nhận
làm tổng thống; lập ra một “chính phủ ba thành phần” mà Pháp có thể chi phối được15”.
Ngoài ra, phương án Dương Văn Minh cũng được người Mỹ chấp nhận.
Theo hồi ký của Lý Quý Chung, người Mỹ bắt đầu khởi động kế hoạch di tản
từ ngày 21.4.1975. Để thực hiện cuộc di tản này, tòa Đại sứ Mỹ cần duy trì sự tồn
tại của chế độ Sài Gòn càng lâu càng tốt. Và, “việc đại sứ Martin khi cấp nhận
quan điểm của Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon cần ủng hộ ông Minh thay thế ông
Hương cũng vì mục tiêu ấy mà thôi16”.
Trần Văn Hương là người ngấm ngầm say mê quyền lực nên ông nấn ná, trì
hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh. Trong diễn văn đọc tại lưỡng viện Quốc
hội Sài Gòn tối 26.4.1975, Trần Văn Hương đã lợi dụng phiên họp “lưỡng viện” của
Quốc hội Sài Gòn để yêu cầu Quốc hội trao cho ông “quyền chỉ định một chính phủ
đứng ra thương thuyết (tức không giao chức Tổng thống cho Dương Văn Minh) hoặc
đánh đến cùng dẫu Sài Gòn có biến thành biển máu17”.
Mọi việc đã bị đảo ngược hoàn toàn khi nhóm đối lập ủng hộ ông Dương Văn
Minh đã phát tuyên cáo chống Trần Văn Hương, cướp diễn đàn và biểu quyết “Trần
Văn Hương phải trao quyền cho đại tướng Dương Văn Minh18”. Việc đưa ông Dương
Văn Minh thay Trần Văn Hương đã có lúc tưởng như bế tắc vì họ: “1. Sợ phe đối lập
(tức phe ông Minh) lên nắm quyền sẽ trả thù họ. 2. Sợ quân giải phóng vào Sài
Gòn quá nhanh, chạy không kịp sẽ nguy hại tính mạng19”.
Đã có một cuộc vận động hành lang bảo đảm các nỗi lo sợ nêu trên của các
dân biểu nên cuối cùng 147/151 dân biểu, nghị sĩ đã biểu quyết truất quyền Trần
Văn Hương và trao quyền cho ông Dương Văn Minh lúc 20 giờ 54, tối 26.4.1975.
Trước đó, phía lực lượng cách mạng giải phóng miền Nam Việt Nam đã có chỉ
đạo phải tìm mọi cách để ông Dương Văn Minh nắm chính quyền. Ngày 1.3 và cuối
tháng 3.1975, khi các cơ sở của nội thành phía quân giải phóng vào căn cứ báo
cáo, ông Mai Chí Thọ, một lãnh đạo chủ chốt của quân giải phóng khi ấy đã chỉ đạo
“phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu rồi giao quyền cho
cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng, nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho
nhân dân20”.
Ngày 26.4.1975, ngày mà Quốc hội Sài Gòn biểu quyết buộc ông Trần Văn
Hương phải trao quyền lại cho ông Dương Văn Minh, cùng ngày, Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát đi tuyên bố với những yêu cầu gần
như “tối hậu thư”: “…Xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, công cụ của bộ máy thực dân kiểu
mới, xóa bỏ bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp đàn áp nhân dân miền Nam Việt
Nam21”. Đây cũng là ngày mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Ngày 27.4.1975, ông Dương Văn Minh triệu tập những người thân cận để bàn
việc thành lập chính phủ. Trong thành phần chính phủ của ông Dương Văn Minh, đa
số là “những người thân cận, cùng các nhóm Phật giáo, Công giáo từng tán đồng lập
trường hòa bình với ông22”. Luật sư Nguyễn Văn Huyền, một trí thức công giáo, từng
là Chủ tịch Thượng viện thời Ngô Đình Diệm được chọn là Phó tổng thống đặc
trách hòa đàm. Luật sư Nguyễn Văn Huyền là bạn của luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ
tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chủ tịch
Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Theo ông Lý Quý Chung, “ông Huyền được cả hai phía đối lập và thân chính
kính trọng (…). Về nhân cách, luật sư Huyền hơn hẳn các nhân sĩ nổi tiếng khác
có mặt trên chính trường Sài Gòn lúc bấy giờ như Trần Văn Hương, Phan Khắc Sửu,
Mai Thọ Truyền, Trần Văn Văn…23”.
Giáo sư Vũ Văn Mẫu, người đã cạo trọc đầu phản đối chính sách đàn áp tôn
giáo của chế độ Ngô Đình Diệm khi là đương kim ngoại trưởng 12 năm trước đó, được
mời làm Thủ tướng. Hồi ký Lý Quý Chung cho biết Vũ Văn Mẫu là một con người có
uy tín lớn trong xã hội, “uy tín lớn về nhiều mặt, từ nghề nghiệp riêng trong
giới luật sư cho đến các hoạt động chính trị qua cả hai thời kỳ Ngô Đình Diệm
và Nguyễn Văn Thiệu. Thái độ chân thành và có thể gọi là dũng cảm của ông trong
những ngày cuối cùng và cả khi lực lượng giải phóng vào Dinh Độc lập khiến cho
tôi nhớ mãi và kính phục24”.
Bộ trưởng Quốc phòng Bùi Tường Huân là một giáo sư đại học và là một nhân
vật trong lực lượng hòa giải dân tộc thuộc ảnh hưởng Phật giáo Ấn Quang không
có liên quan gì tới quân đội.
Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, một cơ sở binh vận của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam sau đó được chọn làm phụ tá Bộ Tổng tham mưu và những
ngày cuối tháng 4.1975, ông gần như là Quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài
Gòn. “Giám đốc Nha Cảnh sát đô thành Sài Gòn là một đảng viên cộng sản (thẩm
phán Triệu Quốc Mạnh); Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung (nhà báo Chánh Trinh)
là một dân biểu đối lập của chế độ Nguyễn Văn Thiệu; các tổng trưởng, bộ trưởng,
quốc vụ khanh: Dương Văn Ba, Trần Ngọc Liễng, Trần Thúc Linh, Châu Tâm Luân… đều
là những người yêu nước và sau này họ đều có đóng góp xứng đáng trong chế độ mới25”.
15 giờ ngày 28.4.1975, đại tướng Dương Văn Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống
chính quyền Sài Gòn, trở thành vị tổng thống thứ 3 trong vòng 8 ngày. Không đầy
10 phút sau bài diễn văn nhậm chức của Dương Văn Minh, một biên đội 5 máy bay
phản lực A37 do Mỹ chế tạo lượn vòng trên bầu trời Sài Gòn…
Đúng 18 giờ ngày 28.4.1975 bắt đầu cuộc oanh kích sân bay Tân Sơn Nhất
kéo dài gần 20 phút. Cùng lúc đó, Đài Phát thanh Giải phóng của Mặt trận dân tộc
giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên tiếng:
“Không chấp nhận chính quyền Dương Văn Minh, yêu cầu Dương Văn Minh làm theo mọi
yêu cầu của Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam”.
Nhận xét
Đăng nhận xét