30.4.1975
Nhìn lại những sự kiện trên mặt báo
Trong những tuần cuối cùng của tháng 4 năm 1975, báo chí Việt
ngữ tại cả Hà Nội và Sài Gòn theo sát chặt chẽ diễn biến chiến sự, liên tục
đăng tải các bản tin cập nhật về tình hình chính trị, quân sự, và đặc biệt là
làn sóng di tản – một trong những chủ đề nổi bật nhất trên mặt báo vào thời điểm
ấy.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng câu hỏi vẫn còn nguyên giá trị: xã hội
miền Nam đã trải qua những gì trong những ngày cuối cùng trước thời khắc chuyển
giao lịch sử ấy? Khi lần giở lại những trang báo Sài Gòn năm 1975, ta không chỉ
thấy được các biến động chính trị và quân sự đang diễn ra dồn dập, mà còn cảm
nhận sâu sắc nỗi lo âu, hy vọng mong manh và sự hoảng loạn lan rộng trong một
xã hội đang đứng bên bờ sụp đổ.
Ngoài ra, báo chí thời điểm ấy cũng hé lộ nhiều tầng lớp diễn biến địa
chính trị phức tạp, đặc biệt là những căng thẳng âm thầm trong quan hệ giữa Việt
Nam và Trung Quốc. Đấy là những mảng lịch sử thường bị khuất lấp trong các
tường thuật chính thức. Chính qua những trang báo tưởng như vụn vặt ấy, ta có
thể lần tìm lại những góc khuất của lịch sử – nơi tiếng nói của thời cuộc vang
lên trong từng dòng tin, từng tiêu đề, và từng nhịp đập của một đất nước đang
bước qua thời khắc định đoạt.
Chính trường đầy biến động
Vào tháng 3 năm 1975, sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, các thành phố lớn
như Huế và Đà Nẵng lần lượt rơi vào tay lực lượng Quân Giải phóng. Trước tình
hình chiến sự ngày càng căng thẳng, chính quyền Việt Nam Cộng hòa buộc phải
tăng cường lực lượng quân đội một cách khẩn cấp. Dưới áp lực đó, chính phủ do
Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đứng đầu đã sửa đổi quy chế động viên: độ tuổi nhập
ngũ được hạ xuống còn 17, trong khi độ tuổi phục vụ quân sự được kéo dài đến
43. Đồng thời, các diện được miễn hoặc hoãn nhập ngũ – bao gồm cả sinh viên và
học sinh – cũng bị thu hẹp đáng kể.
Việc mở rộng phạm vi bắt lính đã vấp phải nhiều tranh cãi tại Quốc hội Việt
Nam Cộng hòa. Theo nhật báo Chính Luận (số 3334, ngày 14/3/1975) – một trong những
tờ báo có uy tín và ảnh hưởng lớn nhất dưới thời Việt Nam Cộng hòa – nhiều dân
biểu đã lên tiếng chỉ trích chính sách động viên mới là thiếu công bằng và
không hợp lý. Một số đại biểu cho rằng việc bắt thanh niên vừa đủ 17 tuổi nhập
ngũ sẽ gây xáo trộn nghiêm trọng trong đời sống học sinh, sinh viên. Họ cũng
yêu cầu phải đảm bảo công bằng trong thực thi nghĩa vụ quân sự, nhấn mạnh rằng:
"Tất cả con em của các ông lớn đang có trách nhiệm lãnh đạo quốc gia không
đủ điều kiện hoãn dịch mà vẫn phè phỡn ở ngoại quốc hãy ra chiến trường trước."
Ở phía bên kia vĩ tuyến, báo chí miền Bắc cũng giữ vai trò quan trọng
trong chiến dịch tuyên truyền và cuộc chiến thông tin giữa hai phía vào giai đoạn
cuối của Chiến tranh Việt Nam. Các ấn phẩm như Nhân Dân – cơ quan ngôn luận
chính thức của Đảng Lao động Việt Nam – không chỉ đưa tin thời sự mà còn định
hướng dư luận thông qua các bài bình luận chính trị sắc sảo, thường xuyên phê
phán chính quyền Sài Gòn và diễn giải các diễn biến chiến sự theo quan điểm của
miền Bắc. Với chức năng này, báo chí miền Bắc không chỉ phản ánh hiện thực mà
còn đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm củng cố niềm tin chiến thắng và huy
động sự ủng hộ của quần chúng trong thời điểm mang tính quyết định.
Truyền thông miền Bắc cũng phản ứng mạnh mẽ trước lệnh tổng động viên mới
do chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành. Nhật báo Nhân Dân – cơ quan ngôn luận
của Đảng Lao động Việt Nam – trong số ra ngày 17/3/1975 (số 7622) đã đăng bài
viết với nhan đề Bọn Thiệu cố tình theo đuổi chiến tranh. Bài báo lên án việc
chính quyền Sài Gòn thông qua chính sách động viên mở rộng, cho rằng việc bãi bỏ
các điều kiện miễn, hoãn nhập ngũ trước đây là nhằm tăng cường lực lượng quân đội
trong bối cảnh chiến sự đang leo thang. Nhân Dân cũng cáo buộc chính quyền đã
giải thể lực lượng bảo an và mở rộng lệnh động viên đến cả thanh niên theo đạo
Hòa Hảo. Cuối bài, tác giả dẫn lại một phát ngôn gây tranh cãi được cho là của
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Xương máu người Việt không thiếu, chỉ thiếu
đô la," như một minh chứng cho lập luận về sự bế tắc trong chính sách quốc
phòng của miền Nam.
Vào tháng 4 năm 1975, các vùng chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa
lần lượt thất thủ. Trước chuỗi thất bại nhanh chóng trên chiến trường cùng sức
ép chính trị gia tăng, ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ
chức trong một bài phát biểu truyền hình kéo dài ba tiếng đồng hồ, trao quyền lại
cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Chỉ vài ngày sau, vào đêm 25 rạng sáng 26/4,
ông Thiệu bí mật rời Sài Gòn bằng chuyên cơ sang Đài Loan.
Về phía Hoa Kỳ, Tổng thống Gerald Ford, trong cuộc phỏng vấn với Los
Angeles Times ngày 22/3/1975, gọi viễn cảnh sụp đổ của miền Nam Việt Nam là
"một điều rất buồn." Ông nhấn mạnh rằng những biến động dồn dập tại
Campuchia, miền Nam Việt Nam và cả Thái Lan buộc Hoa Kỳ phải xem xét lại toàn bộ
chính sách của mình đối với khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chính quyền Tổng thống Ford gần như không
còn dư địa chính trị để hành động. Sau vụ bê bối Watergate khiến Tổng thống
Richard Nixon phải từ chức vào năm 1974, Quốc hội Hoa Kỳ – khi đó do Đảng Dân
chủ kiểm soát – đã trở nên cứng rắn hơn trong việc chấm dứt mọi can dự quân sự
tại Việt Nam. Hệ quả là các khoản viện trợ dành cho chính quyền Sài Gòn liên tục
bị cắt giảm, làm suy yếu nghiêm trọng năng lực phòng thủ của miền Nam.
Theo The New York Times, kể từ sau năm 1972, viện trợ quân sự của Hoa Kỳ
dành cho chính quyền Sài Gòn liên tục bị Quốc hội cắt giảm, đẩy Quân lực Việt
Nam Cộng hòa vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về đạn dược và thiết bị thay
thế. Cũng theo tờ báo này, lực lượng Bắc Việt đã tăng quân số tại chiến trường
miền Nam lên khoảng 190.000 người. Kết hợp với khoảng 50.000 quân thuộc Mặt trận
Dân tộc Giải phóng Miền Nam, tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía đối
phương, tạo ra một thế áp đảo rõ rệt trên chiến trường.
Trong số ra ngày 10/4/1975 (số 3361), báo Chính Luận dẫn lời Đại tướng
Frederick C. Weyand trong phiên điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ nhận định rằng
đây là giờ phút khủng hoảng trong nỗ lực sinh tồn của Việt Nam Cộng hòa. Tướng
Weyand cố gắng thuyết phục Quốc hội tiếp tục viện trợ, nhấn mạnh rằng "dân
chúng Nam Việt Nam rất cần tới một cảm tưởng là vẫn được Hoa Kỳ ủng hộ trong
lúc có cuộc khủng hoảng rộng lớn về sự tin tưởng và tinh thần này." Khi được
hỏi liệu Việt Nam Cộng hòa có thể tiếp tục tồn tại nếu không nhận được thêm viện
trợ, ông trả lời dứt khoát: "Không, họ không thể sống còn được."
Tướng Weyand là tư lệnh cuối cùng của Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ
tại Việt Nam (MACV). Trước khi miền Nam sụp đổ, ông được Tổng thống Ford cử
sang Sài Gòn vào tháng 3/1975 để đánh giá tình hình thực địa và thuyết phục Quốc
hội tiếp tục viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa.
Tuy nhiên, chỉ hai tuần sau, vào ngày 24/4/1975, trong bài diễn văn tại Đại
học New Orleans với nhan đề Bỏ lại Việt Nam đằng sau lưng, Tổng thống Gerald
Ford chính thức tuyên bố từ bỏ Việt Nam Cộng hòa vào lúc chế độ này đang ở giai
đoạn hấp hối. Trong bối cảnh đó, lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ chỉ phê chuẩn khoản
viện trợ nhân đạo trị giá 327 triệu đô la dành cho công tác di tản, thay vì tiếp
tục cấp viện trợ quân sự như chính quyền Sài Gòn khẩn thiết mong đợi.
Dù tuyên bố "bỏ lại Việt Nam đằng sau lưng," Hoa Kỳ vẫn ráo riết
tìm kiếm một giải pháp chính trị với Bắc Việt nhằm ngăn chặn một cuộc tấn công
toàn diện của phe Cộng sản vào Sài Gòn. Washington tin rằng một cuộc đàm phán
ngừng bắn vào giờ chót có thể cứu vãn tình hình, và giải pháp khả thi nhất khi ấy
là đưa Tướng Dương Văn Minh – một nhân vật được xem là trung lập – lên thay Trần
Văn Hương làm tổng thống, nhằm tạo cơ hội thương lượng với phía Cộng sản.
Theo hãng tin Reuters, người Mỹ lo ngại rằng một cuộc tấn công toàn diện
của phe Cộng sản không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng cho Sài Gòn mà còn là một
"nỗi ô nhục thêm cho Hoa Kỳ," theo lời của cựu Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu, người đã từng cáo buộc Washington "đào ngũ." Hơn nữa, một cuộc
tấn công như vậy có thể khiến chiến dịch di tản của người Mỹ trở nên vô cùng
nguy hiểm.
Từ Hà Nội, hãng tin AFP dẫn nguồn tin chính thức cho biết một chiếc phi
cơ vận tải quân sự Mỹ loại C-130 – vốn phụ trách các chuyến bay duy trì liên lạc
hàng tuần giữa Sài Gòn và Hà Nội của đại diện Ủy ban Quân sự bốn bên (gồm Mỹ,
Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa) – đã đáp xuống sân bay Gia Lâm trong một nỗ lực cuối cùng nhằm khởi động lại
đàm phán hòa bình.
Cùng lúc đó, Pháp cũng tích cực tham gia vào nỗ lực tìm kiếm một giải
pháp chính trị cho cuộc chiến. Theo báo Chính Luận (số 3377, ngày 26/4/1975),
Paris đã đề xuất tổ chức một hội nghị ba bên giữa Mặt trận Giải phóng Miền Nam,
Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với nội dung bao gồm đề nghị
Hoa Kỳ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt và toàn bộ Việt Nam – nếu Hà Nội chấp
thuận một lệnh ngừng bắn tại miền Nam, dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc. Cũng
theo tờ báo, cuộc thương lượng này rất có thể sẽ do Tổng thư ký Liên hợp quốc
Kurt Waldheim ủy nhiệm cho ông Aubrac – một viên chức người Pháp có mối quan hệ
mật thiết với phía Bắc Việt – đến Hà Nội để tiến hành đàm phán.
Tuy nhiên, theo nhật báo Đông Phương (số 944, ngày 30/4/1975) dẫn nguồn từ
BBC (Anh), Đại sứ Bắc Việt tại Paris, ông Võ Văn Sung, đã bác bỏ đề nghị ngừng
bắn với lý do "chưa giải quyết xong những đòi hỏi của Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam."
Ngày 27/4/1975 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong những ngày cuối cùng
của chính quyền Sài Gòn: Phòng Tùy viên Quân sự Mỹ (DAO) – cơ quan phụ trách cố
vấn và huấn luyện quân sự cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa – đã chính thức đóng cửa,
chấm dứt 25 năm hiện diện và hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam.
Dưới áp lực chiến sự dồn dập và sự tháo lui về chính trị từ đồng minh Hoa
Kỳ, tình hình chính trường miền Nam vào cuối tháng Tư 1975 hiện rõ sự rạn nứt
và suy sụp trên từng trang báo. Từ những tranh cãi về luật tổng động viên, những
chỉ trích trong Quốc hội, đến sự từ chức đầy cay đắng của Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu và nỗ lực tuyệt vọng của Hoa Kỳ trong việc thương thuyết ngừng bắn, tất cả
cho thấy một chính thể đang tan rã cả về nội bộ lẫn thế đứng quốc tế. Các mặt
báo không chỉ phản ánh sự hỗn loạn trong chiến lược chính trị mà còn là tấm
gương phản chiếu một thể chế chính trị đang đứng bên bờ vực sụp đổ, cố níu
kéo bằng những giải pháp không còn hiệu lực trước sức ép lịch sử.
Một xã hội hỗn loạn, bi thảm và bối rối
Vào cuối tháng 3 năm 1975, tin tức về việc Buôn Ma Thuột thất thủ cùng với
những diễn biến dồn dập từ các vùng chiến sự đã gây ra làn sóng hoảng loạn
trong dân chúng tại nhiều đô thị miền Nam. Tại Đà Lạt, người dân đổ xô đi di tản,
bất chấp lời trấn an của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về việc sẽ giữ vững Trị
Thiên và Đà Lạt. Trong bối cảnh khủng hoảng, giá cả thực phẩm tại địa phương giảm
mạnh do người dân rời bỏ thành phố. Theo báo Chính Luận (số 3344, ngày
24/3/1975), một tạ gạo chỉ còn 8.000 đồng, một con gà có giá 200 đồng hoặc
1.000 đồng cho ba ký, thậm chí rau củ được cho không. Trái ngược với sự rẻ mạt
của thực phẩm, chi phí di chuyển lại tăng vọt: vé máy bay tăng gấp đôi lên
12.700 đồng, xe đò từ Đà Lạt đi Nha Trang nhảy vọt từ 1.000 lên 8.000 đồng mỗi
người. Việc thuê một chiếc xe lam ra phi trường có thể lên tới 40.000 đồng – một
con số vượt xa khả năng của đa số người dân vào thời điểm đó.
Tại Sài Gòn, sự kiện phi công Nguyễn Thành Trung lái máy bay F-5 ném bom
Dinh Độc Lập vào ngày 8/4/1975 đã đẩy tình hình thêm hỗn loạn. Nỗi sợ hãi lan rộng
khiến dân chúng ồ ạt tích trữ thực phẩm, bất chấp giá cả tăng gấp đôi, thậm chí
gấp ba. Theo Chính Luận (số 3361, ngày 10/4/1975), các quầy hàng rau, trứng và
thịt trở thành tâm điểm của những cuộc tranh giành, thậm chí dẫn đến ẩu đả. Các
quầy bán mì gói cũng trong tình trạng tương tự. Trong bầu không khí căng thẳng
đó, tình trạng móc túi và cướp giật diễn ra ngày càng phổ biến, góp phần làm
gia tăng cảm giác bất an trong dân chúng.
Ở phía bên kia Thái Bình Dương, làn sóng người Việt di tản dần trở thành
nỗi lo cho dư luận Mỹ. Theo báo chí đưa tin, tính đến ngày 24/4/1975, dù mới chỉ
có khoảng 5.000 người được di tản đến đảo Guam để làm thủ tục nhập cảnh vào Hoa
Kỳ, nhưng tình hình đã bắt đầu gây ra những lo ngại trong cộng đồng sở tại. Nhật
báo Chính Luận (số 3377, ngày 26/4/1975) cho biết phần lớn người Việt di tản
không biết tiếng Anh, buộc nhiều nơi phải treo biển chỉ dẫn bằng tiếng Việt. Sự
hiện diện ngày càng đông của người tỵ nạn Việt Nam khiến người dân bản xứ trên
đảo bắt đầu lo ngại về nguy cơ thiếu thực phẩm. Nhiều gia đình địa phương đã bắt
đầu tích trữ nhu yếu phẩm, đề phòng khả năng khan hiếm.
Tại trại Pendleton ở California – một trong những địa điểm tiếp nhận nhiều
người Việt tỵ nạn – nhiều viên chức chính phủ Mỹ và người dân địa phương tỏ ra
lo ngại trước nguy cơ bùng phát dịch bệnh, đặc biệt là bệnh kiết lỵ, từng khiến
binh lính Mỹ mắc phải trong chiến tranh Việt Nam. Ngoài nỗi lo về dịch tễ, người
dân Mỹ còn quan ngại về tác động kinh tế, nhất là khả năng gia tăng thất nghiệp
khi phải tiếp nhận một số lượng lớn người tỵ nạn. Thống đốc bang California
lúc bấy giờ, ông Jerry Brown, thừa nhận rằng người dân trong bang "sống hết
sức chật vật nhưng giờ phải rước thêm số người Việt Nam này." Một cuộc
thăm dò dư luận do hãng UPI thực hiện cho thấy phần lớn người Mỹ đồng tình với
tâm trạng lo ngại đó.
Trong khi đó, tại Sài Gòn, mỗi ngày người dân vẫn chen chúc trước Tòa Đại
sứ Mỹ, hy vọng tìm được cơ hội thoát thân qua các chuyến di tản. Không ít người
bày tỏ sự phẫn nộ: "Họ (chỉ người Mỹ) bắt chúng tôi đánh giặc cả mấy năm
trời mà bây giờ họ lại bỏ trốn." Trước tình cảnh hỗn loạn ấy, nhiều người
Mỹ lo sợ bị nhận diện hoặc làm phiền bởi đám đông đã tìm cách ngụy trang, dán cờ
Vương quốc Anh lên hành lý để tránh chú ý. Nếu bị hỏi, họ sẵn sàng xua tay phủ
nhận: "Chúng tôi không phải người Mỹ!"
Tình trạng hỗn loạn lên đến đỉnh điểm đã buộc Sài Gòn phải ban hành cáo
thị, yêu cầu người dân không được tự ý di tản khỏi thành phố, nghiêm cấm lan
truyền các tin đồn vô căn cứ bị cho là do Cộng sản tung ra, đồng thời kêu gọi
toàn dân giữ vững trật tự trong những ngày quyết định.
Tuy nhiên, nhiều người dân đã bắt đầu bán tháo mọi tài sản không thể mang
theo – nhà cửa, đất đai, xe cộ – với giá rẻ để gom tiền chuẩn bị cho cuộc ra
đi. Các nhật báo Sài Gòn thời điểm đó dày đặc tin rao bán nhà, biệt thự, sang
nhượng đất, ô tô và nhiều loại tài sản khác, phần lớn được rao với giá thấp. Một
số tổ chức cũng bắt đầu cung cấp dịch vụ trông giữ nhà cửa và tài sản cho người
di tản. Trong số này có Ủy ban Đặc nhiệm Tiếp trợ Nạn nhân Chiến cuộc – do các
linh mục và nhà thờ thành lập – vừa hỗ trợ đăng tin tìm kiếm thân nhân thất lạc,
vừa nhận giữ nhà cửa giúp những người đang gấp rút rời khỏi Sài Gòn.
Tất cả những hình ảnh ấy trên báo chí – từ làn sóng di tản hỗn loạn, giá
cả leo thang, nạn cướp bóc hoành hành, cho đến tâm lý hoảng loạn và tuyệt vọng
len lỏi vào từng con hẻm, từng gia đình – đã vẽ nên một bức tranh rõ nét về một
miền Nam đang sụp đổ từng ngày. Sài Gòn, thủ đô từng nhộn nhịp giờ trở thành
tâm điểm của hỗn loạn, nơi mọi trật tự xã hội dường như tan rã. Trong những
ngày cuối cùng của tháng Tư năm 1975, điều sụp đổ không chỉ là một chính quyền,
mà còn là cả một thế hệ bị cuốn vào cơn lốc dữ dội của lịch sử.
Trung Quốc trong sự kiện 30/4 và căng thẳng trên Biển Đông
Một trong những câu hỏi vẫn còn gây tranh cãi trong lịch sử cuộc Chiến
tranh Việt Nam là liệu quân đội Trung Quốc có tham gia trực tiếp vào chiến dịch
quân sự mùa xuân dẫn đến sự kiện ngày 30/4/1975 hay không.
Tờ Chính Luận (số 3377, ra ngày 26/4/1975) dẫn lại thông tin từ tạp chí
Tân Văn Thiên Địa (Trung Quốc, số 1418) cho biết có sự hiện diện của lực lượng
quân đội Trung Quốc trực tiếp tham gia trong cuộc chiến vào cuối tháng 4/1975.
Theo bài viết, quân đội Trung Quốc xuất hiện trong các đợt tấn công ở miền Nam
Việt Nam. Một số nạn nhân của chiến sự cho biết họ từng nhìn thấy các toán lính
mặc quân phục màu vàng, nói tiếng Quảng Đông và Quảng Tây, và sử dụng chữ Hán
trong các mệnh lệnh và chỉ thị. Tạp chí này còn cho rằng bộ đội Trung Quốc đã
trực tiếp chỉ huy một số chiến trường tại Việt Nam, trong đó có chiến dịch Buôn
Ma Thuột, với quân số ước tính lên đến năm sư đoàn.
Thông tin này tuy chưa được kiểm chứng một cách độc lập, nhưng là một
chủ đề vẫn còn gây tranh luận và cần được tiếp tục nghiên cứu dựa trên các nguồn
tư liệu xác tín hơn trong tương lai.
Đáng chú ý là ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Bộ Chính trị Bắc Việt
đã ra Nghị quyết ngày 25/3/1975, chủ trương tiếp quản các đảo và quần đảo do Việt
Nam Cộng hòa kiểm soát, trong đó có quần đảo Trường Sa. Theo báo Nhân Dân (số
ra ngày 6/5/1975), việc "giải phóng" các đảo và quần đảo này diễn ra
thuận lợi, không xảy ra đổ máu giữa các bên. Về phía Trung Quốc, họ cũng được
cho là rất muốn lợi dụng thời điểm chiến sự ở miền Nam để chiếm đóng thêm các đảo
ở Biển Đông. Tuy nhiên, trước khi Trung Quốc kịp hành động, hải quân Bắc Việt
đã nhanh chóng và dứt khoát giành quyền kiểm soát các đảo này. Đây là một động
thái thể hiện sự chủ động và tính toán chiến lược trong việc củng cố chủ quyền
trên biển ngay trong thời điểm chuyển giao quyền lực ở miền Nam.
Tuy nhiên, liên quan đến sự kiện này, tờ Chính Luận (số 3377, ngày
26/4/1975) lại đưa tin trái ngược trên trang nhất với nhan đề Hải quân Việt Nam
báo động vì Trung Cộng-Bắc Việt chạm súng ở Trường Sa. Theo tờ báo, vào ngày
23/4/1975, đã xảy ra một cuộc đấu súng giữa Hải quân Trung Quốc và lực lượng cộng
sản Bắc Việt tại khu vực đảo Nam Yết, vốn do quân lực Việt Nam Cộng hòa trấn giữ.
Nguồn tin từ Hải quân Việt Nam Cộng hòa cho biết rằng trước khi tiến vào đảo
Nam Yết, các tàu của Trung Quốc và Bắc Việt đã nổ súng dữ dội vào nhau. Cũng
theo bài báo, trận hải chiến đã khiến ba tàu của hai bên bị trúng đạn, bốc cháy
và bị đánh chìm. Nếu chính xác, thông tin này cho thấy những căng thẳng ngầm giữa
hai đồng minh cộng sản trong bối cảnh sắp kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam.
Mặc dù báo chí miền Bắc không đề cập đến bất kỳ cuộc đụng độ nào giữa hải
quân Việt Nam và Trung Quốc, việc Nhân Dân (số 7672, ngày 6/5/1975) đưa tin rằng
Hải quân Nhân dân Việt Nam đã "giải phóng" các đảo Côn Sơn, Phú Quốc
và nhiều đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngay sau ngày 30/4 cho thấy khả năng lực
lượng này đã giành được thắng lợi trong một cuộc đối đầu không được công bố với
hải quân Trung Quốc. Diễn biến này nhiều khả năng diễn ra trong bối cảnh chuyển
giao quyền lực hỗn loạn tại miền Nam, khi chính quyền Sài Gòn đang sụp đổ và
các bên liên quan tìm cách tranh thủ kiểm soát các thực thể chiến lược trên Biển
Đông.
Thực tế, căng thẳng và xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đã âm ỉ từ trước năm 1975, với nhiều vụ tranh chấp lẻ tẻ dọc theo vùng biên
giới. Tờ Chính Luận (số 3361, ngày 10/4/1975), dẫn nguồn từ Tạp chí Kinh tế Viễn
Đông (Hong Kong), cho biết tình trạng tranh chấp biên giới giữa hai nước diễn
ra thường xuyên. Các cột mốc biên giới bị người dân hai bên nhổ lên và di dời
nhằm lấn chiếm đất đai để canh tác, phản ánh tình trạng mất kiểm soát và bất đồng
âm ỉ trong quan hệ song phương ngay cả khi hai nước vẫn đang trong cùng một khối
ý thức hệ.
Cội rễ của những mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt
nguồn từ sự rạn nứt trong quan hệ giữa hai cường quốc xã hội chủ nghĩa là Liên
Xô và Trung Quốc. Những bất đồng về đường lối trong phong trào cộng sản quốc tế
đã khiến hai nước từ chỗ đồng minh trở thành đối thủ. Trong bối cảnh đó, Bắc Việt
rơi vào thế khó xử về mặt chiến lược. Chuyến công du mang tính đột phá của Tổng
thống Hoa Kỳ Richard Nixon tới Trung Quốc vào năm 1972, cùng với Tuyên bố chung
Thượng Hải, đã khiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cảm thấy bất bình và bị cô lập.
Từ đó, quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Quốc dần xấu đi, đặc biệt sau sự kiện hải
chiến Hoàng Sa năm 1974, khi hải quân Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ
tay Việt Nam Cộng hòa.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng không thực sự ủng hộ Bắc Việt mở Chiến dịch Hồ
Chí Minh. Tờ Chính Luận (số 3379, ra ngày 28/4/1975) dẫn nguồn từ nhật báo
Pravda (Liên Xô) cho biết Trung Quốc bị lên án là có thái độ "rất chi lạnh
nhạt" trước những chuyển biến dồn dập ở miền Nam Việt Nam, và thậm chí còn
được cho là muốn duy trì sự hiện diện của Mỹ tại khu vực Đông Dương để làm đối
trọng với Liên Xô.
Theo phân tích của tờ Daily Telegraph (Anh), xung đột giữa Trung Quốc và
Bắc Việt là điều khó tránh khỏi. Tờ báo nhận định rằng chiến thắng của Hà Nội tại
Đông Dương có thể kéo theo những hệ quả sâu rộng đối với chính sách đối ngoại của
Trung Quốc. Đáng chú ý, họ nhấn mạnh rằng thành công quân sự của Hà Nội phần lớn
dựa vào viện trợ khổng lồ của Liên Xô với trang bị vũ khí tối tân hơn hẳn Trung
Quốc, và được điều phối bởi các cố vấn, kỹ thuật viên và chiến lược gia Xô Viết.
Daily Telegraph kết luận rằng sự thất bại của Nam Việt Nam và Cộng hòa Khmer
chưa phải là cuốn lịch sử xếp lại, nó là một vụ động đất, nó làm đổ nhiều con
bài domino hơn nữa.
Những thông tin từ báo chí Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, và nước ngoài vào cuối tháng 4/1975 cho thấy vai trò của Trung Quốc trong
cuộc chiến không đơn giản là hậu thuẫn vô điều kiện cho đồng minh cộng sản ở miền
Bắc. Trái lại, quan hệ Việt-Trung lúc ấy đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu căng thẳng,
từ các vụ tranh chấp biên giới đến nghi vấn đối đầu trên biển Đông. Việc Bắc Việt
nhanh chóng kiểm soát Trường Sa trước khi Trung Quốc kịp hành động càng làm nổi
bật sự cạnh tranh ngầm giữa hai quốc gia cộng sản.
Những dữ liệu này đặt ra câu hỏi quan trọng: Liệu chiến thắng năm 1975 có
thực sự là kết quả của một liên minh cộng sản thống nhất, hay là bước ngoặt
đánh dấu sự định hình lại cán cân quyền lực trong khu vực – nơi mà Trung Quốc bắt
đầu lo ngại trước ảnh hưởng gia tăng của Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của Liên
Xô?
Kết
Khi nhìn lại những tường thuật trên mặt báo vào cuối tháng 4/1975, chúng
ta không chỉ thấy được nhịp đập của một xã hội miền Nam đang dần tan rã, mà còn
nhận diện rõ hơn những xung đột nội tại về chính trị, sự rút lui từng bước và đầy
tính toán của Hoa Kỳ, cũng như những căng thẳng đang âm ỉ giữa Việt Nam và
Trung Quốc. Báo chí thời điểm ấy, dù không luôn hoàn toàn chính xác hoặc đầy đủ,
vẫn là một dạng tư liệu sống động, phản ánh tức thời tâm trạng xã hội, sự hoảng
loạn, mất phương hướng của người dân, và cả những nỗ lực cuối cùng của một
chính quyền đang bên bờ sụp đổ.
Chính qua các dòng tin nóng vội, những tiêu đề giật gân hay những bài viết
định hướng dư luận, người đọc hôm nay có thể thấy được không chỉ sự chấm dứt của
một chế độ, mà còn là sự khởi đầu của một trật tự mới – nơi các cường quốc như
Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, và cả Việt Nam đều đang dò dẫm tìm lại vị trí của
mình trong một thế giới hậu chiến đang biến đổi.
Năm 2025, đánh dấu 50 năm kết thúc chiến tranh và 30 năm bình thường hóa
quan hệ Việt–Mỹ, là cơ hội để nhìn lại một cách sâu sắc hơn những chuyển biến lịch
sử phức tạp này. Trong khi quá khứ vẫn còn nhiều điều cần tiếp tục nghiên cứu
và thảo luận, hy vọng rằng các bên có thể cùng nhau hướng tới một tương lai hòa
bình, hiểu biết và thấu cảm – nơi những khác biệt có thể được đối thoại một
cách chân thành, và những ký ức từng chia rẽ sẽ dần trở thành chất liệu cho sự
hiểu biết và hợp tác lâu dài.
Nhận xét
Đăng nhận xét